Trong nhiều nỗi nghi ngờ của Danny Kahneman, lạ lùng nhất là những điều ông nghi ngờ về trí nhớ của mình. Ông trực tiếp lấy kiến thức trong đầu ra để giảng dạy trong suốt các học kỳ mà không cần ghi chép. Đối với sinh viên, dường như ông thuộc lòng toàn bộ các giáo trình và cũng chẳng ngại ngần yêu cầu họ làm như thế. Tuy nhiên, khi được hỏi về một sự kiện nào đó trong quá khứ, ông sẽ nói mình không tin tưởng vào trí nhớ cho lắm và mọi người cũng đừng nên tin. Có lẽ đây là một sự mở rộng giản đơn trong chiến lược cuộc đời của Danny, đó là không tin tưởng bản thân. “Thứ cảm xúc định hình của thầy là nghi ngờ”, một cựu sinh viên của ông nói. “Và nó rất hữu ích. Bởi nó giúp ông ngày càng tiến xa hơn”. Hoặc có thể ông chỉ muốn có một phòng tuyến trước bất kỳ ai đang hy vọng hiểu được ông. Dù là gì đi nữa, ông vẫn tránh xa những thế lực và sự kiện đã nhào nặn mình.
Ông có thể không tin trí nhớ của mình nhưng vẫn còn lưu giữ đâu đó đôi chút ký ức. Chẳng hạn, ông nhớ được giai đoạn cuối năm 1941 hay đầu năm 1942 – khoảng 1 năm sau thời điểm người Đức chiếm đóng Paris – khi ông bị tóm trên đường phố sau giờ giới nghiêm. Luật mới yêu cầu ông đeo Ngôi sao David màu vàng trước ngực áo len. Cái huy hiệu mới khiến ông xấu hổ đến nỗi quyết định tới trường sớm nửa tiếng để những đứa trẻ khác không thấy ông bước vào tòa nhà mà có đeo ngôi sao. Sau giờ học, trên đường đi, ông lộn trái áo len ra ngoài.
Một tối về nhà quá muộn, ông thấy một người lính Đức đến gần. “Anh ta mặc bộ quân phục đen mà tôi được dặn là phải sợ hãi hơn hẳn những thứ khác – quân phục của những tên lính SS1 được tuyển dụng đặc biệt”, ông hồi tưởng trong bài giới thiệu tiểu sử do Ủy ban Nobel yêu cầu. “Khi cố gắng bước thật nhanh để đi qua, tôi nhận ra anh ta cố ý nhìn tôi. Sau đó anh ta vẫy tay ra hiệu, bế tôi lên và ôm tôi. Tôi sợ anh ta sẽ nhận ra ngôi sao giấu bên trong áo len của mình. Anh ta nói chuyện đầy cảm xúc với tôi bằng tiếng Đức. Khi đặt tôi xuống, anh ta mở ví ra, đưa tôi xem ảnh một cậu bé và cho tôi chút tiền. Tôi đi về nhà, tin chắc hơn bao giờ hết rằng mẹ tôi đã nói đúng: Con người không bao giờ thôi phức tạp và thú vị”.
1. Tổ chức vũ trang của Đức Quốc xã thời chiến tranh thế giới. Lính SS mặc đồng phục màu đen nên còn được gọi là Quân áo đen để phân biệt với lực lượng SA là Quân áo nâu. (ND)
Ông cũng nhớ hình ảnh cha mình sau khi bị bắt đi trong một trận càn quét lớn vào tháng 11 năm 1941. Hàng nghìn người Do Thái bị dồn lại và chuyển đến các trại tập trung. Danny có những cảm xúc phức tạp về mẹ lúc ấy. Cha là người ông rất yêu thương. “Cha tôi thật rạng rỡ, ông vô cùng cuốn hút”. Ông bị tống giam vào nhà tù tạm ở Drancy, bên ngoài Paris. Ở Drancy, nhà ở xã hội thiết kế cho 700 người được dùng để nhốt đến 7.000 người Do Thái cùng lúc. “Tôi nhớ lại thoáng ký ức khi cùng mẹ tới xem nhà tù này”, Danny hồi tưởng. “Và tôi nhớ nó mang màu cam phớt hồng. Có nhiều người trong đó nhưng ta không thể trông thấy mặt. Ta có thể nghe tiếng trẻ em và phụ nữ. Và tôi vẫn còn nhớ cả tên lính cai ngục. Hắn nói: “Trong đó khổ lắm. Họ phải ăn cả vỏ hoa quả’”. Với hầu hết người Do Thái, Drancy chỉ là một điểm dừng trên đường tới trại tập trung: Lúc đến nơi, nhiều trẻ em đã bị tách khỏi mẹ và đưa lên tàu để rồi sẽ bị thả hơi độc ở Auschwitz.
Cha của Danny được thả sau 6 tuần nhờ mối giao thiệp với Eugène Schueller. Schueller là nhà sáng lập và là người đứng đầu công ty mỹ phẩm L’Oréal khổng lồ của Pháp, nơi cha của Danny làm nhà hóa học. Một thời gian dài sau chiến tranh, Schueller bị phanh phui là một trong những kẻ chủ mưu của một tổ chức chuyên hỗ trợ Đức Quốc xã tìm diệt người Do Thái gốc Pháp. Không hiểu sao tâm trí Schueller lại dành một sự miễn trừ đặc biệt cho nhà hóa học ngôi sao của mình; ông thuyết phục người Đức rằng cha của Danny “trung lập trong phong trào tổng động viên phục vụ chiến tranh”, nhờ đó nhà hóa học được trả về Paris. Ký ức Danny sống động nhớ lại ngày đó. “Biết cha sắp về nên cả nhà đã đi mua sắm. Khi về nhà, chúng tôi rung chuông và cha ra mở cửa. Lúc ấy ông mặc bộ com-lê đẹp nhất của mình. Ông nặng 45kg, chỉ còn da bọc xương. Và vẫn chưa ăn gì. Đó là điều làm tôi cảm kích. Cha đợi cả nhà về cùng ăn”.
Nhận thấy ngay cả Schueller cũng không thể đảm bảo an toàn cho họ ở Paris, cha Danny đưa cả nhà đi trốn. Đến năm 1942, biên giới đóng cửa và không có con đường rõ ràng nào để đến nơi an toàn. Danny, chị Ruth cùng cha mẹ, Ephraim và Rachel, chạy về phía Nam, là vùng đất mà chế độ Vichy1 vẫn còn cai trị trên danh nghĩa. Suốt dọc đường có những tình huống hú hồn và phức tạp. Họ đã trốn trong các nhà kho: Danny vẫn nhớ rõ chúng cùng những tấm thẻ căn cước giả với một lỗi chính tả mà cha bằng cách nào đó đã kiếm được ở Paris. Danny, chị gái và mẹ được gọi là “Cadet”, trong khi cha ông được đặt tên là “Godet”. Nhằm tránh bị phát hiện, Danny được yêu cầu phải gọi cha là “Bác”. Danny cũng cần luyện nói cho mẹ vì tiếng mẹ đẻ của bà là tiếng Yiddish1 và bà nói tiếng Pháp vẫn ngọng nghịu. Việc mẹ Danny im lặng là chuyện hiếm khi xảy ra. Bà luôn có nhiều điều để nói. Bà trách chồng đã gây ra hoàn cảnh của cả nhà hiện nay. Họ ở lại Paris chỉ vì ông nhầm lẫn do trí nhớ về Thế Chiến I. Hồi đó quân Đức chưa tới Paris, ông nói, thế nên giờ bọn chúng chắc chắn sẽ không tới Paris. Bà không đồng tình. “Tôi nhớ là mẹ dự đoán được những điều kinh khủng trước cha rất lâu – bà là người bi quan và hay lo lắng, còn ông lại vui vẻ và lạc quan”. Lúc đó Danny đã cảm thấy mình rất giống mẹ và chẳng hề giống cha. Những cảm nhận khi ấy của cậu bé về bản thân rất phức tạp.
1. Hình thành nhờ chính phủ Pháp hợp tác với phe Trục trong giai đoạn từ tháng 07/1940 – 08/1944 của Thế Chiến II. Chính phủ này chính thức gọi mình là quốc gia Pháp (État Français) và do Thống chế Philippe Pétain thành lập sau thất bại quân sự của Pháp trước phát xít Đức. (ND)
1. Ngôn ngữ lịch sử của người Do Thái Ashkenaz, hình thành vào khoảng thế kỷ IX ở khu vực Trung Âu. (ND)
Chớm đông năm 1942, họ đang ở một thị trấn ven biển có tên Juan-les-Pins, chìm trong nỗi khiếp sợ. Bây giờ họ đã có nhà, nhờ sự giúp đỡ của một cộng tác viên Đức Quốc xã, trong đó có một phòng thí nghiệm hóa học để cha của Danny có thể tiếp tục làm việc. Để hòa nhập cộng đồng mới, cha mẹ cho Danny đi học, dặn con cẩn trọng không nói quá nhiều hay tỏ ra quá thông minh. “Bố mẹ sợ tôi bị nhận ra là người Do Thái”. Từ khi còn nhớ được, Danny vẫn nghĩ mình là một đứa trẻ sớm phát triển và ham mê đọc sách. Cơ thể là thứ Danny ít để ý nhất. Ông chơi thể thao tệ đến nỗi bị bạn bè cùng lớp gọi là Xác chết di động. Một giáo viên dạy thể dục ngăn không cho Danny được trao tặng các danh hiệu học sinh giỏi với lý do “cái gì cũng có giới hạn”. Tuy nhiên, đầu óc ông rất linh hoạt và khỏe khoắn. Từ thời điểm bắt đầu suy nghĩ về việc sẽ làm gì khi trưởng thành, ông chỉ cho rằng mình sẽ trở thành trí thức. Đó là hình ảnh chính bản thân ông: một bộ não không có cơ thể. Giờ đây ông đã có một nhân dạng mới: một con thỏ trong cuộc săn thỏ. Mục tiêu đơn giản chỉ là sống sót.
Ngày 10 tháng 11 năm 1942, người Đức tiến vào miền Nam nước Pháp. Binh lính Đức mặc quân phục đen lúc này đang lôi những người đàn ông ra khỏi xe buýt và lột bỏ quần áo xem họ có cắt bao quy đầu không. “Ai bị bắt gặp cũng chết”, Danny nhớ lại. Cha ông kiên quyết không tin vào Chúa: Việc đánh mất niềm tin đã dẫn dắt ông, từ lúc còn trẻ, rời Litva và dòng dõi giáo sĩ Do Thái lừng lẫy của mình để tới Paris. Danny chưa sẵn sàng từ bỏ quan niệm rằng trong vũ trụ có một thế lực vô hình đang chăm lo muôn loài. “Tôi ngủ cùng một màn với cha mẹ”, Danny nói. “Họ nằm giường lớn. Tôi nằm giường nhỏ. Lúc đó tôi 9 tuổi. Và tôi cầu nguyện Chúa Trời: Con biết người bận rộn lắm, đây là thời gian khó khăn. Con không muốn hỏi nhiều nhưng con muốn xin thêm một ngày”.
Lại một lần nữa họ phải bỏ trốn để bảo toàn tính mạng, lần này là tới Côte d’Azur rồi Cagnes-sur-Mer, đến ngôi nhà thuộc sở hữu của một viên đại tá quân đội Pháp cũ. Trong vài tháng sau đó, Danny bị bắt ở trong nhà. Cậu bé giết thời gian bằng các cuốn sách. Danny đọc đi đọc lại cuốn Around the World in Eighty Days (tạm dịch: Tám mươi ngày vòng quanh thế giới) rồi bắt đầu yêu mến mọi thứ thuộc về nước Anh và nhất là nhân vật Phileas Fogg. Vị đại tá người Pháp để lại một kệ sách dài đầy ắp những báo cáo trong chiến tranh chiến hào ở Verdun và Danny đã đọc hết – để rồi trở thành một chuyên gia về chủ đề này. Cha ông vẫn làm việc tại ngôi nhà gần bờ biển có phòng thí nghiệm hóa học, cuối tuần lại đi xe buýt về thăm gia đình. Vào các ngày thứ Sáu, Danny ngồi cùng mẹ trong vườn, nhìn đôi tất vá chằng vá đụp của bà và chờ cha về. “Chúng tôi sống trên đồi nên có thể nhìn thấy bến xe buýt. Chúng tôi chẳng bao giờ biết cha có về hay không. Kể từ đó, tôi ghét phải chờ đợi”.
Với sự trợ giúp của chính quyền Vichy và những tay chuyên săn tội phạm lãnh thưởng, quân Đức truy lùng dân Do Thái hiệu quả hơn. Cha của Danny mắc bệnh tiểu đường, nhưng lúc này, tìm cách điều trị còn nguy hiểm hơn sống chung với nó. Một lần nữa họ lại phải bỏ trốn. Ban đầu là tới trú ngụ ở các khách sạn và sau cùng là trốn trong chuồng gà. Chuồng gà nằm sau quán rượu quê ở ngôi làng nhỏ bên ngoài Limoges. Ở đây không có lính Đức, chỉ có quân Milice – một lực lượng bán vũ trang đang cộng tác với quân Đức để trợ giúp bọn chúng vây bắt dân Do Thái và triệt tiêu phong trào Kháng chiến Pháp. Danny không biết làm thế nào cha tìm ra chỗ này, nhưng chắc hẳn nhà sáng lập L’Oréal có liên quan, vì công ty vẫn tiếp tục gửi các thùng đồ ăn tới. Họ dựng một bức vách ngăn ở giữa phòng để chị gái của Danny có được đôi chút riêng tư, nhưng cái chuồng gà không phải nơi để ở. Vào mùa đông, nó quá lạnh đến mức cánh cửa đóng cứng vì băng. Chị ông tìm cách ngủ bên bếp lò và hậu quả là áo choàng đầy vết cháy xém.
Để ra vẻ là người Cơ Đốc giáo, mẹ và chị của Danny đến nhà thờ vào các ngày Chủ nhật. Còn Danny, lúc này 10 tuổi, quay lại trường học với lý luận là ở đó cậu sẽ ít bị để ý hơn trốn trong chuồng gà. Đám học sinh tại ngôi trường mới nơi miền quê này còn học yếu hơn tụi ở Juan- les-Pins. Giáo viên thì tốt bụng nhưng mờ nhạt. Bài học duy nhất Danny còn nhớ là những điều học được từ bạn cùng lớp về sự thật phũ phàng ở đời. Danny phát hiện những chi tiết phi lý đến nỗi ông chắc chắn thầy giáo đã nhầm. “Tôi nói: ‘Điều đó tuyệt đối không thể!’. Tôi hỏi mẹ về việc này. Bà cũng bảo thế”. Nhưng ông vẫn không thực sự tin cho đến một đêm đang nằm trên giường, mẹ ngủ bên cạnh. Tỉnh giấc và cần đi vệ sinh nên ông trèo qua người mẹ. Bà thức dậy, thấy con trai đang trèo lên người mình. “Và mẹ phát hoảng”. Tôi nghĩ: “Nó hẳn phải là thật!”.
Ngay từ khi còn nhỏ, Danny đã có sự quan tâm về mặt lý thuyết đến những người khác – tại sao họ có suy nghĩ này, tại sao họ cư xử thế kia. Trải nghiệm trực tiếp của ông về họ thì có hạn. Ông đến trường nhưng tránh giao tiếp với thầy cô và bạn cùng lớp. Ông không có bạn bè. Thậm chí cả những người quen cũng có thể là mối đe dọa mạng sống. Nhưng từ một khoảng cách nhất định, ông chứng kiến nhiều hành vi thú vị. Cả giáo viên của ông lẫn chủ quán rượu địa phương, Danny buộc phải tin thế, không thể không nhận ra ông là người Do Thái. Không thì tại sao một cậu bé thành thị khôn trước tuổi phải đến cái phòng học đầy ắp đám người miền quê vụng về lóng ngóng này? Tại sao gia đình 4 người rõ ràng là giàu có này lại phải chen chúc trong chuồng gà? Nhưng họ chẳng hề thể hiện cho ông thấy là mình biết. Giáo viên chấm điểm cao cho Danny và thậm chí còn mời ông đến nhà; và bà Andrieux, chủ quán rượu, nhờ ông đến giúp việc, cho ông tiền boa (Danny chẳng có nhu cầu dùng đến), bà thậm chí còn gạ mẹ ông cùng mở một nhà thổ. Nhiều người khác rõ ràng không nhận ra họ là ai. Danny nhớ rõ một gã lính Quốc xã người Pháp, là thành viên Milice, đã tán tỉnh chị gái ông nhưng không thành. Chị ông lúc này 19 tuổi, nhìn như một ngôi sao điện ảnh (Sau chiến tranh, cô hồ hởi nói cho gã lính Quốc xã biết anh ta đã trót đem lòng yêu một người Do Thái).
Đêm ngày 27 tháng 4 năm 1944 – ngày Danny còn nhớ như in – cha dẫn ông đi dạo. Lúc này cha ông đã có những đốm đen trong miệng. 49 tuổi, cha ông trông già hơn tuổi thật. “Cha bảo tôi có lẽ phải có trách nhiệm hơn”, Danny hồi tưởng. “Ông bảo tôi hãy coi bản thân là người đàn ông của gia đình. Ông dạy tôi cách lo liệu mọi việc cùng mẹ – và rằng tôi là người đúng mực trong gia đình. Tôi có một cuốn sổ chép những bài thơ mình viết. Và tôi đưa nó cho cha. Rồi ông qua đời vào đêm hôm đó”. Về cái chết của cha, Danny còn nhớ rất ít ngoại trừ chuyện đêm đó, mẹ bắt ông ngủ ở nhà ông bà Andrieux. Có một người Do Thái nữa đang trốn trong ngôi làng của họ. Mẹ ông tìm ra người này và được ông ta giúp đưa thi hài của cha đi trước khi Danny về. Bà tổ chức an táng cho chồng theo nghi thức của người Do Thái nhưng không bảo Danny tới dự, có lẽ vì rất nguy hiểm. “Tôi thực sự giận dữ về việc cha mất”, Danny nói. “Ông là người rất tốt. Nhưng lại không được khỏe mạnh”.
Quân Đồng minh xâm chiếm Normandy 6 tuần sau đó. Danny chẳng bao giờ trông thấy người lính nào. Không hề có chiếc xe tăng Mỹ nào với lính Mỹ ngồi trên nóc xe quăng kẹo cho đám trẻ con. Một ngày nọ, ông thức dậy và cảm giác mọi người đang hân hoan, quân Milice bị dẫn giải đi xử bắn hoặc tống giam, nhiều phụ nữ bị cạo nhẵn tóc – hình phạt vì đã ngủ với lính Đức. Đến tháng 12, quân Đức bị đánh đuổi khỏi Pháp, Danny và mẹ được tự do đến Paris xem nhà cửa và tài sản của mình còn gì. Danny có cuốn sổ ghi chép có tựa “Tôi viết về những điều tôi nghĩ” (“Chắc là tôi quá quắt lắm”). Ở Paris, khi đọc trong sách giáo khoa của chị gái một bài luận do Pascal viết, ông đã được truyền cảm hứng để viết vào sổ tay một bài luận của chính mình. Quân Đức khi đó tiến hành cuộc phản công cuối cùng nhằm tái chiếm nước Pháp, Danny và mẹ sống trong nỗi lo sợ quân phát xít sẽ phá vỡ phòng tuyến: Danny viết một bài luận nhằm lý giải nhu cầu về tôn giáo của con người. Ông bắt đầu với một trích dẫn từ Pascal: Tín ngưỡng chính là Chúa Trời được thể hiện theo cách dễ lĩnh hội, rồi bổ sung: “Thật đúng làm sao!”. Ông tiếp nối câu này với một câu do mình nghĩ ra: “Thánh đường và đàn organ là những cách nhân tạo để tạo ra cùng cảm giác đó”. Ông không còn coi Chúa Trời là một thực thể mà mình có thể cầu nguyện. Sau này, khi nhìn lại cuộc đời mình, Danny nhớ lại những kỳ vọng ấu thơ rồi thấy vừa tự hào vừa ngượng ngùng. Ông nghĩ văn phong già trước tuổi đã “thấm đẫm sâu sắc trong tâm trí tôi với nhận thức rằng mình là một người Do Thái, chỉ có được trí óc cùng một cơ thể chẳng hữu ích gì và sẽ chẳng bao giờ hòa nhập được với những đứa con trai khác”.
Ở Paris, trong căn hộ cũ thời tiền chiến, Danny và mẹ thấy chỉ còn hai chiếc ghế xanh đắt tiền. Nhưng họ vẫn ở lại. Lần đầu tiên sau 5 năm, Danny đi học mà không phải che giấu bản thân. Trong nhiều năm trời, ông vẫn giữ ký ức đẹp về tình bạn với hai cậu quý tộc Nga cao ráo, điển trai. Ký ức vẫn cứ hiển hiện mãi không xóa nhòa, có lẽ vì đã rất lâu ông chẳng hề có bạn bè. Mãi sau này trong đời, Danny kiểm nghiệm trí nhớ bằng cách đi tìm hai anh em quý tộc Nga ấy và gửi cho họ một bức thư ngắn. Người anh đã trở thành kiến trúc sư, người em làm bác sĩ. Anh em họ viết thư hồi âm, nói vẫn còn nhớ về người bạn năm xưa và gửi cho Danny một bức ảnh 3 người chụp chung. Danny không có mặt trong bức ảnh đó: Họ chắc hẳn đã nhầm ông là người khác. Tình bạn bơ vơ của ông chỉ là tưởng tượng, chẳng hề có thực.
Gia đình nhà Kahneman không còn cảm thấy được chào đón ở châu Âu và rời đi vào năm 1946. Họ hàng bên nội của Danny ở lại Litva và khoảng 6.000 người Do Thái khác trong thành phố đã bị tàn sát. Chỉ có chú của Danny, một giáo sĩ, tình cờ đang ở nước ngoài khi quân Đức bất thình lình ập đến, đã thoát chết. Người chú và gia đình đằng ngoại của Danny lúc này đang sống ở Palestine – bởi thế họ chuyển tới Palestine. Việc họ đến nơi rất quan trọng nên đã có người quay phim lại (cuốn phim giờ đã mất), nhưng tất cả những gì sau này Danny nói mình còn có thể nhớ là cốc sữa chú đã mang đến. “Tôi vẫn còn nhớ nó trắng thế nào”, ông nói. “Đó là cốc sữa đầu tiên của tôi trong 5 năm”. Danny cùng mẹ và chị dọn đến sống chung với họ hàng nhà mẹ ở Jerusalem. Tại nơi đó, một năm sau, ở tuổi 13, Danny đưa ra quyết định sau cùng của mình về Chúa Trời. “Tôi còn nhớ nơi mình ở – con phố tại Jerusalem. Tôi nhớ mình từng nghĩ có thể tưởng tượng về một Đức Chúa Trời, nhưng làm gì có ai quan tâm đến chuyện tôi có thủ dâm hay không. Tôi đi đến kết luận là Chúa Trời không tồn tại. Đó là dấu chấm hết cho đời sống tôn giáo của tôi”.
Và đó là những gì Danny Kahneman còn nhớ được, hay đã chọn để nhớ, khi được hỏi về thời thơ ấu của mình. Từ thuở lên 7, Danny đã được dặn không tin ai và ông buộc phải thế. Sự sống sót của ông phụ thuộc vào việc tách biệt bản thân với xung quanh và không để mọi người biết mình là ai. Danny được vận mệnh phó thác trở thành một trong những nhà tâm lý học có sức ảnh hưởng nhất thế giới, một chuyên gia cốt lõi nổi bật về lỗi của con người. Trong số nhiều nghiên cứu khác, công trình của ông khám phá vai trò của trí nhớ trong phán đoán của con người. Chẳng hạn, làm thế nào trí nhớ của quân đội Pháp về chiến lược quân sự của Đức trong cuộc chiến trước lại khiến họ phán đoán sai chiến lược trong cuộc chiến mới. Tại sao trí nhớ về hành vi của người Đức trong một cuộc chiến có thể khiến một người phán đoán sai các ý định của quân Đức trong cuộc chiến tiếp theo. Hay làm sao ký ức của một cậu bé ở Đức có thể khiến một tên lính SS của Hitler, vốn được huấn luyện để phát hiện người Do Thái, không nhận ra cậu bé mà anh ta bế bổng trên đường phố Paris là một người Do Thái.
Tuy nhiên, trong ký ức của chính mình, ông không thấy tất cả sự liên quan đó. Suốt quãng đời còn lại, Danny quả quyết rằng quá khứ ít tác động đến thế giới quan của ông, hay đúng hơn là cách thế giới nhìn nhận ông. “Người ta nói thời thơ ấu của bạn ảnh hưởng lớn đến việc bạn sẽ trở thành ai sau này”, ông nói thế khi rơi vào hoàn cảnh bức bách. “Tôi không chắc hoàn toàn về điều đó”. Ngay cả với những người được Danny xem như bạn bè, ông cũng không bao giờ đề cập đến trải nghiệm diệt chủng Do Thái của mình. Quả thật vậy, cho đến tận sau khi giành được giải Nobel và bị cánh nhà báo quấy rầy vặn hỏi về các chi tiết cuộc đời, Danny mới bắt đầu cung cấp thông tin về chúng. Những người bạn lâu năm nhất của ông cũng chỉ biết chuyện xảy ra với ông qua báo chí.
_______________
Gia đình Kahneman đến Jerusalem ngay vào thời điểm bùng nổ một cuộc chiến tranh nữa. Mùa thu năm 1947, vấn đề Palestine được chuyển từ nước Anh sang Liên Hợp Quốc, tổ chức này đã thông qua một nghị quyết vào ngày 29 tháng 11, chính thức chia tách lãnh thổ thành hai nhà nước. Quốc gia Do Thái mới sẽ tương đương diện tích bang Connecticut, còn đất nước Ả Rập nhỏ hơn chút. Jerusalem cùng các thánh địa không thuộc về bên nào. Bất cứ ai sống ở Jerusalem đều sẽ trở thành “công dân” Jerusalem; trên thực tế, có một cộng đồng Jerusalem Ả Rập và cộng đồng Jerusalem Do Thái, cư dân của mỗi bên đều ra sức giết chóc lẫn nhau. Căn hộ Danny dọn về cùng mẹ nằm gần biên giới không chính thức: Một viên đạn từng bay xuyên qua phòng ngủ của Danny và giết chết người đứng đầu đội quân hướng đạo.
Vậy nhưng Danny nói ông không cảm thấy cuộc sống của mình nguy hiểm lắm. “Mà khác hẳn. Bởi bạn đang chiến đấu. Đó là lý do khiến hoàn cảnh này trở nên tốt hơn. Tôi ghét tình trạng làm một người Do Thái ở châu Âu. Tôi không muốn bị săn đuổi. Tôi không muốn là một con thỏ”. Vào một đêm khuya tháng 1 năm 1948, ông rùng mình hoảng sợ khi nhìn thấy những người lính Do Thái đầu tiên: 38 binh sĩ trẻ tuổi tập trung trong tầng hầm của tòa nhà nơi ông ở. Lính Ả Rập đã phong tỏa một cụm dân cư Do Thái ở phía Nam đất nước bé cỏn con ấy. 38 binh sĩ Do Thái lao khỏi tầng hầm tòa nhà Danny ở để giải cứu dân định cư. Trên đường, 3 người quay lại – một người bị bong gân mắt cá chân và hai người kia dìu anh về nhà – và thế là đội quân trở thành “Nhóm 35” sống mãi theo thời gian. Họ dự định hành quân trong màn đêm nhưng đến khi mặt trời mọc, họ vẫn đang hành quân. Họ gặp một gã chăn cừu người Ả Rập và quyết định thả anh ta – ít nhất đó là câu chuyện Danny nghe được. Gã chăn cừu đã thông báo cho quân Ả Rập, họ mai phục và tiêu diệt toàn bộ 35 chàng trai trẻ rồi phân xác họ ra. Danny thắc mắc về quyết định tai hại của họ. “Bạn biết tại sao họ bị giết không?”, ông nói. “Họ bị giết vì không dám bắn một người chăn cừu”.
Vài tháng sau, một đoàn y bác sĩ mang cờ của Hội Chữ thập đỏ lái xe trên con đường hẹp từ thành phố Do Thái tới núi Scopus, địa điểm tọa lạc Đại học Hebrew và bệnh viện trực thuộc. Núi Scopus nằm phía sau phòng tuyến của người Ả Rập, một hòn đảo Do Thái giữa vùng biển Ả Rập. Lối vào duy nhất là con đường hẹp dài 2,4km được người Anh đảm bảo an toàn. Đa phần hành trình diễn ra yên ả, nhưng rồi đến ngày nọ, một quả bom phát nổ và chặn chiếc xe tải Ford dẫn đầu. Hỏa lực súng máy xả liên hồi của quân Ả Rập bắn vào những chiếc xe buýt và xe cứu thương đi sau. Vài xe trong đoàn kịp quay đầu và nhanh chóng phóng vọt đi, nhưng các xe buýt chở hành khách thì kẹt lại. Khi súng ngừng bắn, 78 người chết, thi thể của họ cháy đến mức tất cả được chôn ở một ngôi mộ tập thể. Trong số họ có Enzo Bonaventura, một nhà tâm lý học được Đại học Hebrew đưa từ Ý sang để xây dựng khoa tâm lý học. Những kế hoạch của ông dành cho khoa tâm lý học đã chết theo ông.
Danny từ chối thừa nhận bất cứ mối đe dọa nào ông cảm thấy đối với sự tồn tại của bản thân. “Có vẻ như chúng tôi chẳng thể đánh bại 5 quốc gia Ả Rập – nhưng chúng tôi không hề lo lắng. Chúng tôi thật sự không hề có chút cảm giác nào về sự diệt vong đang treo lơ lửng trên đầu. Mọi người cứ bị giết và thế thôi. Nhưng đối với tôi, sau Thế Chiến II, câu chuyện chỉ còn là một chuyến đi dã ngoại”. Mẹ ông rõ ràng không đồng tình bởi bà đã đưa cậu con trai 14 tuổi trốn khỏi Jerusalem đến Tel Aviv.
Ngày 14 tháng 5 năm 1948, Isarel tự tuyên bố là một quốc gia có chủ quyền, đến hôm sau thì lính Anh rút. Quân đội của các nước Gioóc- đa-ni, Syria và Ai Cập liền tấn công, cùng một số đội quân đến từ Iraq và Li-băng. Trong nhiều tháng, Jerusalem nằm trong vòng vây hãm, đời sống ở Tel Aviv khác hẳn bình thường. Ngọn tháp trên bãi biển cạnh nơi mà bây giờ là Khách sạn Intercontinental trở thành một ổ bắn tỉa của người Ả Rập: Tay bắn tỉa có thể và đã bắn trẻ em Do Thái trên đường chúng đi học và về nhà. “Đạn bay vèo vèo khắp nơi”, Shimon Shamir nhớ lại, cậu bé 14 tuổi sống ở Tel Aviv khi chiến tranh nổ ra, sau này trở thành vị đại sứ duy nhất của Isarel đối với cả Ai Cập và Gioóc-đa-ni.
Shamir là người bạn thật sự đầu tiên của Danny. “Những đứa trẻ khác trong lớp cảm nhận có gì đó xa cách giữa họ với ông ấy”, Shamir nói. “Danny không tìm kiếm các nhóm chơi. Ông ấy rất chọn lọc. Ông ấy không cần nhiều hơn một người bạn”. Danny không biết tiếng Hebrew khi đến Isarel vào năm trước, nhưng đến khi tới trường ở Tel Aviv, ông đã nói trôi chảy và nói tiếng Anh tốt hơn bất kỳ ai trong lớp. “Ông ấy được mọi người nhìn nhận là xuất sắc”, Shamir nói. “Tôi từng trêu: ‘Cậu sắp nổi tiếng rồi’ và Danny không thoải mái lắm về điều này. Tôi hy vọng mình không đọc lại lịch sử nhưng tôi nghĩ mình đã có cảm giác ông ấy rồi sẽ tiến xa”.
Ai cũng thấy rõ Danny không giống những cậu bé khác. Ông không cố gắng để khác thường, chỉ là do ông như thế. “Ông ấy là người duy nhất trong lớp học cố gắng nói giọng Anh chuẩn”, Shamir nói. “Tất cả chúng tôi đều thấy điều đó thật buồn cười. Ông ấy khác biệt theo nhiều kiểu. Ở một chừng mực nào đó, ông ấy là một người ngoại đạo. Và đó là do cá tính, chứ không phải vì ông ấy là dân tị nạn”. Đến tận năm 14 tuổi, Danny vẫn không giống một cậu thiếu niên mà là một trí thức mắc kẹt trong hình hài một cậu bé. “Ông ấy luôn chìm đắm vào một câu hỏi hay vấn đề nào đó”, Shamir nói. “Tôi nhớ có một hôm, ông ấy cho tôi xem bài luận dài ông viết cho bản thân – điều này thật lạ lùng vì viết bài luận luôn là gánh nặng mà bạn chỉ làm ở trường về môn học giáo viên giao. Việc viết một bài luận dài ngoằng theo một chủ đề chẳng liên quan đến các môn học chỉ vì nó thu hút Danny khiến tôi vô cùng ấn tượng. Ông ấy so sánh tính cách của một quý ông người Anh với một quý tộc Hy Lạp vào thời của Hercules”. Shamir cảm thấy Danny đang tìm kiếm trong những cuốn sách và tâm trí một hướng đi mà hầu hết trẻ con nhận được từ mọi người xung quanh. “Tôi nghĩ ông ấy đang tìm kiếm một lý tưởng”, Shamir nói. “Một hình mẫu”.
Cuộc chiến giành độc lập kéo dài 10 tháng. Một quốc gia Do Thái rộng bằng bang Connecticut trước chiến tranh cuối cùng đã định hình lại với diện tích lớn hơn New Jersey một chút. 1% dân số Israel bị giết (tương đương 90.000 cái chết ở New Jersey). 10.000 người Ả Rập chết và 750.000 người Palestin bị trục xuất. Sau chiến tranh, mẹ của Danny đưa cả nhà quay về Jerusalem. Ở đó, Danny gặp người bạn thân thứ hai, một chàng trai gốc Anh có tên Ariel Ginsburg.
Tel Aviv nghèo nhưng Jerusalem còn mạt rệp hơn. Không ai có máy ảnh, điện thoại, ngay cả chuông cửa cũng không có nốt. Nếu muốn gặp bạn thì phải đi bộ đến nhà họ và gõ cửa hoặc huýt sáo. Danny hay đi bộ đến nhà Ariel, huýt sáo gọi ông xuống rồi cùng tới YMCA1 để bơi và chơi bóng bàn mà không ai nói với ai lời nào. Danny nghĩ điều đó thật hoàn hảo: Ginsburg khiến ông nhớ đến Phileas Fogg. “Danny thật khác biệt”, Ginsburg nói. “Ông ấy cảm giác xa cách nên giữ mình tách biệt với mọi người – ở một chừng mực nào đó là như vậy. Tôi là người bạn duy nhất của Danny”.
1. Tên viết tắt của Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc (Young Men’s Christian Association – YMCA). Đây là một tổ chức có hơn 58 triệu người rải khắp 125 chi hội cấp quốc gia. (ND)
Chỉ trong vài năm sau cuộc chiến giành độc lập, dân số Do Thái, giờ đây được gọi là Israel, đã gia tăng gấp đôi, từ 600.000 lên 1,2 triệu người. Không có thời điểm hay địa điểm nào trên trái đất có thể dễ dàng và mạnh mẽ thúc đẩy một người Do Thái mới tới thành phố hòa nhập cộng đồng địa phương hơn nơi đây. Nhưng về mặt tinh thần, Danny vẫn không thể hòa nhập. Những con người ông thích hết thảy đều là dân Israel bản xứ chứ không phải đám người nhập cư như ông. Nhưng bản thân ông cũng chẳng có dáng vẻ của người Israel. Giống như nhiều chàng trai và cô gái Israel, ông gia nhập các đội hướng đạo – rồi sau đó lại bỏ khi ông và Ariel quyết định rằng đội nhóm kiểu đó không dành cho mình. Mặc dù Danny đã học tiếng Hebrew cực nhanh, ông và mẹ vẫn nói tiếng Pháp ở nhà, thường bằng giọng điệu giận dữ. “Đó không phải là một mái ấm hạnh phúc”, Ginsburg nói. “Mẹ của Danny rất chua chát. Chị gái ông ấy đã rời khỏi nhà ngay khi có thể”. Danny không chấp nhận để Israel định sẵn cho ông một bản sắc. Ông chấp nhận để nơi này cho ông môi trường tạo ra bản sắc của riêng mình.
Thật khó để xác định chính xác bản sắc đó sẽ là gì, bởi bản thân Danny cũng quá khó để xác định: Ông dường như không muốn định cư ở bất cứ nơi nào cụ thể. Những mối quan hệ ràng buộc mà ông hình thành đều mang lại cảm giác lỏng lẻo và tạm bợ. Ruth Ginsburg, lúc ấy đang hẹn hò và không lâu sau cưới bạn thân của Danny, nói: “Từ rất sớm, Danny đã quyết định không nhận trách nhiệm. Tôi cảm giác bên trong con người ông ấy luôn tồn tại nhu cầu hợp lý hóa việc mình không có gốc rễ. Một con người không cần nguồn cội. Coi cuộc đời như một loạt những trùng hợp ngẫu nhiên – nó xảy ra theo cách này nhưng cũng có thể xảy ra theo cách khác. Bạn tận dụng hết mức trong những điều kiện vô thần này”.
Việc Danny không có nhu cầu thuộc về một nơi chốn hay hội nhóm nào là điều đặc biệt kỳ lạ ở cái xứ mà người ta đều mong ước có nhà và đồng bào. “Tôi đến vào năm 1948 và muốn giống họ”, đó là lời hồi tưởng của Yeshu Kolodny, một giảng viên ngành địa chất tại Đại học Hebrew, cùng độ tuổi với Danny, là người mà họ hàng dòng tộc cũng bị giết sạch trong cuộc diệt chủng. “Nghĩa là tôi muốn đi dép quai hậu và mặc quần soóc xắn gấu, thuộc tên của mọi thung lũng hay ngọn núi trời đánh thánh vật nào đấy – và chủ yếu tôi muốn bỏ chất giọng Nga của mình đi. Tôi hơi xấu hổ về câu chuyện của mình. Tôi quay sang tôn thờ các anh hùng dân tộc. Danny thì không cảm nhận theo kiểu đó. Ông ấy coi thường nơi này”.
Danny là người tị nạn theo kiểu giống Vladimir Nabokov1. Một người tị nạn luôn giữ khoảng cách. Một người tị nạn ra vẻ ta đây. Và rất soi xét dân địa phương. Ở độ tuổi 15, Danny làm một bài kiểm tra hướng nghiệp cho ra kết quả xác định ông là một nhà tâm lý học. Điều đó không làm ông ngạc nhiên.2 Ông luôn cảm nhận mình sẽ là giáo sư và những câu hỏi của ông về con người thì thú vị hơn hết thảy. “Niềm hứng thú của tôi dành cho tâm lý học là một cách để làm triết học”, ông nói. “Để hiểu thế giới bằng cách thấu hiểu tại sao con người, đặc biệt là tôi, nhìn nhận về thế giới như họ vẫn nhìn nhận. Đến lúc đó, câu hỏi liệu Chúa Trời có tồn tại hay không đã không còn cuốn hút tôi. Nhưng tôi lại thấy thật sự hấp dẫn với câu hỏi tại sao con người tin vào sự tồn tại của Chúa. Tôi quả thực chẳng quan tâm lắm đến chuyện đúng hay sai. Vậy mà tôi lại rất hứng thú với sự phẫn nộ. Đó mới là một nhà tâm lý học!”
1. Một nhà văn, nhà thơ Nga, sáng tác bằng tiếng Nga và tiếng Anh. Nabokov là tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng thế giới. (ND)
2. Mấy chục năm sau, khi Danny Kahneman ngoài 40, ông dự giờ một hôm ở một lớp tại Đại học California, Berkeley, lớp của nhà tâm lý học tên Eleanor Rosch. Rosch giao bài tập cho một nhóm sinh viên năm nhất. Bà cho họ chuyền tay nhau một chiếc mũ nhét đầy những mẩu giấy nhỏ. Trên mỗi mẩu ghi một nghề khác nhau: người trông nom sở thú, phi công, thợ mộc, đạo chích. Các sinh viên được yêu cầu chọn một nghề rồi nói xem điều gì, nếu có, bất chợt nảy ra trong đầu có thể báo trước số phận của họ. Dĩ nhiên tôi chọn trúng nghề trông nom sở thú; hồi bé, tôi thích nhốt mèo vào chuồng. Bài tập này nhằm minh họa bản năng mạnh mẽ của con người trong việc tìm kiếm những nguyên nhân cho bất kỳ kết quả nào, cũng như bịa chuyện. “Cả nhóm mở giấy ra cùng lúc”, Rosch nhớ lại, “và ngay khi một người bắt đầu cười, tất cả cùng cười ầm lên”. Và đúng, họ bất ngờ, trong đầu họ nảy ra nhiều thứ. Danny là một ngoại lệ. “‘Không’, ông nói”, Rosch kể lại. “Tôi chỉ có thể làm hai nghề. Một nhà tâm lý học hoặc một giáo sĩ”.
_______________
Hầu hết người Israel khi tốt nghiệp trung học đều bị gọi nhập ngũ. Được nhận định là người có tài năng trí tuệ, Danny được lên thẳng đại học để lấy bằng Cử nhân tâm lý học. Chưa rõ việc này được thực hiện ra sao, vì trường đại học duy nhất lại nằm phía sau phòng tuyến Ả Rập và kế hoạch xây dựng khoa tâm lý của trường đã tiêu tan trong một trận phục kích của quân Ả Rập. Và thế là, vào một sáng mùa thu năm 1951, Danny Kahneman 17 tuổi ngồi trong lớp toán, tổ chức tại một tu viện ở Jerusalem vốn được sử dụng làm một trong các địa điểm tạm thời của Đại học Hebrew. Ngay cả ở nơi đây, dường như Danny vẫn lạc lõng. Hầu hết sinh viên vừa về sau 3 năm phục vụ trong quân đội và nhiều người trong số họ đã chứng kiến các trận giao tranh. Danny trẻ hơn, mặc áo khoác và đeo cà vạt, điều này khiến các sinh viên khác thấy lố bịch.
Trong 3 năm sau đó, Danny cơ bản tự học những nội dung lớn trong lĩnh vực ông đã chọn vì thầy cô không thể làm điều đó. “Tôi quý giáo viên dạy thống kê”, Danny hồi tưởng, “nhưng bà chẳng biết gì về khoa học thống kê cả. Tôi tự học thống kê từ một cuốn sách”. Giảng viên của ông giống như một tập hợp các cá tính hơn là đội ngũ chuyên gia, đa phần họ là người tị nạn, do số phận đưa đẩy mà tình cờ đến sống ở Israel. “Mọi thứ cơ bản đều xoay quanh các thầy cô uy tín, những con người có tiểu sử chứ không chỉ là các bản sơ yếu lý lịch”, Avishai Margalit, người tốt nghiệp Đại học Hebrew, trở thành giảng viên triết học tại trường Stanford và nhiều nơi khác, hồi tưởng. “Họ đã sống những cuộc đời lớn lao”.
Nhân vật sáng chói nhất là Yeshayahu Leibowitz – người Danny quý mến. Leibowitz từ Đức đến Palestine qua đường Thụy Sĩ vào những năm 1930, với tấm bằng cao học y khoa, hóa học, triết học khoa học và vài lĩnh vực khác, theo như đồn đại. Tuy nhiên, ông thi trượt bằng lái xe đến 7 lần. “Ông hay đi bộ trên phố”, Maya BarHillel, cựu sinh viên của Leibowitz nhớ lại. “Quần ông kéo lên tận cổ, vai gù và cằm bự kiểu Jay Leno. Ông hay lẩm bẩm nói chuyện một mình và khua tay múa chân. Nhưng trí óc của ông thu hút giới trẻ khắp đất nước”. Leibowitz giảng dạy môn nào – có vẻ như môn nào ông cũng dạy được – cũng rất thu hút. “Khóa học mà tôi được thọ giáo là Hóa sinh nhưng nó cơ bản lại nói về cuộc sống”, một sinh viên khác nhớ lại. “Phần lớn giờ học được dành trọn cho việc giải thích Ben-Gurion ngớ ngẩn ra sao”. Đó là David Ben-Gurion, vị thủ tướng đầu tiên của Israel. Một trong các câu chuyện ưa thích của Leibowitz là nói về một con lừa được đặt giữa hai bó cỏ khô. Trong câu chuyện, con lừa không thể xác định bó cỏ nào ở gần mình hơn, thế là nó chết đói. “Leibowitz sau đó nói rằng chẳng có con lừa nào làm thế; một con lừa sẽ chọn ngẫu nhiên một trong hai bó cỏ và ăn. Chỉ khi nào các quyết định được đưa ra bởi con người thì chúng mới phức tạp hơn. Và rồi ông nói: ‘Ngày nào đọc báo bạn cũng có thể thấy chuyện xảy ra với một đất nước khi một con lừa ra quyết định thay con người’. Lớp học của ông luôn chật kín người”.
Điều mà Danny nhớ về Leibowitz thật khác thường: chẳng có gì nhiều ngoại trừ tiếng phấn đập vào bảng mỗi khi ông muốn nhấn mạnh một ý. Nghe như tiếng súng.
Dù ít tuổi và sống trong những hoàn cảnh như vậy, ta vẫn có thể phát hiện ra một khuynh hướng trong tâm trí Danny qua những luồng tư tưởng mà nó phản kháng. Freud lúc ấy nổi như cồn nhưng Danny không muốn ai có ảnh hưởng đến mình, cũng chẳng ham gây ảnh hưởng đặc biệt tới bất cứ ai. Ông quyết định coi nhẹ những trải nghiệm thời thơ ấu, hay thậm chí cả ký ức của mình: Tại sao ông phải quan tâm đến người khác? Vào đầu thập niên 1950, rất nhiều nhà tâm lý học cứ khăng khăng cho rằng bộ môn này phải tuân theo các chuẩn mực của khoa học đã từ bỏ tham vọng nghiên cứu những vận động nội tại của tâm trí con người. Nếu bạn không thể quan sát điều đang xảy ra trong đầu mình thì làm sao có thể giả vờ nghiên cứu về nó? Điều đáng để khoa học quan tâm – và có thể được nghiên cứu một cách khoa học – chính là hành vi của các sinh vật sống.
Trường phái tư duy nổi trội này gọi là tâm lý học hành vi. Người đi đầu, B. F. Skinner đã khởi động trong suốt Thế Chiến II, sau khi Không quân Mỹ thuê ông huấn luyện chim bồ câu dẫn đường cho bom. Skinner dạy lũ chim mổ đúng vị trí trên bản đồ mục tiêu trên không, bằng cách thưởng cho chúng thức ăn mỗi lần hoàn thành nhiệm vụ. (Chúng làm việc kém nhiệt tình hơn khi hỏa lực phòng không bùng cháy xung quanh, nên chẳng bao giờ được sử dụng trong trận chiến). Thành công của Skinner với chim bồ câu là bước khởi đầu cho một sự nghiệp có sức ảnh hưởng to lớn được củng cố bởi quan niệm rằng tất cả các hành vi của động vật đều bị thúc đẩy không chỉ bởi suy nghĩ và cảm xúc mà còn bởi những thưởng phạt từ bên ngoài. Ông nhốt lũ chuột vào thứ ông gọi là “buồng điều hòa hoạt động” (sau đó chúng nhanh chóng được biết đến rộng rãi với cái tên “hộp Skinner”) rồi dạy chúng gạt cần và nhấn nút. Ông dạy chim bồ câu nhảy múa và chơi bóng bàn cũng như chơi thuần thục bài hát “Take me out to the ball game” (Hãy đưa tôi ra trận đấu bóng) trên đàn piano.
Các nhà tâm lý học hành vi giả định điều họ khám phá về chuột và bồ câu đều có thể áp dụng cho con người – đối tượng khó tiến hành các thí nghiệm vì nhiều lý do. “Đối với những độc giả lo lắng khi hướng tới đối tượng con người thì cần cẩn trọng”, Skinner viết trong một tiểu luận có tên “Cách dạy động vật”. “Chúng ta phải khởi động một chương trình mà trong đó đôi lúc cần bổ sung thích đáng và đôi khi cần rút lại. Khi đó, chúng ta hoàn toàn có thể sinh ra các hiệu ứng cảm xúc [ở con người]. Tiếc rằng khoa học hành vi này vẫn chưa thành công trong việc kiểm soát cảm xúc như khi nó định hình hành vi”. Sự lôi cuốn của tâm lý học hành vi nằm ở chỗ khoa học tỏ ra rõ ràng: tác nhân kích thích có thể được quan sát, các phản ứng có thể được ghi lại. Nó có vẻ “khách quan”. Nó không dựa vào chuyện người này nói với người khác về suy nghĩ hay cảm nhận của mình. Tất cả những thứ quan trọng đều có thể quan sát và đo lường. Có một câu chuyện cười bao hàm trọn vẹn tinh thần vô trùng của tâm lý học hành vi mà Skinner rất thích kể: Một cặp đôi đang làm tình. Sau đó, người đàn ông quay sang hỏi người đàn bà: “Em thỏa mãn. Còn anh thì sao?”.
Tất cả các nhà kinh tế học hành vi hàng đầu đều là WASP1 – một sự thật mà các nhân vật trẻ tuổi tham gia ngành tâm lý học trong những năm 1950 không nhận ra. Nhìn lại, một quan sát viên hờ hững trong lĩnh vực đó khi ấy không thể không thắc mắc về chuyện có hay không hai lĩnh vực nghiên cứu hoàn toàn chẳng liên quan đến nhau: “Tâm lý học WASP” và “Tâm lý học người Do Thái”. Các WASP mặc áo choàng phòng thí nghiệm trắng, tay cầm cặp hồ sơ và nghĩ ra những cách mới để hành hạ lũ chuột, đồng thời né tránh đống hỗn độn ngớ ngẩn của kinh nghiệm con người. Còn người Do Thái lại đón nhận mớ hỗn độn ấy – kể cả những người Do Thái xem thường các phương pháp của Freud, khao khát “tính khách quan” và mong muốn tìm kiếm sự thật có thể được kiểm nghiệm theo các quy luật khoa học.
Về phần mình, Danny mong mỏi tính khách quan. Trường phái tư duy tâm lý học thu hút ông nhất là tâm lý học Gestalt2. Được dẫn dắt bởi những người Do Thái gốc Đức – vốn có nguồn gốc từ Berlin vào đầu thế kỷ XX – nhằm khai phá một cách khoa học những bí ẩn của tâm trí con người. Những nhà tâm lý học của trường phái Gestalt đã dành cả sự nghiệp khám phá các hiện tượng thú vị và thể hiện chúng bằng sự tinh tế tuyệt vời: ánh sáng sẽ sáng chói hơn khi xuất hiện trong màn đêm; màu xám trông như màu xanh lục khi được bao quanh bởi màu tím và sẽ giống màu vàng nếu quanh nó là màu xanh dương; nếu bạn bảo một người: “Đừng giẫm lên con cá chuối đó!” thì chắc chắn anh ta sẽ tin là bạn nói từ “vỏ chuối” chứ không phải “cá chuối”. Những người theo trường phái Gestalt chỉ ra rằng không có mối quan hệ rõ ràng giữa bất kỳ tác nhân kích thích bên ngoài nào với cảm giác mà nó tạo ra ở con người, vì tâm trí đã can thiệp theo nhiều cách thức lạ lùng. Danny đặc biệt bị tác động bởi cách các nhà tâm lý học Gestalt đưa độc giả đến với một trải nghiệm thông qua những bài viết của mình, để họ có thể tự cảm nhận về những vận động nội tại bí ẩn trong tâm trí:
1. Chỉ người Anglo-Saxon da trắng theo đạo Tin Lành. (ND)
2. Đây là từ tiếng Đức có nghĩa là “định hình” hay “hình thành”, theo cung cách mà các nhà tâm lý học thuộc trường phái Gestalt ưa thích thì bản thân nó mang xu hướng là thay đổi hình dạng, tùy thuộc vào bối cảnh nó được sử dụng. (TG)
Nếu vào một đêm trời quang mây tạnh, chúng ta ngước lên nhìn trời cao, một số ngôi sao ngay lập tức như đang hòa vào nhau và tách rời khỏi môi trường xung quanh. Chòm sao Thiên hậu là một ví dụ, chòm Bắc Đẩu Thất tinh là một điển hình khác. Từ lâu, người ta coi những nhóm này là các cụm và thời nay, trẻ em chẳng cần ai dạy cũng quan sát được những cụm này. Tương tự, trong Hình 1 dưới đây, độc giả thấy có hai nhóm mảnh đen.

Hình 1. Theo tài liệu của Wolfgang Köhler, nhà tâm lý học theo trường phái Gestalt (tài liệu năm 1947, New York: Liveright, 1992), trang 142.
Tại sao không phải là 6 mảnh? Hay 2 nhóm khác nhau? Hay là 3 nhóm, mỗi nhóm có 2 mảnh? Thoạt nhìn hình này, mọi người đều thấy 2 nhóm, mỗi nhóm có 3 mảnh.
Câu hỏi trọng tâm được các nhà tâm lý học theo trường phái Gestalt đưa ra chính là câu hỏi mà các nhà tâm lý học hành vi đã bỏ qua: Bộ não tạo ra ý nghĩa bằng cách nào? Nó biến những mảnh vụn được thu thập bởi các giác quan thành một bức tranh mạch lạc về thực tại bằng cách nào? Vì sao bức tranh đó thường được tâm trí áp đặt lên thế giới xung quanh, chứ không phải là thế giới áp đặt lên tâm trí con người? Con người làm thế nào để biến các mảnh ký ức thành một câu chuyện đời mạch lạc? Vì sao hiểu biết của một người về những gì anh ta trông thấy lại thay đổi theo bối cảnh? Nói đại khái một chút – khi một chế độ từng suy sụp vì người Do Thái bị tàn sát lại vươn lên nắm quyền ở châu Âu, tại sao một số người Do Thái nhận ra nó chẳng tốt đẹp gì và bỏ trốn, còn số khác ở lại để rồi bị tàn sát? Những câu hỏi này, hay những câu tương tự, đã dẫn dắt Danny bước vào thế giới của tâm lý học. Đó là những câu hỏi mà ngay cả những người tài năng nhất cũng không giải đáp được. Câu trả lời, nếu có, chỉ có thể tìm thấy trong trí óc con người.
Sau này, Danny sẽ nói rằng ông coi khoa học là một cuộc trò chuyện. Nếu thế, tâm lý học là một bữa tiệc tối ồn ào, ở đó, mỗi vị khách nói một phách mà cứ nghĩ đang cùng nói về một thứ và thay đổi chủ đề đến chóng mặt. Các nhà tâm lý học Gestalt cùng với các nhà tâm lý học hành vi và phân tâm học đều có thể bị nhồi nhét vào cùng một tòa nhà treo biển Khoa Tâm lý học, nhưng họ chẳng lãng phí nhiều thời gian để nghe nhau nói. Tâm lý học không giống như vật lý hay kinh tế học. Nó không có một lý thuyết đủ sức thuyết phục để làm căn cứ thiết lập, hay một bộ quy tắc thảo luận được chấp nhận chung. Các nhân vật hàng đầu của bộ môn này có thể và thực sự đã nói về công trình của những nhà tâm lý học khác. Về cơ bản, những gì bạn đang làm và đang nói hoàn toàn là nhảm nhí, không hề có bất cứ tác động rõ ràng nào lên hành vi của các nhà tâm lý học.
Một phần vấn đề nằm ở khác biệt dữ dội của những con người muốn trở thành nhà tâm lý – những nhân vật lắm lời huyên thuyên với đủ loại động cơ, từ mong muốn lý giải sự bất hạnh của mình cho tới niềm tin là họ thấu hiểu bản chất con người nhưng lại thiếu khả năng văn chương để viết ra một cuốn tiểu thuyết tươm tất, cho tới nhu cầu về một thị trường dành cho các kỹ năng toán học sau khi bị loại khỏi khoa vật lý, cho đến mong muốn giản đơn là giúp đỡ những người đang đau khổ. Vấn đề còn lại là chất lượng của những thứ tào lao trong lĩnh vực này: Tâm lý học là nơi chứa tất cả các thể loại vấn đề chẳng liên quan và dường như không thể giải quyết. “Có thể tìm thấy hai nhà tâm lý học hàn lâm có năng lực cùng năng suất cao, mà nếu dùng bữa trưa cùng nhau thì sẽ buộc phải thảo luận về xác suất giành chức vô địch của đội The Twins hay tài tự đề cao bản thân của kẻ giết người hàng loạt Ronald ‘Red Killer’, vì kiến thức và những mối quan tâm của họ trong tâm lý học ít trùng nhau”, nhà tâm lý Paul Meehl của Đại học Minnesota viết trong một luận văn nổi tiếng năm 1986 mang tên “Tâm lý học: Chủ đề đa dạng của chúng ta có sự thống nhất nào không?”. “Có người sẽ thắc mắc tại sao lại như vậy, liệu có thể cải thiện hay không, hay đáng ra ngay từ đầu nên hỏi nó có thực sự quan trọng không? Tại sao một nhà di truyền học hành vi đang nghiên cứu sự lây truyền của chứng tâm thần phân liệt lại có thể trò chuyện với một chuyên gia về các quá trình điện hóa học trong võng mạc của loài cá chó mắt to?”.
Các bài kiểm tra năng lực ứng viên cho thấy Danny phù hợp với cả khoa học nhân văn lẫn khoa học tự nhiên ở mức độ như nhau, nhưng ông chỉ muốn làm khoa học. Ông cũng muốn nghiên cứu về con người. Ngoài ra, chẳng lâu sau, ông không biết mình muốn làm gì. Vào năm thứ hai ở Đại học Hebrew, ông nghe bài nói chuyện của một nhà giải phẫu thần kinh là khách mời, người khẳng định tổn thương não khiến con người mất đi khả năng tư duy trừu tượng. Lời khẳng định hóa ra là sai, nhưng vào thời điểm đó, Danny bị nó thu hút đến nỗi quyết định bỏ tâm lý học để theo đuổi y khoa – để được tìm hiểu tỉ mỉ não bộ con người và xem nó còn có thể tạo ra những ảnh hưởng gì khác. Một giáo sư cuối cùng cũng thuyết phục được ông rằng có điên mới nếm trải cực khổ để học y khoa trừ khi ông thật sự muốn trở thành một bác sĩ. Nhưng đó là khởi đầu của một mô thức: nắm bắt một ý tưởng hay tham vọng nào đó với sự nhiệt tình lớn lao để rồi phải từ bỏ nó trong nỗi thất vọng. “Tôi luôn cảm thấy các ý tưởng đều rất tầm thường”, ông nói. “Nếu có một ý tưởng nào không thành, bạn không nên quá cố gắng níu giữ nó, hãy tìm kiếm ý tưởng khác”.
Trong một xã hội thông thường, mọi người khó có khả năng phát hiện ra Danny Kahneman có ích lợi tuyệt vời trong thực tế nhường nào. Israel chẳng phải là một xã hội bình thường. Tốt nghiệp Đại học Hebrew – ngôi trường không hiểu vì lý do gì lại trao cho ông bằng tâm lý học – Danny được yêu cầu vào phục vụ trong quân đội Israel. Hiền lành, sống tách biệt, thiếu tổ chức, né tránh mâu thuẫn và thể chất yếu: Danny không hề giống một anh lính. Chỉ có hai lần ông suýt phải giao chiến và cả hai trường hợp đặc biệt đó vẫn còn hiển hiện sống động trong ký ức Danny. Lần đầu tiên xảy ra khi trung đội do ông và vài người khác chỉ huy được lệnh tấn công một ngôi làng Ả Rập. Trung đội của Danny dự tính bao vây làng và phục kích các lực lượng Ả Rập. Năm trước, sau khi một đơn vị quân Israel thảm sát phụ nữ và trẻ em người Ả Rập, Danny cùng bạn mình, Shimon Shamir, từng bàn xem nên làm gì nếu bị ra lệnh phải giết thường dân Ả Rập. Họ quyết định cả hai sẽ từ chối mệnh lệnh. Giờ đây là thời điểm gần nhất mà Danny rốt cuộc cũng sẽ bị trao mệnh lệnh kia. “Chúng tôi không phải tiến vào ngôi làng”, ông nói. “Các sĩ quan khác đã nhận lệnh. Còn tôi lắng nghe – họ không hề được ra lệnh giết thường dân. Nhưng họ cũng không được ai dặn cách để tránh giết thường dân. Và tôi không thể đưa ra câu hỏi – bởi đó không phải nhiệm vụ của tôi”. Lúc đó, nhiệm vụ của ông bị hủy bỏ và đơn vị của ông rút lui khi chưa phải bắn bất kỳ ai – và sau này Danny mới biết lý do. Các trung đội khác đã rơi vào ổ phục kích. Quân Gioóc-đa-ni đã chờ sẵn họ. Nếu không rút lui, “chúng tôi đã bị giết sạch rồi”.
Lần khác, vào một đêm, ông được điều đến sắp đặt một trận phục kích quân Gioóc-đa-ni. Trung đội ông có 3 tiểu đội. Ông chỉ huy lần lượt 2 tiểu đội đầu tiên đến khu vực mai phục và để các thuộc cấp ở lại đảm nhiệm. Tiểu đội thứ ba, đóng ở biên giới Gioóc-đa-ni, do chính ông chỉ huy. Để tìm ra biên giới, viên sĩ quan chỉ huy (một nhà thơ tên là Haim Gouri) dặn Danny cứ đi cho đến khi thấy biển báo Biên giới. Dừng lại. Trong bóng tối, Danny không thấy được biển báo nào. Thay vào đó, khi mặt trời mọc, ông trông thấy một tên lính địch trên đồi đang quay lưng về phía ông: Danny đã xâm lược Jordan (“Tôi gần như đã gây chiến”). Ông thấy dải đất dưới chân đồi trước mặt họ thật lý tưởng cho các tay bắn tỉa người Gioóc-đa-ni nhắm bắn từ xa vào binh lính Israel. Danny liền bí mật chuyển hướng hành động, đưa đơn vị quay về Israel, nhưng rồi ông nhận ra một người lính làm mất ba lô. Mường tượng ra cảnh bị “ăn chửi” té tát vì quên ba lô ở Gioóc- đa-ni, ông và người của mình bò rón rén ven khu tử địa. “Tình hình cực kỳ nguy hiểm. Tôi biết mình ngu ngốc. Nhưng chúng tôi sẽ ở lại cho đến khi tìm ra nó. Vì tôi hình dung ra câu hỏi đầu tiên ngay lúc trở về: ‘Sao anh có thể quên cái ba lô đó?’. Điều đó cứ lẩn quẩn mãi trong đầu tôi: cái việc ngu ngốc đấy”. Họ tìm thấy ba lô rồi rời đi. Lúc về, cấp trên la mắng Danny, nhưng không phải vì cái ba lô. “Họ bảo: ‘Sao anh không bắn?’”.
Quân đội kéo ông ra khỏi vai trò quan sát viên độc lập tự phong mọi khi. Một năm làm trung đội trưởng, Danny sau này nói “đã xóa bỏ những vết dấu còn sót lại của cảm giác dễ bị tổn thương lan tỏa cũng như sự yếu đuối thể chất và kém cỏi của tôi hồi ở Pháp”. Nhưng Danny sinh ra không phải để bắn người khác. Ông thực sự không phù hợp với đời sống quân nhân, nhưng quân đội buộc ông phải thích ứng. Họ điều ông về ban tâm lý. Đặc điểm nổi bật nhất của đơn vị này trong quân đội Isael năm 1954 là không có một nhà tâm lý học nào. Vào lúc gia nhập, Danny mới biết sếp của mình – Trưởng ban nghiên cứu tâm lý của quân đội Israel – là một nhà hóa học. Thế là Danny, một người tị nạn 20 tuổi đến từ châu Âu, từng mất cả quãng đời quý giá để lẩn trốn, trở thành chuyên gia tâm lý của Lực lượng Quốc phòng Israel. “Anh ấy gầy, xấu trai và rất thông minh”, Tammy Ziv, người ở cùng ban tâm lý với Danny, nhớ lại. “Tôi mới 19 tuổi, anh ấy 21 và tôi nghĩ Danny tán tỉnh mình, còn tôi thì quá ngốc nên không hay biết. Danny không phải là một chàng trai bình thường. Nhưng mọi người đều thích anh ấy”. Họ cũng cần đến ông – dù chắc chắn họ chẳng đánh giá cao ông ngay lập tức.
Quốc gia mới đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng: làm thế nào để tổ chức một cộng đồng dân số rất khác biệt thành một lực lượng chiến đấu. Năm 1948, David Ben-Gurion tuyên bố mở cửa chào đón bất cứ người Do Thái nào muốn nhập cư. Trong vòng 5 năm tiếp theo, nước này chấp nhận hơn 730.000 dân nhập cư đến từ các nền văn hóa khác nhau, nói những ngôn ngữ khác nhau. Nhiều chàng trai trẻ mới gia nhập Lực lượng Quốc phòng Israel phải chịu đựng những nỗi khiếp sợ không thể diễn tả bằng lời – nhìn đâu cũng thấy những người xăm số trên cánh tay. Các bà mẹ bất ngờ vấp phải xác con mình trên đường phố Israel mà cứ tưởng do lính Đức sát hại. Không ai được khuyến khích nói ra những gì mình từng trải qua trong chiến tranh. “Những con người từng bị hậu sang chấn tâm lý đều bị xem là yếu đuối”, một nhà tâm lý học người Israel nói. Một phần của việc làm người Do Thái ở Israel là ít nhất bạn cũng phải vờ quên những điều chẳng thể lãng quên.
Israel vẫn giống pháo đài hơn là một quốc gia, và quân đội của họ vẫn trong tình trạng lộn xộn có kiểm soát. Binh lính được huấn luyện sơ sài, các đơn vị liên kết lỏng lẻo. Chỉ huy trưởng của đơn vị xe tăng thậm chí còn không nói cùng ngôn ngữ với hầu hết lính của mình. Vào đầu những năm 1950, người Ả Rập và Do Thái không chính thức tuyên chiến, nhưng bạo lực vô nghĩa diễn ra một cách máy móc đã phơi bày những điểm yếu trong quân đội Israel. Chẳng hạn, binh lính có xu hướng nhanh chóng quay đầu trốn chạy ngay khi thấy có dấu hiệu rắc rối; còn khuynh hướng của các sĩ quan lại là chỉ đạo đội ngũ từ phía sau. Bộ binh đã tiến hành một loạt cuộc đột kích ban đêm thất bại vào các tiền đồn Ả Rập, ở đó những đội quân Israel lạc lối trong bóng tối và không đến được mục tiêu. Có trường hợp, sau khi một đơn vị được phái đi tiến hành một cuộc tấn công phải lang thang cả đêm, viên trung đội trưởng đã tự sát. Khi họ giao chiến với quân địch, kết quả thường là thảm họa. Vào tháng 10 năm 1953, một đơn vị quân Israel, có thể hoặc không nhận được chỉ thị không hại thường dân, đã đột kích một ngôi làng của người Gioóc-đa-ni và sát hại 69 người, một nửa số đó là phụ nữ cùng trẻ em.
Kể từ Thế chiến I, công việc đánh giá và phân loại lính nghĩa vụ trẻ tuổi thuộc về các nhà tâm lý học, chủ yếu vì một số nhà tâm lý học tham vọng đã thuyết phục Lục quân Mỹ giao cho họ công việc đó. Tuy nhiên, nếu cần nhanh chóng phân loại hàng chục nghìn nam thanh niên thành một lực lượng chiến đấu hiệu quả, bạn vẫn không thể thấy ngay là còn cần đến một nhà tâm lý học, càng không thấy rõ khi chuyên gia tâm lý duy nhất ở đó là cậu cử nhân 21 tuổi mới tốt nghiệp chương trình học 2 năm, hầu như chỉ tự học là chính. Bản thân Danny cũng bất ngờ khi họ yêu cầu ông làm công việc đó và cảm thấy mình không có đủ kỹ năng cần thiết. Danny đã nhìn ra khó khăn của việc xác định ai phù hợp với công việc nào khi thượng cấp yêu cầu ông đánh giá các ứng viên cho trường đào tạo sĩ quan.
Những chàng trai trẻ nộp đơn ứng tuyển sĩ quan đã được giao một nhiệm vụ giả định kỳ cục: di chuyển từ bên này sang bên kia bức tường, chỉ sử dụng một khúc gỗ dài mà không được chạm vào tường hay mặt đất. “Chúng tôi ghi lại ai là người đứng ra chỉ đạo, ai cố gắng chỉ huy và bị từ chối, mỗi người lính đóng góp như thế nào vào nỗ lực chung của cả nhóm”, Danny viết. “Chúng tôi nhìn ra người nào ngoan cố, dễ phục tùng, kiêu ngạo, kiên nhẫn, nóng nảy, bền bỉ hay nhu nhược. Chúng tôi nhận biết nỗi giận dữ gay gắt khi một người nào đó vì ý kiến cá nhân bị cả nhóm từ chối đã ngầm phá hoại nỗ lực chung của cả tập thể. Và chúng tôi nhìn thấy những phản ứng đối với khủng hoảng… Dưới áp lực căng thẳng do sự kiện gây ra, chúng tôi nhận ra bản chất thật của mỗi người. Ấn tượng của chúng tôi về cá tính của mỗi ứng viên là họ thẳng thắn và thu hút như màu sắc của bầu trời”.
Danny dễ dàng xác định ai sẽ trở thành sĩ quan tốt và ai không. “Chúng tôi sẵn sàng tuyên bố: ‘Người này sẽ không bao giờ làm được việc đó’, ‘Người kia khá xoàng’ hay ‘Anh ấy sẽ là một ngôi sao’”. Vấn đề xuất hiện khi ông kiểm nghiệm các dự đoán bằng cách so với kết quả – các ứng viên khác nhau thể hiện thế nào trong quá trình đào tạo sĩ quan. Các dự đoán của ông đều vô giá trị. Nhưng đây là quân đội và ông có nhiệm vụ phải làm nên vẫn phải tiếp tục đưa ra các dự đoán. Tình huống này khiến Danny nhớ tới ảo ảnh thị giác nổi tiếng của Müller-Lyer.

Hình 2. Ảo ảnh thị giác của Müller-Lyer.
Nhìn hai đoạn thẳng bằng nhau, mắt ta bị đánh lừa rằng đoạn này dài hơn đoạn kia. Ngay cả sau khi bạn chứng minh cho người khác thấy hai đoạn dài như nhau bằng một cây thước, ảo ảnh vẫn tiếp tục tồn tại: Họ sẽ cứ khăng khăng đoạn này trông dài hơn đoạn kia. Nếu nhận thức có sức mạnh lấn át thực tế trong trường hợp đơn giản như vậy, nó sẽ mạnh cỡ nào trong trường hợp phức tạp hơn?
Các sĩ quan chỉ huy của Danny tin rằng mỗi quân chủng của Lực lượng Quốc phòng Israel đều có tính cách riêng. Có kiểu “phi công chiến đấu”, kiểu “đơn vị thiết giáp” và kiểu “lính bộ binh”… Họ muốn Danny xác định tân binh nào phù hợp nhất với quân chủng nào. Danny bắt đầu tạo ra một bài kiểm tra tính cách nhằm phân loại hiệu quả toàn bộ dân số Israel vào đúng nhóm. Ông bắt đầu bằng cách liệt kê một nhóm đặc điểm tiêu biểu thể hiện rõ nhất mức độ phù hợp với chiến đấu: phong độ đàn ông, tính đúng giờ, sự hòa đồng, ý thức về nhiệm vụ, khả năng tư duy độc lập. “Danh sách đặc điểm không xuất phát từ bất cứ thứ gì”, sau này ông nói. “Tôi tự nghĩ ra thôi. Một chuyên gia sẽ mất nhiều năm để làm việc đó, sử dụng các bài kiểm tra, thử nhiều phiên bản… nhưng tôi không biết là lại khó đến thế”.
Danny nghĩ phần khó nhằn nhất là có được thước đo chuẩn xác về bất cứ đặc điểm nào trong số đó tại một cuộc phỏng vấn tuyển dụng thông thường. Những khó khăn tiềm ẩn phát sinh trong lúc đánh giá người khác đã được nhà tâm lý học người Mỹ Edward Thorndike mô tả vào năm 1915. Ông yêu cầu các sĩ quan Lục quân Mỹ đánh giá binh sĩ theo một đặc điểm thể chất nào đó (“hình thể” chẳng hạn) và sau đó đánh giá một tố chất trừu tượng hơn (“trí thông minh”, “khả năng lãnh đạo”…). Ông phát hiện ra rằng cảm xúc sinh ra khi đánh giá tiêu chí đầu tiên sẽ ảnh hưởng tới tiêu chí thứ hai: nếu sĩ quan thấy một người lính có hình thể đẹp thì cũng sẽ thích các khía cạnh khác ở anh ta. Hoán đổi thứ tự đánh giá và vấn đề tương tự vẫn xảy ra: Nếu một người ban đầu được đánh giá xuất sắc thì sau đó sẽ được cho là mạnh mẽ hơn thực tế. “Rõ ràng sức lan tỏa của một phẩm chất chung tốt đẹp sẽ ảnh hưởng đến nhận định về một khả năng đặc biệt và ngược lại”, Thorndike kết luận; ông tiếp tục nói mình đã “bị thuyết phục rằng ngay cả một quản đốc, ông chủ, giáo viên hay một vị trưởng phòng rất có năng lực đều không thể xem cá nhân là một tổ hợp của các phẩm chất riêng biệt và gán cho mỗi phẩm chất một tầm quan trọng riêng, độc lập với những phẩm chất khác”. Bởi thế đã có một hiệu ứng ra đời và cho đến nay vẫn được gọi là “hiệu ứng lan tỏa”.
Danny biết về hiệu ứng lan tỏa. Ông cũng có thể thấy các phỏng vấn viên của quân đội Israel chính là nạn nhân của nó: Họ dành 20 phút với mỗi tân binh và từ đó đưa ra một ấn tượng chung về tính cách của người đó. Những ấn tượng chung đã được chứng minh là sai lệch, nên Danny muốn tránh chúng. Vì vấn đề đó, ông muốn tránh phải dựa vào phán đoán của con người. Lý do ông không tin tưởng vào đánh giá của con người thì ông cũng không chắc lắm. Hồi tưởng lại, Danny ngờ rằng khi ấy chắc hẳn mình đã đọc một cuốn sách mới của Paul Meehl – chính là người đã thắc mắc liệu có điều gì thống nhất được lĩnh vực tâm lý học. Cuốn sách của Meehl, có tựa đề Clinical versus Statistical Prediction (tạm dịch: Dự báo Lâm sàng và Dự báo Thống kê), đã cho thấy những nhà phân tâm học nào từng cố gắng dự báo chuyện sẽ xảy đến với bệnh nhân thần kinh của họ đều đạt kết quả kém hơn so với các thuật toán đơn giản. Xuất bản năm 1954 – chỉ một năm trước khi Danny tiến hành rà soát kỹ lưỡng hệ thống đánh giá của quân đội Israel về thanh niên nước này – nó đã khiến các nhà phân tâm học tức giận, họ tin rằng những phán đoán và dự báo lâm sàng của mình có giá trị lớn. Nó cũng làm dấy lên một câu hỏi tổng quan hơn: Nếu ngay cả những chuyên gia đương đại trong lĩnh vực này còn bị các dự báo dẫn sai đường thì ai có thể không phạm sai lầm đây? “Tất cả những gì tôi biết là mình chắc hẳn đã đọc sách của Meehl vì những việc tôi đã làm”, Danny nói.
Ông dạy cho các phỏng vấn viên của quân đội – chủ yếu là phụ nữ trẻ – cách đưa ra một danh sách câu hỏi cho mỗi tân binh nhằm hạn chế tối đa hiệu ứng lan tỏa. Ông bảo họ đặt ra những câu hỏi thật cụ thể, không phải để xác định cách một người nghĩ về bản thân mà là cách cư xử thật sự của người đó. Các câu hỏi không phải chỉ để tìm kiếm sự thật mà còn được soạn ra để che đậy sự thật đang bị tìm kiếm ấy. Trước khi chuyển sang phần kế tiếp, phỏng vấn viên được yêu cầu đánh giá mức từ 1-5 tương ứng các lựa chọn từ “không bao giờ có hành vi này” đến “luôn có hành vi này”. Ví dụ, khi đánh giá tính hòa đồng của tân binh, họ cho điểm 5 đối với một người “xây dựng các mối quan hệ xã hội khăng khít và hoàn toàn hòa đồng với cả nhóm”, cho điểm 1 với một người “hoàn toàn cô lập”. Ngay cả Danny cũng thấy có đủ thể loại vấn đề trong các phương pháp của mình, nhưng ông vẫn không có đủ thời gian để lo lắng quá nhiều về chúng. Chẳng hạn, trong một thoáng, ông lo lắng và cố gắng ra quyết định làm thế nào để xác định điểm 3 – nó có dành cho người thỉnh thoảng cực kỳ hòa đồng, hay là người lúc nào cũng hòa đồng ở mức độ vừa phải? Ông quyết định là cả hai. Vấn đề quan trọng là người đánh giá không được sử dụng quan điểm riêng. Câu hỏi không phải là “Tôi nghĩ gì về anh ta?” mà là “Anh ta đã làm gì?”. Việc đánh giá xem ai được vào quân chủng nào trong quân đội Israel sẽ do thuật toán của Danny thực hiện. “Các phỏng vấn viên ghét chuyện đó”, ông nhớ lại. “Tôi gặp một vụ chống đối phải giải quyết. Tôi còn nhớ một người trong số họ đã nói: ‘Anh đang biến chúng tôi thành robot’. Họ cảm giác mình có thể đoán [tính cách của một người]. Và tôi đang cướp đi khả năng đó của họ. Họ thật sự không thích điều đó”.
Danny sau đó nhờ một trợ lý chở đi khắp đất nước để yêu cầu các sĩ quan quân đội chấm điểm đánh giá đặc điểm cá nhân cho binh lính của họ – từ đó ông có thể so sánh với thể hiện thực tế của binh lính. Danny nghĩ chỉ cần tìm ra đặc điểm của những người giỏi trong một quân chủng cụ thể, ta có thể dùng chúng để tìm những người khác có cùng các đặc điểm đó và điều họ về quân chủng ấy. (Ký ức của Danny về chuyến đi thật đặc biệt, ông nhớ một chi tiết lạ lùng thay vì cả bức tranh toàn cảnh. Ông không còn nhớ nhiều về những lần gặp các sĩ quan chiến đấu, nhưng lại nhớ rõ lời tài xế đã nói sau khi Danny cầm lái chiếc xe jeep. Trước đó ông chưa bao giờ lái xe. Sau khi Danny phanh vì biết đường sắp xóc, tài xế đã khen ông: “Anh ta nói: ‘Đây chính xác là sự lịch lãm đúng mực’”). Từ các viên sĩ quan chiến đấu ở chiến trường, Danny hiểu mình đã được phái đi làm một thứ công việc lặt vặt ngớ ngẩn. Các khuôn mẫu quân đội đều sai. Không có khác biệt ý nghĩa nào giữa tính cách của những người thành công trong các quân chủng khác nhau. Cá tính đã thành công ở bộ binh hầu như cũng sẽ như vậy khi ở bên cạnh một khẩu pháo hay trong một chiếc xe tăng.
Tuy nhiên, điểm số trong bài kiểm tra tính cách của Danny thực sự dự báo được một điều. Chúng dự báo khả năng một tân binh sẽ thành công trong bất kỳ công việc nào. Chúng giúp quân đội Israel biết rõ hơn về việc ai sẽ thành công khi trở thành sĩ quan hay thành viên của một quân chủng tinh nhuệ nào đó (phi công chiến đấu, lính dù) và ai không thể. (Hóa ra chúng cũng dự báo được ai sẽ vào tù). Có lẽ đáng ngạc nhiên hơn là các kết quả lại không mấy liên hệ tới trí thông minh và học vấn – nhân tố được cho là chứa đựng những thông tin mà các thước đo đơn giản đó không hề có. Tác động của thứ được biết đến với cái tên không chính thức là “điểm Kahneman” đã giúp việc sử dụng quân đội của cả quốc gia trở nên tốt hơn, cụ thể trong việc lựa chọn lãnh đạo quân đội, làm giảm đi tầm quan trọng của trí thông minh bẩm sinh có thể đo lường và gia tăng mức độ quan trọng của các phẩm chất trong danh sách của Danny.
Quá trình do Danny tạo ra thành công đến độ quân đội Israel sử dụng nó cho đến tận ngày nay, chỉ với vài điều chỉnh nhỏ. (Chẳng hạn, khi phụ nữ được nhận vào các đơn vị chiến đấu, “bản lĩnh đàn ông” trở thành “bản lĩnh”). “Họ đã thử thật sự thay đổi nó một lần”, Reuven Gal, tác giả cuốn Portrait of the Israeli Soldier (tạm dịch: Chân dung người lính Israel), cho biết. Gal đã có 5 năm làm chuyên gia tâm lý trưởng của Lực lượng Quốc phòng Israel. “Họ làm nó trở nên tệ hơn, vì thế họ phải đổi lại như cũ”. Khi ra quân vào năm 1983, Gal đến Washington DC theo chương trình liên kết nghiên cứu của Viện Khoa học Quốc gia. Một ngày nọ, ông nhận được cuộc gọi từ vị tướng hàng đầu của Lầu Năm Góc. “Ông ta nói: ‘Anh đến nói chuyện với chúng tôi được không?’”. Gal tới Lầu Năm Góc để rồi bị thẩm vấn bởi một căn phòng đầy các vị tướng của Lục quân Mỹ. Họ đưa ra câu hỏi theo nhiều cách khác nhau, nhưng “luôn là cùng một câu hỏi: ‘Vui lòng giải thích làm thế nào các anh có thể sử dụng cùng những khẩu súng trường, lái cùng những chiếc xe tăng, bay cùng những máy bay như chúng tôi mà trận nào các anh cũng thắng còn chúng tôi thì không? Tôi biết không phải do vũ khí. Chắc hẳn là tâm lý học. Anh chọn binh lính chiến đấu bằng cách nào?’. Trong vòng 5 tiếng đồng hồ tiếp theo, họ hỏi dồn tôi về một thứ duy nhất: quá trình lựa chọn của chúng tôi”.
Sau này, khi làm giảng viên đại học, Danny kể với các sinh viên: “Khi ai đó nói gì, đừng tự hỏi bản thân là nó có đúng hay không. Hãy thắc mắc nó có thể đúng về chuyện gì”. Đó là bản năng trí tuệ của ông, là bước đi tự nhiên đầu tiên của ông tiến vào vòng cương tỏa của tinh thần: đón nhận bất cứ thứ gì người ta vừa nói với ông, cố gắng không bác bỏ mà cố tìm ý nghĩa của nó. Câu hỏi mà quân đội Israel từng hỏi ông – Những tính cách nào phù hợp nhất với các vai trò trong quân đội? – hóa ra lại thành vô nghĩa. Danny đã bỏ qua và trả lời một câu hỏi khác, mang lại kết quả ích lợi hơn: Làm thế nào để các phỏng vấn viên không thất bại trong việc đưa ra đánh giá tân binh? Ông được yêu cầu phỏng đoán tính cách của thanh niên nước này. Thay vì thế, ông phát hiện một điều ở những người cố tìm cách phỏng đoán tính cách của người khác: Loại bỏ cảm giác bản năng, nhờ đó các phán đoán của họ được cải thiện. Ông được giao một vấn đề rất hẹp và đã khám phá ra một chân lý rất rộng. “Khác biệt giữa Danny với 999.999 nhà tâm lý học khác là ông có khả năng tìm ra hiện tượng rồi lý giải nó theo cách áp dụng được cho cả những tình huống khác”, Dale Griffin, nhà tâm lý học của Đại học British Columbia, cho biết. “Nhìn thì có vẻ là ăn may nhưng ông ấy vẫn liên tục làm được”.
Một người bình thường khác có lẽ sẽ dương dương tự đắc với thành quả đó. Thật bất ngờ, một Danny 21 tuổi đã gây được nhiều ảnh hưởng với quân đội Israel – cơ quan mà xã hội nước này dựa vào để tồn tại – hơn bất cứ nhà tâm lý học nào đã hay sẽ làm được. Bước rõ ràng tiếp theo của ông là ra quân và lấy bằng Tiến sĩ rồi trở thành chuyên gia hàng đầu của Israel về đánh giá tính cách và lựa chọn nhân sự. Harvard là lò đào tạo ra một vài trong số những người đứng đầu lĩnh vực này, nhưng chẳng cần ai giúp, Danny cũng tự quyết định là mình không đủ thông minh để học Harvard nên chẳng buồn nộp đơn. Thay vào đó, ông đến Berkeley.
Khi ông trở lại Đại học Hebrew với tư cách một trợ giảng trẻ tuổi vào năm 1961, sau 4 năm đi xa, giờ đây ông được truyền cảm hứng mới mẻ bởi những nghiên cứu về tính cách của nhà tâm lý học Walter Mischel. Đầu thập niên 1960, Mischel tạo ra những bài kiểm tra đơn giản đến tuyệt vời hé lộ nhiều điều về trẻ em. Sau đó, trong thứ được biết đến là “thí nghiệm kẹo dẻo”, Mischel đưa những đứa trẻ 3, 4 và 5 tuổi vào một căn phòng có các món đồ ngọt chúng thích – một chiếc bánh quy cây, một viên kẹo dẻo – và bảo nếu có thể chờ vài phút mới ăn phần của mình thì chúng sẽ nhận được phần kẹo thứ hai. Khả năng chờ đợi của một đứa trẻ hóa ra lại có tương quan với chỉ số IQ, hoàn cảnh gia đình cũng như vài điều khác. Theo dõi những đứa trẻ xuyên suốt cuộc đời của chúng, sau này Mischel phát hiện ra một em bé 5 tuổi càng chống lại cám dỗ tốt thì điểm số SAT trong tương lai và ý thức về giá trị bản thân càng cao, còn lượng mỡ thừa trong cơ thể cùng khả năng nghiện ngập càng thấp.
Bị cuốn vào ham mê mới, Danny tạo ra một loạt thí nghiệm tương tự thí nghiệm kẹo dẻo. Ông thậm chí còn nghĩ ra một cụm từ để gọi tên điều mình đang làm: tâm lý học của những câu hỏi riêng lẻ. Ông bố trí cho các trẻ em Israel đang đi cắm trại – đây chỉ là một ví dụ – quyền lựa chọn lều đơn, lều đôi hay lều 8 người. Danny nghĩ có lẽ các câu trả lời của chúng sẽ nói lên điều gì đó về xu hướng hòa nhập nhóm. Ý tưởng đó không mang lại phát hiện gì hoặc là mang lại những phát hiện mà ông chẳng thể tái hiện trong thí nghiệm sau. Và thế là Danny từ bỏ. “Tôi muốn trở thành một nhà khoa học”, ông nói. “Và tôi nghĩ mình chẳng thể là một nhà khoa học trừ khi có thể tái hiện chính mình. Tôi không thể tái hiện chính mình”. Nghi ngờ bản thân một lần nữa, ông từ bỏ nghiên cứu về tính cách, quyết định rằng mình chẳng có tài năng để làm việc đó.