Logic Của Tâm Trí

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1. Gã ngực xệ

❊ ❊ ❊

Bạn chẳng bao giờ biết một anh chàng trong phòng phỏng vấn có thể nói những gì để bạn thôi ngủ gà gật, tỉnh táo trở lại và buộc phải chú ý. Một khi đã để tâm, tự nhiên bạn sẽ coi trọng những điều anh chàng vừa nói hơn mức cần thiết: Những khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong các cuộc phỏng vấn tuyển quân cho Hiệp hội Bóng rổ Quốc gia thật khó để lưu giữ vào một vùng não bộ phù hợp nào đấy. Có những khi, cứ như thể các cầu thủ đang cố gắng làm xáo trộn khả năng đánh giá của bạn về họ. Chẳng hạn, khi phỏng vấn viên của đội Houston Rockets hỏi một cầu thủ liệu có thể vượt qua cuộc kiểm tra chất kích thích không, anh ta trợn tròn mắt, tay bám chặt mép bàn và nói: “Ý ông là hôm nay ư!!!???”. Từng có một cầu thủ sinh viên bị bắt giữ vì những cáo buộc bạo hành gia đình (sau đó được bãi nại) và quản lý của anh ta khẳng định đó chỉ là một hiểu lầm nhỏ. Khi được hỏi, cầu thủ nọ giải thích một cách ghê rợn rằng vì quá chán nghe bạn gái “cằn nhằn, nên tôi tóm cổ cô ta rồi bóp. Vì tôi cần cô ta im miệng”. Rồi đến trường hợp của Kenneth Faried, tiền đạo chính xuất thân từ đội Morehead State. Khi anh đến phỏng vấn, người ta hỏi: “Anh thích được gọi là Kenneth hay Kenny?”. Faried trả lời: “Người thú”. Anh ta muốn được gọi là Người thú. Bạn nghĩ gì về điều đó? Cứ 4 cầu thủ người Mỹ da màu đến tham dự các cuộc phỏng vấn NBA – hay ít ra là tới phỏng vấn dự tuyển với đội Houston Rockets của NBA – thì có tới 3 người chưa bao giờ biết cha mình là ai. “Chẳng có gì lạ khi hỏi ai là người đàn ông có ảnh hưởng lớn nhất, họ lại trả lời: ‘Mẹ tôi’”, Giám đốc nhân sự của đội Rockets, Jimmy Paulis cho biết. “Có người thì trả lời ‘Obama’”.

Rồi đến Sean Williams. Năm 2007, Sean Williams, cao 2,08m, là một cầu thủ xuất chúng từng bị treo giò ở 2 mùa đầu tiên trong 3 mùa bóng chơi cho đội Đại học Boston sau khi bị bắt vì tội tàng trữ cần sa (cáo buộc này về sau được hủy bỏ). Anh chỉ chơi vỏn vẹn 15 trận trong năm học thứ hai mà vẫn kịp chặn 75 cú ném rổ; người hâm mộ gọi các trận bóng thời đại học của anh là Bữa tiệc Chặn bóng của Sean Williams. Trông anh ra dáng một cầu thủ tầm cỡ của NBA và được kỳ vọng sẽ được chọn1 ngay vòng một – một phần do mọi người cho rằng học xong năm ba đại học mà không bị cấm thi đấu nghĩa là Williams đã kiểm soát được việc sử dụng cần sa. Trước mùa tuyển quân năm 2007 của NBA, anh bay tới Houston theo yêu cầu của quản lý để luyện các kỹ năng phỏng vấn. Người quản lý giao kèo với đội Rockets: Williams sẽ chỉ nói chuyện với đội Rockets, còn đội bóng sẽ mách cho anh những mẹo để trở nên thuyết phục hơn khi phỏng vấn. Mọi việc suôn sẻ cho đến khi họ bắt đầu nói tới chủ đề cần sa. “Vậy là anh đã bị bắt vì hút cần sa vào năm đầu và năm thứ hai đại học”, phỏng vấn viên của đội Rockets nói. “Chuyện gì đã xảy ra trong năm học thứ ba của anh?” Williams chỉ lắc đầu và nói: “Họ ngừng kiểm tra tôi. Và nếu các vị không kiểm tra nữa, tôi sẽ hút tiếp!”.

1. Một sự kiện thường niên của giải NBA có từ năm 1947, trong đó các đội từ Hiệp hội Bóng rổ Quốc gia có thể lựa chọn những cầu thủ đủ điều kiện và muốn tham gia giải đấu. (ND)

Sau đó, quản lý của Sean Williams quyết định tốt nhất là không cho anh ta đi phỏng vấn nữa. Bản thân anh ta vẫn được đội New Jersey Nets chọn ở vòng đầu và xuất hiện ngắn ngủi trong 137 trận ở giải NBA trước khi chuyển sang Thổ Nhĩ Kỳ.

Hàng triệu đô-la vẫn có nguy cơ bị mất – cho tới giờ, tính bình quân, cầu thủ NBA là những vận động viên được trả lương cao nhất trong tất cả các môn thể thao đồng đội. Thành công ở thì tương lai của đội Houston Rockets vẫn cứ bấp bênh. Những con người trẻ tuổi ấy cho bạn rất nhiều thông tin để đưa ra quyết định tuyển dụng. Nhưng nhiều lúc bạn chẳng biết phải làm gì với chúng.

Phỏng vấn viên của đội Rockets: Anh biết gì về đội Houston Rockets?

Cầu thủ: Tôi biết anh làm cho đội Houston.

Phỏng vấn viên của đội Rockets: Anh bị thương ở chân nào?

Cầu thủ: Tôi nói với mọi người là chân phải.

Cầu thủ: Huấn luyện viên và tôi không cùng quan điểm.

Phỏng vấn viên của đội Rockets: Về chuyện gì?

Cầu thủ: Thời gian thi đấu.

Phỏng vấn viên của đội Rockets: Còn gì nữa không?

Cầu thủ: Ông ta lùn hơn tôi.

10 năm phỏng vấn những người cực kỳ cao khiến Daryl Morey, Giám đốc của đội Houston Rockets, tin là ông nên kháng cự sức mạnh của mọi tương tác trực tiếp có thể ảnh hưởng đến óc phán đoán của mình. Các cuộc phỏng vấn tuyển dụng là những màn ảo thuật. Ông cần đấu tranh chống lại mọi điều mình cảm nhận trong suốt quá trình đó – nhất là khi ông và mọi người trong phòng đều cảm thấy bị cuốn hút. Những người cực kỳ cao thường có sức hấp dẫn lạ kỳ. “Có nhiều gã to lớn hấp dẫn”, Morey nói. “Tôi chẳng biết có giống như khi nhìn đứa trẻ bụ bẫm ở sân chơi hay không nữa”. Rắc rối không nằm ở sức hấp dẫn mà ở những điều nó có thể che đậy: nghiện ngập, rối loạn nhân cách, chấn thương, ngại vất vả. Các anh chàng to con có thể khiến bạn xúc động rớt nước mắt với những câu chuyện về tình yêu bóng rổ và sự gian khổ họ phải vượt qua để được chơi bóng. “Ai cũng có chuyện cảm động để kể”, Morey nói. “Tôi có thể kể chuyện về bất kỳ anh chàng nào”. Và khi nói tới sự bền bỉ bất chấp nghịch cảnh, nhiều khi ta khó mà cầm lòng. Thế nào ta cũng nghe rồi tự tưởng tượng ra viễn cảnh thành công ở giải NBA trong tương lai.

Nhưng Daryl Morey tin tưởng – nếu như ông nghe gì tin nấy – ở phương pháp ra quyết định dựa trên số liệu thống kê. Và quyết định quan trọng nhất ông từng đưa ra là lựa chọn người vào đội bóng của mình. “Tâm trí của bạn cần luôn ở trong trạng thái phòng vệ liên tục trước những chuyện tào lao đang cố làm bạn lệch lạc”, ông nói. “Chúng ta luôn cố gắng xác định đâu là trò bịp và đâu là sự thật. Chúng ta đang thấy một hình ảnh 3D? Hay đây là ảo giác?” Các cuộc phỏng vấn này thuộc về danh sách những thứ tào lao đang cố sức khiến bạn đi sai đường. “Đây là lý do quan trọng nhất khiến tôi muốn có mặt trong mọi cuộc phỏng vấn”, Morey nói. “Nếu chúng tôi chọn anh ta, mà anh ta lại có vấn đề khủng khiếp nào đấy, lúc đó ông chủ đội bóng sẽ hỏi: ‘Hắn trả lời thế nào khi anh hỏi câu đó?’. Nếu trả lời: ‘Tôi chưa từng nói chuyện với hắn trước khi chúng ta trả hắn 1,5 triệu đô-la’, tôi sẽ bị đuổi việc”.

Và thế là, vào mùa đông năm 2015, Morey cùng 5 thành viên trong Ban tuyển trạch ngồi trong phòng họp ở Houston, Texas, chờ một gã khổng lồ nữa. Căn phòng phỏng vấn chẳng có thứ gì đáng để ngắm. Một bàn họp, vài chiếc ghế, cửa sổ tối om vì rèm chớp. Trên bàn đặt trơ trọi một tách cà phê ai đó vô tình để quên với một logo – Hội Châm biếm Quốc gia: Làm như chúng tôi cần bạn ủng hộ vậy. Con người hộ pháp ấy… chà, chẳng ai biết gì nhiều về nhân vật ấy ngoại trừ việc anh chàng chỉ mới 19 tuổi và thật sự khổng lồ ngay cả theo tiêu chuẩn của bóng rổ chuyên nghiệp. Cậu được một người quản lý hay tay săn tìm tài năng nào đó phát hiện 5 năm trước tại một ngôi làng ở Punjab – họ được nghe nói đại loại như vậy. Vào thời điểm đó, cậu mới 14 tuổi, cao 2,1m và đi chân trần – chính xác hơn là mang giầy rách tả tơi đến nỗi lộ hết cả bàn chân.

Họ băn khoăn về chuyện đó. Gia đình cậu bé hẳn là nghèo lắm nên mới không mua nổi cho con đôi giày. Hoặc gia đình tin rằng thật vô nghĩa khi mua giày cho một đôi chân đang lớn quá nhanh. Hoặc không chừng toàn bộ câu chuyện này là do tay quản lý bịa ra. Dù gì đi nữa, điều đọng lại trong tâm trí mọi người là hình ảnh: chàng trai 14 tuổi, cao 2,1m, đi chân trần trên đường phố Ấn Độ. Họ không hiểu làm thế nào cậu bé thoát khỏi ngôi làng Ấn Độ đó. Ai đó, có lẽ là một người quản lý, đã sắp xếp cho cậu sang Mỹ để học tiếng Anh và chơi bóng rổ.

Đối với NBA, cậu hoàn toàn vô danh. Không có video nào về anh chàng chơi thứ bóng rổ quy củ. Cậu chưa hề chơi như thế, theo trí nhớ của thành viên đội Rockets. Cậu cũng chưa tham gia chương trình tập luyện trước mùa tuyển quân NBA nào, vốn là dịp thi đấu thử của các cầu thủ nghiệp dư. Sáng hôm đó, đội Rockets mới được phép tiến hành đánh giá cậu. Chân cậu cỡ 22, còn bàn tay, tính từ đầu ngón đến cổ tay là 30cm, đôi bàn tay to nhất Ban tuyển trạch từng đo. Không đi giày, cậu cao 2,18m, nặng 136kg và người quản lý khẳng định cậu vẫn còn đang phát triển. Cậu đã dành 5 năm theo học bóng rổ ở vùng Tây Nam bang Florida – gần đây nhất là tại IMG, học viện thể thao được xây dựng để biến dân nghiệp dư thành vận động viên chuyên nghiệp. Mặc dù không ai trong số những người họ quen biết từng nhìn thấy cậu bé thi đấu, nhưng những người đã tận mắt chứng kiến thì vẫn còn nói về chuyện đó. Robert Upshaw chẳng hạn. Upshaw là một trung phong đậm người cao 2,13m, đã bị đội bóng Đại học Washington sa thải và đang thử việc ở các đội NBA. Vài ngày trước, tại nhà thi đấu của đội Dallas Mavericks, anh tập luyện cùng chàng khổng lồ người Ấn. Nghe các tuyển trạch viên của đội Rockets nói cậu chàng sắp trình diễn, đôi mắt Upshaw mở to, gương mặt sáng bừng, anh nói: “Cậu ta là nhân vật đồ sộ nhất tôi từng thấy. Cậu chàng có thể ném cú bóng ăn 3 điểm! Thật điên rồ”.

_______________

Trở lại năm 2006, khi được thuê điều hành đội Houston Rockets và xác định những cầu thủ nên chơi bóng rổ chuyên nghiệp, Daryl Morey là người đầu tiên được mệnh danh ông vua đam mê bóng rổ. Công việc của ông là thay thế hình thức ra quyết định vốn dựa trên trực giác của các chuyên gia bóng rổ bằng hình thức khác, chủ yếu căn cứ vào việc phân tích dữ liệu. Ông không có kinh nghiệm thi đấu bóng rổ, cũng chẳng thích thú chuyện khiến người khác nhầm mình là một vận động viên hay dân trong làng bóng rổ. Ông luôn là chính mình, một con người hạnh phúc với việc tính toán hơn là cảm xúc. Từ nhỏ, Daryl Morey đã yêu thích sử dụng số liệu nhằm đưa ra các dự đoán cho đến khi nó trở thành nỗi ám ảnh chi phối bản thân. “Đó dường như luôn là điều tuyệt vời nhất với tôi”, ông nói. “Làm thế nào bạn sử dụng được các con số để dự đoán? Thật thú vị khi sử dụng số liệu để giỏi hơn những người khác. Và tôi rất thích giỏi hơn người khác”. Morey xây dựng mô hình dự báo giống như trẻ con làm máy bay mô hình. “Tôi luôn ra sức dự đoán các môn thể thao. Tôi không biết áp dụng dự đoán vào thứ gì khác – không lẽ tôi lại đi đoán điểm số của mình?”

Tình yêu thể thao và số liệu thống kê đã dẫn dắt Morey, ở lứa tuổi 16, chọn đọc cuốn sách có tên The Bill James Historical Baseball Abstract (tạm dịch: Sơ lược lịch sử bóng rổ của Bill James). Bill James khi đó đang bận rộn truyền bá một phương thức tư duy về bóng chày bắt nguồn từ lập luận thống kê. Với sự giúp đỡ của đội Oakland Athletics, phương thức đó đã khơi mào một cuộc cách mạng mà kết thúc là phong trào đam mê chạy, hay là giúp đỡ nhau chạy, trong hầu hết mọi đội bóng tại giải Bóng chày Major League Baseball1. Năm 1988, khi tình cờ khám phá ra cuốn sách của James ở trung tâm Barnes & Noble2, Morey không hề biết những người có khả năng sử dụng số liệu để dự đoán mọi thứ rồi sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh mảng quản lý thể thao chuyên nghiệp và những nơi có các quyết định có tính rủi ro cao – cũng chẳng tài nào hay bóng rổ thực tế sẽ chờ ông trưởng thành. Ông chỉ nghi ngờ các chuyên gia có tên tuổi được ngưỡng mộ có thể chẳng biết nhiều như mọi người vẫn nghĩ.

1. Là tổ chức bóng chày chuyên nghiệp lâu đời nhất trong số 4 liên đoàn thể thao lớn ở Mỹ và Canada. Major League Baseball (MLB) có tổng cộng 30 đội bóng đến từ nhiều bang khác nhau của Mỹ và Canada. (ND)

2. Trung tâm phát hành sách lớn nhất thế giới với 48.000 cửa hiệu ở 49 bang của Mỹ. (ND)

Nỗi nghi ngờ ấy phát sinh vào năm trước đó, 1987, sau khi tạp chí Sports Illustrated đăng hình ảnh đội bóng chày ưa thích của ông là Cleveland Indians trên trang bìa và chọn họ là đội giành chiến thắng giải World Series. “Tôi nói: ‘Nó đây rồi!!! Đội Indians đã chơi tồi trong nhiều năm trời. Giờ ta sẽ thắng giải World Series!’”. Đội Indians kết thúc mùa bóng đó với thành tích tệ nhất trong lịch sử giải Major League: Làm thế nào chuyện đó lại xảy ra? “Những anh chàng mà họ từng nói sẽ thi đấu tốt lại có màn trình diễn tệ hại”, Morey hồi tưởng. “Và lúc đó tôi nghĩ: Có lẽ các chuyên gia cũng chẳng hiểu mình đang nói gì”.

Sau đó, ông biết tới Bill James và quả quyết, giống như Bill, mình cũng có thể sử dụng các con số để đưa ra những dự đoán tốt hơn các chuyên gia. Nếu dự đoán được màn trình diễn trong tương lai của các vận động viên chuyên nghiệp, ông có thể xây dựng những đội thể thao chiến thắng và nếu có thể làm như vậy thì… chà, đó sẽ là nơi đầu óc của Daryl Morey được nghỉ ngơi. Tất cả những gì ông muốn làm trong cuộc đời là xây dựng các đội thể thao chiến thắng. Câu hỏi ở đây là: Ai sẽ để cho ông làm điều đó? Thời đại học, ông từng gửi hàng chục lá thư tới các tổ chức nhượng quyền thể thao chuyên nghiệp với hy vọng được mời về làm một công việc thấp kém nào đó. Ông không nhận được lời hồi âm nào. “Tôi chẳng có cách nào thâm nhập các môn thể thao có tổ chức”, Morey nói. “Nên lúc đó, tôi quyết định mình phải giàu có. Nếu giàu, tôi có thể mua luôn một đội bóng và điều hành nó”.

Bố mẹ Morey thuộc tầng lớp trung lưu ở miền Trung Tây nước Mỹ. Ông thậm chí còn chẳng quen biết người giàu nào. Ông cũng là một sinh viên rõ ràng không có động lực gì ở Đại học Northwestern. Tuy nhiên, ông đã quyết tâm kiếm đủ tiền mua một đội thể thao chuyên nghiệp, để có thể đưa ra quyết định về chuyện đi hay ở của những người trong đội. “Hằng tuần, anh ấy cầm lấy một tờ giấy và viết lên đầu trang: ‘Các mục tiêu của tôi’”, Ellen, vợ ông, hồi tưởng. “Mục tiêu lớn nhất cuộc đời: ‘Một ngày nào đó, tôi sẽ sở hữu một đội thể thao chuyên nghiệp’”. “Tôi đã học trường kinh doanh”, Morey nói, “vì tôi nghĩ đó là nơi phải tới nếu muốn giàu có”. Khi rời khỏi trường kinh doanh, năm 2000, ông tham dự phỏng vấn tại các công ty tư vấn cho đến khi tìm thấy một nơi nhận trả lương bằng cổ phần của những công ty mà họ tư vấn. Công ty này lúc ấy đang tiến hành tư vấn cho các công ty Internet trong suốt thời kỳ bong bóng Internet bùng nổ: Vào thời điểm đó, điều ấy nghe có vẻ là một cách làm giàu nhanh. Thế rồi, bong bóng vỡ và tất cả cổ phần trở thành vô giá trị. “Hóa ra đó lại là quyết định tệ hại nhất từ xưa đến nay”, Morey nói.

Tuy vậy, từ công việc tư vấn của mình, ông đã học hỏi được một số điều có giá trị. Dường như đối với ông, phần lớn công việc tư vấn là giả vờ hoàn toàn biết chắc về những điều không chắc chắn. Trong một cuộc phỏng vấn xin việc với công ty McKinsey, họ nói ông không đủ quả quyết về quan điểm của bản thân. “Và tôi nói đó là vì tôi không chắc chắn. Thế là họ nói: ‘Chúng tôi tính phí khách hàng 500.000 đô-la một năm, vì vậy anh phải đảm bảo những gì mình nói’”. Công ty tư vấn nhận Morey vào làm sau đó luôn đòi hỏi ông thể hiện sự tự tin vào lúc mà theo ông, tự tin là dấu hiệu của sự lừa lọc. Chẳng hạn, họ yêu cầu ông dự báo giá dầu cho khách hàng. “Và sau đó chúng tôi tới gặp các khách hàng để nói mình có thể dự báo giá dầu. Chẳng ai có thể dự báo giá dầu. Điều đó về cơ bản là nhảm nhí”.

Giờ đây, Morey nhận ra rất nhiều thứ con người từng nói và làm khi họ “dự đoán” sự việc là giả tạo: giả vờ biết mọi thứ còn hơn chẳng biết gì. Có rất nhiều câu hỏi thú vị trên thế giới mà chỉ có một câu trả lời thành thật: “Không thể nào biết chắc”. “Giá dầu trong 10 năm nữa sẽ là bao nhiêu?” là một câu hỏi kiểu vậy. Điều đó không có nghĩa là bạn từ bỏ nỗ lực tìm kiếm đáp án, bạn chỉ diễn đạt câu trả lời bằng những thuật ngữ xác suất.

Sau này, khi các tuyển trạch viên bóng rổ tìm đến ông để xin việc, đặc điểm mà ông tìm kiếm là họ phải biết mình đang tìm đáp án cho những câu hỏi vốn không có đáp án chắc chắn – rằng họ vốn đã có khuynh hướng sai lầm. “Tôi luôn hỏi họ: ‘Các anh từng bỏ sót ai rồi?’“, Morey nói. Họ đã loại bỏ siêu sao tương lai nào, hay đã phải lòng kẻ thất bại nào? “Nếu họ không đưa ra được một cái tên hợp lý, tôi cho họ nghỉ luôn”.

Nhờ may mắn, công ty tư vấn nơi Morey làm việc đã được yêu cầu thực hiện phân tích cho một tập đoàn đang cố gắng mua lại đội Boston Red Sox. Khi tập đoàn đó thua thầu mua lại một đội bóng chày chuyên nghiệp, họ rút lui và mua một đội bóng rổ chuyên nghiệp, đội Boston Celtics. Năm 2001, họ yêu cầu Morey chấm dứt việc tư vấn và đến làm cho đội Celtics, nơi “họ trao cho tôi những vấn đề khó khăn nhất để giải quyết”. Ông đã hỗ trợ thuê một ban quản lý mới, sau đó giúp xác định cách tính giá vé và cuối cùng được yêu cầu giải quyết vấn đề lựa chọn người trong mùa tuyển quân của NBA. Câu hỏi “Chàng trai 19 tuổi kia sẽ thể hiện như thế nào ở NBA?” cũng giống như “Giá dầu trong 10 năm nữa sẽ là bao nhiêu?”. Không có câu trả lời nào là hoàn hảo nhưng các số liệu thống kê có thể cho bạn một đáp án nào đó tốt hơn là đoán mò.

Morey có một mô hình thống kê thô để đánh giá các cầu thủ nghiệp dư. Ông đã tự mình xây dựng nó chỉ để cho vui. Vào năm 2003, đội Celtics khuyến khích ông sử dụng nó để lựa chọn cầu thủ tại vòng cuối của mùa tuyển quân – lượt chọn thứ 56, khi các cầu thủ hiếm khi còn giá trị. Và do đó, Brandon Hunter, một tiền đạo chính vô danh xuất thân từ đội Đại học Ohio, trở thành cầu thủ đầu tiên được chọn bằng một phương trình.1 Hai năm sau, Morey nhận điện thoại từ một tay săn tài năng thông báo rằng đội Houston Rockets đang tìm giám đốc điều hành mới. “Bà ấy nói họ đang tìm một người sử dụng Thuật toán Tiền bi”, Morey nhớ lại.

1. Chuyên gia săn đầu người khởi sự làm cho đội Celtics trong một mùa giải và tiếp tục đạt được một sự nghiệp thành công ở châu Âu. (TG)

Chủ sở hữu của đội Rockets, Leslie Alexander, đã chán bản năng trực giác của các chuyên gia bóng rổ. “Việc ra quyết định không hiệu quả”, Alexander nói. “Nó không chính xác. Bây giờ chúng tôi đã có tất cả dữ liệu. Và chúng tôi có máy tính có thể phân tích đống dữ liệu đó. Tôi muốn dùng chúng một cách tiến bộ. Tôi thuê Daryl vì muốn có ai đó làm được nhiều hơn là chỉ nhìn vào các cầu thủ theo cách thông thường. Ý tôi là, bản thân tôi thậm chí còn không chắc chắn đội mình có đang chơi chuẩn không”. Các cầu thủ càng được trả nhiều tiền, ông càng phí tiền vì những quyết định tùy tiện. Ông nghĩ phương thức tiếp cận theo kiểu phân tích của Morey có thể mang lại cho ông một lợi thế trên thị trường của các tài năng đắt giá, ông hoàn toàn chẳng quan tâm đến dư luận mà vẫn ra sức làm theo ý mình. (“Ai quan tâm người khác nghĩ gì?”, Alexander nói. “Đó không phải là đội bóng của họ”). Trong cuộc phỏng vấn xin việc, Morey được an ủi bởi sự táo bạo của Alexander và tinh thần mà ông thể hiện. “Ông ấy hỏi tôi: ‘Anh theo tôn giáo nào?’. Tôi nhớ lúc đó đã nghĩ, mình chẳng ngờ ông ta sẽ hỏi như thế. Tôi trả lời đại khái thôi, đến đoạn gia đình mình theo Tân giáo và Luther giáo thì ông ta ngắt lời: ‘Chỉ cần cho tôi biết anh chẳng tin vào bất kỳ thứ quái gì trong đó cả’”.

Sự bàng quan của Alexander đối với dư luận hóa ra lại có ích. Biết chuyện một gã 33 tuổi quê mùa kỳ quái được thuê về điều hành đội Houston Rockets, người hâm mộ cũng như dân trong giới bóng rổ trở nên hoang mang và phản đối hơn bao giờ hết. Người của đài phát thanh Houston lập tức trao cho ông biệt hiệu: Deep Blue1. “Mọi người trong giới bóng rổ đều nghĩ tôi chẳng thuộc về nơi này”, Morey nói. “Họ im lặng trong suốt những giai đoạn thành công và bất ngờ xuất hiện khi cảm nhận được điểm yếu”. Trong thập kỷ ông quản lý đội, Rockets đã đạt thành tích đứng thứ 3 trong 30 đội bóng ở giải NBA, xếp sau San Antonio Spurs và Dallas Mavericks, xuất hiện trong nhiều trận playoff nhất so với tất cả, trừ 4 đội. Họ chưa hề thất bại trong mùa nào. Những người cảm thấy khó chịu nhất với sự hiện diện của Morey đôi lúc vì lý trí còn phải theo đuổi ông. Đến mùa xuân năm 2015, khi đội Rockets, với thành tích xếp thứ hai giải NBA, lọt vào Chung kết khu vực miền Tây đấu với đội Golden State Warriors, cựu cầu thủ nằm trong đội hình các siêu sao NBA và giờ là nhà phân tích trên truyền hình, Charles Barkley, đã đả kích 4 phút liền về Morey trong phần lẽ ra là phân tích giữa hiệp. “…Tôi không lo lắng về Daryl Morey. Hắn ta là một trong những tên ngốc tín nhiệm cái trò phân tích… Tôi luôn tin phân tích là thứ tào lao… Nghe này, Daryl Morey có bước vào căn phòng này ngay bây giờ thì tôi cũng chẳng biết là ai… Giải NBA là cuộc chơi của các tài năng. Tất cả những gã đang điều hành các tổ chức cứ nói về trò phân tích đều có một điểm chung: Họ chỉ là những gã chưa bao giờ chơi một trận bóng, chưa cưa cẩm được cô bạn gái nào thời trung học và chỉ muốn bước vào cuộc chơi”.

1. Nhái theo tên của chiếc máy tính nổi tiếng do IBM phát triển từng đánh bại vua cờ Garry Kimovich Kasparov trong trận đấu gồm 6 ván. (ND)

Còn rất nhiều thứ vớ vẩn như thế. Những ai không biết Daryl Morey thì cho rằng do ông đã bắt đầu trí thức hóa bóng rổ nên chắc hẳn là một người biết tuốt. Trong cách tiếp cận thế giới, ông ngược lại hoàn toàn. Ông tự ti về bản thân – hiểu rằng thật khó để biết chắc chắn bất cứ chuyện gì. Thứ ông chắc mẩm nhất là cách thức ra quyết định. Ông không bao giờ chọn theo suy nghĩ đầu tiên. Ông đề xuất định nghĩa mới cho một con người đam mê: là một nhân vật thấu hiểu tâm trí đủ để ngờ vực nó.

Một trong những việc đầu tiên Morey làm khi đến Houston – đối với ông là quan trọng nhất – là áp dụng mô hình thống kê để dự báo phong độ tương lai của các cầu thủ bóng rổ. Mô hình này cũng là một công cụ thu nhận kiến thức bóng rổ. “Kiến thức đúng nghĩa là sự dự báo”, Morey nói. “Kiến thức là bất cứ thứ gì gia tăng khả năng dự báo kết quả. Thực sự mọi việc bạn làm đều là đang cố gắng dự báo đúng. Hầu hết mọi người chỉ làm việc đó trong tiềm thức”. Một mô hình cho phép bạn khám phá các thuộc tính của một cầu thủ bóng rổ nghiệp dư để dẫn tới thành công chuyên nghiệp và xác định trọng số cho từng thuộc tính. Một khi đã có cơ sở dữ liệu về hàng nghìn cựu cầu thủ, bạn có thể tìm kiếm thêm các mối tương quan tổng quát hơn giữa phong độ thời đại học với lúc thi đấu chuyên nghiệp của họ. Rõ ràng số liệu thống kê phong độ cho bạn biết đôi điều về họ. Nhưng đó là số liệu gì? Bạn có thể tin – nhiều người sau này cũng thế – rằng điều quan trọng nhất một cầu thủ bóng rổ thực hiện là ghi điểm. Quan điểm đó có thể được kiểm chứng bây giờ: Liệu khả năng ghi điểm thời đại học có dự báo được thành công tại NBA? Không, đó là câu trả lời ngắn gọn. Từ các phiên bản ban đầu của mô hình, Morey đã biết số liệu thống kê tính toán theo truyền thống – điểm số, số lần bắt bóng bật bảng và số lần hỗ trợ bóng trong mỗi trận đấu – có thể dẫn đến những sai lệch to lớn. Có thể xảy ra trường hợp một cầu thủ ghi nhiều điểm nhưng lại gây ảnh hưởng xấu đến đội bóng, cũng như khả năng một cầu thủ ghi ít điểm nhưng lại là tài sản to lớn. “Chỉ cần có mô hình, không cần quan điểm nào cả, bạn cũng buộc phải đưa ra những câu hỏi đúng đắn”, Morey nói. “Tại sao có người được các tuyển trạch viên xếp hạng rất cao trong khi mô hình xếp anh ta thấp? Tại sao có người bị tuyển trạch viên đánh giá thấp nhưng mô hình lại xếp hạng cao?”

Ông không nghĩ mô hình của mình là “câu trả lời đúng” mà chỉ là “câu trả lời tốt hơn”. Morey cũng chẳng quá ngây thơ đến mức nghĩ mô hình sẽ tự chọn cầu thủ. Rõ ràng mô hình cần được kiểm tra và quan sát – chủ yếu vì có những thông tin mà mô hình không được biết đến. Chẳng hạn, nếu một cầu thủ gãy cổ vào đêm trước vòng tuyển quân của NBA, sẽ thật tốt nếu biết điều đó. Nhưng nếu vào năm 2006, bạn yêu cầu Daryl Morey lựa chọn giữa mô hình của mình với một căn phòng đầy tuyển trạch viên bóng rổ, ông ấy sẽ chọn mô hình của mình.

Đó được xem là phương pháp mới vào năm 2006. Morey có thể thấy không ai sử dụng mô hình để đánh giá cầu thủ bóng rổ – chẳng ai thèm tiếp nhận thông tin cần thiết cho bất cứ mô hình nào. Để có được mọi số liệu thống kê, ông phải cử người đến các văn phòng của Hiệp hội Thể thao các trường Đại học Quốc gia (NCCA) ở thành phố Indianapolis để sao chép bảng điểm thi đấu của tất cả các trận đấu sinh viên trong hơn 20 năm, sau đó nhập liệu bằng tay vào hệ thống của mình. Bất cứ lý thuyết nào về cầu thủ bóng rổ đều phải được kiểm tra trên một cơ sở dữ liệu về cầu thủ. Giờ đây, họ đã có số liệu về lịch sử 20 năm của các cầu thủ sinh viên. Cơ sở dữ liệu mới cho phép họ so sánh các cầu thủ với những người tương tự trong quá khứ và xem có bài học tổng quan nào tiếp thu được hay không.

Nhiều việc đội Houston Rockets từng làm nghe thật đơn giản và rõ ràng vào thời điểm bây giờ: Về tinh thần, đó chính là phương thức tiếp cận được thực hiện bởi các nhà giao dịch theo thuật toán trên Phố Wall, nhà quản lý chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ, cũng như mỗi công ty đang cố gắng phân tích những việc bạn làm trên Internet để dự đoán bạn sẽ xem hay mua sản phẩm nào. Nhưng vào năm 2006, không có gì đơn giản và rõ ràng cả. Nhiều thông tin mà mô hình của Morey cần lại không có. Đội Rockets bắt đầu thu thập dữ diệu gốc của mình bằng cách định lượng mọi việc xảy ra trên sân mà trước đây chưa được xác định. Chẳng hạn, thay vì tìm hiểu số lần bắt bóng bật bảng của một cầu thủ, họ bắt đầu đếm số cơ hội bắt bóng bật bảng chính xác anh ta có và số lần thực hiện thành công. Họ theo dõi việc ghi điểm trong trận đấu khi một cầu thủ đang chơi trên sân, so sánh với khi anh ta ngồi trên băng ghế dự bị. Điểm số, số lần bắt bóng bật bảng và đoạt bóng tính trên từng trận đấu có thể không hữu ích; nhưng nếu tính trên mỗi phút thì rất giá trị. Ghi 15 điểm trong cả trận rõ ràng ít ý nghĩa hơn khi bạn chỉ chơi phân nửa thời gian. Cũng có thể xem xét tốc độ chơi bóng của nhiều đội bóng đại học từ bảng điểm – chúng lên xuống thường xuyên trên sân đấu như thế nào. Điều chỉnh số liệu thống kê của một cầu thủ đại học theo tốc độ chơi của đội bóng là rất hiệu quả. Ghi điểm và bắt bóng bật bảng khi đội có đến 150 cú ném rổ trong một trận đấu là một chuyện, nhưng nếu làm được thế khi chỉ có 75 cú ném rổ thì lại khác. Việc điều chỉnh theo tốc độ cho ta hình dung về những gì một cầu thủ đạt được so với cách nhìn nhận thông thường.

Không chỉ tập hợp dữ liệu về các cầu thủ bóng rổ vốn chưa từng được thu thập, đội Rockets còn tổng hợp thông tin về cuộc đời các cầu thủ và tìm kiếm hình mẫu trong đó. Việc có đủ cả bố và mẹ có giúp cầu thủ phát triển? Thuận tay trái có phải là lợi thế? Những cầu thủ được rèn giũa bởi các huấn luyện viên mạnh mẽ thời đại học có xu hướng thi đấu tốt hơn ở NBA không? Nếu trong dòng họ của một cầu thủ có người từng là tuyển thủ NBA thì có tốt hơn không? Có vấn đề gì không nếu anh ta chuyển tới từ trường cao đẳng? Nếu huấn luyện viên thời sinh viên của anh ta chơi phòng ngự khu vực thì sao? Nếu hồi sinh viên, anh ta từng chơi ở nhiều vị trí thì thế nào? Khả năng đẩy tạ nằm của cầu thủ có quan trọng không? “Hầu như tất cả những thứ chúng tôi xét đến đều không dự báo được”, Morey nói. Nhưng không phải mọi thứ. Số lần bắt bóng bật bảng trên phút khá hữu ích trong việc dự đoán thành công tương lai của những anh chàng to lớn. Số lượt cướp bóng trên phút cho bạn biết một số điều về những chàng trai nhỏ bé. Chiều cao của một cầu thủ không quan trọng bằng việc bàn tay có thể với cao đến đâu – độ dài tay quan trọng hơn chiều cao của anh ta.

Lần vận hành thử đầu tiên của mô hình diễn ra năm 2007 (Đội Rockets mua bán các cầu thủ mình chọn vào năm 2006). Đây là cơ hội để kiểm tra một phương thức tiếp cận duy lý và công bằng, dựa trên cơ sở bằng chứng, so sánh với kinh nghiệm cảm tính của cả một ngành. Vào năm đó, đội Rockets nắm giữ lượt chọn thứ 26 và 31 trong mùa tuyển quân của NBA. Theo mô hình của Morey, xác suất có được một cầu thủ NBA giỏi qua những lựa chọn đó lần lượt là 8% và 5%. Xác suất có được một cầu thủ mở màn trận đấu của các siêu sao NBA là khoảng 1%. Họ đã chọn Aaron Brooks và Carl Landry, cả hai đều trở thành cầu thủ mở màn NBA. Đây là một mẻ lưới cực hời.1 “Điều đó giúp chúng tôi ngủ ngon giấc”, Morey nói. Ông biết mô hình của mình cùng lắm chỉ gây ra ít lỗi hơn một chút so với những người từng đưa ra phán đoán về các ứng viên dự tuyển tìm việc từ xưa. Ông biết mình rất thiếu số liệu tốt. “Bạn có một số thông tin – nhưng thường chỉ là từ một năm ở trường đại học. Mà ngay cả thông tin đó cũng có vấn đề. Ngoại trừ việc mỗi trận đấu mỗi khác, với các huấn luyện viên khác nhau, mức độ cạnh tranh cũng khác – các cầu thủ đều 20 tuổi. Họ không biết mình là ai. Vậy làm sao chúng tôi biết?”. Ông biết tất cả chuyện này, nhưng ông nghĩ họ vẫn có thể xác định điều gì đó. Thế rồi năm 2008 đến.

1. Không có cách thức hoàn hảo nào để đo lường chất lượng của một lựa chọn tại mùa tuyển quân, nhưng có một cách hợp lý: so sánh kết quả đầu ra của cầu thủ trong 4 năm đầu, những năm tháng mà đội bóng ở NBA vốn từng chọn anh ta cũng đang kiểm soát cầu thủ này, với kết quả đầu ra bình quân của các cầu thủ được chọn ở cùng suất đó. Bằng phương pháp đo lường này, Carl Landry và Aaron Brook là những lựa chọn tốt nhất ở lượt thứ 35 và 55 trong khoảng 600 lượt lựa chọn do các đội NBA thực hiện trong thập kỷ vừa qua. (TG)

Năm đó, đội Rockets kết thúc ở lượt lựa chọn thứ 33 của mùa tuyển quân, thu về một anh chàng to lớn đến từ Đại học Memphis tên là Joey Dorsey. Trong cuộc phỏng vấn, Dorsey hài hước, đáng mến và rất thu hút – anh này nói khi nào ngừng chơi bóng rổ sẽ khai phá thêm sự nghiệp thứ hai là làm ngôi sao khiêu dâm. Sau khi được chọn, Dorsey được cử tới thành phố Santa Cruz để chơi một trận giao hữu với các cầu thủ mới được tuyển chọn khác. Morey liền đến để xem anh ta. “Trận đầu tiên tôi quan sát, anh chàng trông thật kinh khủng”, Morey nói. “Và tôi nghĩ: ‘Chết tiệt!!!’”. Joey Dorsey chơi tệ đến nỗi Daryl Morey không thể tin là đang nhìn chàng trai do chính mình lựa chọn. Morey nghĩ thầm, có lẽ anh ta không coi trọng trận giao hữu. “Tôi gặp anh ta. Chúng tôi cùng ăn trưa trong 2 giờ đồng hồ”. Morey nói với Dorsey rất lâu về tầm quan trọng của việc chơi bóng với cường độ cao, tạo ấn tượng tốt và đại loại như vậy. “Tôi nghĩ trận đấu tới, anh chàng sẽ ra sân đầy kích động. Anh ta ra sân và làm hỏng nốt”. Morey nhanh chóng nhận thấy mình gặp phải một vấn đề còn lớn hơn Joey Dorsey. Vấn đề ấy nằm ở chính mô hình của ông. “Joey Dorsey là một siêu sao trong mô hình. Mô hình cho thấy anh ta là một nhân vật không thể bỏ qua. Tín hiệu của anh ta rất tốt, cực kỳ tốt”.

Cùng năm đó, mô hình đã coi một cầu thủ là không đáng xem xét nghiêm túc, đó là một trung phong năm nhất ở Đại học Texas A&M, DeAndre Jordan. Mọi đội bóng khác tại NBA, sử dụng các công cụ săn tìm tài năng truyền thống hơn, đều từ chối anh chàng này ít nhất một lần, hay phải đến lượt thứ 35, Jordan mới được đội Los Angeles Clippers chọn. Cũng nhanh như Joey Dorsey sớm chứng tỏ mình là một kẻ thất bại toàn tập, DeAndre Jordan khẳng định mình là một trung phong “vô đối” ở NBA và là cầu thủ tốt thứ hai trong toàn bộ lứa được chọn, chỉ sau Russell Westbrook.1

1. Trước mùa giải năm 2015, DeAndre Jordan đã ký hợp đồng 4 năm với đội Clippers, đảm bảo cho anh thu nhập 87.616.050 đô-la, mức lương cao nhất tại giải NBA lúc đó. Joey Dorsey ký hợp đồng một năm trị giá 650.000 đô-la với đội Galatasaray Liv Hospital của Liên đoàn Bóng rổ Thổ Nhĩ Kỳ. (TG)

Chuyện kiểu này thường xảy ra hằng năm đối với bất kỳ đội bóng NBA nào. Mỗi năm đều có những cầu thủ tuyệt vời bị các tuyển trạch viên bỏ sót, và năm nào cũng có những cầu thủ được đánh giá cao nhưng lại chơi chẳng ra gì. Morey không cho rằng mô hình của mình hoàn hảo, nhưng ông cũng chẳng thể tin nó lại sai đến thế. Kiến thức là dự báo: Nếu bạn không thể dự báo một điều rõ rành rành như thất bại của Joey Dorsey hay thành công của DeAndre Jordan, thì bạn hiểu được bao nhiêu chứ? Cả cuộc đời ông đã được định hình bởi ý tưởng dằn vặt này: Ông có thể sử dụng số liệu để đưa ra những dự báo tốt hơn. Tính hợp lý của ý tưởng này bị ngờ vực. “Tôi đã bỏ qua điều gì đó”, Morey nói. “Đó chính là các hạn chế của mô hình”.

Morey tin rằng sai lầm đầu tiên của mình là do đã không chú ý kỹ đến độ tuổi của Joey Dorsey. “Anh ta già chát rồi”, Morey nói. “Anh chàng đã 24 tuổi khi được chúng tôi chọn”. Sự nghiệp thời đại học của Dorsey ấn tượng như thế vì anh ta già hơn nhiều so với các đối thủ. Trên thực tế, Dorsey đã nhiều lần đánh bại các thanh niên nhỏ bé. Việc nâng tầm quan trọng của độ tuổi cầu thủ trong mô hình khiến Dorsey trở thành một triển vọng tồi của NBA; ấn tượng hơn, nó cải thiện được các phán đoán của mô hình về gần như mọi cầu thủ trong cơ sở dữ liệu. Về vấn đề đó, Morey nhận ra có cả một lớp cầu thủ sinh viên thi đấu tốt hơn nhiều khi gặp các đối thủ yếu so với khi chạm trán những kẻ mạnh. Cá lớn nuốt cá bé thôi. Mô hình cũng có thể tính đến điều đó bằng cách chú trọng các trận đấu gặp đối thủ mạnh hơn trận gặp đối thủ yếu. Việc này cũng cải thiện mô hình.

Morey có thể thấy – hay ông tưởng mình có thể thấy – vì sao mô hình lại bị đánh lừa bởi Joey Dorsey. Việc nó mù tịt về giá trị của DeAndre Jordan gây lo lắng hơn nhiều. Chàng trai đã chơi bóng rổ ở trường đại học chỉ một năm, không hiệu quả cho lắm. Hóa ra cậu từng là một cầu thủ gây sốt thời trung học, ghét huấn luyện viên thời đại học và thậm chí còn chẳng muốn đi học. Làm sao một mô hình có thể dự báo tương lai của một cầu thủ từng cố tình chuốc lấy thất bại? Nó không thể nhìn ra tương lai của Jordan qua các con số thống kê thời đại học của anh chàng và vào thời điểm đó lại không có những số liệu hữu ích về bóng rổ trung học. Nếu chỉ dựa vào những con số thống kê phong độ thì mô hình sẽ luôn bỏ qua DeAndre Jordan. Dường như cách duy nhất để nhìn ra anh ta là thông qua con mắt của một chuyên gia bóng rổ kiểu cũ. Thực tế, Jordan đã trưởng thành ở Houston dưới con mắt theo dõi của các tuyển trạch viên đội Rockets, một trong những chuyên gia đó đã muốn chọn anh chàng căn cứ vào thế mạnh ông ta cho là một tài năng không thể chối cãi. Một trong các tuyển trạch viên của ông đã nhìn ra điều mà mô hình bỏ sót!

Morey – là chính Morey – thực sự đã tiến hành kiểm tra xem có bất cứ mẫu hình nào trong các dự báo của đội ngũ nhân viên hay không. Ông đã thuê hầu hết những người đó và nghĩ rằng họ tuyệt vời, thế nhưng lại chẳng có bất cứ bằng chứng nào cho thấy bất kỳ ai trong bọn họ giỏi hơn những người còn lại, hay nổi trội hơn thị trường trong việc dự đoán người thành, kẻ bại ở NBA. Nếu có chuyên gia bóng rổ nào xác định được tài năng NBA tương lai thì ông vẫn chưa tìm thấy người đó. Lẽ dĩ nhiên, Morey không nghĩ mình là người như vậy. “Tôi không hề nghĩ đến việc coi trọng trực giác cá nhân hơn”, ông nói. “Tôi rất ít tin tưởng vào bản năng của mình. Tôi chỉ nghĩ rằng có nhiều bằng chứng cho thấy trực giác không tốt cho lắm”.

Cuối cùng, ông quyết định rằng đội Rockets cần cắt giảm dữ liệu và hướng vào phân tích, có nhiều thứ chưa từng được phân tích nghiêm túc: các đặc điểm thể chất. Họ không chỉ cần biết một cầu thủ nhảy cao bao nhiêu mà còn phải nắm được anh ta bật khỏi mặt đất mau lẹ ra sao – cơ bắp nâng anh ta lên không trung nhanh dường nào. Họ cần đo cả tốc độ của cầu thủ lẫn độ nhanh nhạy của hai bước chân đầu tiên. Như thế thì thậm chí họ còn phải sành sỏi hơn trước đây. “Khi mọi thứ hỏng bét”, Morey nói, “mọi người quay lại với những thói quen từng thành công trong quá khứ. Quan điểm của tôi là: Chúng ta hãy quay lại với các nguyên tắc đầu tiên. Nếu các công cụ thể chất quan trọng, chúng ta hãy kiểm tra chúng sát sao hơn hết. Phải bớt coi trọng thành tích thi đấu thời đại học và tập trung vào các khả năng thể chất thuần túy hơn”.

Nhưng một khi bạn bắt đầu nói về hình thể của một anh chàng và những gì nó có thể hoặc không thể làm trên sân đấu NBA, sẽ có một hạn chế ngay cả đối với tính hữu ích của thông tin khách quan có thể đo lường. Bạn cần, hay có vẻ cần đến các chuyên gia để xem xét những công cụ hiện hành và đánh giá họ sẽ thực hiện tốt chức năng thi đấu như thế nào trong một trận đấu khác, trước đối thủ giỏi hơn. Bạn cần các tuyển trạch viên để đánh giá khả năng cầu thủ thực hiện những việc họ biết là quan trọng nhất trên sân bóng rổ: ném bóng, dứt điểm, tiếp cận vành rổ, bắt bóng bật bảng để tấn công... Bạn cần đến các chuyên gia. Các hạn chế của mô hình đã lôi kéo sự phán đoán của con người vào quá trình ra quyết định – dù nó có giúp ích hay không.

Thế là Morey bắt đầu cố gắng hết sức để hòa trộn phán đoán chủ quan của con người với mô hình của mình. Mẹo ở đây không chỉ là xây dựng một mô hình tốt hơn, mà là lắng nghe cả nó lẫn các tuyển trạch viên cùng lúc. “Bạn phải chỉ ra được mô hình tốt và xấu ở điểm nào, còn con người giỏi hay dở ở đâu”, Morey nói. Chẳng hạn như con người đôi khi có thể tiếp cận những thông tin mà mô hình không thể. Các mô hình không biết DeAndre Jordan thất bại toàn tập ở năm nhất đại học là do cậu ta không hề cố gắng. Con người thì kém ở khoản… à, đó là chủ đề mà bây giờ Daryl Morey cần nghiên cứu trực tiếp hơn.

Khi mới tiếp cận tâm trí con người, Morey không thể không nhận thấy nó vận hành rất lạ lùng. Khi cởi mở đón nhận thông tin có thể hữu ích trong việc đánh giá một cầu thủ bóng rổ nghiệp dư, nó cũng dễ dàng bị đánh lừa bởi những ảo tưởng biến mô hình thành một công cụ giá trị lúc ban đầu. Chẳng hạn, trong mùa tuyển quân năm 2007, có một cầu thủ mà mô hình của ông thật sự ưa thích: Marc Gasol. Gasol 20 tuổi, là một trung phong cao 2,13m đang chơi ở châu Âu. Các tuyển trạch viên đã tìm ra một bức ảnh chụp anh cởi trần. Anh ta mập mạp, mang gương mặt trẻ thơ và ngực xệ. Các nhân viên của đội Rockets đã đặt cho Marc Gasol biệt danh: Gã Ngực Xệ. Gã Ngực Xệ thế này, Gã Ngực Xệ thế kia. “Đó là mùa tuyển quân đầu tiên tôi phụ trách và tôi không dũng cảm cho lắm”, Morey nói. Ông để cho những lời chế nhạo hình thể Marc Gasol lấn át sự lạc quan của mô hình về tương lai bóng rổ của Gasol, và thế là thay vì tranh cãi với đội ngũ nhân viên, ông đứng nhìn đội Los Angeles Lakers lấy đi Gasol ở lượt lựa chọn thứ 48. Xác suất có được một nhân vật trong đội hình các siêu sao NBA ở lần chọn lựa thứ 48 trong mùa tuyển quân là dưới 1%. Về cơ bản, lượt chọn 48 thậm chí chẳng bao giờ mang về nổi một cầu thủ có ích trên băng ghế dự bị của NBA, nhưng Marc Gasol đang chứng minh anh ta là một ngoại lệ lớn.1 Biệt danh kia rõ ràng đã ảnh hưởng đến cách họ đánh giá anh: cái tên rất quan trọng. “Tôi đã đặt ra một quy định ngay sau đó”, Morey nói. “Tôi cấm đặt biệt danh”.

1. Gasol trở thành người lọt vào đội hình các siêu sao NBA đến hai lần và theo sự tính toán của đội Houston, anh là lựa chọn tốt thứ ba trong toàn bộ giải NBA một thập kỷ vừa qua, xếp sau Kevin Durant và Blake Griffin. (TG)

_______________

Bất thình lình, Morey lại rơi vào một mớ bòng bong mà ông và mô hình được thuê để loại bỏ. Nếu không bao giờ loại bỏ được hoàn toàn tâm trí con người khỏi quá trình ra quyết định, Daryl Morey chí ít cũng phải nghĩ đến tính dễ bị tổn thương của nó. Giờ ông nhìn đâu cũng thấy những điều này. Một ví dụ: Trước mùa tuyển quân, đội Rockets sẽ tập hợp một cầu thủ cùng với những cầu thủ khác lại và yêu cầu anh này chơi thử trên sân. Làm sao có thể từ chối cơ hội được xem anh ấy chơi? Thế nhưng, trong lúc những người đánh giá tài năng của anh cảm thấy thú vị khi xem một cầu thủ thi đấu, Morey bắt đầu nhận ra rủi ro. Một cầu thủ ném rổ giỏi có thể có một ngày thi đấu dưới sức, một tay bắt bóng bật bảng cừ khôi có thể bị bắt nạt. Nếu định để mọi người quan sát và đánh giá, bạn cũng phải dạy họ đừng quá coi trọng những gì trông thấy (Vậy tại sao họ lại phải quan sát?). Chẳng hạn, nếu một anh chàng đạt tỷ lệ ném rổ thành công 90% từ sau vạch ném phạt thời đại học thì việc anh ta ném trượt 6 cú liên tục trong một buổi tập cá nhân cũng chẳng vấn đề gì.

Morey yêu cầu nhân viên chú ý tới các buổi tập nhưng không được để những gì họ trông thấy thay thế điều họ biết là đúng. Tuy nhiên, nhiều người nhận thấy rất khó để ngó lơ bằng chứng mình tận mắt chứng kiến. Một vài người nhận thấy nỗ lực này rất khổ sở, như thể họ bị trói vào cột buồm để nghe bài ca của những nàng tiên cá. Ngày nọ, một tuyển trạch viên đến gặp Morey và nói: “Daryl, tôi đã làm việc này đủ lâu. Tôi nghĩ chúng ta nên ngừng các buổi luyện tập. Hãy dừng chúng lại đi, làm ơn”. Morey nói: “Hãy cố gắng nhìn nhận đúng thực tế. Coi trọng nó vừa thôi”. “Rồi anh ta nói: ‘Daryl, tôi không thể làm thế. Nó giống như con nghiện ma túy vật thuốc vậy’”, Morey nói. “Anh ta chẳng thể chạm ngưỡng giới hạn mà không bị tổn thương”.

Morey nhanh chóng nhận ra chuyện khác: Một tuyển trạch viên quan sát cầu thủ sẽ có xu hướng hình thành ấn tượng ngay tức thì, trong khi các dữ liệu khác xung quanh có hơi hướng tự sắp xếp lại. “Thiên kiến xác nhận”, ông nghe nói nó được gọi như vậy. Tâm trí con người không giỏi nhìn nhận những thứ nó không muốn thấy và hơi quá háo hức muốn thấy những gì mình trông đợi. “Thiên kiến xác nhận là thứ âm ỉ sâu kín nhất bởi bạn còn chẳng biết nó đang diễn ra”, ông nói. Tuyển trạch viên sẽ chấp nhận quan điểm về một cầu thủ, sau đó sắp xếp bằng chứng để bảo vệ quan điểm đó. “Chuyện kinh điển”, Morey nói, “và chuyện này xảy ra suốt: Nếu không thích ai đó, anh sẽ nói chẳng có vị trí nào cho chàng trai ấy. Nếu thích cậu ta, anh sẽ nói cậu chơi được nhiều vị trí. Nếu thích một cầu thủ, anh so sánh hình thể cậu ấy với người giỏi. Còn nếu không ưa, anh sẽ so sánh cậu ta với một kẻ kém cỏi”. Dù một người có định kiến gì khi lựa chọn các cầu thủ nghiệp dư, anh ta đều có xu hướng bảo vệ nó, ngay cả khi nó chỉ đem lại điều tệ hại, bởi anh luôn mong định kiến đó được xác nhận. Morey nói thêm, vấn đề càng tệ hơn do người đánh giá tài năng có xu hướng ưu ái những cầu thủ khiến họ nhớ tới mình thời trai trẻ. “Nghiệp chơi bóng của tôi chẳng liên quan gì nhiều đến sự nghiệp đời tôi”, ông nói. “Nhưng tôi vẫn thích những anh chàng hay đánh đập người khác, chơi gian lận và thuộc loại khó ưa. Kiểu người giống Bill Laimbeer1. Vì đấy chính là cách tôi từng chơi bóng”. Bạn nhìn thấy ai đó gợi nhớ tới mình rồi tìm kiếm những lý do khiến mình thích anh ta.

Thực tế rằng một người chơi bóng có ngoại hình giống một cầu thủ nào đó đang thành công có thể dẫn tới các suy nghĩ sai lệch. Một thập kỷ trước, một nam sinh trung học, là con lai, da trắng, cao 1,8m không hề được các trường đại học lớn chú ý nên phải chơi bóng cho một trường đại học nhỏ vô danh, tài năng chính của anh ta là những cú ném tầm xa, rõ ràng chẳng có gì thu hút. Kiểu người này không hề tồn tại ở giải NBA – chí ít cũng chẳng thuộc dạng thành công lớn lao gì. Thế rồi, Stephen Curry xuất hiện và làm cho NBA bùng cháy, dẫn dắt đội Golden State Warriors tới chức vô địch NBA và trở thành cầu thủ được mọi người đánh giá cao nhất. Bỗng nhiên, tất cả các hậu vệ người lai sở hữu những cú ném rổ có độ chuẩn xác cao đều xuất hiện trong các cuộc phỏng vấn dự tuyển cho NBA, khẳng định mình chơi rất giống Stephen Curry; và bọn họ có nhiều khả năng được chọn do sự tương đồng đó2. “Trong 5 năm sau khi chọn Aaron Brooks, chúng tôi đã gặp rất nhiều cậu chàng so sánh bản thân với Aaron. Bởi vì có quá nhiều hậu vệ nhỏ bé”. Giải pháp của Morey là cấm so sánh trong cùng chủng tộc. “Chúng tôi đã nói: ‘Bạn chỉ được so sánh cầu thủ này với cầu thủ khác nếu họ khác chủng tộc’”. Chẳng hạn, nếu cầu thủ đang được nhắc tới là người Mỹ gốc Phi thì chuyên gia đánh giá tài năng chỉ được phép lý luận “anh ấy giống người này hay người kia” nếu người đó là da trắng hoặc châu Á hay là người Mỹ gốc Tây Ban Nha, người Eskimo hoặc bất cứ chủng tộc nào không phải da đen. Một điều buồn cười là khi bạn cấm người khác phân biệt chủng tộc trong suy nghĩ, họ không xem xét sự giống nhau nữa. Đầu óc họ chống lại sự nhảy vọt. “Chỉ là bạn không thấy điều đó mà thôi”, Morey nói.

1. Cầu thủ bóng rổ nổi tiếng chơi xấu của NBA. Ông nằm trong đội hình “Những chàng trai hư” huyền thoại của đội Detroit Pistons vô địch 2 mùa giải NBA liên tiếp năm 1989 và 1990 nhờ vào khả năng phòng ngự vô cùng khủng khiếp. (ND)

2. Năm 2015, Tyler Harvey, một hậu vệ ghi điểm xuất thân từ đội Đại học Eastern Washington, đã làm điều tương tự. Khi được hỏi trận đấu của anh giống nhân vật nào nhất, Harvey nói: “Thành thật với các ông, tôi giống Steph Curry nhất”, và tương tự trường hợp Steph Curry, anh ta cứ tiếp tục nói các trường đại học lớn chẳng quan tâm gì đến mình. Việc hoàn toàn không thu hút được huấn luyện viên các đội bóng đại học giờ đây lại là một điều tốt! Harvey được chọn vào cuối vòng thứ hai của mùa tuyển quân tại lượt chọn thứ 51. “Nếu Curry không tồn tại thì chẳng bao giờ đến lượt anh ta [Harvey]”, Morey nói. (TG)

Có lẽ trò lừa gian trá nhất của tâm trí chính là dẫn dắt chủ nhân đi tới cảm giác chắc chắn về những điều vốn không hề chắc chắn. Rất nhiều lần trong mùa tuyển quân, bạn trông thấy những hình ảnh vô cùng rõ ràng trong tâm trí các chuyên gia bóng rổ để rồi sau đó chúng được chứng minh chỉ là ảo tưởng. Chẳng hạn như hình ảnh Jeremy Lin trong tâm trí của hầu như mọi tuyển trạch viên bóng rổ. Hậu vệ ghi điểm người Mỹ gốc Hoa hiện đang nổi như cồn trên toàn thế giới tốt nghiệp Đại học Harvard năm 2010 và tham gia mùa tuyển quân. “Anh ấy thắp sáng cả mô hình của chúng tôi”, Morey nói. “Mô hình nói phải chọn anh ấy ở lượt thứ 15 của mùa tuyển quân”. Phương pháp đo lường khách quan đối với Jeremy Lin không phù hợp với những gì các chuyên gia nhận thấy khi họ quan sát anh thi đấu: một vận động viên châu Á không tệ. Morey không hoàn toàn tin tưởng mô hình của mình nên quyết định rút lui và không chọn Lin. Một năm sau khi đội Houston Rockets không chọn Jeremy Lin, họ bắt đầu đo tốc độ hai bước chạy đầu tiên của một cầu thủ: Jeremy Lin có bước di chuyển đầu tiên nhanh nhất trong số các cầu thủ được đo lường. Anh năng nổ và có thể chuyển hướng nhanh hơn nhiều so với hầu hết cầu thủ NBA. “Anh ta khỏe đến khó tin”, Morey nói. “Nhưng thực tế, mọi người, bao gồm cả tôi, đều cho là anh chàng ấy yếu xìu. Và tôi chẳng nghĩ được bất cứ lý do nào ngoài việc Lin là người gốc Á”.

Theo một cách lạ lùng nào đó, mọi người, ít nhất là lúc đang đánh giá người khác, đều nhìn thấy những điều mình mong đợi và chậm chạp nhận ra những gì chưa từng thấy. Vấn đề tệ đến mức nào? Khi huấn luyện viên của Jeremy Lin ở đội New York Knicks rốt cuộc cũng cho anh xung trận – do những người khác đều bị chấn thương – và để cho anh thắp sáng cả đấu trường Madison Square Garden, lúc đó đội Knicks đang chuẩn bị sa thải Jeremy Lin. Anh đã quyết định nếu bị cho ‘về vườn’ thì cũng bỏ bóng rổ luôn. Vấn đề nghiêm trọng vậy đấy: một cầu thủ NBA rất cừ có thể không bao giờ có một cơ hội đàng hoàng để chơi tại NBA, chỉ vì đầu óc của các chuyên gia kết luận rằng anh không phù hợp. Còn bao nhiêu Jeremy Lin nữa ở ngoài kia?

Sau khi đội Houston Rockets và mọi người khác ở NBA không chú ý đến giá trị của Jeremy Lin trong mùa tuyển quân (anh đã ký hợp đồng như một cầu thủ tự do chuyển nhượng sau mùa tuyển quân), giải đấu tạm dừng. Một bất đồng giữa giới cầu thủ với các ông chủ đội bóng dẫn tới việc đình chỉ hoạt động và không ai được phép làm việc. Morey ghi danh vào một khóa đào tạo quản lý tại Trường Kinh doanh Harvard và tham dự một lớp về kinh tế học hành vi. Ông đã nghe về các nguyên tắc (Tôi không phải một tên ngốc) nhưng chưa từng nghiên cứu nó. Khi bắt đầu giờ học đầu tiên, giảng viên yêu cầu ông và mọi người trong lớp viết 2 chữ số cuối cùng trong số điện thoại di động của mình lên một tờ giấy. Rồi bà yêu cầu cả lớp viết ra con số ước tính sát nhất của họ về số quốc gia châu Phi trong Liên Hợp Quốc. Sau đó bà thu lại tất cả giấy và cho họ thấy những ai có đuôi số điện thoại cao hơn đều đưa ra những ước tính cao hơn một cách có hệ thống về số lượng quốc gia châu Phi trong Liên Hợp Quốc. Tiếp theo, bà lại lấy một ví dụ khác và nói: “Tôi sẽ làm lại. Tôi sẽ cho các bạn một cơ sở vững chắc. Đây. Thử xem bạn có bị rối không nhé”. Dù đã được cảnh báo, đầu óc mọi người vẫn rối. Chỉ biết về một thiên kiến thì không đủ để vượt qua nó: Suy nghĩ này khiến Daryl Morey bứt rứt không yên.

Khi giải NBA hoạt động trở lại, ông còn một phát hiện đáng quan ngại khác. Ngay trước mùa tuyển quân, đội Toronto Raptors gọi điện tới và đề nghị trao đổi quyền chọn tại vòng 1 của họ lấy hậu vệ ghi điểm dự bị của đội Houston là Kyle Lowry. Morey nói điều này với đội ngũ nhân viên và khi họ chuẩn bị từ chối giao kèo, một trong các giám đốc điều hành của đội Rockets nói: “Các anh biết đấy, nếu chúng ta có quyền chọn cầu thủ và họ đề nghị đổi Lowry, chúng ta thậm chí sẽ không coi đó là một tiềm năng”. Họ dừng lại và phân tích tình huống kỹ hơn: Giá trị kỳ vọng của quyền chọn đã vượt xa giá trị mà họ đánh giá cầu thủ đang định chuyển nhượng. Việc họ sở hữu Kyle Lowry có vẻ như đã bóp méo đánh giá của họ về anh.1 Nhìn lại 5 năm trước, giờ đây họ nhận thấy mình đã định giá quá mức các cầu thủ một cách có hệ thống mỗi khi có đội bóng khác tìm cách trao đổi cầu thủ. Nhất là khi được chào mời cơ hội trao đổi một trong các cầu thủ NBA của mình lấy quyền chọn của đội bóng khác, họ lại đi từ chối những thương vụ lẽ ra nên thực hiện. Tại sao vậy? Họ đã làm việc đó một cách vô thức.

1. Họ đã thực hiện vụ trao đổi và sau đó sử dụng quyền chọn trong mùa tuyển quân như giấy nợ lớn nhất trong thương vụ giành được một siêu sao, James Harden. (TG)

Bởi thế, Morey bắt đầu nhận thức về điều mà các nhà kinh tế học hành vi gọi là “hiệu ứng sở hữu”. Để chiến đấu chống lại hiệu ứng sở hữu, khi vào mùa tuyển quân, ông bắt các tuyển trạch viên và mô hình thiết lập giá trị quyền chọn đối với từng cầu thủ mình đang sở hữu.

Mùa giải tiếp theo, trước thời hạn chuyển nhượng, Morey đứng trước các nhân viên và liệt kê trên tấm bảng trắng tất cả những thiên kiến mà ông sợ sẽ làm méo mó phán đoán của họ: hiệu ứng sở hữu, thiên kiến xác nhận cùng những điều khác. Cũng có thứ mà người ta gọi là “thiên kiến hiện tại” – khuynh hướng đánh giá thấp giá trị của tương lai so với hiện tại vào thời điểm đưa ra quyết định. Có cả “thiên kiến nhận thức muộn” – con người có khuynh hướng nhìn vào một kết quả nào đó và cho rằng nó có thể được dự đoán ngay từ đầu. Mô hình là một liều thuốc hóa giải những thất thường trong óc phán đoán của con người, nhưng đến năm 2012, mô hình dường như chạm tới giới hạn của lợi thế thông tin mà nó mang đến cho đội Rockets trong việc định giá cầu thủ. “Mỗi năm, chúng tôi đều nói về việc cần loại bỏ hay đưa vào mô hình những gì”, Morey nói. “Và mỗi năm nó lại khiến người ta thêm đôi chút phiền muộn”.

Công việc điều hành một đội bóng rổ chuyên nghiệp hóa ra lại có đôi chút khác biệt so với những gì ông từng mường tượng khi còn là một đứa trẻ. Như thể ông đã được giao nhiệm vụ tháo rời một chiếc đồng hồ báo thức cực kỳ phức tạp để xem vì sao nó không hoạt động, để rồi chỉ khám phá ra một bộ phận quan trọng của chiếc đồng hồ đang lẩn khuất bên trong chính tâm trí mình.

_______________

Morey và đội ngũ của ông rõ ràng đã nhìn thấy nhiều chàng trai to lớn. Nhưng vào mùa đông năm 2015, đến họ còn sốc khi thấy anh chàng người Ấn Độ bước vào phòng phỏng vấn. Cậu ta ăn mặc đơn giản với quần nỉ và áo phông Nike màu xanh đọt chuốt cùng một cặp thẻ bài lủng lẳng đeo trên cổ. Chiếc cổ đó – giống như đôi tay, đôi chân, cái đầu và thậm chí cả đôi tai của anh chàng – đều to quá khổ như trong phim hoạt hình đến nỗi bạn cứ mắt tròn mắt dẹt và thắc mắc liệu cái bộ phận cơ thể đặc biệt kia có phá kỷ lục Guinness không. Đội Rockets từng thuê một trung phong người Trung Quốc cao 2,28m tên là Yao Ming, kích thước cơ thể của anh ta cũng khiến người khác phản ứng kỳ lạ. Thiên hạ mà trông thấy anh thì sẽ quay lưng và bỏ chạy mất dép hay phá lên cười hoặc phát khóc. Anh chàng người Ấn kia thấp hơn Yao Ming chừng vài phân, nhưng xét tổng thể, anh ta to con hơn. Sau khi xem các số đo và thấy thật khó tin một người có thể tăng trưởng nhanh như vậy chỉ trong 19 năm, Morey đã yêu cầu nhân viên tìm kiếm và kiểm tra giấy khai sinh của cậu ta. Người đại diện của anh chàng người Ấn kia quay lại rồi nói ngôi làng nơi cậu sinh ra không lưu hồ sơ khai sinh. Nghe chuyện này, Morey nhớ lại những điều Dikembe Mutombo từng nói với mình. Mutombo là một tay chắn bóng cao 2,18m, anh ta tới đội Rockets qua lối Congo, giữa chừng đã chơi cho 5 đội bóng khác của NBA. Anh nói hễ có gã khổng lồ nào từ nước ngoài đến và nhận mình trẻ hơn vẻ bề ngoài thì “ông cần cưa chân hắn ra và đếm tuổi đi nhé”.

Anh chàng người Ấn tên là Satnam Singh. Nhìn chung cậu có vẻ trẻ, ngoại trừ kích thước ngoại cỡ. Cậu ta là một thanh niên bối rối vì bỗng dưng phải xa nhà nên đang cảm thấy bất an về xã hội bên ngoài. Anh chàng mỉm cười lo lắng và ngồi xuống chiếc ghế ở đầu bàn.

“Cậu ổn chứ?”, phỏng vấn viên của đội Rockets hỏi.

“Vâng, tôi ổn, ổn, ổn mà”. Đó không phải giọng nói mà là tiếng còi tàu thì đúng hơn. Giọng ồm đến mức phải mất một lúc mọi người mới hiểu cậu ta nói gì.

“Chúng tôi chỉ muốn tìm hiểu thêm chút ít về cậu thôi”, phỏng vấn viên lên tiếng. “Hãy nói cho chúng tôi nghe về người đại diện của cậu và lý do cậu chọn ông ấy”.

Satnam Singh căng thẳng nói huyên thuyên trong đôi phút. Không rõ có ai trong phòng hiểu những gì cậu ta nói hay không. Đại khái họ biết cậu ta được chăm sóc từ năm 14 tuổi bởi những người đã hình dung ra một sự nghiệp NBA cho cậu.

“Hãy kể cho chúng tôi nghe về quê hương và gia đình của cậu?”, phỏng vấn viên yêu cầu.

Cha cậu làm việc tại một nông trại. Mẹ là đầu bếp. “Tôi đến đây, không nói được tiếng Anh”, cậu nói. “Tôi không nói chuyện được với bất cứ ai. Chuyện này thật khó khăn. Không nói được gì cả. Không gì hết”. Khi cậu ra sức kể câu chuyện khó tin về hành trình của mình từ ngôi làng có 700 người Ấn Độ đến văn phòng ban quản lý của đội Houston Rockets, đôi mắt cậu quét khắp căn phòng nhằm tìm kiếm sự đồng tình. Ban điều hành của Houston Rockets cứ dửng dưng như không. Không thân thiện nhưng cũng chẳng bỏ qua điều gì.

“Những điểm mạnh về bóng rổ của cậu là gì?”, phỏng vấn viên hỏi. “Cậu giỏi gì nhất?”

Phỏng vấn viên của đội Rockets đọc ra từ một kịch bản. Những câu trả lời của Singh sẽ được lưu vào cơ sở dữ liệu của đội Rockets, so sánh với câu trả lời của 1.000 cầu thủ khác và nghiên cứu để tìm ra các khuôn mẫu. Họ vẫn cố hy vọng rằng đến một ngày mình sẽ đo lường được tính cách, hay ít nhất là cảm nhận được một chàng trai nghèo cư xử ra sao sau khi cậu ta được trao tay hàng triệu đô-la và rồi thường xuyên ‘mài đũng quần’ trên băng ghế dự bị. Cậu ta vẫn luyện tập chăm chỉ chứ? Cậu sẽ nghe lời các huấn luyện viên chứ?

Morey chưa tìm ra bất kỳ ai – trong giới bóng rổ hoặc dân ngoại đạo – có thể trả lời những câu hỏi đó, mặc dù chẳng ai cấm các nhà tâm lý học giả vờ mình đủ khả năng. Đội Rockets từng thuê nhiều người như họ. “Thật là kinh khủng”, Morey nói. “Một trải nghiệm khủng khiếp. Mỗi năm tôi lại nghĩ sẽ có thứ gì ở đó. Mỗi năm chúng tôi lại tìm thấy một ai đó bằng cách thức tiếp cận khác. Năm nào cũng thấy nó vô nghĩa. Và năm nào chúng tôi cũng thử lại. Tôi đang bắt đầu nghĩ rằng các nhà tâm lý học toàn là những kẻ thùng rỗng kêu to”. Nhà tâm lý học cuối cùng xuất hiện khẳng định mình có thể dự đoán hành vi, về cơ bản đã sử dụng bài kiểm tra tính cách Myers-Briggs1 để cố gắng thuyết phục Morey, sau sự thật rằng anh ta đã ngăn ngừa đủ thể loại vấn đề không thể nhận diện. Kiểu nói của anh ta khiến Daryl Gã khổng lồ người Ấn kể ra các điểm mạnh của mình là chơi gần rổ và ném bóng ở khoảng cách trung bình.

1. Phương pháp sử dụng hàng loạt câu hỏi trắc nghiệm để phân tích tính cách con người. Kết quả trắc nghiệm chỉ ra cách thức con người nhận thức thế giới xung quanh và ra quyết định. (ND)

“Cậu đã bao giờ vi phạm quy định của đội bóng trong thời gian ở IMG chưa?”, phỏng vấn viên hỏi.

Singh bối rối. Cậu không hiểu câu hỏi.

“Không gặp vấn đề gì với cảnh sát chứ?”, Morey mớm lời.

“Không đánh nhau gì chứ?”, phỏng vấn viên hỏi.

Mặt Singh giãn ra. “Chưa bao giờ!”, cậu kêu lên. “Chưa bao giờ trong đời. Tôi chưa bao giờ thử làm thế. Nếu tôi ra sức thì kẻ nào đó sẽ chết mất”.

Ban điều hành của đội Rockets đang nghiên cứu hình thể của Singh. Một trong số họ cuối cùng không nhịn được nữa. “Cậu lúc nào cũng cao quá thể như thế à?”, ông hỏi, không theo kịch bản. “Hay có độ tuổi nào đó mà cậu bắt đầu lớn nhanh hơn không?”

Singh giải thích mình cao 1,75m vào lúc 8 tuổi và đến năm 15 tuổi thì đạt đến 2,16m. Đó là do di truyền. Bà của cậu cao hơn 2m…

Morey cựa quậy trên ghế. Ông muốn quay lại với những câu hỏi có thể dẫn dắt tới các dự đoán. Ông hỏi: “Cậu đã làm những gì để cải thiện hết mức – những điều mà cậu có thể làm tốt bây giờ nhưng có lẽ 2 năm về trước thì không?”

“Tôi cảm thấy tệ nhất về đầu óc. Tâm trí”.

“Xin lỗi, ý tôi là các kỹ năng bóng rổ. Trên sân đấu ấy”.

“Chơi gần rổ”, cậu ta đáp. Cậu còn nói những thứ khác nữa nhưng chúng đều khó hiểu.

“Cậu nghĩ mình giống ai nhất ở NBA – tương đồng theo nghĩa khi thi đấu ấy?”, Morey hỏi.

“Jowman và Shkinoonee”, Singh nói ngay.

Một khoảnh khắc yên lặng tiếp theo sau. Rồi Morey nhận ra. “Ồ, Yao Ming”. Lại một khoảng ngừng. “Người thứ hai là ai?”

“Shkinoonee”.

Ai đó đoán: “Shaq?”

“Shaq, vâng”, Singh nói, vẻ nhẹ nhõm.

“Ồ, Shaquille O’Neal”, Morey lên tiếng, cuối cùng đã hiểu ra.

“Vâng, giống về hình thể và vị trí chơi gần rổ”, Singh nói. Hầu hết các cầu thủ đều so sánh bản thân với người nào đó thực sự trông giống họ. Thế nhưng không có cầu thủ NBA nào trông giống Satnam Singh. Nếu có thì anh ta sẽ là người Ấn Độ đầu tiên trong liên đoàn.

“Cậu đeo gì trên cổ thế?”, Morey hỏi.

Singh túm lấy thẻ bài và nhìn xuống ngực. “Đây là họ của tôi”, cậu ta nói, chỉ vào một cái. Sau đó cậu lấy cái thẻ thứ hai và đọc chữ ghi trên đó: “Tôi nhớ các huấn luyện viên. Tôi yêu trái bóng. Bóng là cuộc đời tôi”.

Việc cậu ta cần đến thẻ bài để nhắc nhớ không phải là dấu hiệu tốt nhất. Nhiều anh chàng to lớn chơi bóng chỉ bởi họ quá bự con. Từ lâu đã có huấn luyện viên hay cha mẹ kéo phắt họ ra sân bóng rổ và rồi sức ép xã hội giữ họ ở lại đó. Họ kém phù hợp hơn những cầu thủ nhỏ bé tập luyện chăm chỉ để tiến bộ, mà nhiều khả năng sẽ nhận tiền của bạn rồi chơi mờ nhạt dần. Không phải họ cố tình lừa dối; mà đó là dạng thanh niên to xác cả đời chơi bóng rổ chỉ để làm hài lòng người khác, đã quá thành thạo việc nói với người khác điều họ muốn nghe thay vì những gì mình biết, đến nỗi chẳng hiểu trái tim mình thật sự ra sao.

Sau một hồi lâu, Singh rời khỏi phòng phỏng vấn. “Chúng ta đã tìm thấy bằng chứng là cậu ta từng chơi thứ bóng rổ bài bản, có tổ chức ở đâu chưa?”, Morey hỏi khi anh chàng kia đã đi. Bạn không thể kiểm soát việc cảm nhận của mình về một cầu thủ sau buổi phỏng vấn, nhưng có thể sử dụng dữ liệu để khống chế ảnh hưởng của những cảm nhận đó (Phải không?).

“Người ta nói cậu chàng đã chơi bóng tại Học viện IMG ở Florida”.

“Tôi ghét đánh cược kiểu này”, Morey nói. Ông sẽ quan sát Singh tập trong 30 phút nhưng quyết định thì đã có. Họ chẳng có dữ liệu gì về cậu ta cả. Không dữ liệu, lấy gì mà phân tích! Anh chàng Ấn Độ này rốt cuộc lại là một DeAndre Jordan thứ hai; cậu này, giống như hầu hết những vấn đề mà bạn phải đối mặt trong cuộc đời, là một trò ghép hình, nhưng thiếu nhiều mảnh. Đội Houston Rockets bỏ qua Singh – để rồi bị sốc khi đội Dallas Mavericks lấy cậu ta ở vòng hai của mùa tuyển quân NBA. Nhưng mọi chuyện vẫn chưa ngã ngũ.1

1. Khi tôi viết đến đây thì vẫn còn quá sớm, chưa thể biết được. (TG)

Và đó là vấn đề: Bạn chưa thể biết được. Trong 10 năm sử dụng mô hình thống kê của Morey ở đội Houston Rockets, những cầu thủ được ông chọn, sau khi tính đến suất tuyển người mà họ lựa chọn, đều đã thể hiện tốt hơn các cầu thủ mà 3/4 số đội bóng khác tại NBA chọn. Phương thức tiếp cận của ông hiệu quả đến mức các đội NBA khác cũng áp dụng. Ông thậm chí có thể xác định thời điểm mình bị bắt chước lần đầu tiên. Đó là mùa tuyển quân năm 2012, khi các cầu thủ được lựa chọn theo thứ tự gần giống như đội Rockets đã xếp loại. “Mọi thứ y chang danh sách của chúng ta”, Morey nói. “Giải đấu đang nhìn nhận mọi thứ theo cùng một cách”.

Thế nhưng ngay cả Leslie Alexander, ông chủ duy nhất có đủ dũng khí và nghiêng về hướng thuê một ai đó giống Morey vào năm 2006, cũng dần nản với thế giới quan mang tính xác suất của Daryl Morey. “Ông ta muốn sự chắc chắn từ tôi, và tôi phải bảo với ông ấy rằng điều đó sẽ không tới”, Morey nói. Ông quyết tâm trở thành một tay bạc nhớ bài tại bàn blackjack1 ở sòng bạc nhưng ông chỉ có thể sử dụng phép loại suy ở một chừng mực nhất định. Giống như một con bạc nhớ bài, ông đang chơi trò xác suất. Giống như con bạc nhớ bài, ông hướng xác suất của cuộc chơi theo xu thế có lợi cho mình. Khác với con bạc nhớ bài – nhưng rất giống ai đó đang ra quyết định để đời – ông chỉ được phép chơi vài tay bài mà thôi. Ông chọn vài cầu thủ trong một năm. Với ít tay bài, bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra, ngay cả khi lợi thế đang nghiêng về phía ông.

1. Gần giống như chơi bài Xì-dách nhưng blackjack là trò chơi quốc tế nên luật chơi có đôi chút khác. (ND)

Đôi lúc, Morey ngừng lại để xem xét các nguồn lực đã giúp ông – một kẻ ngoại đạo hoàn toàn có khả năng đem lại xác suất thành công cao hơn đôi chút cho nhân viên – điều hành một đội bóng rổ chuyên nghiệp. Ông không cần đủ giàu để mua một đội. Kỳ lạ là ông chẳng cần thay đổi bất cứ điều gì ở bản thân. Thế giới đã thay đổi để phù hợp với ông. Thái độ đối với việc ra quyết định khác với khi còn là một đứa trẻ đến mức ông được mời tham gia vào làng bóng rổ chuyên nghiệp nhằm đẩy nhanh sự thay đổi. Sự có mặt của năng lực tính toán với chi phí rẻ chưa từng có cùng sự trỗi dậy của phân tích dữ liệu rõ ràng đã góp phần nhiều khiến thế giới này chào đón cách thức tiếp cận của Daryl Morey hơn. Sự thay đổi ở người đủ giàu để mua nhượng quyền thể thao chuyên nghiệp cũng giúp ích phần nào. “Các chủ sở hữu thường kiếm tiền bằng cách xen vào những lĩnh vực mà ở đó hầu hết sự am hiểu thông thường chỉ là thứ nhảm nhí”, Morey nói. Những người này có xu hướng nhận thức sắc bén về giá trị của lợi thế thông tin dù chỉ là chút ít và sẵn sàng tiếp nhận ý tưởng sử dụng dữ liệu để giành được những lợi thế đó. Nhưng điều này đặt ra một câu hỏi lớn: Tại sao quá nhiều am hiểu thông thường lại nhảm nhí như vậy? Không chỉ trong thể thao mà còn rộng khắp toàn xã hội. Tại sao có quá nhiều ngành sẵn sàng cho việc bị phá vỡ? Do đâu mà có quá nhiều thứ bỏ dở?

Thật kỳ lạ, một thị trường cạnh tranh giả định như thị trường dành cho các vận động viên được trả lương cao lại có thể kém hiệu quả đến thế ngay từ đầu. Lạ lùng là khi đo lường những gì xảy ra trên sân bóng, người ta đã chọn nhầm đối tượng quá lâu. Thật kỳ lạ khi ngay cả một kẻ ngoại đạo vẫn có thể tham gia cuộc chơi bằng một phương thức tiếp cận hoàn toàn mới để định giá cầu thủ bóng rổ và chứng kiến nó được đa số dân trong giới này áp dụng.

Nguyên nhân thật sự của việc chuyển đổi ra quyết định trong các môn thể thao chuyên nghiệp – nhưng không chỉ trong thể thao chuyên nghiệp – là những ý tưởng về tâm trí con người và cách nó thể hiện chức năng khi đối mặt các tình huống bất định. Phải mất một thời gian, những ý tưởng này mới ngấm vào văn hóa nhưng giờ đây, chúng lại đang ở trong bầu không khí chúng ta hít thở. Có một nhận thức mới về các loại lỗi hệ thống mà con người có thể phạm phải – và toàn bộ các thị trường cũng có thể phạm phải – nếu những phán đoán của họ không được kiểm chứng. Có những lý do khiến các chuyên gia bóng rổ không thể nhận ra Jeremy Lin là một cầu thủ đẳng cấp NBA, hay có thể họ không thấy được giá trị của Marc Gasol chỉ vì một bức ảnh của anh ta, hoặc họ sẽ không bao giờ nhìn ra Shaquille O’Neal thứ hai nếu cậu ta vô tình là một người Ấn Độ. “Giống như một con cá không biết nó đang thở dưới nước trừ khi có ai nói với nó”, Morey nói về nhận thức của con người về các quá trình xử lý trong não bộ của họ. Thực tế là đã có người chỉ ra điều này.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.