Khi mới 18 tuổi, Amnon Rapoport được hệ thống lựa chọn mới của quân đội Israel xác định là người có tư chất lãnh đạo. Họ sẽ cho ông làm chỉ huy xe tăng. “Tôi thậm chí còn không biết là có cả một quân đoàn xe tăng”, ông nói. Vào một đêm tháng 10 năm 1956, ông lái xe tăng tiến vào Gioóc-đa-ni để trả thù cho việc giết hại vài thường dân Israel. Trong các cuộc đột kích này, ta không bao giờ biết mình sẽ phải nhanh chóng đưa ra những quyết định gì. Bắn hay ngừng bắn? Giết hay tha? Sống hay chết? Vài tháng trước, một người lính Israel bằng tuổi Amnon đã bị quân Syria bắt sống. Anh quyết định tự sát trước khi chúng kịp thẩm vấn mình. Khi Syria trả thi thể anh, quân đội Israel tìm thấy một mẩu giấy nhét trong móng chân của anh: “Tôi không bao giờ phản bội”.
Đêm tháng 10 năm 1956 đó, quyết định đầu tiên của Amnon là ngừng bắn: Nhiệm vụ của ông là bắn phá tầng hai của tòa nhà cảnh sát Gioóc-đa-ni cho đến khi lính dù của Israel ập vào tầng trệt. Ông sợ sẽ giết nhầm đồng đội. Sau khi ngừng nã đạn, qua điện đàm trên xe tăng, ông nghe thấy các báo cáo từ mặt đất. “Đột nhiên, tôi nhận ra thực tế; đây không chỉ là một cuộc phiêu lưu hành động giữa hai bên thiện và ác. Mạng sống đang bị tước đoạt”. Lính dù là lực lượng chiến đấu tinh nhuệ của Israel. Khi đánh giáp lá cà, đơn vị của họ phải hứng chịu thương vong nặng nề, vậy mà các báo cáo của họ về trận chiến lọt đến tai của Amnon bên trong xe tăng lại hết sức bình tĩnh, gần như là thản nhiên. “Không hề có sự hoảng loạn”, anh nói, “quả thật, ngữ điệu không hề thay đổi, hầu như chẳng thể hiện cảm xúc gì”. Những người lính Do Thái này đã trở thành các chiến binh Sparta: Chuyện đó xảy ra như thế nào? Ông tự hỏi bản thân sẽ xoay xở ra sao khi đánh giáp lá cà. Ông cũng khao khát trở thành một chiến binh.
Hai tuần sau, ông lái xe tăng vào Ai Cập trong một sự kiện hóa ra lại châm ngòi cho một cuộc xâm chiếm quân sự. Trong trận đánh, ông không chỉ hứng chịu sự oanh tạc của quân Ai Cập mà cả các chiến đấu cơ Israel. Ông nhớ rõ nhất là khi một chiếc MiG-15 của Ai Cập lao thẳng xuống xe tăng trong lúc ông vừa thò đầu lên trên tháp pháo để nhìn bao quát chiến trường vừa hô lớn cho người lái chạy zig zag để tránh đạn. Có cảm giác như chiếc MiG đang thực thi nhiệm vụ đặc biệt là bắn bay đầu ông vậy. Vài ngày sau đó, những người lính Ai Cập tuyệt vọng đã rút lui nhanh và tiến lại xe tăng của Amnon với hai tay đưa lên trời. Họ cầu xin được cung cấp nước cùng sự bảo vệ từ chính những người Ả Rập du cư đã săn đuổi họ để lấy súng trường và ủng. Mới ngày hôm qua, ông còn đang đuổi giết những con người này, vậy mà bây giờ lại cảm thấy thương hại. Ông lại kinh ngạc thêm lần nữa – “thật dễ chuyển từ một cỗ máy giết chóc hiệu quả sang một con người đầy lòng trắc ẩn, sự hoán đổi ấy còn diễn ra nhanh đến chóng mặt”. Sao chuyện đó lại xảy ra?
Sau các trận đánh, Amnon chỉ muốn chạy trốn khỏi tất cả. “Tôi có đôi chút hoang dã sau 2 năm trên xe tăng”, ông nói. “Tôi muốn đi đến nơi xa nhất có thể. Bay ra nước ngoài thì quá đắt”. Người Israel trong những năm 1950 không nói về căng thẳng chiến tranh hay sự bất mãn: Họ chỉ đối mặt với nó. Ông nhận việc trong một mỏ đồng ở sa mạc phía Bắc Biển Đỏ – được cho là một trong những khu mỏ huyền thoại của Vua Solomon. Ông giỏi toán hơn bất kỳ công nhân nào khác, hầu hết họ là các lao động tù đày, bởi thế ông đã trở thành kế toán của khu mỏ. Một trong số những tiện ích mà mỏ của Vua Solomon không có là nhà vệ sinh, hoặc giấy vệ sinh. “Tôi phải đi ra ngoài để – xin thứ lỗi – đại tiện. Tôi thấy một mẩu quảng cáo trên tờ báo và lấy nó để chùi. Ở đó viết Đại học Hebrew sắp mở khoa tâm lý học”. Lúc đó ông 20 tuổi. Những gì ông biết về tâm lý học là Freud và Jung – “không có nhiều giáo trình về tâm lý học ở Hebrew” nhưng ông hứng thú với chủ đề này. Chính ông cũng không biết tại sao. Tự nhiên gọi, tâm lý học trả lời.
Đầu vào khoa tâm lý học đầu tiên của Israel không giống như hầu hết các khoa khác của Đại học Hebrew, tỷ lệ chọi rất cao. Vài tuần sau khi đọc mẩu quảng cáo trên báo, Amnon đứng xếp hàng bên ngoài tu viện được sử dụng làm Đại học Hebrew, chờ làm một loạt bài kiểm tra kỳ lạ – trong đó có một bài do Danny Kahneman soạn, người đã viết ra một trang văn xuôi theo thứ ngôn ngữ do ông tự sáng tạo để thí sinh phải cố gắng giải mã cấu trúc ngữ pháp trong đó. Hàng dài thí sinh giảm xuống chỉ còn một nhúm. Chỉ có chừng 20 chỉ tiêu cho khoa mới này, nhưng lại có đến hàng trăm người muốn vào: Năm 1957, một lượng lớn đáng kinh ngạc những người Israel trẻ tuổi muốn biết điều gì đã khiến con người cư xử theo kiểu cách của riêng mình. Tài năng của họ cũng khiến thiên hạ ngỡ ngàng: Trong số 20 người được nhận, 19 người tiếp tục học lên tiến sĩ, người còn lại là một phụ nữ, một trong những người đạt điểm cao nhất khi thi tuyển đầu vào, nhưng sự nghiệp của bà sau đó phải dừng lại vì con cái. Israel không có khoa tâm lý học cũng giống như bang Alabama không có đội bóng bầu dục.
Đứng xếp hàng bên cạnh Amnon là một người lính nhỏ bé, khuôn mặt non choẹt nhợt nhạt. Cậu ta trông khoảng 15 tuổi nhưng cách ăn mặc thì khá buồn cười, đi ủng đế cao su, mặc quân phục là thẳng thớm, đầu đội chiếc mũ nồi đỏ của lính dù Israel. Một chiến binh Sparta đời mới. Rồi cậu ấy bắt đầu nói. Tên cậu là Amos Tversky. Amnon không nhớ chính xác cậu ta đã nói những gì nhưng ông nhớ rất rõ cảm giác của mình. “Tôi không thông minh bằng cậu ta. Tôi hiểu ra ngay lập tức”.
_______________
Đối với đồng bào Israel, Amos Tversky bằng cách nào đó ngay lập tức trở thành người đặc biệt nhất họ từng gặp và là người Israel ưu tú nhất. Cha mẹ ông là một trong những người tiên phong chạy trốn khỏi chủ nghĩa bài Do Thái ở Nga vào đầu những năm 1920 để xây dựng một quốc gia theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Mẹ ông, Genia Tversky, là người có thế lực trong xã hội và là nhà hoạt động chính trị, bà trở thành thành viên Quốc hội Israel nhiệm kỳ đầu tiên và 4 nhiệm kỳ tiếp sau đó. Bà hy sinh đời tư vì việc công và không quá khổ sở về lựa chọn này. Bà thường xuyên đi xa – bà đã bỏ lỡ 2 năm đầu đời của Amos để ở châu Âu hỗ trợ quân đội Mỹ giải phóng các trại tập trung và tái định cư cho những người sống sót. Lúc trở về, bà dành nhiều thời gian ở Quốc hội tại Jerusalem hơn ở nhà.
Amos có một chị gái, nhưng chị hơn ông 13 tuổi và trên thực tế, ông được nuôi dưỡng như con một. Người đảm nhận hầu hết việc nuôi dưỡng là cha ông, một bác sĩ thú y đã dành phần lớn thời gian để trị bệnh cho gia súc. (Người Israel không có tiền nuôi sinh vật cảnh). Yosef Tversky, con trai một giáo sĩ, coi thường tôn giáo và yêu văn học Nga, rất thích những điều được thốt ra từ miệng của chính đồng bào mình. Cha ông đã từ bỏ sự nghiệp y khoa từ rất sớm, Amos giải thích với bạn bè là bởi “ông nghĩ động vật có nhiều nỗi đau thực sự hơn con người nhưng lại ít than vãn hơn”. Yosef Tversky là một người đàn ông rất nghiêm túc. Cùng lúc, khi nói tới cuộc sống và công việc, ông đã làm cho con trai cười lăn cười bò về các trải nghiệm của mình cũng như những bí ẩn của sự tồn tại. “Công trình này dành tặng cha tôi, người đã dạy tôi phải biết thắc mắc”, Amos sau này viết vào phần mở đầu luận án tiến sĩ của mình.
Amos thích nói rằng những điều thú vị sẽ đến với người có thể thêu dệt chúng thành các câu chuyện hay. Ông cũng có thể kể một câu chuyện với hiệu ứng mới gây sửng sốt. Giọng nói hơi ngọng nghịu của ông gợi nhớ tới cách mà người xứ Catalan nói tiếng Tây Ban Nha. Ông xanh xao nhợt nhạt đến nỗi làn da gần như trong suốt. Cho dù đang nói hay nghe, đôi mắt xanh lơ của ông luôn đảo tới đảo lui, cứ như thể đang tìm kiếm một ý nghĩ sắp tới.
Ngay cả lúc nói, ông cũng tạo ra ấn tượng về sự chuyển động liên tục. Ông không lực lưỡng – luôn bé nhỏ – nhưng rất linh hoạt và nhanh nhẹn: luôn tay luôn chân và cực kỳ lanh lợi. Ông có khả năng gần như hoang dã để chạy với tốc độ cực nhanh lên và xuống núi. Một trong những trò yêu thích của Amos – thi thoảng ông làm điều này trong lúc kể chuyện – là trèo lên cao, tảng đá, cái bàn hoặc một chiếc xe tăng quân đội, rồi ngã úp mặt xuống đất. Người song song với mặt đất, ông sẽ thả mình xuống cho đến khi mọi người thét lên thì mới ngửa người lên vào phút chót, rồi bằng cách nào đó tiếp đất bằng chân. Ông mê cái cảm giác rơi xuống và mê nhìn thế giới từ trên cao.
Amos cũng rất dũng cảm, hay ít ra ông cố tỏ ra như thế. Không lâu sau khi cha mẹ đưa ông rời khỏi Jerusalem, vào năm 1950, đến thành phố ven biển Haifa, ông đã đến bể bơi cùng những đứa trẻ khác. Bể bơi có một bục nhảy cao 10m. Đám trẻ thách ông nhảy xuống từ đó. Lúc bấy giờ, Amos 12 tuổi nhưng chưa biết bơi. Ở Jerusalem, trong cuộc chiến giành độc lập, họ còn chẳng có nước để uống nên dĩ nhiên không có nước để lấp đầy bể bơi. Amos tìm một cậu bé to con và nói tôi sẽ làm, nhưng tôi cần bạn ở dưới bể bơi khi tôi nhảy xuống để kéo tôi từ dưới đáy lên. Amos nhảy và cậu bạn to con đã cứu cậu khỏi chết đuối rồi kéo cậu lên khỏi hồ bơi.
Vào trung học, giống như bao thanh thiếu niên Israel khác, Amos cần quyết định xem mình sẽ học chuyên toán và khoa học hay nhân văn. Xã hội mới gây sức ép lớn khiến các cậu bé phải chọn toán và khoa học. Đó là lĩnh vực để có được địa vị và sự nghiệp trong tương lai. Amos có năng khiếu toán học và khoa học, có lẽ giỏi hơn bất kỳ bạn nào khác. Thế nhưng, cô độc giữa những bạn thông minh trong lớp – trước sự hoang mang của tất cả mọi người – ông chọn khoa học nhân văn. Một sự mạo hiểm nữa vào thế giới lạ: Amos nói ông có thể tự học toán và không thể bỏ qua cái cảm giác cực kỳ phấn khích khi được học với thầy dạy khoa học nhân văn, một người đàn ông tên là Baruch Kurzweil. “Ngược với hầu hết các giáo viên chỉ lan truyền sự buồn chán, hời hợt, em cực kỳ thích thú cũng như ngạc nhiên trong các giờ văn học Hebrew và triết học của thầy”, Amos viết thư cho chị gái Ruth, bà đã chuyển đến Los Angeles sống. Amos làm thơ tặng thầy Kurzweil và nói với mọi người rằng ông dự định trở thành một nhà thơ hoặc nhà phê bình văn học.1
Ông hình thành mối quan hệ tình cảm mãnh liệt, riêng tư và lãng mạn với một sinh viên mới tên là Dahlia Ravikovitch. Một hôm cô đến lớp, vẻ buồn rầu. Sau khi cha qua đời, cô bất đắc dĩ phải sống ở khu định cư2, điều khiến cô cảm thấy ghê tởm, rồi phải chuyển từ hết nhà nuôi dưỡng này đến nhà nuôi dưỡng khác. Cô là hình ảnh của tình trạng xa lánh xã hội, chính xác hơn là một phiên bản xã hội Israel những năm 1950, thế nhưng Amos, nam sinh nổi tiếng nhất trường lại chơi với cô. Những bạn khác chẳng biết phải hiểu như thế nào. Amos trông vẫn như trẻ con; Dahlia dường như đã là một cô gái trưởng thành về mọi mặt. Ông yêu thích thiên nhiên và các trò chơi; còn cô bạn… à thì, khi tất cả các cô gái khác đi học thể dục thì cô nàng ngồi bên cửa sổ và hút thuốc. Amos thích được ở cùng những nhóm đông người; còn Dahlia lại thích một mình. Chỉ sau này, khi thơ của Dahlia giành được các giải thưởng văn học cao nhất của Israel và gây sốt toàn cầu, mọi người mới nói: “À, bảo sao. Hai thiên tài”. Cũng như vậy, sau khi Baruch Kurzweil trở thành nhà phê bình văn học xuất chúng nhất Israel, Amos mới muốn học cùng ông. Nó hợp lý nhưng cũng không hợp lý. Amos là người sôi nổi nhất mọi người từng biết, còn Dahlia, giống như Kurzweil, đã từng tự tử (Kurzweil đã thành công).
1. Khi còn trẻ, B. F. Skinner hiểu rằng mình sẽ không bao giờ viết được một cuốn tiểu thuyết Mỹ vĩ đại, ông cảm thấy gần như tuyệt vọng đến nỗi phải trị liệu tâm lý. Nhà tâm lý học huyền thoại George Miller tuyên bố từ bỏ tham vọng văn chương để theo tâm lý học vì ông chẳng có gì để viết. Ai biết được những cảm xúc lẫn lộn mà William James đã trải qua khi đọc cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh trai Henry là gì? “Sẽ thật thú vị khi hỏi có bao nhiêu nhà tâm lý học không thể trở thành những nhà văn vĩ đại, điều tưởng chừng như đã rất gần họ rồi”, một tâm lý gia lỗi lạc người Mỹ nói. “Đó có thể là động cơ nền tảng”. (TG)
2. Từ gốc là kibbutz, Công xã hiện đại kiểu Israel. Ở đó, mọi người sinh hoạt và làm việc chung, không có tài sản riêng. (ND)
Giống như nhiều thanh thiếu niên Do Thái ở Haifa vào đầu những năm 1950, Amos tham gia một phong trào thanh niên cánh tả gọi là Nahal. Ông sớm được bầu làm lãnh đạo. Nahal – từ viết tắt của cụm từ tiếng Hebrew có nghĩa “Thanh niên Tiền phong Chiến đấu” – là một phương tiện chở thanh niên tôn sùng chủ nghĩa phục quốc Do Thái từ trường về khu định cư. Ý tưởng là họ sẽ phục vụ như những người lính và bảo vệ trang trại trong vài năm để rồi sau đó trở thành nông dân.
Trong năm cuối trung học của Amos, viên đại tướng dày dạn trận mạc Moshe Dayan nổi tiếng của Israel đã đến Haifa để nói chuyện với các học sinh. Một chàng trai đến dự nhớ lại: “Ông bảo tất cả những ai gia nhập Nahal giơ tay. Nhiều cánh tay đưa lên. Dayan nói: ‘Các bạn là những kẻ phản bội. Chúng tôi không muốn các bạn trồng cà chua và dưa chuột. Chúng tôi muốn các bạn chiến đấu’”. Năm tiếp theo, mỗi nhóm thanh niên ở Israel được yêu cầu chọn ra 12 bạn trẻ trong số 100 người để phục vụ đất nước, không phải để làm nông dân mà là trở thành lính dù. Amos trông giống một nam hướng đạo sinh hơn là một người lính tinh nhuệ nhưng ông đã tình nguyện ngay lập tức. Quá nhẹ cân, không đủ điều kiện nhập ngũ, ông uống nước cho đến khi đủ cân.
Tại trường huấn luyện lính dù, Amos và những chàng trai trẻ khác đã trở thành biểu tượng của đất nước mới: các chiến binh và cỗ máy giết chóc. Không được hèn nhát. Một khi đã chứng minh mình có thể nhảy xuống đất từ độ cao 5,5m mà không hề hấn, họ sẽ được đưa lên những chiếc máy bay cũ kỹ bằng gỗ từ Thế chiến II. Cánh quạt cao ngang với cửa nhưng nằm ngay phía trước, vì vậy luồng gió mạnh tạo ra từ nó sẽ hất bạn về phía sau ngay khi bước chân ra ngoài. Đèn trên cánh cửa màu đỏ. Họ kiểm tra quân trang cho nhau đến khi đèn chuyển sang màu xanh lá và từng người một tiến lên: Bất cứ ai do dự đều bị đẩy ra ngoài.
Vài lần nhảy đầu tiên, nhiều chàng trai trẻ còn ngập ngừng; họ cần một chút thúc đẩy. Một cậu trong nhóm của Amos không chịu nhảy và bị khai trừ khỏi tổ chức cho đến hết đời. (“Cần một lòng dũng cảm thực sự để quyết định không nhảy”, một cựu lính nhảy dù sau này nói). Amos không bao giờ ngần ngại. “Ông ấy luôn hào hứng tột độ khi nhảy khỏi máy bay”, Uri Shamir, một lính dù cùng đội nhớ lại. Ông đã nhảy 50 lần, có khi còn nhiều hơn thế. Ông nhảy xuống sau phòng tuyến kẻ thù. Ông nhảy vào trận chiến năm 1956, trong chiến dịch Sinai. Một lần, ông vô tình nhảy trúng một tổ ong bắp cày và bị đốt đến bất tỉnh. Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1961, lần đầu tiên trong đời ông đi máy bay mà không có dù để đến học sau đại học tại một ngôi trường ở Mỹ. Khi máy bay hạ thấp độ cao, ông nhìn mặt đất bên dưới với vẻ hiếu kỳ thật sự, quay sang người ngồi bên cạnh và nói: “Tôi chưa bao giờ hạ cánh”.
_______________
Không lâu sau khi gia nhập đội lính dù, Amos trở thành trung đội trưởng. “Thật kinh ngạc khi con người có thể thích nghi nhanh chóng với một lối sống mới”, ông viết thư cho chị gái ở Los Angeles. “Em trông chẳng khác gì tụi bằng tuổi ngoài hai sọc trên cánh tay. Bây giờ họ chào em và làm theo mọi mệnh lệnh của em: chạy và bò. Giờ đây mối quan hệ này đã được chấp nhận, ngay cả với em, và có vẻ khá tự nhiên rồi”. Những lá thư Amos gửi về nhà bị kiểm duyệt và ông chỉ nói sơ qua về chuyện chiến trường. Ông được phái đi làm các nhiệm vụ trả đũa, gây ra những hành vi tàn bạo ở cả hai phe. Ông mất người nhưng cũng cứu được người. “Một trong những lần làm ‘nhiệm vụ trả đũa’, em đã cứu một người lính của mình nên được tuyên dương”, ông viết cho chị gái. “Em không nghĩ mình đã làm được một việc anh hùng, em chỉ muốn lính của mình trở về nhà an toàn”.
Còn có những trải nghiệm khó khăn khác, nhưng ông không viết và cũng hiếm khi nói ra. Một sĩ quan cao cấp hung dữ người Israel muốn kiểm tra xem người của mình có thể đi bao xa mà không có đồ tiếp tế thông thường, ông ta đã không cung cấp nước uống cho họ suốt những chặng đường rất dài. Cuộc thử nghiệm kết thúc khi một trong những người lính của Amos chết vì mất nước; Amos đã làm chứng chống lại viên sĩ quan chỉ huy tại tòa án binh sau này. Một buổi tối, đám người của Amos trùm chăn lên đầu một tên sĩ quan tàn ác khác và đánh đập hắn dã man. Amos không tham gia, nhưng trong cuộc điều tra sau đó, ông đã giúp lính của mình tránh khỏi bị truy tố. “Khi bị tra hỏi, chỉ cần làm cho họ phát chán bằng nhiều chi tiết chẳng ăn nhập và họ sẽ bị đánh lạc hướng”, ông dặn binh lính và cách đó đã hiệu quả.
Đến cuối năm 1956, Amos không chỉ là trung đội trưởng mà còn là người nhận được một trong những phần thưởng cao nhất của quân đội Israel dành cho lòng dũng cảm. Trong một buổi thao luyện trước mặt Bộ Tổng tham mưu của Lực lượng Quốc phòng Israel, một trong những người lính của ông được giao nhiệm vụ phá hàng rào dây thép gai bằng bộc phá gậy1. Từ thời điểm kéo dây kích nổ, người lính có 20 giây để chạy đi nấp. Người lính đẩy bọc phá xuống bên dưới hàng rào, giật mạnh dây rồi ngất xỉu và ngã sụp xuống ngay trên đống thuốc nổ. Viên sĩ quan chỉ huy của Amos hô to bảo mọi người ở nguyên vị trí, để mặc cho người lính bất tỉnh chết. Amos phớt lờ ông ta và chạy vọt ra từ phía sau bức tường ẩn náu của đơn vị, tóm lấy người lính, lôi anh ta lên, kéo ra xa 10 thước, thả anh ta xuống đất và quăng người nằm đè lên trên. Những mảnh đạn từ vụ nổ vẫn ở trong người Amos suốt quãng đời còn lại. Quân đội Israel không vinh danh lòng dũng cảm một cách nhẹ nhàng. Khi trao thưởng cho Amos, Moshe Dayan, người đã chứng kiến toàn bộ diễn biến, nói: “Cậu đã làm một điều rất ngu ngốc và dũng cảm nhưng lần sau cậu sẽ không thoát đâu”.
1. Là phát minh của quân đội Ấn Độ, ra đời từ chiến tranh thế giới thứ nhất và vẫn còn được sử dụng cho tới tận ngày nay. Nó có có cấu tạo đơn giản với hình thon dài như cây tre có đường kính khoảng 10cm hoặc hơn, các đầu của bộc phá gậy có thể nối với nhau tạo ra một cái gậy dài. (ND)
Thỉnh thoảng, những ai quan sát hành động của Amos đều cảm nhận rằng ông e ngại bị người khác nghĩ mình không nam tính hơn là thực sự dũng cảm. “Amos luôn rất hăng hái”, Uri Shamir nhớ lại. “Tôi nghĩ điều này có lẽ bù đắp cho thể trạng gầy gò, yếu đuối và xanh xao”. Đôi lúc việc đó cũng không thành vấn đề: Amos buộc mình phải dũng cảm cho đến khi nó trở thành thói quen. Và khi thời gian trong quân ngũ kết thúc, ông cảm nhận rõ sự thay đổi nơi bản thân. “Em không thể dứt bỏ cảm giác rằng bây giờ chị gần như sẽ không nhận ra em nữa”, Amos viết thư cho chị gái. “Thư từ không thể truyền tải hết những thay đổi mạnh mẽ của một chàng trai trong bộ quân phục mà chị sẽ gặp. Cậu ấy rất khác cậu chàng mặc quần soóc kaki chị đưa đến sân bay 5 năm về trước”.
Ngoài dòng thư ngắn đó, Amos hiếm khi đề cập đến những trải nghiệm thời quân đội dù bằng chữ hay bằng lời, trừ khi để kể lại một câu chuyện hài hước hay chuyện lạ – ví dụ như chuyện tiểu đoàn của ông đã bắt được một đàn lạc đà Ai Cập trong chiến dịch Sinai như thế nào. Amos chưa từng cưỡi lạc đà, nhưng khi chiến dịch quân sự kết thúc, ông đã thắng cuộc thi cưỡi con lạc đà đầu đàn. Ông chóng mặt sau 15 phút và dành 6 ngày tiếp theo đi bộ cùng đoàn lữ hành băng qua Sinai. Hay tại sao những người lính của ông, ngay cả khi đang chiến đấu, vẫn không chịu đội mũ sắt, họ nói trời quá nóng và “nếu đạn nhắm vào tôi, đằng nào tôi cũng chết”. (Đối lại, Amos nói: “Thế còn những viên đạn gửi đến ‘Những người liên quan’ thì sao?”). Những câu chuyện của Amos thường bắt đầu bằng một quan sát bất chợt nào đó về thế giới xung quanh. “Hầu như lúc nào tình cờ gặp, Amos cũng đều bắt đầu cuộc trò chuyện bằng câu: ‘Tôi đã kể chuyện này chưa nhỉ?’”, Samuel Sattath, nhà toán học người Israel nhớ lại. “Nhưng các câu chuyện không phải nói về Amos. Ví dụ ông ấy sẽ nói thế này: ‘Cậu biết không, trong một cuộc họp ở trường đại học của Israel, mọi người đều nhảy vào nói, vì họ cho là người khác có thể sắp nói điều họ muốn nói. Còn tại một cuộc họp khoa của trường đại học Mỹ, mọi người đều im lặng, bởi họ nhận định người khác sẽ suy nghĩ để nói ra những gì họ muốn nói...’”. Và ông bắt đầu tìm hiểu về sự khác biệt giữa người Mỹ với người Israel – tại sao người Mỹ tin ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay, trong khi người Israel tin chắc ngày mai sẽ tồi tệ hơn; sao trẻ em Mỹ luôn chuẩn bị kỹ khi đến lớp, còn trẻ em Israel không bao giờ đọc sách nhưng chúng lại luôn có những ý tưởng táo bạo...
Đối với những ai hiểu rõ Amos nhất, các câu chuyện của ông chỉ là một cái cớ để yêu thích Amos thôi. “Những ai biết Amos không thể nói về điều gì khác”, theo lời một người phụ nữ Israel, bạn lâu năm của ông. “Chúng tôi thích nhất là gặp nhau và nói về ông ấy, hết lần này đến lần khác”. Bắt đầu thường sẽ là các câu chuyện về những điều hài hước mà Amos nói, thường trực tiếp nhắm đến những người ông hiểu rõ. Ông từng lắng nghe một nhà kinh tế học người Mỹ nói về chuyện này ngu ngốc ra sao và kẻ kia khờ dại thế nào, rồi lên tiếng: “Tất cả mô hình kinh tế của ông đều căn cứ vào những con người thông minh và duy lý, nhưng tất cả những kẻ mà ông biết đều ngốc”. Ông đã nghe Murray Gell-Mann, nhân vật từng đoạt giải Nobel vật lý, cứ nói dài lê thê về gần như đủ mọi chủ đề trên đời. Sau khi Gell-Man nói xong, Amos bảo: “Ông biết không, Murray, không ai trên thế giới này thông minh bằng ông như ông nghĩ”. Có lần, sau khi Amos diễn thuyết, một nhà thống kê người Anh đã tiến lại gần. “Tôi thường không thích người Do Thái nhưng tôi thích cậu”, nhà thống kê nói. Amos đáp: “Tôi thường thích người Anh nhưng tôi không thích ông”.
Những ảnh hưởng từ điều Amos nói càng khiến người ta hay nói về ông. Có lần Đại học Tel Aviv tổ chức tiệc cho một nhà vật lý vừa giành Giải thưởng Wolf1. Đó là danh hiệu cao quý thứ nhì trong lĩnh vực này, những người giành giải thưởng đa số đều giành cả giải Nobel. Hầu hết các nhà vật lý hàng đầu trong nước đều đến dự tiệc, nhưng không biết vì lẽ gì, nhân vật đoạt giải thưởng Wolf lại ngồi ở góc phòng cùng với Amos – người gần đây dành sự quan tâm đến hố đen. Ngày hôm sau, chủ nhân giải thưởng gọi cho những người tổ chức tiệc để hỏi: “Nhà vật lý mà tôi đã trò chuyện là ai? Anh ấy chưa cho tôi biết tên”. Sau một hồi loay hoay chạy tới chạy lui, họ mới hiểu người ông ấy nhắc đến chính là Amos và nói với ông rằng Amos không phải là nhà vật lý mà là nhà tâm lý học. “Không thể nào”, ông nói, “ông ấy là người thông minh nhất trong tất cả các nhà vật lý”.
1. Một giải thưởng quốc tế được trao từ năm 1978 dành cho các nhà khoa học và nghệ sĩ còn sống vì “những thành tựu trong sự quan tâm của nhân loại và mối quan hệ thân mật của con người… không kể quốc tịch, chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính hay quan điểm chính trị”. (ND)
Nhà triết học Avishai Margalit của Đại học Princeton nói: “Bất kể chủ đề là gì, điều đầu tiên Amos nghĩ tới đều nằm trong top 10%. Đây thật sự là một khả năng nổi bật. Sự tường minh và sâu sắc trong phản ứng đầu tiên của ông đối với bất kỳ vấn đề nào – về mọi vấn đề trí tuệ – đều thật đáng kinh ngạc. Cứ như thể ông đang ở ngay giữa bất kỳ cuộc thảo luận nào”. Irv Biederman, nhà tâm lý học của Đại học Nam California, cho biết: “Về mặt thể chất, ông ấy không nổi bật. Trong một căn phòng 30 người, Amos sẽ là người cuối cùng bạn chú ý tới. Và sau đó ông bắt đầu nói chuyện. Bất cứ ai từng gặp ông đều nghĩ ông là người thông minh nhất họ từng biết”. Nhà tâm lý học của Đại học Michigan, Dick Nisbett, sau khi gặp Amos đã soạn ra bài kiểm tra trí thông minh chỉ gồm một câu: Bạn càng sớm nhận thấy Amos thông minh hơn mình thì bạn càng thông minh. “Ông ấy bước vào phòng”, Varda Liberman, nhà toán học, vừa là bạn thân vừa là cộng sự của Amos hồi tưởng, “trông không có vẻ gì đặc biệt. Cách ăn mặc cũng chẳng nói lên điều gì. Amos lặng lẽ ngồi đấy. Rồi ông ấy bắt đầu nói. Rất nhanh thôi, ông ấy sẽ trở thành tia sáng hấp dẫn tất cả; rất nhanh thôi, mọi người sẽ kính nể Amos và muốn lắng nghe ông ấy nói”.
Mặc dù vậy, hầu hết các câu chuyện mọi người kể về Amos đều ít liên quan đến những gì ông nói so với cách sinh hoạt lạ lùng trong thế giới của mình. Ông duy trì lịch sinh hoạt như ma cà rồng. Ông đi ngủ khi mặt trời lên và thức dậy vào giờ hàng quán giảm giá. Ông ăn dưa chua vào bữa sáng và trứng cho bữa tối. Amos giảm thiểu các việc hằng ngày ông cho là phí phạm thời gian – cũng có thể thấy ông giữa ban ngày, vừa ngủ dậy, vừa lái xe đi làm vừa soi gương chiếu hậu để cạo râu và đánh răng. “Bố quan tâm đến giờ giấc”, Dona, con gái của ông nói. “Điều đó không quan trọng. Ông sống trong thế giới riêng và bạn chỉ tình cờ gặp ông ở đó”. Amos không hề giả vờ thích thú bất cứ điều gì người khác kỳ vọng ông để tâm đến – đố ai kéo được ông đến một bảo tàng hay cuộc họp hội đồng quản trị nào đó. “Ai thích gì kệ họ”, Amos thích nói thế, trích một câu trong cuốn tiểu thuyết The Prime of Miss Jean Brodie (tạm dịch: Thời xuân sắc của cô Jean Brodie) của Muriel Spark. “Bố bỏ luôn các kỳ nghỉ của gia đình”, con gái Amos nói. “Bố sẽ đi nếu thích nơi đó. Không thì thôi”. Các con của ông chẳng buồn vì điều đó: Chúng yêu bố và biết bố cũng yêu mình. “Bố yêu mọi người”, con trai Oren của ông nói. “Bố chỉ không thích những thói thường”.
Rất nhiều điều mà hầu hết con người không bao giờ nghĩ sẽ dám làm, Amos lại thấy hợp lý. Chẳng hạn, khi muốn chạy bộ thì ông… chạy thôi. Không giãn cơ khởi động, không cần trang phục chạy bộ, chỉ chạy bộ thôi: ông phóng ào ra khỏi cửa trước và chạy nhanh nhất có thể cho đến lúc không chạy được nữa, hoặc sau khi ông mua máy chạy bộ, cởi bỏ quần dài rồi chạy trong nhà với cái quần lót. “Amos nghĩ mọi người phải chi quá nhiều tiền chỉ để tránh đôi chút ngượng ngùng”, Avishai Margalit, bạn ông nói, “và ông ấy quyết định từ rất sớm là chuyện đó không đáng”.
Điều rốt cuộc tất cả những người biết Amos đều nhận ra là người đàn ông này có khả năng bẩm sinh phi thường trong việc thực hiện chính xác những gì mình muốn. Varda Liberman nhớ lại một hôm đến thăm Amos và nhìn thấy cái bàn chất chồng cả đống thư của một tuần. Có những chồng nhỏ gọn gàng, mỗi ngày một chồng, từng chồng đều chứa đầy lá thư ngỏ, khẩn nài và yêu cầu có được thời gian của Amos: lời mời làm việc, trao bằng danh dự, xin phỏng vấn và mời giảng dạy, đề nghị giúp đỡ về một vấn đề khó hiểu nào đấy, các hóa đơn. Khi thư mới đến, Amos chỉ mở thứ khiến mình quan tâm và bỏ phần còn lại vào chồng thư được xếp theo ngày. Ngày qua ngày, thư mới tới lại đẩy thư cũ xuống phía cuối bàn. Khi một chồng thư đã đến cuối bàn, Amos vẫn không bóc ra mà đẩy chúng ra mép bàn cho rơi xuống một sọt rác để sẵn. “Cái hay của những việc đang cấp bách”, ông thích nói vậy, “là nếu bạn chờ đợi đủ lâu, nó sẽ không còn cấp bách nữa”. “Tôi hay bảo Amos rằng mình phải làm chuyện này hay chuyện kia”, bạn cũ Yeshu Kolodny của ông nhớ lại. “Và ông ấy sẽ nói: ‘Không. Anh không phải làm đâu’. Và tôi nghĩ: người đàn ông may mắn!”.
Có một sự đơn giản đẹp đẽ nơi Amos: những điều ông thích và không thích có thể được suy ra trực tiếp, chính xác và mọi lúc thông qua các hành động của ông. Ba người con của Amos vẫn còn nhớ rõ đã nhìn thấy bố mẹ lái xe rời nhà đi xem một bộ phim do mẹ chọn, thế mà chỉ 20 phút sau đã thấy bố về nằm trên đi-văng ở nhà. Amos sẽ quyết định ngay trong 5 phút đầu tiên là bộ phim có đáng xem không – và nếu không đáng thì ông sẽ về nhà để xem Hill Street Blues (bộ phim truyền hình yêu thích của ông) hay chương trình Saturday Night Live (ông chưa bao giờ bỏ phần nào) hoặc một trận đấu NBA (ông mê bóng rổ). Rồi ông sẽ quay lại và đón vợ sau khi bộ phim của bà kết thúc. “Họ đã lấy tiền của tôi”, ông giải thích. “Tôi phải cho họ luôn cả thời gian của mình à?”. Nếu vì tình cờ, Amos tụ tập với những người bạn không gây chút hứng thú nào, ông sẽ trở nên vô hình. “Ông sẽ vào một căn phòng, quyết định không muốn liên quan gì hết rồi lẩn dần và biến mất”, Dona nói. “Đó giống như một siêu năng lực. Rõ ràng là chối bỏ trách nhiệm xã hội. Ông không chấp nhận trách nhiệm xã hội – theo một cách rất tinh tế và lịch lãm”.
Thỉnh thoảng Amos làm người khác khó chịu – dĩ nhiên. Đôi mắt xanh lơ nhanh như cắt của ông đủ làm những người không hiểu ông cảm thấy bối rối. Đôi mắt chuyển động liên tục khiến họ có ấn tượng rằng ông không lắng nghe họ nói, nhưng vấn đề thường là do ông nghe quá kỹ. “Đối với ông ấy, vấn đề chính là mọi người không hiểu sự khác nhau giữa biết và không biết”, Avishai Margalit nói. “Nếu Amos nghĩ bạn là một người nhàm chán và rỗng tuếch, ông ấy sẽ cắt đứt quan hệ với bạn nhẹ như không”. Những ai biết rõ Amos nhất sẽ học được cách lý giải mọi thứ ông nói hoặc làm.
Những người ông muốn dành thời gian cùng chưa bao giờ từ chối ông. “Trước tiên, ông ấy muốn thu hút bạn”, Samuel Sattath nói. “Đó là điều kỳ lạ đối với một con người thông minh như vậy”. “Giống như ông ấy mời người khác yêu mến mình vậy”, Yeshu Kolodny nói. “Khi bạn hợp rơ với Amos, bạn sẽ thấy ông ấy thật dễ mến. Cực kỳ dễ. Có một cuộc cạnh tranh xung quanh ông ấy. Mọi người đều tranh giành Amos”. Bạn bè của Amos rất hay tự hỏi: Mình biết tại sao mình thích cậu ấy, nhưng tại sao cậu ấy lại thích mình?
_______________
Amnon Rapport không thiếu người ngưỡng mộ. Ông nổi tiếng dũng cảm trong chiến đấu. Lần đầu tiên ngắm nhìn mái tóc vàng hoe, làn da rám nắng và những nét mặt sắc sảo của ông, phụ nữ Israel thường quả quyết Amnon là người đàn ông điển trai nhất họ từng ngắm. Rồi một ngày, ông lấy bằng tiến sĩ tâm lý toán học và trở thành một giảng viên được đánh giá cao, có thể lựa chọn đến bất kỳ trường đại học nào trên thế giới. Thế nhưng, khi cảm thấy Amos thích mình, ông vẫn thắc mắc tại sao. “Tôi biết tôi thích Amos vì ông ấy rất thông minh”, Amnon nói. “Tôi không biết điều gì ở tôi đã thu hút ông ấy. Tôi được cho là rất đẹp trai, có lẽ vậy”. Dù là vì lý do gì, sự hấp dẫn vẫn rất mạnh mẽ. Từ lúc quen nhau, Amnon và Amos như hình với bóng. Họ ngồi cạnh nhau trong giờ học, ở cùng căn hộ, cùng về quê đi bộ việt dã nhiều mùa hè. Họ nổi tiếng là một cặp bài trùng. “Tôi nghĩ một số người cho rằng chúng tôi đồng tính hay gì đó”, Amnon nói.
Amnon cũng là người hiểu rõ nhất khi Amos quyết định sẽ làm gì với cuộc đời mình. Đại học Hebrew vào cuối những năm 1950 yêu cầu sinh viên chọn hai lĩnh vực học tập trung. Amos chọn triết học và tâm lý học. Nhưng Amos đã tiếp cận đời sống trí thức một cách chiến lược, cứ như thể nó là một mỏ dầu cần khoan, và sau 2 năm mài mòn ghế tại các giờ triết học, ông tuyên bố triết học là một cái giếng khô. “Tôi nhớ những lời của ông ấy”, Amnon hồi tưởng. “Amos nói: ‘Chúng ta chẳng thể làm gì với triết học. Plato đã giải quyết quá nhiều vấn đề rồi. Chúng ta chẳng thể tạo thêm ảnh hưởng nào trong lĩnh vực này. Có quá nhiều người thông minh nhưng còn quá ít vấn đề cần giải quyết’”. Vấn đề tâm-vật là một ví dụ hay. Các sự kiện tinh thần khác nhau của chúng ta – thứ bạn nghĩ, điều bạn tin – liên quan thế nào đến thể trạng của chúng ta? Mối quan hệ giữa cơ thể và tâm trí của chúng ta là gì? Câu hỏi đó ít nhất cũng bằng tuổi Descartes, nhưng vẫn chưa có đáp án nào – ít nhất là trong triết học. Amos nghĩ vấn đề của triết học là do nó không tuân theo các quy tắc của khoa học. Triết gia đã kiểm chứng các lý thuyết của mình về bản chất con người trên quy mô mẫu là một đối tượng – chính bản thân ông. Tâm lý học ít ra cũng phải ngụy tạo là một khoa học. Ít nhất nó lúc nào cũng phải liên quan đến dữ liệu định lượng. Một nhà tâm lý học có thể kiểm chứng bất kỳ lý thuyết nào ông ta nghĩ ra trên một mẫu người đại diện. Các lý thuyết của ông có thể được kiểm chứng bởi những người khác, rồi các phát hiện của ông sẽ được mô phỏng hay bị bóp méo. Nếu một nhà tâm lý học tình cờ khám phá ra một sự thật, ông ấy có thể sẽ biến nó thành vĩnh cửu.
Đối với những người bạn Israel thân thiết nhất của Amos, việc ông ham mê tâm lý học không có gì kỳ lạ. Các câu hỏi về lý do con người cư xử và suy nghĩ như vậy lúc nào cũng dày đặc trong không khí mà họ hít thở. “Ông ấy không bao giờ bàn luận về nghệ thuật”, Avishai Margalit nói. “Ông ấy bàn về con người. Lúc nào cũng thế, luôn là câu hỏi: Điều gì khiến những người khác cư xử như vậy? Điều đó bắt nguồn từ một ngôi làng nhỏ. Người Do Thái là những nhà buôn nhỏ mọn. Họ luôn phải đánh giá người khác. Ai nguy hiểm? Ai không nguy hiểm? Ai sẽ trả nợ, ai không? Về cơ bản, mọi người đều dựa vào phán đoán tâm lý của mình”. Tuy nhiên, đối với nhiều người, sự hiện diện của một bộ óc minh mẫn như Amos trong lĩnh vực mịt mờ như tâm lý học vẫn còn là một bí ẩn. Làm thế nào con người luôn lạc quan này, với đầu óc sáng suốt và logic, không chấp nhận những thứ nhảm nhí, cuối cùng lại nghiên cứu một lĩnh vực đầy rẫy tâm hồn bất hạnh cùng chủ nghĩa thần bí?
Khi nói về nó, điều ông ít khi làm, Amos làm ra vẻ như nó khởi đầu chỉ là một ý tưởng bất chợt. Khi ông ngoài 40 tuổi và có nhiều bộ óc trẻ trung nổi bật nhất trong lĩnh vực muốn cùng nghiên cứu, ông đã trò chuyện với một giáo sư tâm thần học tại Harvard tên là Miles Shore. Shore hỏi tại sao Amos trở thành nhà tâm lý học. “Thật khó để biết cách thức con người lựa chọn một hướng đi trong đời”, Amos nói. “Các lựa chọn quan trọng mà chúng ta thực hiện trên thực tế đều ngẫu nhiên. Các lựa chọn nhỏ có lẽ cho chúng ta biết nhiều hơn về bản thân. Lĩnh vực chúng ta chọn có thể phụ thuộc vào việc ta gặp giáo viên nào thời trung học. Chọn người để kết hôn thì tùy thuộc vào việc ai có mặt tại thời điểm thích hợp trong cuộc đời. Mặt khác, các quyết định nhỏ lại rất có tính hệ thống. Việc tôi trở thành một nhà tâm lý học có lẽ không nói lên gì nhiều. Còn chuyện tôi là kiểu nhà tâm lý học nào lại có thể phản ánh những đặc điểm sâu sắc”.
Amos là kiểu nhà tâm lý học nào? Trong hầu hết các vấn đề tâm lý học, ông cảm thấy rất ít hứng thú. Sau khi tham gia các lớp về tâm lý học trẻ em, tâm lý học lâm sàng và tâm lý học xã hội, ông kết luận rằng đa phần mọi thứ trong lĩnh vực mình chọn đều có thể bỏ qua. Đối với bài được giao, ông rất ít quan tâm. Bạn cùng lớp của ông, Amia Lieblich từng chứng kiến sự thờ ơ của Amos sau khi ông được giáo sư giao nhiệm vụ thực hiện bài kiểm tra trí thông minh cho một đứa trẻ 5 tuổi. “Đêm trước ngày kiểm tra, Amos quay sang Amnon và nói: ‘Amnon, hãy nằm xuống ghế. Tôi sẽ hỏi cậu một số câu. Giả vờ là cậu mới 5 tuổi nhé’. Và rồi ông đã thành công với nó!” Amos là sinh viên duy nhất không bao giờ ghi chép trong lớp. Đến lúc phải ôn thi, Amos chỉ cần mượn vở chép bài của Amnon. “Ông ấy đọc vở của tôi một lần là thuộc bài hơn cả tôi”, Amnon nói. “Đó cũng là cách ông ấy có thể gặp một nhà vật lý trên đường phố, nói chuyện với ông ta 30 phút, trong khi không biết gì về vật lý, sau đó sẽ nói với nhà vật lý kia một điều về vật lý mà đến cả ông ta cũng không biết. Ban đầu tôi còn nghĩ ông ấy cực kỳ nông cạn – rằng đó là trò bịp tếu táo cho vui. Nhưng đó là một suy nghĩ sai lầm. Bởi đó không phải trò bịp”.
Chẳng có ích lợi gì khi quá nhiều giảng viên dường như không có được trải nghiệm thực tế. Nhân vật đến từ Scotland để dạy môn lịch sử tâm lý học đã bị gửi trả lại khi người ta phát hiện ông này làm giả bằng tiến sĩ. Một người được mời đến dạy môn trắc nghiệm tính cách – một người Do Thái Ba Lan từng sống sót qua cuộc tàn sát người Do Thái bằng cách trốn trong rừng – đã phải khóc mà chạy khỏi lớp khi bị cặp đôi Amos và Amnon chất vấn. “Chúng tôi căn bản tự dạy mình học môn tâm lý”, Amnon nhớ lại. Amos đã so sánh tâm lý học lâm sàng – đang rất thịnh hành, lĩnh vực mà các sinh viên cùng khóa rất quan tâm, hầu hết họ muốn trở thành chuyên gia trị liệu tâm lý – với y học. Vào thế kỷ XVII, nếu bạn đi khám bác sĩ thì bạn còn rơi vào tình trạng tệ hơn không đi. Đến cuối thế kỷ XIX, tới gặp bác sĩ là một ý tưởng huề vốn: Đi khám thì cũng có thể tốt hơn hoặc tệ hơn. Amos cho rằng tâm lý học lâm sàng giống như y học vào thế kỷ XVII và có nhiều bằng chứng để củng cố lý lẽ của mình.
Một ngày, vào năm thứ hai của họ tại Đại học Hebrew, năm 1959, Amnon tình cờ đọc luận văn mang tên “Lý thuyết về việc ra quyết định” của một giảng viên tâm lý học tại Đại học Johns Hopkins tên là Ward Edwards. “Ngoài các nhà tâm lý học, có nhiều nhà khoa học xã hội cố gắng lý giải hành vi của các cá nhân”, luận văn mở đầu như thế. “Các nhà kinh tế học và vài nhà tâm lý học đã tạo ra một khối lượng lớn lý thuyết cùng một vài thí nghiệm để tìm hiểu việc ra quyết định cá nhân. Kiểu ra quyết định được khối lý thuyết này giải quyết như sau: đưa ra hai tình huống A và B, một trong hai cá nhân có thể tự đặt mình vào trong đó, người thứ nhất chọn A thay vì B (hoặc ngược lại). Ví dụ, một đứa trẻ đứng trước quầy kẹo có thể cân nhắc hai tình huống. Với tình huống A, nó có 25 xu và không có kẹo. Ở tình huống B, nó có 15 xu và một thanh kẹo 10 xu. Lý thuyết kinh tế về việc ra quyết định trình bày cách thức dự báo những quyết định như vậy”. Edwards tiếp tục đặt ra một vấn đề: Lý thuyết kinh tế, cấu trúc thị trường, hoạch định chính sách công và nhiều thứ khác phụ thuộc vào các lý thuyết về cách thức ra quyết định của con người. Nhưng các nhà tâm lý học – những người có nhiều khả năng nhất để kiểm chứng lý thuyết này và xác định cách thức con người thực sự đưa ra các quyết định – lại không quan tâm nhiều đến chủ đề này.
Edwards không tự đặt bản thân hoặc lĩnh vực của mình vào vị thế đối lập với kinh tế học. Ông chỉ đề xuất các nhà tâm lý học nên được mời hoặc tự đến để kiểm nghiệm những giả định và dự báo của các nhà kinh tế học. Các nhà kinh tế học cho rằng mọi người đều “hành xử có lý trí”. Ý của họ là gì? Ít nhất họ muốn nói rằng mọi người có thể xác định mình muốn gì. Trước một loạt lựa chọn, họ có thể sắp xếp chúng theo một trật tự hợp lý, tùy vào thị hiếu của mình. Ví dụ, nếu họ nhận được một thực đơn có 3 loại đồ uống nóng, rồi nói rằng tại một thời điểm nhất định, họ thích cà phê hơn trà và thích trà hơn sô-cô-la nóng, theo logic, họ sẽ thích cà phê hơn sô-cô-la. Nếu họ thích A hơn B và thích B hơn C thì suy ra họ sẽ thích A hơn C. Trong thuật ngữ học thuật, đó gọi là “bắc cầu”. Nếu mọi người không thể sắp xếp các ý thích của mình một cách logic thì làm sao thị trường có thể vận hành đúng đắn? Nếu người ta thích cà phê hơn trà và thích trà hơn sô-cô-la nóng – nhưng rồi lại thay đổi và chọn sô-cô-la nóng thay vì cà phê – họ sẽ không bao giờ chọn xong. Về nguyên tắc, họ sẵn sàng trả tiền để chuyển từ sô-cô-la nóng sang trà cũng như đổi từ trà sang cà phê – sau đó trả tiền một lần nữa để chuyển từ cà phê sang sô-cô-la nóng. Họ sẽ không bao giờ chốt được loại đồ uống, thay vào đó, bị mắc kẹt trong vòng lặp vô tận điên rồ này và cứ trả tiền để đổi từ đồ uống đang có thành thứ mình thích hơn.
Dưới đây là một trong những dự đoán của các nhà kinh tế học mà Edwards cho rằng các nhà tâm lý học có thể kiểm nghiệm: Con người thật sự có đang “bắc cầu” không? Nếu tại bất kỳ thời điểm nào, họ thích cà phê hơn trà và trà hơn sô-cô-la nóng, thì họ có thích cà phê hơn sô-cô-la nóng không? Edwards nhận thấy một vài người gần đây đã xem xét vấn đề này, trong số đó có một nhà toán học tên Kenneth May. Viết trên tạp chí kinh tế hàng đầu Econometrica, May đã mô tả cách ông kiểm tra xem các sinh viên của mình lý trí như thế nào khi được yêu cầu chọn bạn đời. Ông giới thiệu cho các sinh viên 3 người bạn đời tiềm năng được xếp hạng theo 3 phẩm chất: họ trông ưa nhìn như thế nào, thông minh ra sao và có bao nhiêu tiền. Không ai trong số 3 người đó nổi trội về mặt nào: Không ai quá nghèo, quá ngốc hay xấu xí phát gớm. Mỗi người có điểm mạnh và điểm yếu tương đối: Mỗi người đều được xếp hạng cao nhất về mặt này, cao thứ hai về mặt kia và xếp cuối về mặt thứ ba. Khi đưa ra lựa chọn, các sinh viên của May không bao giờ phải đối mặt với cả ba đối tác hôn nhân tiềm năng một lúc. Thay vào đó, họ xuất hiện theo cặp và được yêu cầu chọn 1 trong 2. Ví dụ, họ có thể được yêu cầu lựa chọn giữa người bạn đời tiềm năng thông minh nhất, đẹp nhì nhưng nghèo nhất, với người giàu nhất, thông minh nhì nhưng ngoại hình kém nhất.
Khi các sinh viên đã ổn định tinh thần trong việc ra quyết định bất chợt này, hơn 1/4 số sinh viên đã tự bộc lộ sự bất hợp lý của mình, ít nhất là xét từ quan điểm của lý thuyết kinh tế. Họ quyết định muốn cưới Jim hơn Bill và muốn Bill hơn Harry – nhưng sau đó cũng nói muốn cưới Harry hơn Jim. Nếu con người có thể mua và bán vợ chồng như đồ uống nóng thì phần lớn sẽ không bao giờ chọn được bạn đời mà thay vào đó cứ tiếp tục chi tiền để đổi lựa chọn. Tại sao? May không đưa ra lời giải thích đầy đủ nhưng ông có đề xuất bước khởi đầu: Vì Jim, Bill và Harry đều có điểm mạnh cùng điểm yếu tương đối, nên khó so sánh họ. “Đây chỉ là những trường hợp không thể so sánh đang được quan tâm”, May viết. “Việc so sánh các lựa chọn thay thế mà trong đó cái này vượt trội hơn cái kia về mọi mặt tạo nên một lý thuyết đơn giản nhưng khá tầm thường”.
Amnon cho Amos xem nghiên cứu về việc ra quyết định của Ward Edwards và Amos trở nên rất hào hứng. “Amos sẽ đánh hơi thấy vàng trước bất kỳ ai”, Amon nói. “Và ông ấy đã ngửi thấy mùi vàng”.
_______________
Vào mùa thu năm 1961, một vài tuần sau khi Amnon bay đến Đại học Bắc Carolina, Amos rời Jerusalem tới Đại học Michigan – nơi Ward Edwards đã chuyển đến sau khi bị Johns Hopkins sa thải, vì được cho là không thèm đến các lớp mà ông phải giảng dạy. Cả Amnon và Amos đều không biết nhiều về các trường đại học Mỹ. Amnon, người vừa được cho phép tới học tại Bắc Carolina nhờ một suất được hội đồng học bổng Fulbright trao tặng, đã phải lôi bản đồ thế giới ra để tìm. Amos có thể đọc tiếng Anh nhưng ông nói ít đến nỗi khi nói mình định đi đâu, người ta còn cho rằng ông đang nói đùa. “Ông ấy sẽ sống sót như thế nào đây?”, bạn ông, Amia Lieblich, tự hỏi. Amnon và Amos đều thấy mình không còn bất kỳ lựa chọn thật sự nào khác. “Chẳng ai có thể dạy chúng tôi ở Đại học Hebrew”, Amnon nói. “Chúng tôi phải đi”. Cả Amnon và Amos đều cho rằng việc chuyển đi chỉ là tạm thời: Họ sẽ học hỏi bất cứ điều gì phải học về lĩnh vực ra quyết định mới mẻ này ở Mỹ, sau đó quay trở lại Israel để làm việc cùng với nhau.
Bộ dạng những ngày tháng ban đầu của của Amos Tversky trên đất Mỹ thật bất thường trong lịch sử cuộc đời ông. Vào tuần đầu đi học, các sinh viên cùng lớp nhìn thấy một người ngoại quốc lặng lẽ, có vẻ dễ bảo, đang ghi chép. Họ nhìn ông với vẻ thương hại. “Ký ức đầu tiên của tôi về Amos là ông ấy thực sự, thực sự rất ít nói”, Paul Slovic, một nghiên cứu sinh hồi tưởng. “Chuyện này thật buồn cười vì sau đó ông ấy thực sự chẳng ít nói chút nào”. Trông thấy Amos viết từ phải sang trái, một học viên cho rằng có thể ông mắc chứng rối loạn tâm lý nào đó. (Ông viết bằng tiếng Hebrew). Bị tước mất sức mạnh của lời nói, Amos như bị tách biệt khỏi tính cách của bản thân. Rất lâu sau đó, Paul Slovic đoán rằng trong vài tháng đầu xa nhà, Amos chỉ đang kiên nhẫn chờ đợi cơ hội đến với mình. Ông sẽ không nói gì cho đến khi biết chính xác mình phải nói gì.
Đến giữa năm học thứ nhất, Amos đã biết mình sẽ nói gì – và từ thời điểm đó, những câu chuyện của Amos xuất hiện nhanh chóng, ào ạt. Có lần Amos bước vào một quán ăn bình dân ở Ann Arbor và gọi một chiếc bánh hamburger có nước sốt. Phục vụ nói họ không có nước sốt. “Được rồi”, Amos nói, “cho tôi cà chua”. Họ cũng không có cà chua. “Anh có thể cho tôi biết còn những gì quán anh không có?”, Amos hỏi. Có lần Amos đến muộn giờ làm bài kiểm tra mà mọi người cho là sẽ rất mệt mỏi của một giáo sư dạy thống kê khắt khe, John Milholland. Amos lẩn nhanh vào chỗ ngay khi đề bài được phát. Căn phòng im như tờ, các sinh viên lo lắng và căng thẳng. Lúc Milholland đến gần bàn Amos, ông quay sang người ngồi cạnh và nói: “Mãi mãi và mãi mãi, chào nhé, John MilhollandNếu có gặp lại nhau, vì sao, chúng ta sẽ mỉm cườiNếu không, thì tại sao, cuộc chia tay êm đẹp lắm mà”: lời Brutus nói với Cassius trong hồi 5, cảnh 1 của vở kịch Julius Caesar. Amos đã đạt được điểm rất cao trong bài kiểm tra.
Michigan yêu cầu tất cả nghiên cứu sinh tâm lý học vượt qua một bài kiểm tra sát hạch trình độ bằng 2 ngoại ngữ. Thật kỳ lạ, trường đại học không chấp nhận tiếng Hebrew là một ngoại ngữ mà chọn toán học. Mặc dù hoàn toàn tự học toán nhưng Amos đã chọn toán học là 1 trong 2 ngoại ngữ của mình và vượt qua bài kiểm tra. Ngoại ngữ thứ hai ông chọn là tiếng Pháp. Bài kiểm tra là dịch 3 trang trong một cuốn sách theo ngôn ngữ đã chọn: Sinh viên chọn sách và giám khảo chọn các trang để dịch. Amos đi đến thư viện và tìm được một cuốn giáo khoa toán của Pháp, trong đó không có gì khác ngoài các phương trình. “Có lẽ nó có từ bởi thế (donc) trong đó”, Mel Guyer, bạn cùng phòng của Amos nói. Đại học Michigan sau đó đã công bố Amos Tversky thông thạo tiếng Pháp.
Amos muốn khám phá cách mọi người đưa ra các quyết định. Để làm được chuyện này, ông cần đến những đối tượng vừa là tù nhân vừa nghèo mạt rệp đến mức chấp nhận các khoản hỗ trợ tài chính nhỏ bé ông có thể đưa ra. Amos tìm thấy họ ở khu giam giữ an ninh nghiêm ngặt tối đa trong nhà tù Jackson State, gần Ann Arbor. Amos cho các tù nhân – chỉ những ai có chỉ số IQ trên 100 – chơi các loại cờ bạc khác nhau, cược bằng kẹo và thuốc lá. Cả hai thứ đều được sử dụng như tiền trong nhà tù và mọi người biết chúng giá trị như thế nào – một bao thuốc lá và một gói kẹo tại cửa hàng nhà tù có giá 30 xu, bằng khoảng một tuần lương. Các tù nhân có thể đánh bạc hoặc bán quyền đánh bạc cho Amos để nhận một khoản thanh toán chắc chắn.
Hóa ra việc tù nhân Nhà tù Jackson chọn lựa các trò đánh bạc lại có nhiều điểm tương đồng với những sinh viên của Kenneth May khi chọn bạn đời: Sau khi nói thích A hơn B và B hơn C, họ có thể bị tác động để thích C hơn A. Ngay cả khi bạn hỏi họ có chọn C thay vì A không và họ khăng khăng sẽ không bao giờ làm vậy, thì họ vẫn làm như thế. Một số người nghĩ Amos chắc hẳn đang bịp các tù nhân, nhưng không phải. “Ông ấy không lừa các tù nhân vi phạm tính bắc cầu”, giáo sư Rich Gonzalez của Đại học Michigan nói. “Amos đã ứng dụng một quá trình giống ngạn ngữ về con ếch trong nồi nước sôi. Khi nhiệt độ tăng chậm, con ếch không thể phát hiện ra. Rõ ràng ếch có thể phân biệt 30o với 100o nhưng nếu tăng từng độ một thì không. Trong một số hệ thống sinh học của mình, chúng ta được trang bị để nhận ra những khác biệt lớn; một số hệ thống khác thì phát hiện những khác biệt nhỏ, như khi bị cù hoặc bị chọc. Amos thấy nếu con người không thể phát hiện những khác biệt nhỏ thì họ có thể vi phạm tính bắc cầu”.
Rõ ràng con người khó phát hiện những khác biệt nhỏ. Các tù nhân và sinh viên Harvard, cũng là những người Amos đã tiến hành bài kiểm tra. Ông viết một luận văn về các thử nghiệm của mình, trong đó trình bày cách thức một người thậm chí có thể dự đoán khi nào con người sẽ không bắc cầu. Thế nhưng… ông không tin chuyện này quá quan trọng. Thay vì rút ra một số kết luận quan trọng về sự không tương thích của các giả định hiện hữu về tính duy lý của con người, Amos bất chợt ngừng lại. “Hành vi này có phi lý không?”, ông viết. “Chúng ta có xu hướng nghi ngờ điều đó… Khi phải đối mặt với những phương án thay thế đa chiều phức tạp, chẳng hạn như lời mời làm việc, trò đánh bạc hoặc các ứng viên [chính trị], việc ứng dụng đúng cách tất cả thông tin sẵn có là cực kỳ khó”. Không phải do người ta thật sự thích A hơn B và thích B hơn C rồi sau đó lại thích C hơn A. Mà vì đôi khi rất khó để hiểu những khác biệt. Amos không nghĩ thế giới thực dễ lừa con người mâu thuẫn với chính bản thân như trong những thí nghiệm mà ông đã thiết kế.
Hóa ra, Ward Edwards, tác giả của công trình đã kéo Amos tới Đại học Michigan, lại không hấp dẫn như trên trang giấy. Sau khi bị Johns Hopkins sa thải, Edwards xin được việc ở Michigan, nhưng vị trí của ông ở đây ổn định và chính ông cũng vậy. Khi các sinh viên đến làm việc với Edwards, ông đưa mỗi người một bài giảng khoa trương – họ gọi đó là bài giảng “chìa khóa”. Edwards giơ cao chìa khóa cánh cửa căn nhà nhỏ được dùng làm phòng thí nghiệm của mình và nói các sinh viên thật vinh dự khi được ông giao phó chiếc chìa khóa, hiểu rộng ra là được cộng tác với ông. “Bạn có chìa khóa này cùng với bài giảng”, Paul Slovic nói. “Ý nghĩa của chìa khóa, biểu tượng của chìa khóa – nó có chút gì đó kỳ quặc. Người ta thường chỉ đưa cho bạn một chiếc chìa khóa và dặn bạn nhớ khóa cửa khi về”.
Edwards tổ chức một bữa tiệc tại gia dành cho một số học giả khách mời – và bắt khách khứa trả tiền bia. Ông ta cử Amos đi làm nghiên cứu cho mình rồi không thanh toán kinh phí cho đến khi Amos bắt đầu phản kháng. Ông ta cứ khăng khăng rằng mọi công trình Amos làm trong phòng thí nghiệm của ông ít nhất cũng là một phần tài sản của mình, do đó mọi luận văn Amos viết cũng phải có tên Ward Edwards. Amos hay nói tính keo kiệt rất dễ lây lan, sự hào phóng cũng vậy, và vì cư xử hào phóng khiến bạn hạnh phúc hơn bủn xỉn, hãy tránh xa những kẻ keo kiệt và dành thời gian cho những người rộng rãi. Amos quan tâm đến những gì Edwards làm chứ chẳng để ý nhiều đến ông ta.
Đại học Michigan khi đó và bây giờ vẫn vậy, là nơi có khoa tâm lý học lớn nhất thế giới. Cũng có những người khác ở đó nghĩ về việc ra quyết định và Amos nhận thấy mình bị cuốn hút bởi một trong số họ, Clyde Coombs. Coombs rút ra được sự khác biệt giữa các loại quyết định mà trong đó có nhiều quyết định tốt và tinh tế hơn. Chẳng hạn, trong điều kiện các yếu tố khác ngang bằng nhau, gần như tất cả mọi người sẽ quyết định lấy nhiều tiền hơn và chọn ít đau khổ hơn. Thứ thu hút Coombs là các quyết định mờ nhạt hơn. Làm thế nào để một người quyết định sẽ sống ở đâu, kết hôn với ai hoặc mua loại mứt nào? Gã khổng lồ ngành thực phẩm General Mills đã thuê Coombs với hy vọng ông có thể tạo ra những công cụ đo lường cảm nhận của khách hàng về các sản phẩm. Nhưng làm sao để đo lường mức độ cảm nhận cá nhân đối với sản phẩm Cheerios? Bạn sẽ sử dụng thước đo nào? Một người có thể cao gấp đôi người khác, nhưng anh ta có thích thứ gì đó nhiều gấp đôi không? Nơi này có thể nóng hơn 10o so với nơi khác; nhưng cảm nhận của một người về món ngũ cốc bữa sáng có thể nóng hơn 10o so với người khác không? Để dự đoán quyết định của mọi người, bạn phải có khả năng đo lường thị hiếu của họ: nhưng bằng cách nào?
Coombs nghĩ về vấn đề đầu tiên bằng cách bố trí các quyết định thành một loạt so sánh giữa hai thứ với nhau. Trong mô hình toán học mà ông xây dựng, sự lựa chọn giữa hai người bạn đời tiềm năng, chẳng hạn, trở thành một quá trình gồm nhiều giai đoạn. Một người định sẵn trong đầu một hình mẫu bạn đời lý tưởng nào đó – hoặc một tập hợp các đặc điểm anh ta muốn có ở nửa kia của mình. Anh ta so sánh từng lựa chọn ngoài đời thực với hình mẫu lý tưởng đó và chọn bạn đời gần giống với lý tưởng nhất. Coombs rõ ràng không nghĩ là khi mọi người chọn một thứ, họ thực sự cũng làm giống như vậy. Ông không biết những gì họ làm. Ông chỉ đang cố gắng xây dựng một công cụ giúp dự đoán con người sẽ chọn gì khi phải đối mặt với một dãy vấn đề phải lựa chọn. Để giải thích cho điều mình định làm – và có lẽ để nó có vẻ bớt phi lý – Coombs lấy ví dụ một tách trà. Con người quyết định bỏ bao nhiêu đường vào trà của mình như thế nào? À thì, người đó có một ý niệm nào đấy về độ ngọt lý tưởng của trà; anh ta sẽ bỏ đường vào cho đến khi nó gần giống nhất với độ ngọt lý tưởng ấy. Coombs nghĩ rất nhiều quyết định trong cuộc sống cũng như thế, chỉ là phức tạp hơn mà thôi.
Ví dụ như quyết định đối tượng kết hôn. Có lẽ mọi người đều giữ trong đầu ít nhất một khái niệm mơ hồ nào đó về người bạn đời lý tưởng – một tập hợp những đặc điểm họ cho là quan trọng, dù có lẽ không phải đặc điểm nào cũng quan trọng như nhau – rồi sau đó chọn một người người gần giống nhất với hình ảnh lý tưởng của mình từ mẫu có sẵn. Để hiểu được quyết định, chắc chắn bạn cần xác định được trọng số mà người ta gán cho các đặc điểm khác nhau. Đối với một người đàn ông tìm vợ, tầm quan trọng của trí thông minh so với ngoại hình là như thế nào? Hay ngoại hình so với tài chính cá nhân ra sao? Bạn cũng cần xác định cách người đó đánh giá những đặc điểm đó ngay từ đầu – cách một người phụ nữ tìm chồng, có thể nói là so sánh tiêu chuẩn lý tưởng phỏng đoán về người chồng của cô ấy với một người đàn ông mới gặp. Sao cô ấy lại khẳng định khiếu hài hước của anh chàng được mai mối đang ngồi đối diện giống với kiểu hài hước lý tưởng của mình? Coombs cho rằng các quyết định của chúng ta có thể được coi là một tập hợp những phán đoán về sự giống nhau giữa hai thứ: lý tưởng trong đầu với đối tượng ta gặp.
Amos cũng bị mê hoặc như Coombs bởi các câu hỏi về cách đo lường những gì không thể quan sát (thích thú đến mức ông tự học toán để làm). Nhưng ông cũng thấy nỗ lực đo lường những thị hiếu này đã làm nảy sinh một câu hỏi khác. Nếu bạn sắp sửa xem giả định nghiên cứu của mình (có lẽ không có thật) như lời xác nhận rằng mọi người lựa chọn bằng cách so sánh một hình mẫu lý tưởng nào đó trong đầu với các phiên bản trong thế giới thực, thì bạn phải biết cách khiến người ta đưa ra những đánh giá như vậy. Các nhà tâm lý học gọi đó là các “phán đoán tương đồng”, trong một ví dụ hiếm hoi về thuật ngữ thương mại dễ hiểu. Điều gì diễn ra trong tâm trí khi nó đánh giá thứ này giống hay khác thứ kia nhiều ra sao? Quá trình này quá đỗi cơ bản đối với sự tồn tại đến nỗi chúng ta hiếm khi dừng lại để suy nghĩ về nó. “Đó là một quá trình làm việc liên tục không ngừng nghỉ trong quãng thời gian dài và tạo ra nhiều hiểu biết cũng như hình thành phản ứng của chúng ta đối với thế giới”, Dacher Keltner, nhà tâm lý học ở Đại học Berkeley, cho biết. “Trước hết, bạn phân loại mọi thứ như thế nào? Đó là tất cả vấn đề. Tôi có ngủ với anh ấy hay không? Tôi có ăn cái này hay không? Tôi có đưa cho người này hay không? Đó là trai hay gái? Đó là động vật ăn thịt hay con mồi? Nếu lý giải được cách thức vận hành của quá trình này, bạn sẽ làm sáng tỏ cách chúng ta hiểu biết mọi chuyện. Đó là cách kiến thức về thế giới được thiết lập. Nó giống như sợi chỉ được dệt xuyên qua mọi thứ trong tâm trí”.
Tất cả các học thuyết thống trị trong tâm lý học về cách một người đưa ra phán đoán về tính tương đồng đều có một điểm chung: Chúng dựa trên khoảng cách vật lý. Khi so sánh hai thứ, bạn đang hỏi chúng gần giống nhau đến mức nào. Hai đối tượng, hai con người, hai ý tưởng, hai cảm xúc: Trong lý thuyết tâm lý học, chúng tồn tại nơi tâm trí như thể nằm trên một tấm bản đồ, mạng lưới hay một không gian vật lý khác, giống những điểm có mối quan hệ cố định với nhau. Amos thắc mắc về điều đó. Ông đã đọc các nghiên cứu của nhà tâm lý học trường Berkeley là Eleanor Rosch, nhân vật vào đầu thập niên 1960 đã khám phá cách thức mọi người phân loại các sự vật. Điều gì khiến một cái bàn là cái bàn? Điều gì làm cho từng màu sắc khác biệt? Trong công trình của mình, Rosch đã yêu cầu các đối tượng so sánh màu sắc và đánh giá chúng giống nhau như thế nào.
Người ta đã nói những điều kỳ lạ. Chẳng hạn, họ nói màu đỏ tươi tương tự màu đỏ, nhưng màu đỏ đó lại không giống màu đỏ tươi. Amos phát hiện ra mâu thuẫn này và bắt đầu khái quát hóa nó. Ông hỏi mọi người xem họ có nghĩ Bắc Triều Tiên giống như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay không. Họ nói có. Ông hỏi họ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có giống Bắc Triều Tiên không – họ lại nói không. Mọi người nghĩ Tel Aviv giống New York nhưng New York đó lại không giống Tel Aviv. Người ta thấy số 103 cũng khá giống số 100 nhưng số 100 đó lại không giống số 103. Người ta nghĩ tàu hỏa đồ chơi rất giống tàu hỏa thật nhưng tàu hỏa thật lại chẳng giống đồ chơi. Mọi người thường cho là con trai giống bố, nhưng nếu bạn hỏi người bố có giống con trai không thì họ nhìn lại bạn với ánh mắt kỳ lạ. “Chiều hướng cùng sự bất đối xứng của những mối quan hệ tương đồng rất đáng chú ý trong các phép so sánh và ẩn dụ”, Amos viết. “Chúng ta nói ‘Người Thổ Nhĩ Kỳ chiến đấu như hổ’ chứ không phải ‘hổ chiến đấu như người Thổ Nhĩ Kỳ’. Vì loài hổ nổi tiếng với tinh thần chiến đấu, nó được dùng như một đối tượng được ám chỉ chứ không phải chủ thể của phép so sánh. Nhà thơ viết ‘tình yêu của tôi sâu thẳm như đại dương’ chứ không phải ‘đại dương sâu thẳm như tình yêu của tôi’, bởi đại dương là tượng trưng điển hình cho sự sâu thẳm”.
Khi mọi người so sánh thứ này với thứ khác – hai con người, hai địa điểm, hai con số, hai ý tưởng – họ không chú ý nhiều đến sự đối xứng. Đối với Amos – chứ không phải ai khác trước ông – quan sát đơn giản này cho thấy tất cả các lý thuyết mà giới trí thức từng nghĩ tới để giải thích cách thức mọi người đưa ra các phán đoán tương đồng chắc chắn đều đã sai. “Amos đi đến và nói với mọi người rằng bạn không đặt đúng câu hỏi”, nhà tâm lý học Rich Gonzalez của Đại học Michigan nói. Khoảng cách là gì? Khoảng cách có tính đối xứng. Khoảng cách từ New York đến Los Angeles phải bằng khoảng cách từ Los Angeles đến New York. Và Amos nói: ‘Được rồi, chúng ta hãy kiểm chứng điều đó’”. Nếu trên bản đồ tư duy, New York nằm cách Tel Aviv một khoảng nhất định thì Tel Aviv phải ở vị trí cách New York đúng bằng từng đó. Tuy nhiên, bạn chỉ cần hỏi mọi người để thấy rằng điều đó không đúng: New York không giống Tel Aviv như Tel Aviv giống New York. “Amos nhận ra rằng điều đang diễn ra không phải là một khoảng cách”, Gonzalez nói. “Trong thoáng chốc, về cơ bản ông ấy đã bác bỏ hết các lý thuyết áp dụng khoảng cách. Nếu bạn có một khái niệm khoảng cách trong lý thuyết của mình, bạn sẽ mặc nhiên sai”.
Amos có lý thuyết riêng của mình, điều ông gọi là “các đặc điểm của tính tương đồng”1. Ông lập luận, khi mọi người so sánh sự giống nhau giữa hai thứ, về cơ bản, họ đã lập ra một danh sách bao gồm các đặc điểm. Những đặc điểm này chỉ đơn giản là điều họ nhận thấy ở các đối tượng. Họ đếm tất cả những điểm chung nổi bật ở cả hai đối tượng: Càng nhiều điểm chung, chúng càng tương đồng; càng ít điểm chung, chúng càng khác biệt. Không phải tất cả các đối tượng đều có cùng số lượng đặc điểm nổi bật: Ví dụ, New York có nhiều đặc điểm nổi bật hơn Tel Aviv. Amos đã xây dựng một mô hình toán học để mô tả điều mình muốn nói – và mời những người khác kiểm chứng lý thuyết của mình để chứng minh ông sai.
1. Một nghiên cứu mang cái tên này mãi đến năm 1977 mới xuất hiện, nhưng nó đã được phát triển từ những ý tưởng Amos hình thành một thập kỷ trước, khi còn là một nghiên cứu sinh. (TG)
Nhiều người đã thử. Trước khi tới Stanford vào những năm 1980 để học tiến sĩ cùng Amos, Rich Gonzalez đã đọc nghiên cứu “Các đặc điểm của sự tương đồng” vài lần. Khi đến nơi, ông tìm đến văn phòng của Amos, tự giới thiệu bản thân và hỏi điều ông nghĩ là một câu hỏi mấu chốt: “Thế một chú chó ba chân thì sao?”. Hai con chó ba chân rõ ràng giống nhau hơn so với con chó ba chân và con chó bốn chân. Nhưng một chú chó ba chân có cùng số lượng đặc điểm tương đồng với một chú chó bốn chân cũng giống như khi so sánh nó với một chú chó ba chân khác. Vậy thì đó là một ngoại lệ trong lý thuyết của Amos! “Tôi bắt đầu nghĩ: ‘Mình thông minh hơn Amos rồi’”, Gonzalez nhớ lại. “Ông ấy nhìn tôi kiểu: Thật sao? Anh chỉ nghĩ ra được đến thế thôi à? Tôi nghĩ có lẽ lúc đầu ông ấy nhìn trừng trừng, nhưng rồi lại nhẹ nhàng – và Amos nói: ‘Việc thiếu một đặc điểm chính là một đặc điểm’”. Amos đã viết điều đó vào luận văn mới của mình. “Mức độ tương đồng sẽ gia tăng khi có thêm các đặc điểm chung vàhoặc loại bỏ các đặc điểm đặc biệt”.
Lý thuyết của Amos nói về cách thức mọi người đánh giá sự tương đồng đã tiết lộ mọi kiến thức sâu sắc đầy thú vị. Khi tiến hành so sánh hai thứ, nếu tâm trí chỉ đếm tất cả các đặc điểm nó nhận thấy ở mỗi đối tượng, nó cũng có thể ngay lập tức đánh giá những thứ đó giống và khác nhau nhiều hơn so với một số cặp đối tượng khác. Chúng có thể vừa mang nhiều điểm giống vừa có nhiều điểm khác nhau. Yêu và ghét, vui và buồn, nghiêm túc và lố lăng: Bất chợt chúng có thể bị nhìn nhận – vì chúng cảm giác được – như có thêm những mối quan hệ hay thay đổi với nhau. Chúng không chỉ đối lập nhau trên một hệ tinh thần bất biến mà có thể được coi là tương đồng về một số đặc điểm này và khác nhau ở những đặc điểm khác. Lý thuyết của Amos cũng đưa ra một cái nhìn mới mẻ về những gì có thể đang xảy ra vào lúc mọi người vi phạm tính bắc cầu và vì thế đưa ra các lựa chọn dường như vô lý.
Khi người ta chọn cà phê thay vì trà và chọn trà thay vì sô-cô-la nóng, rồi quay lại chọn sô-cô-la nóng thay vì cà phê – họ đang không so sánh hai thứ đồ uống một cách tổng thể. Các loại đồ uống nóng không tồn tại trên bản đồ tư duy như những vị trí có khoảng cách cố định so với lý tưởng. Chúng là các tập hợp của những đặc điểm. Những đặc điểm ấy có thể trở nên nổi bật hơn hoặc bớt nổi bật; sự nổi bật của chúng trong tâm trí phụ thuộc vào bối cảnh chúng được nhận thức. Và sự lựa chọn đã tạo ra bối cảnh của riêng mình: Những đặc điểm khác nhau có thể nổi bật hơn trong tâm trí khi cà phê được so sánh với trà (caffeine) so với lúc nó được so sánh với sô-cô-la nóng (đường). Điều gì đúng với đồ uống cũng có thể đúng với con người, ý tưởng và cảm xúc.
Ý tưởng này thật thú vị: Khi con người ra quyết định, họ cũng đang đưa ra những đánh giá về sự tương đồng giữa một đối tượng ngoài đời thực với lý tưởng của mình. Họ đưa ra phán đoán hợp lý bằng cách đếm tất cả các đặc điểm mình nhận thấy. Và vì sự nổi bật của các đặc điểm có thể bị chi phối bởi cách thức nổi bật của chúng, nên cảm nhận về sự tương đồng của hai đối tượng cũng có thể bị ảnh hưởng. Chẳng hạn, nếu bạn muốn hai người nghĩ họ giống nhau hơn thực tế, bạn có thể đặt họ vào một bối cảnh làm nổi bật những đặc điểm chung của họ. Hai sinh viên người Mỹ ở Mỹ có thể nhìn nhau như hai người hoàn toàn xa lạ; cũng hai người đó khi du học ở Togo vào năm thứ ba lại có thể nhận ra họ giống nhau đến ngạc nhiên: Họ đều là người Mỹ!
Bằng cách thay đổi bối cảnh so sánh hai thứ, bạn nhấn chìm một số đặc điểm nhất định và buộc những đặc điểm khác phải nổi bật. “Nhìn chung, người ta cho rằng sự phân loại được xác định bởi mức độ tương đồng giữa các đối tượng”, Amos viết, trước khi đưa ra một quan điểm đối lập: “Sự tương đồng của các đối tượng được hiệu chỉnh theo cách phân loại. Như vậy, sự tương đồng có hai mặt: nguyên nhân và hệ quả. Đó là cơ sở cho việc phân loại các đối tượng, nhưng cũng bị ảnh hưởng bởi cách phân loại”. Một quả chuối và một quả táo có vẻ giống nhau nhiều hơn thực tế vì chúng ta đều nhất trí gọi chúng là trái cây. Mọi thứ được gộp thành nhóm là có lý do, nhưng khi được gộp nhóm rồi, việc đó sẽ khiến chúng có vẻ giống nhau hơn trước. Như vậy, việc phân loại củng cố các hình mẫu. Nếu bạn muốn làm suy yếu một mẫu hình nào đó, hãy loại bỏ sự phân loại.
Lý thuyết của Amos không đóng góp vào câu chuyện về cách con người đưa ra phán đoán về sự tương đồng. Nó choán hết câu chuyện. Mọi người ở bữa tiệc cứ đứng quanh Amos và lắng nghe”.Cách tiếp cận của Amos trong việc làm khoa học không vụn vặt”, Rich Gonzalez nói. “Nó có những bước nhảy vọt. Bạn tìm một mô hình nào đó. Bạn tìm thấy một mệnh đề tổng quát của mô hình đó. Rồi bạn phá hủy nó. Ông ấy cho rằng mình đang làm khoa học kiểu phủ định. Amos hay sử dụng từ đó: phủ định. Đây hóa ra lại là một phương pháp làm khoa học xã hội rất mạnh”. Đó là cách Amos thường bắt đầu: bằng cách hoàn tác các lỗi sai của người khác. Vì hóa ra, những người khác thi thoảng cũng mắc sai lầm.