Logic Của Tâm Trí

Lượt đọc: 36 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7. Quy luật của Dự báo

❊ ❊ ❊

Amos hay nói rằng nếu bạn được yêu cầu làm điều gì – đi dự tiệc, phát biểu, giúp ai đó – bạn đừng bao giờ trả lời ngay lập tức, ngay cả khi bạn chắc chắn mình muốn làm. Hãy chờ một ngày, Amos nói, và bạn sẽ ngạc nhiên vì có biết bao lời mời bạn đồng ý vào ngày hôm qua thì đến hôm nay, sau một ngày cân nhắc kỹ càng, bạn đều từ chối hết. Một hệ quả tất yếu đối với quy tắc của Amos trong việc giải quyết các yêu cầu theo thời gian chính là cách tiếp cận của ông với những tình huống ông muốn tách rời bản thân khỏi chúng. Một người mắc kẹt trong cuộc họp hay bữa tiệc rượu nhàm chán thường sẽ cảm thấy khó viện cớ để chuồn. Bất cứ khi nào muốn rời khỏi một cuộc họp mặt, quy tắc của Amos chỉ là đứng dậy và đi. Chỉ cần bắt đầu bước đi và bạn sẽ ngạc nhiên vì mình trở nên sáng tạo và nhanh nhẹn xiết bao trong việc tìm ra những ngôn từ cho cái cớ của mình, ông nói. Thái độ đối với những chuyện lộn xộn của cuộc sống thường nhật là một phần trong chiến lược của Amos nhằm giải quyết các nhu cầu xã hội. Trừ khi bạn dằn vặt bản thân vì cứ mỗi tháng lại vứt đi thứ gì đó, bạn sẽ không vứt bỏ đủ đâu, ông nói. Amos vứt hết những thứ không quan trọng, do đó, những thứ ông giữ lại sẽ giành được sự quan tâm như các đối tượng đã sống sót qua việc chọn lọc khắc nghiệt. Một thứ sống sót tài tình là mảnh giấy với đôi dòng chữ được đánh máy xấu xí rút ra từ những cuộc trò chuyện của ông với Danny vào mùa xuân năm 1972 khi họ gần kết thúc khoảng thời gian ở Eugene. Vì một lý do nào đó Amos giữ nó lại:

Mọi người dự đoán bằng cách bịa chuyện

Mọi người dự đoán rất ít nhưng chuyện gì cũng đem ra giải thích

Mọi người sống trong sự không chắc chắn cho dù có thích hay không

Mọi người tin rằng họ có thể dự báo tương lai nếu đủ cố gắng

Mọi người chấp nhận bất kỳ cách lý giải nào miễn nó phù hợp thực tế

Dấu hiệu đã có, chỉ là ta không thấy mà thôi

Mọi người thường làm việc chăm chỉ để lấy được thông tin mình đã có

Và họ né tránh kiến thức mới

Con người là một thiết bị có tính quyết định bị ném vào một vũ trụ xác suất

Trong trận đấu này, ắt sẽ có những bất ngờ

Mọi thứ đã xảy ra chắc hẳn là điều tất yếu

Thoạt nhìn, nó giống một bài thơ. Việc nó là gì, trên thực tế, đã sớm mang ích lợi cho bài báo tiếp theo của ông và Danny, đó cũng là cố gắng đầu tiên cả hai thực hiện nhằm diễn đạt tư duy của mình theo cách có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thế giới bên ngoài lĩnh vực của họ. Trước khi quay lại Israel, họ đã quyết định viết một nghiên cứu về cách thức con người đưa ra dự báo. Sự khác biệt giữa phán đoán với dự báo không rõ ràng đối với mọi người như với Amos và Danny. Theo cách tư duy của họ, một phán đoán (“anh ấy trông giống một sĩ quan quân đội Israel”) ngụ ý một dự báo (“anh ấy sẽ trở thành một sĩ quan quân đội Israel giỏi”), cũng giống như một dự báo hàm ý một phán đoán nào đó – nếu không có phán đoán thì làm sao bạn dự báo được? Trong tâm trí của họ tồn tại một sự khác biệt: Dự báo là một phán đoán bao hàm sự không chắc chắn. “Adolf Hitler là một diễn giả có tài hùng biện” là một phán đoán bạn không thể suy xét gì nhiều. “Adolf Hitler sẽ trở thành Thủ tướng Đức” thì ít nhất cho đến ngày 30 tháng 1 năm 1933 vẫn chỉ là dự báo về một sự kiện không chắc chắn rồi sẽ được chứng minh là đúng hay sai. Tiêu đề nghiên cứu kế tiếp của họ là “Nghiên cứu về Tâm lý học dự báo”. “Trong việc đưa ra các dự báo và phán đoán dưới điều kiện không chắc chắn”, họ viết, “mọi người không có vẻ đi theo phép tính xác suất hay lý thuyết thống kê dự báo. Thay vào đó, họ dựa vào số lượng có hạn những kinh nghiệm cảm tính đôi lúc tạo ra các phán đoán hợp lý nhưng đôi khi lại dẫn tới những lỗi có tính hệ thống và nghiêm trọng”.

Nhìn lại quá khứ, nghiên cứu này dường như ít nhiều bắt đầu với trải nghiệm của Danny trong quân đội Israel. Những người phụ trách thẩm tra tư cách các thanh niên Israel đã không thể dự báo ai trong số đó sẽ trở thành sĩ quan tốt, những người phụ trách trường đào tạo sĩ quan cũng không có khả năng dự báo ai trong nhóm người do mình cử đi sẽ thành công trong chiến đấu, hay thậm chí trong công việc chỉ huy quân hằng ngày. Danny và Amos từng có một buổi tối thú vị để dự báo nghề nghiệp tương lai cho con cái của bạn bè họ, và cả hai đều ngạc nhiên vì đã thực hiện được rất dễ dàng và đầy tự tin. Giờ đây họ tìm cách kiểm nghiệm cách con người dự báo – hay rộng hơn nữa là cụ thể hóa cách thức mọi người sử dụng điều giờ đây họ gọi là kinh nghiệm cảm tính về tính tiêu biểu để dự báo.

Tuy nhiên, để làm được điều này, họ cần cho người ta cái gì đó để dự báo.

Họ quyết định yêu cầu các đối tượng dự báo tương lai của một sinh viên, được xác định chỉ bằng một số đặc điểm cá nhân, là người sẽ tiếp tục học sau đại học. Trong 9 ngành học quan trọng dành cho nghiên cứu sinh ở Mỹ, anh ta sẽ theo đuổi ngành nào? Họ bắt đầu bằng cách yêu cầu đối tượng ước lượng tỷ lệ học viên trong mỗi ngành học. Dưới đây là các ước đoán trung bình của họ:

Kinh doanh: 15%

Khoa học máy tính: 7%

Kỹ thuật: 9%

Khoa học nhân văn và Giáo dục: 20%

Luật: 9%

Khoa học Thư viện: 3%

Y khoa: 8%

Vật lý và Khoa học Đời sống: 12%

Khoa học Xã hội và Công tác Xã hội: 17%

Đối với bất cứ ai đang cố gắng dự báo lĩnh vực nghiên cứu mà một người nhất định sẽ tham gia, tỷ lệ đó nên được dùng làm tỷ lệ cơ sở. Nghĩa là, nếu bạn không biết chút gì về một sinh viên nào đó, nhưng lại biết 15% sinh viên sau đại học sẽ theo ngành quản trị kinh doanh, và được yêu cầu dự báo xác suất sinh viên đó theo học trường kinh doanh, bạn sẽ đoán là “15%”. Đây là một cách tư duy hữu ích về tỷ lệ cơ sở: Chúng là điều bạn sẽ dự báo nếu không có chút thông tin nào.

Bây giờ, Danny và Amos tìm cách thể hiện điều đã xảy ra khi bạn cho ai đó một số thông tin. Nhưng là loại thông tin nào? Danny dành một ngày ở Viện Nghiên cứu Oregon để nghiền ngẫm câu hỏi – và mê mải đến mức thức trắng đêm để tạo ra thứ tại thời điểm bấy giờ có vẻ giống mô hình một sinh viên sau đại học chuyên ngành khoa học máy tính. Ông đặt tên cho anh ta là “Tom W”.

Tom W rất thông minh, mặc dù cậu thiếu tính sáng tạo thật sự. Cậu cần sự trật tự và rõ ràng, cùng với các hệ thống gọn gàng và ngăn nắp, trong đó mọi chi tiết đều có chỗ phù hợp của nó. Văn phong của cậu khá buồn tẻ và máy móc, đôi khi được làm sinh động lên bởi cách chơi chữ có phần cũ rích và những hình ảnh tưởng tượng kiểu khoa học viễn tưởng. Cậu mang trong mình động lực cạnh tranh mạnh mẽ. Dường như cậu ít cảm nhận và cảm thông với người khác, cũng như không thích giao du với ai. Tự cho mình là trung tâm, dù sao cậu cũng có ý thức đạo đức sâu sắc.

Họ sẽ hỏi một nhóm đối tượng – họ gọi đó là nhóm “tương đồng” – để ước lượng sự “giống nhau” giữa Tom với các sinh viên sau đại học trong từng lĩnh vực của 9 lĩnh vực trên. Đó đơn giản là xác định lĩnh vực nghiên cứu nào “tiêu biểu nhất” cho Tom W.

Sau đó, họ sẽ cung cấp cho nhóm thứ hai – họ gọi là nhóm “dự báo” – thông tin bổ sung như sau:

Bản phác thảo tính cách Tom W trước đó được một nhà tâm lý học viết ra trong suốt năm cuối thời trung học của Tom, dựa trên nền tảng các bài kiểm tra phóng chiếu. Tom W hiện là một nghiên cứu sinh. Vui lòng xếp hạng 9 lĩnh vực chuyên ngành sau đại học theo thứ tự xác suất Tom W đang theo học.

Họ không chỉ đưa cho các đối tượng bản phác thảo mà còn thông báo đây là một bản mô tả rất không đáng tin cậy về Tom W. Đầu tiên là vì nó được viết ra bởi một nhà tâm lý học; họ cho các đối tượng biết thêm rằng đánh giá này đã được thực hiện nhiều năm về trước. Điều Amos và Danny nghi ngờ – bởi họ đã kiểm nghiệm nó ngay với bản thân – là mọi người về cơ bản sẽ chuyển từ phán đoán tương đồng (“anh chàng đó có vẻ giống một nhà khoa học máy tính!”) sang dự báo (“anh chàng đó chắc hẳn là một nhà khoa học máy tính!”) và bỏ qua cả tỷ lệ cơ sở (chỉ 7% trong số sinh viên sau đại học là các nhà khoa học máy tính) cùng mức độ tin cậy không rõ ràng của bản phác thảo tính cách.

Nhân vật đầu tiên đến làm việc vào buổi sáng khi Danny hoàn thành bản phác thảo là một nhà nghiên cứu ở Oregon có tên Robyn Dawes. Dawes được đào tạo về thống kê và là huyền thoại về sự nghiêm khắc trong tư duy. Danny đưa ông bản phác thảo về Tom W. “Ông ấy đọc nó từ đầu đến cuối rồi nở nụ cười ranh mãnh, cứ như thể đã hiểu”, Danny nói. “Và ông ta nói: ‘Nhà khoa học máy tính!’. Sau đó, tôi không còn bận tâm về chuyện sinh viên Oregon sẽ ra sao nữa”.

Sinh viên Oregon, những người được xem vấn đề kia, đã bỏ qua tất cả dữ liệu khách quan và tin vào cảm giác bản năng, dự báo chắc chắn Tom W. là một nhà khoa học máy tính. Khi đã khẳng định mọi người sẽ để cho một khuôn mẫu làm sai lệch phán đoán, Amos và Danny thắc mắc: Nếu mọi người sẵn sàng đưa ra các phán đoán phi lý dựa trên một loại thông tin nào đó, họ sẽ đưa ra loại dự báo nào nếu ta cung cấp cho họ những thông tin hoàn toàn chẳng liên quan? Khi Danny và Amos đùa vui với ý tưởng này – cả hai có thể gia tăng sự tin tưởng của mọi người về các dự báo bằng cách cung cấp cho họ bất kỳ thông tin nào, dù vô dụng – tiếng cười vọng ra từ sau cánh cửa khép kín chắc hẳn ngày càng vang lên ầm ầm và chẳng dễ chịu gì. Cuối cùng, Danny đã tạo ra một nhân vật khác. Ông đặt tên người này là “Dick”:

Dick là một người đàn ông 30 tuổi. Anh ấy đã kết hôn nhưng chưa có con. Là một người có năng lực và động cơ làm việc cao, anh hứa hẹn sẽ thành công trong lĩnh vực của mình. Anh ấy cũng được các đồng nghiệp rất yêu mến.

Rồi họ tiến hành một thí nghiệm khác. Đó là một phiên bản của thí nghiệm về túi đựng phỉnh poker mà Amos và Danny từng tranh cãi tại hội thảo chuyên đề của Danny ở Đại học Hebrew. Họ nói với các đối tượng rằng họ đã chọn ra một người từ nhóm 100 người, 70 trong số đó là kỹ sư và 30 người còn lại là luật sư. Rồi họ hỏi: Xác suất người được chọn là luật sư là bao nhiêu? Các đối tượng phán đoán chính xác là 30%. Và nếu bạn nói rằng mình sẽ làm việc tương tự, nhưng với một nhóm có 70 luật sư và 30 kỹ sư, họ sẽ nói xác suất 70% người bạn chọn ra từ nhóm là một luật sư. Tuy nhiên, nếu bạn nói người mình chọn không phải là người vô danh mà là anh chàng tên Dick, rồi đọc bản mô tả của Danny về Dick – không chứa bất cứ thông tin gì giúp bạn đoán được Dick đang làm nghề gì – xác suất họ đoán Dick là một luật sư hay kỹ sư là ngang nhau, dù anh ta xuất hiện từ nhóm người nào. “Rõ ràng, mọi người trả lời khác đi khi không được cung cấp bằng chứng cụ thể nào và khi được cung cấp bằng chứng vô giá trị”, Danny và Amos viết. “Khi không có bằng chứng cụ thể, các xác suất trước đó được tính toán đúng cách; khi có bằng chứng cụ thể vô giá trị, các xác suất trước đó bị ngó lơ”.1

1. Vào lúc hoàn thành dự án, họ đã nghĩ ra một loạt nhân vật rất nhạt nhẽo để mọi người đánh giá và phán đoán về khả năng người đó là luật sư hay kỹ sư. Chẳng hạn như Paul, “Paul 36 tuổi, đã lập gia đình và có 2 con. Anh thư thả và thoải mái với bản thân cũng như với người khác. Là thành viên xuất sắc của một đội ngũ, anh có ý thức xây dựng và không cố chấp. Anh yêu thích mọi khía cạnh trong công việc, cụ thể là hài lòng với việc tìm kiếm những giải pháp nhanh gọn cho các vấn đề phức tạp”. (TG)

“Nghiên cứu về Tâm lý học Dự báo” còn nhiều điều thú vị khác – ví dụ, họ trình bày rằng chính những nhân tố khiến mọi người trở nên tự tin hơn trong các dự báo của mình cũng sẽ khiến những dự báo đó giảm tính chính xác. Và cuối cùng, nó quay lại với vấn đề từng thu hút Danny từ lúc ông mới bắt đầu hỗ trợ quân đội Israel cân nhắc lại cách thức lựa chọn và huấn luyện các tân binh:

Huấn luyện viên trong trường dạy bay đã áp dụng một chính sách củng cố nhất quán mang tính tích cực do các nhà tâm lý học khuyến nghị. Thông qua lời nói, họ củng cố mỗi lần thực hiện thành công một cuộc diễn tập bay. Sau một số kinh nghiệm với phương pháp đào tạo này, các huấn luyện viên khẳng định, trái ngược với quy tắc tâm lý, việc ca ngợi các cuộc diễn tập bay phức tạp được thực hiện tốt thường dẫn tới màn thể hiện kém đi vào lần thử nghiệm tiếp theo. Vậy nhà tâm lý học nên nói gì để phản hồi?

Các đối tượng được hỏi đưa ra đủ loại lời khuyên. Họ phỏng đoán rằng lời tán dương của các huấn luyện viên không hiệu quả bởi nó khiến phi công trở nên quá tự tin. Họ cho rằng các huấn luyện viên không biết mình đang nói gì. Không ai nhìn thấy điều Danny đã nhận ra: các phi công có lẽ có khuynh hướng làm tốt hơn sau một màn diễn tập tồi hay kém hơn lần đặc biệt tốt trước đó, nếu không có ai nói gì. Việc một người không có khả năng nhìn ra sức mạnh của việc hồi quy về giá trị trung bình đã khiến anh ta không thấy được bản chất của thế giới quanh mình. Chúng ta thấy một lịch trình cuộc đời mà ở đó ta được khen thưởng vì trừng phạt người khác và bị trừng phạt vì đã khen họ.

________________

Khi viết các nghiên cứu đầu tiên, Danny và Amos không nghĩ đến độc giả nào cụ thể. Độc giả của họ sẽ là số ít học giả đã tình cờ đăng ký mua định kỳ các tạp chí thương mại chuyên ngành tâm lý học họ từng đăng bài. Đến mùa hè năm 1972, họ dành quãng thời gian tươi đẹp nhất trong 3 năm để khám phá cách thức con người phán đoán và dự báo – nhưng các ví dụ dùng để minh họa cho những ý tưởng của họ đều được rút ra trực tiếp từ tâm lý học, hoặc từ các bài trắc nghiệm lạ lùng, mang vẻ nhân tạo mà họ đưa cho các học sinh trung học và sinh viên. Tuy nhiên, họ vẫn chắc chắn những thấu hiểu sâu sắc của mình được áp dụng ở bất kỳ đâu trên thế giới, ở đó, con người đang phán đoán các xác suất để đưa ra quyết định. Họ cảm thấy cần tìm đối tượng độc giả rộng rãi hơn. “Giai đoạn kế tiếp của dự án sẽ chủ yếu dành cho việc mở rộng và ứng dụng nghiên cứu vào các hoạt động chuyên nghiệp cấp độ cao khác, chẳng hạn như hoạch định kinh tế, dự báo công nghệ, ra quyết định chính trị, chẩn đoán y khoa và đánh giá bằng chứng pháp lý”, họ viết trong một đề án nghiên cứu. Họ hy vọng những quyết định do các chuyên gia trong những lĩnh vực này thực hiện có thể được “cải thiện đáng kể bằng cách khiến các chuyên gia này nhận thức được những thiên kiến của mình, đồng thời bằng cách phát triển các phương pháp cắt giảm và hạn chế những nguồn thiên kiến trong phán đoán». Họ muốn biến thế giới thật thành phòng thí nghiệm. Sẽ không chỉ có các sinh viên là chuột thí nghiệm nữa mà có cả bác sĩ, thẩm phán và chính trị gia. Câu hỏi ở đây là: Làm cách nào?

Họ không thể không nhận thấy một niềm đam mê công việc đang ngày càng lớn dần trong suốt năm dài ở Eugene. “Đó là năm mà rõ ràng chúng tôi đã làm được điều gì đó quan trọng”, Danny nhớ lại. “Mọi người bắt đầu đối xử với chúng tôi đầy tôn trọng”. Irv Biederman, khi đó đang là giáo sư dự bị thỉnh giảng ở Đại học Stanford, đã nghe Danny nói chuyện về kinh nghiệm cảm tính và thiên kiến trong khuôn viên trường Stanford vào đầu năm 1972. “Tôi nhớ mình về nhà sau buổi trò chuyện và nói với vợ: ‘Lý thuyết này sẽ giành giải Nobel Kinh tế học’”, Biederman nhớ lại. “Tôi bị thuyết phục hoàn toàn. Nó là lý thuyết tâm lý học về con người kinh tế. Tôi nghĩ, còn điều gì có thể hay hơn chứ? Đây là lý do cho tất cả những bất hợp lý và lỗi của bạn. Chúng xuất phát từ cơ chế hoạt động nội tại của tâm trí con người”.

Biederman là bạn của Amos thời ở Đại học Michigan và giờ đây là thành viên của một khoa thuộc Đại học Bang New York tại Buffalo. Amos mà ông biết đã dồn hết tâm trí vào những vấn đề có thể quan trọng nhưng không thể giải thích và chắc chắn là mơ hồ về đo lường. “Tôi sẽ không mời Amos tới Buffalo để nói chuyện về điều đó”, ông nói – bởi sẽ chẳng ai hiểu hay quan tâm đến nó. Nhưng nghiên cứu mới Amos đang thực hiện cùng Danny Kahneman thật hấp dẫn. Nó khẳng định cảm giác của Biederman rằng “hầu hết các tiến bộ trong khoa học không đến từ những khoảnh khắc ‘eureka’ mà xuất phát từ các khoảnh khắc ‘ừm, lạ ghê’”. Ông thuyết phục Amos ghé Buffalo vào mùa hè năm 1972, trên đường từ Oregon tới Israel. Trong khoảng thời gian một tuần, Amos có 5 buổi nói chuyện khác nhau về công trình của mình với Danny, mỗi buổi hướng đến một nhóm học giả khác nhau. Lần nào khán phòng cũng chật cứng – để rồi 15 năm sau, vào năm 1987, khi Biederman rời Buffalo đến Đại học Minnesota, mọi người vẫn còn nói về những buổi trò chuyện của Amos.

Amos dành các buổi nói chuyện cho từng loại kinh nghiệm cảm tính mà ông cùng Danny khám phá và một buổi khác nói về dự báo. Nhưng cuộc nói chuyện lưu lại trong tâm trí Biederman chính là cuộc thứ năm, cũng là buổi cuối cùng. “Diễn giải lịch sử: Phán đoán dưới điều kiện không chắc chắn”, Amos gọi nó như vậy. Ông dễ dàng cho cả khán phòng đầy ắp sử gia chuyên nghiệp thấy kinh nghiệm của con người có thể được xem xét lại theo cách mới mẻ ra sao nếu nhìn qua lăng kính ông đã tạo ra cùng Danny.

Trong đời sống riêng tư và chuyên môn, chúng tôi thường bất chợt gặp những tình huống thoạt đầu có vẻ khó xử. Cả đời mình, chúng tôi không thể nhìn ra tại sao ông X lại hành xử theo kiểu đặc thù như thế, cũng chẳng tài nào hiểu vì sao các kết quả thí nghiệm lại như vậy… Tuy nhiên, chúng tôi thường nhanh chóng đưa ra một lời giải thích, giả thuyết hay diễn giải về thực tế nhằm khiến chúng trở nên dễ hiểu, mạch lạc hoặc tự nhiên. Hiện tượng giống như vậy được quan sát trong nhận thức. Con người rất giỏi phát hiện các khuôn mẫu và xu hướng ngay cả trong những dữ liệu ngẫu nhiên. Trái ngược với kỹ năng tạo ra các tình huống, lý giải và diễn giải, khả năng của chúng ta trong việc ước tính xác suất hay đánh giá lại không thỏa đáng. Một khi đã áp dụng một giả thuyết hay diễn giải cụ thể, chúng ta sẽ thổi phồng quá mức xác suất của giả thuyết đó và khó nhìn nhận theo cách nào khác.

Amos rất lịch sự về chuyện này. Ông không nói như mọi khi: “Thật lạ là các cuốn sách lịch sử quá buồn tẻ, vì bao nhiêu thứ trong đó chắc hẳn đã được bịa ra”. Điều ông nói có lẽ thậm chí còn gây sốc hơn cho khán giả: Giống như những người khác, các nhà sử học có xu hướng thiên kiến nhận thức ông và Danny từng mô tả. “Phán đoán lịch sử”, ông nói, “là một phần của một nhóm lớn hơn gồm các quá trình liên quan đến việc diễn giải dữ liệu qua trực giác”. Các phán đoán lịch sử chịu ảnh hưởng bởi thiên kiến. Ví dụ, Amos nói về một nghiên cứu khi đó do Baruch Fischhoff, một sinh viên sau đại học của ông tại Đại học Hebrew tiến hành. Khi Richard Nixon công bố ý định gây bất ngờ là thăm Trung Quốc và Nga, Fischhoff đã yêu cầu mọi người gán xác suất cho một danh sách các kết quả khả thi – ví dụ như Nixon sẽ gặp Chủ tịch Mao ít nhất một lần, Mỹ và Liên Xô sẽ xây dựng chương trình vũ trụ chung, một nhóm người Do Thái ở Liên Xô cũ sẽ bị bắt giữ vì cố gắng nói chuyện với Nixon... Sau chuyến đi ấy, Fischhoff quay lại và yêu cầu chính những người đó nhớ lại xác suất họ gán cho mỗi kết quả xảy ra. Trí nhớ của họ về các xác suất ấy đã bị bóp méo rất tệ. Họ đều tin rằng mình đã gán những xác suất cao hơn cho các kết quả. Họ đã ước lượng quá mức các xác suất mình từng gán cho những gì thật sự xảy ra. Điều đó nghĩa là một khi đã biết kết quả, họ sẽ thấy nó dễ dự đoán hơn rất nhiều so với khi cố gắng dự báo nó. Một vài năm sau khi Amos mô tả công trình với các khán giả tại Buffalo, Fischhoff đã đặt tên cho hiện tượng đó là “thiên kiến nhận thức muộn”1.

1. Trong một hồi ký ngắn, Fischhoff sau này nhớ lại cách ý tưởng này đến với mình trong buổi hội thảo của Daniel mang tên: “Chúng tôi đã đọc bài viết ‘Tại sao tôi không tham dự phiên hòa giải’ của Paul Meehl (1973). Một trong những phân tích của ông nói về cảm giác phóng đại của các bác sĩ lâm sàng về việc biết trước tất cả trường hợp sẽ diễn ra như thế nào. Cuộc trò chuyện về ý tưởng của Meehl đã khiến Fischhoff nghĩ về cách người Israel luôn giả vờ thấy trước các sự kiện chính trị không thể lường trước. Fischhoff nghĩ: “Nếu chúng tôi tiên đoán được tương lai, tại sao chúng tôi không điều hành thế giới chứ?”. Rồi ông tiến hành xem chính xác những nhà tiên đoán tương lai tự phong này thực sự là gì. (TG)

Trong bài nói chuyện với các sử gia, Amos đã mô tả nguy cơ trong nghề nghiệp của họ: khuynh hướng tiếp nhận bất cứ sự kiện nào họ thấy (bỏ qua nhiều sự thật mà họ không hoặc không thể quan sát) và làm cho chúng ăn khớp chặt chẽ vào một câu chuyện nghe đầy vẻ tự tin:

Quá thường xuyên, chúng ta thấy mình không thể dự báo điều gì sẽ xảy đến; nhưng khi sự đã rồi, chúng ta lại diễn giải rất tự tin chuyện đó. “Khả năng” lý giải điều ta không thể dự báo, ngay cả khi không có thông tin bổ sung nào, thể hiện một sai lầm quan trọng nhưng khó thấy trong lập luận của chúng ta. Nó dẫn dắt chúng ta tin rằng có một thế giới ít bất định hơn thực tế và chúng ta không thông minh bằng thực tế. Vì nếu chúng ta có thể giải thích điều không thể dự báo ở ngày hôm nay vào ngày mai mà không cần thông tin bổ sung nào trừ hiểu biết về kết quả thực sự xảy ra, thì kết quả này chắc hẳn đã được xác định trước và chúng ta lẽ ra đã có thể dự báo nó. Việc chúng ta không thể làm được coi là dấu hiệu cho thấy trí tuệ có giới hạn của mình, chứ không phải sự bất định tồn tại trên thế giới. Rất thường xuyên, chúng ta dằn vặt bản thân vì không thể đoán trước điều sau này dường như là tất yếu. Như tất cả chúng ta đều biết, mọi dấu hiệu đã an bài ngay từ đầu. Vấn đề là: Chúng ta có nhận ra không?

Không chỉ các phát thanh viên thể thao và nhà bình luận chính trị mới sửa đổi triệt để phần lời bình hay chuyển trọng tâm, để câu chuyện của họ có vẻ ăn khớp với những gì vừa xảy ra trong một trận đấu hay cuộc bầu cử. Các sử gia cũng áp đặt trình tự sai lên những sự kiện ngẫu nhiên, có lẽ họ thậm chí còn không nhận ra mình đang làm gì. Amos có một cụm từ cho chuyện này. “Thiên kiến nhận thức muộn”, ông gọi nó như vậy – và ghi nhanh vào các ghi chép một trong nhiều tổn hại nó gây ra: “Người nào coi quá khứ không có gì bất ngờ sẽ có một tương lai đầy bất ngờ”.

Cách nhìn nhận sai về những gì đã xảy ra trong quá khứ khiến ta khó nhìn nhận những gì có thể xảy ra trong tương lai. Các sử gia, trong con mắt khán giả của mình, dĩ nhiên tự hào về “khả năng” xây dựng lời giải thích cho các sự kiện từ những mảnh ghép của hiện thực quá khứ, khiến chúng có vẻ dự đoán được khi hồi tưởng lại. Khi nhà sử học đã giải thích cách thức và lý do một sự kiện nào đó xảy ra, câu hỏi duy nhất còn lại là tại sao con người trong câu chuyện đó lại không nhìn thấy điều mà sử gia giờ đây có thể nhận ra. “Tất cả các nhà sử học đều dự buổi nói chuyện của Amos”, Biederman nhớ lại, “và họ tái mặt khi ra về”.

Sau khi nghe Amos giải thích cách thức tâm trí sắp xếp các dữ kiện lịch sử theo cách khiến những sự việc quá khứ có vẻ bớt bất định và dễ đoán hơn nhiều so với thực tế, Biederman cảm giác chắc chắn công trình của ông và Danny có thể thẩm thấu mọi nguyên tắc vào đầu các chuyên gia được yêu cầu phán đoán xác suất của một tình huống không chắc chắn – bao hàm rất nhiều hoạt động của con người. Thế nhưng các ý tưởng do Danny và Amos đang tạo ra chỉ giới hạn trong giới hàn lâm. Một số giáo sư, hầu hết là giáo sư tâm lý học, đã nghe về các ý tưởng đó. Và không có ai khác nữa. Chẳng rõ tại sao hai nhân vật đang âm thầm làm việc tại Đại học Hebrew lại có thể lan tỏa các khám phá của mình đến những người ở ngoài lĩnh vực của họ.

Trong những tháng đầu năm 1973, sau khi trở về Israel từ Eugene, Amos và Danny bắt tay viết một bài báo dài tóm tắt các phát hiện của mình. Họ muốn tập hợp những am hiểu quan trọng của 4 nghiên cứu mà mình đã viết và cho phép các độc giả quyết định cách hiểu. “Chúng tôi quyết định trình bày công trình theo đúng bản chất của nó: một cuộc điều tra tâm lý”, Danny nói. “Chúng tôi sẽ để lại các hàm ý lớn cho những người khác”. Cả ông và Amos đều đồng ý rằng tạp chí Science đã cho họ niềm hy vọng lớn nhất để tiếp cận những người thuộc các lĩnh vực bên ngoài tâm lý học.

Bài báo của họ được dựng lên thay vì viết (“Mỗi câu là một ngày tốt đẹp”, Danny nói). Khi đang xây dựng bài báo, họ tình cờ khám phá ra một con đường rõ ràng để các ý tưởng thâm nhập đời sống hằng ngày của con người. Họ bị thu hút bởi “Quyết định lái bão”, một nghiên cứu có đồng tác giả là giáo sư Ron Howard của Đại học Stanford. Howard là một trong những người sáng lập ra một lĩnh vực mới mẻ được gọi là phân tích quyết định. Ý tưởng của nó là buộc các nhà ra quyết định gán xác suất cho những kết quả đầu ra khác nhau: làm rõ thứ tư duy đi vào trong các quyết định của mình trước khi thực hiện chúng. Cách thức giải quyết những cơn bão tử thần là ví dụ về một vấn đề nhà tạo lập chính sách có thể sử dụng các nhà phân tích quyết định để hỗ trợ xử lý sự việc. Cơn bão Camille vừa quét sạch một vùng đất rộng lớn ở bờ vịnh Mississippi và rõ ràng nó có thể gây ra nhiều thiệt hại nếu ập vào New Orleans hay Miami. Các nhà khí tượng học nghĩ giờ đây họ đã có một kỹ thuật – đổ bạc iođua vào cơn bão – nhằm giảm sức mạnh và thậm chí có thể thay đổi đường đi của bão. Tuy nhiên, chuyển hướng bão không phải vấn đề đơn giản. Thời điểm chính phủ can thiệp vào cơn bão, người ta nói chuyện đó liên quan đến bất cứ thiệt hại nào do nó gây ra. Công chúng và tòa án không thể ghi công chính phủ vì những gì không xảy ra, bởi ai biết chắc chuyện gì sẽ xảy ra nếu chính phủ không can thiệp? Thay vào đó, xã hội sẽ quy trách nhiệm cho các nhà lãnh đạo vì mọi thiệt hại do cơn bão gây ra, dù nó ập vào đâu. Nghiên cứu của Howard đã khám phá ra cách chính phủ có thể quyết định phải làm gì – và điều đó liên quan đến việc ước lượng xác suất của các kết quả khác nhau.

Nhưng trong con mắt của Danny và Amos, cách các nhà phân tích quyết định khám phá ra những xác suất từ tâm trí các chuyên gia bão lụt thật kỳ lạ. Các nhà phân tích sẽ cho chuyên gia lái bão của chính phủ thấy một vòng quay may mắn, trong đó, 1/3 số ô được sơn màu đỏ. Họ sẽ hỏi: “Các ông sẽ đặt cược vào ô đỏ hay cá rằng cơn bão bị chuyển hướng sẽ gây ra hơn 30 tỷ đô-la thiệt hại về tài sản?”. Nếu nhà chức trách bão lụt kia nói sẽ đặt cược vào ô đỏ nghĩa là ông ta đang nghĩ xác suất cơn bão gây ra thiệt hại về tài sản hơn 30 tỷ đô-la thấp hơn 33%. Vì thế các nhà phân tích quyết định sẽ cho ông ta xem một vòng quay khác với 20% số ô sơn màu đỏ. Họ làm như thế cho tới khi tỷ lệ các ô màu đỏ trùng khớp với cảm nhận của nhà chức trách về xác suất cơn bão sẽ gây ra thiệt hại về tài sản hơn 30 tỷ đô-la. Họ chỉ giả định các chuyên gia chuyển hướng bão có khả năng đánh giá chính xác xác suất của những sự kiện mang tính bất định cao.

Danny và Amos đã cho thấy khả năng phán đoán xác suất của con người bị sai lệch bởi các cơ chế khác nhau được tâm trí sử dụng khi đối mặt với sự không chắc chắn. Họ tin mình có thể sử dụng hiểu biết mới về các lỗi hệ thống trong phán đoán của con người nhằm cải thiện phán đoán đó – và để hoàn thiện việc ra quyết định của con người. Chẳng hạn, đánh giá của bất cứ người nào về xác suất một cơn bão tử thần ập vào đất liền năm 1973 có nhiều khả năng bị bóp méo dễ dàng bởi trải nghiệm vừa xong về bão Camille. Nhưng chính xác là phán đoán đó bị bóp méo như thế nào? “Chúng tôi nghĩ việc phân tích quyết định sẽ chi phối thế giới và chúng tôi muốn giúp thực hiện điều đó”, Danny nói.

Các nhà phân tích quyết định hàng đầu tập hợp xung quanh Ron Howard ở Menlo Park, California, tại một nơi gọi là Viện Nghiên cứu Stanford. Mùa thu năm 1973, Danny và Amos bay tới đó gặp họ. Nhưng họ chưa kịp nghĩ ra cách đưa các quan điểm về sự không chắc chắn vào đời thực thì sự không chắc chắn đã xen ngang. Ngày 6 tháng 10, quân đội Ai Cập và Syria – gồm đông đảo binh đoàn và máy bay cùng tiền bạc đến từ 9 quốc gia Ả Rập khác – tấn công Israel. Các nhà phân tích tình báo của Israel đã phán đoán quá sai về xác suất xảy ra bất kỳ cuộc tấn công nào, tấn công kiểu liên quân lại càng không. Quân đội hoàn toàn bất ngờ, khoảng 100 xe tăng Israel đối đầu với 1.400 xe tăng Syria. Dọc theo kênh đào Suez, một đơn vị quân đồn trú gồm 500 lính Israel và 3 xe tăng nhanh chóng bị 2.000 xe tăng cùng 100.000 lính Ai Cập đánh bại. Vào một buổi sáng lý tưởng, trời mát mẻ, quang đãng không mây tại thành phố Menlo Park, Amos và Danny nghe được tin tức về những mất mát gây bàng hoàng của Israel. Họ vội vã chạy tới phi trường bắt chuyến bay sớm nhất về nhà để tham gia một cuộc chiến nữa.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.