Đó là một vụ cướp hàng hóa liên quan đến một vụ trộm xe tải rượu J&B Scotch trị giá 100.000 đô la trên phạm vi liên bang. Đó là mùa xuân năm 1971, và tôi đã làm việc ở Detroit được sáu tháng. Quản đốc nhà kho đã mật báo cho chúng tôi nơi họ sẽ trao đổi tiền để lấy số rượu bị trộm.
Chúng tôi điều tra vụ này dưới dạng hoạt động liên kết giữa FBI và cảnh sát thành phố Detroit nhưng cả hai tổ chức lại họp bàn riêng. Chỉ có cấp cao nói chuyện với nhau và dù họ quyết định thế nào thì cũng không được truyền xuống cho điều tra viên ngoài phố. Vì vậy, đến lúc tiến hành bắt giữ, không ai biết chắc những người khác đang làm gì.
Đó là buổi tối, khu vực ngoại ô thành phố, bên một đường ray xe lửa. Tôi đang lái một chiếc xe của FBI, người giám sát nhóm của tôi, Bob Fitzpatrick, ngồi ghế bên cạnh. Người báo tin là người của Fitzpatrick và Bob McGonigel là đặc vụ chịu trách nhiệm vụ này.
Chỉ thị truyền qua radio, “Bắt chúng! Bắt chúng!” Tất cả chúng tôi đều dừng lại, tiếng bánh xe nghiến trên mặt đường chát chúa, bao vây khu vực này. Tên cầm lái mở cửa, phóng vọt ra và bắt đầu chạy thục mạng. Cùng một đặc vụ trong một chiếc xe khác, tôi mở cửa xuống xe, lấy súng ra và bắt đầu đuổi theo hắn.
Trời rất tối, chúng tôi đều mặc thường phục - không vest, không cà vạt, không gì cả - và tôi sẽ không bao giờ quên đôi tròng trắng trong mắt anh ta khi tôi thấy một cảnh sát mặc cảnh phục cầm một khẩu súng ngắn nhắm thẳng vào tôi và hét lên “Dừng lại! Cảnh sát đây! Bỏ súng xuống!” Chúng tôi đứng cách nhau chưa tới ba mét và tôi nhận ra người nằm định bắn mình. Tôi đứng im, đồng thời hiểu rằng nếu tôi cử động, tôi sẽ chỉ còn là dĩ vãng.
Tôi sắp bỏ súng xuống và giơ hai tay lên thì nghe giọng Bob Fitzpatrick cuống quít hét “Anh ấy là FBI! Anh ấy là đặc vụ FBI!”
Viên cảnh sát hạ súng xuống, và theo bản năng, tôi lại đuổi tên lái xe, adrenaline trào dâng, cố gắng rút ngắn khoảng cách. Người đặc vụ kia và tôi đuổi kịp hắn cùng lúc. Chúng tôi vật hắn xuống đất, còng tay hắn, thô bạo hơn bình thường vì tôi quá hồi hộp. Nhưng vài giây im ắng như bị đóng băng mà tôi nghĩ mình sắp bị bắn đó là một trong những trải nghiệm kinh khủng nhất của tôi. Sau đó, có nhiều lần, khi tôi cố gắng đặt mình vào vị trí và suy nghĩ của những nạn nhân bị cưỡng hiếp và sát hại, khi tôi buộc bản thân tưởng tượng xem họ đang nghĩ gì và trải qua điều gì ở thời điểm bị tấn công, tôi hồi tưởng nỗi sợ của chính mình, và nó giúp tôi thực sự hiểu các vụ án từ góc nhìn của nạn nhân.
Trong khi nhiều người trẻ như chúng tôi tràn trề năng lượng, cố gắng thực hiện càng nhiều vụ bắt giữ càng tốt, nhiều người đã làm lâu năm, mệt mỏi với công việc, dường như cảm thấy việc gây phiền hà cho người khác là ngớ ngẩn, anh vẫn nhận ngần ấy tiền lương dù anh có xông pha một mình hay không, và điều đó chỉ dành cho nhân viên bán hàng. Vì chúng tôi được khuyến khích không nên dành phần lớn thời gian trong văn phòng, ngắm nghía các cửa hàng, ngồi trong công viên và đọc Tạp chí Wall Street trở thành thú tiêu khiển ưa thích của một bộ phận đặc vụ.
Là người hừng hực khí thế, tôi tự nhận trách nhiệm viết một lưu ý đề xuất nên có hệ thống khen thưởng để khuyến khích những người làm việc hiệu quả nhất. Tôi giao tờ lưu ý của mình cho ASAC (đọc là “ây-sác”) - phó quản lý của chúng tôi - Tom Naly.
Tom gọi tôi vào văn phòng anh ta, đóng cửa, nhặt tờ lưu ý trên bàn lên và cười với tôi một cách tử tế. “Anh đang lo lắng chuyện gì, hở John? Anh sẽ nhận được bậc lương 11 theo Thang lương chung”, anh ta nói và xé tờ lưu ý làm hai.
“Anh sẽ nhận được bậc lương 12”, anh ta nói khi xé tờ lưu ý làm tư. “Anh sẽ nhận được bậc lương 13. Lại xé, và lúc này anh ta cười phá lên. “Đừng gây thêm phiền phức, Douglas”, đó là lời khuyên cuối cùng khi anh ta thả những mẩu giấy vào thùng rác.
Mười lăm năm sau, rất lâu sau khi J. Edgar Hoover qua đời và phần nào mất đi ảnh hưởng, FBI quả thực đã áp dụng hệ thống tiền thưởng. Nhưng khi cuối cùng họ cũng thực hiện việc này, rõ ràng họ đã làm tốt mà không cần tôi giúp đỡ.
Một buổi tối tháng Năm - thực ra, tôi nhớ hôm đó là thứ Sáu sau ngày 17 tháng Năm, vì nhiều lý do mà lát nữa tôi sẽ trình bày - tôi cùng Bob McGonigel, Jack Kunst đang ở trong một quán rượu mà chúng tôi thường ghé, ở bên kia đường đối diện văn phòng, tên là Jim’s Garage. Có một ban nhạc rock-and-roll đang chơi, chúng tôi đều đã uống rất nhiều, đột nhiên có một cô gái quyến rũ đi vào cùng một người bạn gái. Cô ấy làm tôi nhớ tới Sophia Loren hồi nhỏ, mặc trang phục rất hợp mốt lúc bấy giờ - áo đầm xanh ngắn và bốt đế thấp, ống kéo lên quá gối.
Tôi gọi lớn “Này, áo xanh! Qua đây đi!” Thế là, cô ấy và người bạn đi đến, làm tôi ngạc nhiên. Cô ấy tên Pam Modica, chúng tôi bắt đầu đùa giỡn và thích nhau ngay từ lần đầu gặp mặt. Hóa ra hôm đó là sinh nhật thứ hai mươi mốt của cô ấy, cô ấy và bạn đi ăn mừng quyền được uống rượu. Có vẻ cô ấy thích khiếu hài hước của tôi. Sau này, tôi biết được ấn tượng đầu tiên của cô ấy về tôi là điển trai nhưng hơi giống mọt sách với mái tóc ngắn theo quy định của Chính phủ. Chúng tôi rời khỏi quán Jim và bắt đầu đi hết quán này đến quán khác để uống.
Mấy tuần tiếp theo, chúng tôi bắt đầu biết nhiều hơn về nhau. Cô ấy sống ở Detroit và từng học ở Trung học Pershing, một ngôi trường toàn người da màu, trường cũ của vận động viên bóng rổ vĩ đại Elvin Hayes. Khi tôi gặp cô ấy, cô ấy đang học Đại học Đông Michigan ở Ypsilanti.
Tình cảm của chúng tôi tiến triển khá nhanh, tuy nó khiến Pam gặp nhiều chuyện không hay. Đó là năm 1971, Chiến tranh Việt Nam vẫn đang diễn ra, và sự thiếu tin tưởng vào FBI tràn ngập các trường đại học. Nhiều bạn bè của cô ấy không muốn dính líu đến chúng tôi, họ tin rằng tôi là một mật thám, đang báo cáo hoạt động của họ cho một nhà chức trách cấp cao nào đó. Cái quan điểm rằng bọn nhóc này đủ quan trọng để chúng tôi phải do thám thật là buồn cười, ngoại trừ việc FBI khi đó đang làm loại chuyện này thật.
Tôi nhớ mình từng cùng Pam vào học một lớp về xã hội học. Tôi ngồi ở cuối phòng, lắng nghe lời của giảng viên, một phó giáo sư trẻ, tân tiến; rất ngầu, rất “chịu chơi”. Nhưng tôi cứ nhìn vị phó giáo sư và cô ta nhìn đi đâu rồi cũng quay lại nhìn tôi, rõ ràng cô ta lấy làm phiền vì sự hiện diện của tôi. Bất cứ ai đến từ FBI đều là kẻ thù, dù anh ta có là bạn trai của một trong các sinh viên của cô ta. Nhìn lại sự việc đó, tôi nhận ra đôi khi mình có thể tạo ấn tượng khó chịu đến thế nào dù chỉ là chính mình, tôi và cả đơn vị của tôi tận dụng điều này làm lợi thế. Trong một vụ giết người dã man ở Alaska, đồng nghiệp của tôi Jud Ray, một người da màu, khiến cho một bị cáo, một kẻ phân biệt chủng tộc, tức sôi máu ở bục nhân chứng bằng cách ngồi cạnh và tỏ ra thân thiện với bạn gái của gã.
Trong những năm đầu Pam học Đại học Đông Michigan, có một kẻ sát nhân hàng loạt đang hoành hành, tuy lúc đó chúng tôi chưa dùng thuật ngữ này. Hắn gây án lần đầu vào tháng Bảy năm 1967, khi một phụ nữ trẻ tên Mary Fleszar biến mất khỏi trường. Một tháng sau, người ta tìm thấy xác của cô ấy, đã phân hủy. Cô ấy bị đâm chết, bàn tay bàn chân đều bị chặt. Một năm sau, xác của Joan Schell, một sinh viên tại Đại học Michigan ở thành phố Ann Arbor gần đó, được phát hiện. Cô ấy bị cưỡng hiếp và bị đâm gần năm mươi nhát. Rồi một thi thể khác được tìm thấy ở Ypsilanti.
“Các vụ giết người ở Michigan” tăng lên và nữ giới ở cả hai trường này đều sống trong lo sợ. Mỗi cái xác được tìm ra đều có bằng chứng cho thấy sự bạo hành khủng khiếp. Đến lúc một sinh viên của Đại học Michigan tên John Norman Collins bị bắt vào năm 1969 - gần như tình cờ bị chú mình, hạ sĩ quan thuộc Sở Cảnh sát bang, David Leik, phát hiện - thì sáu nữ sinh và một bé gái mười ba tuổi đã chết thảm.
Collins bị buộc tội và phạt tù chung thân khoảng ba tháng trước khi tôi gia nhập Cục. Nhưng tôi thường thắc mắc nếu lúc đó Cục biết những gì ngày nay chúng tôi biết, nếu có thể bắt tên quái vật đó trước khi hắn gây ra quá nhiều bất hạnh. Kể cả sau khi bị bắt, thì bóng ma của hắn vẫn tiếp tục ám ảnh hai ngôi trường, giống như cách Ted Bundy ám ảnh những trường đại học khác chỉ một năm sau đó. Ký ức về những vụ án kinh tởm đã trở thành một phần trong cuộc sống gần đây của Pam và cả tôi. Tôi nghĩ rất có thể, ít nhất là ở cấp độ tiềm thức, rằng khi tôi bắt đầu nghiên cứu, rồi truy lùng những tên sát nhân hàng loạt thì John Norman Collins và những nạn nhân xinh đẹp, vô tội của hắn cũng trở thành một phần trong cuộc sống của tôi.
Tôi lớn hơn Pam năm tuổi, nhưng vì cô ấy đang đi học còn tôi đang làm việc trong ngành thực thi pháp luật, con số ấy gần như là một khoảng cách về thế hệ. Ở nơi đông người, cô ấy thường yên lặng và có vẻ thụ động khi ở cùng tôi và bạn bè tôi, tôi e là đôi khi chúng tôi lợi dụng điểm này của cô ấy.
Có một lần, Bob McGonigel và tôi gặp Pam để cùng ăn trưa ở nhà hàng của một khách sạn nhìn xuống khu vực trung tâm. Chúng tôi đều mặc vest đen và mang giày tây, Pam mặc trang phục nữ sinh tươi tắn. Ăn xong, chúng tôi đi thang máy xuống sảnh và có vẻ như tầng nào thang cũng dừng lại. Mỗi lần như vậy, trong thang lại thêm vài người.
Đi được nửa đường, Bob xoay sang nói với Pam “Hôm nay bọn anh rất vui. Lần tới đến đây, bọn anh nhất định gọi em”
Pam đang nhìn xuống sàn, cố gắng không phản ứng khi tôi xen vào “Và lần tới, tôi sẽ mang theo kem còn em mang theo anh đào nhé. Những người khác nhìn nhau, ngọ nguậy ra vẻ không thoải mái, đến khi Pam phá ra cười. Rồi họ nhìn ba chúng tôi như những kẻ biến thái.
Pam được ghi danh làm sinh viên trao đổi ở Coventry, Anh, cho học kỳ mùa thu. Đến cuối tháng Tám, khi Pam bay sang bên ấy thì tôi đã chắc chắn cô ấy là người mà tôi muốn cưới. Lúc đó tôi chưa từng nghĩ đến việc hỏi xem cảm xúc của cô ấy dành cho tôi có giống tôi dành cho cô ấy không. Tôi cứ cho rằng cô ấy nhất định cũng như mình.
Khi cô ấy đi, chúng tôi thường xuyên viết thư cho nhau. Tôi nhiều lần đến nhà cô ấy ở số 622 đường Alameda, gần Khu vực hội chợ bang Michigan. Bố Pam mất khi cô ấy còn nhỏ, nhưng tôi tận dụng lòng mến khách của mẹ cô ấy, Rosalie, để ăn tối ở đấy vài bữa một tuần và nghiên cứu về bà ấy, cũng như các anh chị em của Pam, cố gắng đoán xem trước đây Pam là người như thế nào.
Trong khoảng thời gian này, tôi có gặp một cô gái khác, sau này Pam gọi cô này (tuy chưa từng gặp mặt) là “em gái đánh gôn”. Như với Pam, chúng tôi gặp nhau ở một quán rượu và khi nhớ lại sự việc đó, hẳn là tôi đã dành quá nhiều thời gian lê la ở các quán rượu. Cô ta mới đầu hai mươi, khá quyến rũ và vừa tốt nghiệp đại học. Chúng tôi vừa gặp nhau thì cô ta đã khăng khăng mời tôi đến nhà ăn tối.
Hóa ra cô nàng sống ở thành phố Dearborn, nơi đặt trụ sở chính của công ty Ford, và bố cô nàng là một giám đốc điều hành chính của mảng xe hơi. Họ sống trong một ngôi nhà to, bằng đá, có hồ bơi, các tác phẩm nghệ thuật gốc và đồ nội thất sang trọng. Bố nàng gần năm mươi, điển hình doanh nhân thành đạt. Mẹ nàng lịch thiệp và duyên dáng. Chúng tôi ngồi quanh bàn ăn tối, hai bên là em trai và em gái nàng. Tôi đang quan sát gia đình này, cố gắng ước đoán khối tài sản của họ. Đồng thời, họ cũng đang đánh giá tôi.
Mọi thứ diễn ra quá tốt đẹp. Có vẻ họ bị ấn tượng với việc tôi là một đặc vụ FBI, một sự khác biệt dễ chịu so với những gì tôi đã quen nhận được từ bạn bè Pam. Nhưng dĩ nhiên, những người này rất có tiếng tăm. Tôi cảm thấy hồi hộp, và tôi nhận ra lý do là vì họ đang muốn gả con gái cho tôi.
Bố cô nàng hỏi tôi về gia đình, học vấn, quá trình phục vụ trong quân ngũ. Tôi kể với ông ấy việc tôi quản lý các cơ sở thể thao ở căn cứ Không quân. Rồi ông ấy nói mình và một người quen có một sân gôn gần Detroit. Ông ấy huyên thuyên về sân bóng này, khúc ngoặt nọ, còn tôi thì lập tức cộng thêm các con số vào khối tài sản ước lượng của ông ấy.
“John, con có chơi gôn không?” Ông ấy hỏi.
“Không thưa bố”, tôi đáp, mặt không đổi sắc, “nhưng chắc chắn con rất muốn học cách chơi”
Câu chuyện chỉ có thế. Chúng tôi chia tay. Tôi ngủ lại đó, trên ghế bành trong phòng khách. Nửa đêm, cô nàng tìm tôi, nàng đã làm cách nào đó mà “mộng du” đến gặp tôi. Có thể là ý nghĩ ở trong ngôi nhà sang trọng này, có thể là nỗi sợ bản năng rằng mình đang bị gài bẫy kể từ lúc gia nhập Cục, tôi bị sự bạo dạn của cô nàng, và cả nhà nàng, làm cho sợ. Tôi rời khỏi đó vào sáng hôm sau, sau khi tận hưởng lòng mến khách của họ và một bữa tối ngon miệng. Nhưng tôi biết mình đã mất cơ hội có cuộc sống tốt.
Pam từ Anh trở về vài ngày trước Giáng sinh, năm 1971. Tôi quyết định sẽ cầu hôn và đã mua một chiếc nhẫn đính hôn kim cương. Thời đó, Cục có nhiều chỗ quen bán hầu như bất kỳ thứ gì mà nhân viên muốn mua. Công ty mà tôi mua chiếc nhẫn rất biết ơn vì chúng tôi đã giải quyết một vụ trộm trang sức nên bán hàng cho các đặc vụ với giá cực tốt.
Với giá ưu đãi, chiếc nhẫn kim cương lớn nhất tôi có thể mua nặng 1,25 carat. Nhưng tôi quyết định nếu lần đầu cô ấy nhìn thấy nó là ở đáy một ly rượu sâm banh thì cô ấy không những cho rằng tôi thật thông minh, mà vị trí đó còn khiến viên kim cương trông to như 3 carat. Tôi đưa cô ấy đến một nhà hàng Ý ở đường Eight Mile gần nhà cô ấy. Tôi dự định khi nào cô ấy vào nhà vệ sinh, tôi sẽ thả chiếc nhẫn vào ly của cô ấy.
Nhưng cô ấy không đi lần nào. Tối hôm sau, tôi lại đưa cô ấy đến nhà hàng đó nhưng kết quả vẫn vậy. Nhiều lần theo dõi các đối tượng, ngồi trong xe hàng giờ liền và phải nhịn tiểu là một hạn chế thực sự trong nghề này nên tôi thực lòng ngưỡng mộ cô ấy. Nhưng đây có lẽ là một thông điệp từ ơn trên cho biết tôi chưa sẵn sàng để kết hôn.
Đêm hôm sau là đêm trước Giáng sinh, chúng tôi đang ở nhà mẹ cô ấy, cả gia đình quây quần. Đây là thời khắc được ăn cả ngã về không. Chúng tôi đang uống Asti Spumante, loại rượu mà cô ấy thích. Cuối cùng, cô ấy rời phòng để vào bếp. Khi trở lại, cô ấy ngồi vào lòng tôi, chúng tôi cụng ly và nếu tôi không ngăn lại thì cô ấy đã nuốt luôn chiếc nhẫn. To như viên kim cương 3 carat ấy à, cô ấy không hề nhìn thấy, cho đến khi tôi chỉ cho cô ấy. Tôi tự hỏi đây có phải một thông điệp nào không.
Nhưng vấn đề là tôi đã sắp đặt “tình huống thẩm vấn” để đạt được kết quả như mong muốn. Khi để mẹ và các em của cô ấy, những người rất yêu quý tôi, vây quanh chúng tôi, tôi không cho Pam nhiều lựa chọn. Cô ấy đã đồng ý. Chúng tôi sẽ kết hôn vào tháng Sáu năm sau.
Với phân công công việc năm thứ hai, đa số các đặc vụ còn độc thân được điều đến New York hoặc Chicago, theo logic rằng họ sẽ đỡ vất vả hơn những người đã kết hôn. Tôi không có nơi nào đặc biệt yêu thích, cuối cùng được điều đến Milwaukee, nghe thì có vẻ là một thành phố khá ổn dù tôi chưa từng đến đó và không biết chắc nó nằm ở đâu. Tôi sẽ chuyển đến đó vào tháng Một và ổn định chỗ ở, sau đó Pam sẽ dọn đến ở với tôi sau đám cưới.
Tôi tìm được một căn hộ ở chung cư Juneau Village, trên đường Juneau, không xa văn phòng thực địa tại Milwaukee trong tòa nhà liên bang trên đường Bắc Jackson. Đây hóa ra lại là một sai lầm mang tính chiến lược vì khi có bất cứ chuyện gì xảy ra, câu trả lời luôn là “Tìm Douglas đi. Anh ta chỉ ở cách đây ba khối nhà”
Kể cả trước khi tôi đến Milwaukee thì đám phụ nữ trong văn phòng đã biết tôi là ai: đặc biệt họ biết tôi là một trong hai đặc vụ còn độc thân. Những tuần đầu tiên tôi đến, họ tranh nhau ghi lại những lời tôi dặn dò, dù tôi chẳng có gì nhiều để làm. Ai cũng muốn vây quanh tôi. Nhưng sau vài tuần, khi tin tức tôi đã đính hôn bay xa, tôi nhanh chóng bị cho ra rìa.
Không khí trong văn phòng ở Milwaukee hóa ra cũng không khác gì ở Detroit, chỉ có tệ hơn. SAC đầu tiên của tôi ở đó là một người tên Ed Hays, được mọi người gọi là Eddie Nhanh Nhảu. Người ông luôn đỏ như Mặt trời (và ông mất vì cao huyết áp chỉ sau khi nghỉ hưu không lâu), luôn đi loanh quanh búng tay tanh tách và la hét “Biến khỏi văn phòng! Biến đi!”
Tôi nói: “Tôi phải đi đâu? Tôi mới dọn tới đây thôi. Tôi không có xe. Không có vụ án nào hết.
Ông ta nạt lại: “Tôi không quan tâm anh đi đâu. Biến khỏi văn phòng đi”
Thế là tôi biến. Những ngày đó, cũng không lạ gì khi đi vào một thư viện hoặc lang thang trên đường Wisconsin gần văn phòng và thấy vài đặc vụ đang ngắm nghía các cửa hàng vì họ chẳng có nơi nào để đi. Trong khoảng thời gian này, tôi mua chiếc xe kế tiếp, một chiếc Ford Torino từ một nhân viên bán xe quen biết với Cục.
SAC kế tiếp của chúng tôi, Herb Hoxie, được điều đến từ văn phòng Little Rock ở Arkansas. Công việc tuyển dụng luôn là vấn đề lớn với các SAC, và ngay khi Hoxie đến, ông ta ngay lập tức bị dí. Mỗi văn phòng thực địa đều có chỉ tiêu hằng tháng về tuyển dụng đặc vụ và những nhân viên không làm công việc văn phòng.
Hoxie gọi tôi vào văn phòng ông ta và bảo rằng tôi sẽ chịu trách nhiệm tuyển dụng. Công việc này thường được giao cho một người độc thân vì phải di chuyển nhiều quanh bang.
“Sao lại là tôi?” Tôi hỏi.
“Vì chúng tôi phải cho người trước anh ngưng công việc này, anh ta rất may khi không bị sa thải” Anh ta đến các trường trung học quanh đây, phỏng vấn các nữ sinh cho vị trí thư ký. Hoover còn sống và không có đặc vụ nữ nào trong những ngày này. Anh ta hỏi họ nhiều câu, như thể lấy từ một bảng câu hỏi có sẵn. Một trong những câu đó là “Em còn zin không?” Nếu cô gái trả lời không, anh ta sẽ rủ cô đi chơi. Các vị phụ huynh bắt đầu than phiền nên SAC phải cho anh ta nghỉ.
Tôi bắt đầu tìm kiếm ứng viên khắp toàn bang. Chẳng bao lâu sau, tôi mang về số người gần gấp bốn lần so với chỉ tiêu. Tôi là nhân viên tuyển dụng thành công nhất cả nước. Vấn đề là tôi làm quá giỏi. Họ không chịu cho tôi nghỉ. Khi tôi nói với Herb tôi thực sự không muốn làm nữa, tôi không gia nhập FBI để làm nhân viên nhân sự, ông ta liền dọa sẽ cho tôi sang bộ phận nhân quyền, nghĩa là điều tra các phòng cảnh sát và sĩ quan bị tố hành hung nghi phạm và tù nhân hoặc phân biệt chủng tộc với người thuộc tộc thiểu số. Đây cũng không phải công việc được ưa thích nhất Cục. Tôi nghĩ đây là cách thật dị hợm để khen thưởng vì tôi đã làm tốt công việc.
Thế là tôi đưa ra một thỏa thuận. Tôi đồng ý, một cách cao ngạo, sẽ tiếp tục mang lại con số tuyển dụng lớn nếu Hoxie chỉ định tôi làm người thay thế chính của ông ta và cho phép tôi dùng một chiếc xe của Cục, đồng thời được giới thiệu dùng tiền của Cơ quan chủ quản Hỗ trợ Lực lượng thi hành luật (LEAA) để học cao học. Tôi biết nếu tôi không muốn dành cả sự nghiệp ở ngoài thực địa thì tôi cần một tấm bằng thạc sĩ.
Trong văn phòng, tôi vốn đã bị hoài nghi. Bất cứ ai muốn học hành nhiều như vậy hẳn phải là kẻ theo chủ nghĩa tự do đang hừng hực khí thế. Tại Đại học Wisconsin ở Milwaukee, nơi tôi bắt đầu theo học thạc sĩ ngành Tâm lý học giáo dục vào các buổi tối và những ngày cuối tuần, mọi người xem tôi hoàn toàn ngược lại. Đa số giáo sư đều nghi ngờ khi có một nhân viên FBI trong lớp mình và tôi chưa bao giờ có đủ kiên nhẫn với chuyện đụng chạm cơ thể, vốn là một phần của môn tâm lý học (“John, tôi muốn bạn giới thiệu về mình với người ngồi bên cạnh và cho bạn ấy biết John Douglas thực sự là người như thế nào”).
Có một lần lên lớp, chúng tôi ngồi thành vòng tròn. Thời đó vòng tròn nào cũng lớn. Tôi dần nhận ra không ai trò chuyện với tôi cả. Tôi cố gắng tham gia nhưng không ai lên tiếng. Cuối cùng, tôi chỉ hỏi: “Có chuyện gì ở đây vậy, mọi người?” Hóa ra chiếc lược có cán kim loại tôi để trong túi áo khoác thò ra ngoài và họ đều nghĩ đó là ăng-ten, rằng tôi đang ghi âm lớp học và chuyển thông tin về “tổng bộ”. Cái kiểu hoang tưởng tự cho mình quan trọng của mấy người này chưa bao giờ làm tôi hết ngạc nhiên.
Đầu tháng Năm năm 1972, J. Edgar Hoover qua đời lặng lẽ trong giấc ngủ tại nhà riêng ở Washington. Sáng sớm, điện báo từ tổng bộ được gửi đến tất cả văn phòng thực địa. Ở Milwaukee, chúng tôi được SAC gọi đến để báo tin. Dù Hoover đã gần tám mươi và làm việc ở Cục từ ngày đầu, nhưng không ai thực sự nghĩ ông ấy sẽ mất. Vị vua nay đã băng hà, tất cả chúng tôi tự hỏi vị vua mới sẽ từ đâu đến để thay thế ông ấy. L. Patrick Gray, một thứ trưởng ủng hộ Tổng thống Nixon, được chỉ định làm quyền giám đốc. Ban đầu ông ấy được nhiều người yêu mến vì những cải cách như cuối cùng cũng tuyển dụng nữ đặc vụ. Nhưng đến khi lòng trung thành với Chính phủ của ông ta bắt đầu mâu thuẫn với các nhu cầu của Cục, ông ta dần tuột dốc.
Vài tuần sau sự ra đi của Hoover, tôi đang tuyển dụng nhân sự ở Green Bay thì nhận được cuộc gọi của Pam. Cô ấy nói mục sư muốn gặp chúng tôi vài ngày trước đám cưới. Tôi tin ông ấy muốn chuyển tôi sang đạo Công giáo và ghi điểm với ban lãnh đạo Giáo hội. Nhưng Pam là một người ngoan đạo, được dạy dỗ phải tôn trọng và nghe lời các mục sư. Và tôi biết cô ấy sẽ nhai đi nhai lại mãi nếu tôi không tự nguyện bỏ cuộc.
Chúng tôi cùng đến Nhà thờ Thánh Rita, ban đầu, chỉ có mình cô ấy vào gặp cha xứ. Việc này làm tôi nhớ đến đồn cảnh sát mà tôi vào khi còn học đại học ở Montana, khi họ tách chúng tôi ra để kiểm tra lời khai. Tôi chắc chắn họ đang lên kế hoạch chiến lược đối thoại. Khi họ gọi tôi vào, điều đầu tiên tôi nói là “Hai người có kế hoạch gì cho đứa con đạo Tin lành này đây?”
Vị cha xứ còn trẻ và thân thiện, có lẽ mới đầu ba mươi. Ông ấy hỏi tôi những câu chung chung như “Tình yêu là gì?” Tôi đang cố gắng quan sát ông, đoán xem có câu trả lời nào đúng không. Những cuộc vấn đáp này giống như kỳ thi SAT vậy, bạn không bao giờ có thể chắc chắn mình đã chuẩn bị tốt hay chưa.
Chúng tôi nói về chuyện tránh thai, nuôi dạy con, đại loại vậy. Tôi bắt đầu hỏi xem ông ấy cảm thấy thế nào khi làm một cha xứ, sống độc thân, không có gia đình riêng. Vị cha xứ có vẻ tử tế, nhưng Pam đã nói đây là một nhà thờ nghiêm khắc, truyền thống và ông ấy cảm thấy không thoải mái khi ở gần tôi, có lẽ vì tôi không phải người theo đạo Công giáo; tôi cũng không chắc về việc này. Tôi nghĩ ông ấy đang cố gắng làm cho không khí bớt căng thẳng khi hỏi “Hai con gặp nhau ở đâu?”
Mỗi khi gặp căng thẳng trong cuộc sống, tôi luôn nói đùa để giảm áp lực. Tôi nghĩ đây là cơ hội của mình và tôi không thể dừng được. Tôi nhấc ghế đến gần vị cha xứ. “Thưa Cha”, tôi bắt đầu, “con biết con là một đặc vụ FBI. Con không biết Pam có nói với cha về quá khứ của cô ấy không”
Tôi vừa nói vừa lại gần, nhìn thẳng vào mắt ông ấy như cách tôi làm trong các cuộc thẩm vấn. Tôi chỉ không muốn ông ấy nhìn Pam vì tôi không biết cô ấy sẽ phản ứng thế nào. “Chúng con gặp nhau ở một nơi tên là Jim’s Garage, một quán rượu thoát y. Pam là vũ công ở đó và cô ấy rất giỏi. Điều thu hút sự chú ý của con là lúc đó cô ấy đang nhảy, trên ngực gắn hai chùm tua rua và làm chúng xoay ngược chiều nhau. Hãy tin con, đó là chuyện rất đáng xem.
Pam chết lặng, không biết có nên nói gì hay không. Vị cha xứ thì đang chăm chú lắng nghe.
“Dù sao thì, thưa Cha, cô ấy làm cho mấy chùm tua rua xoay ngược chiều nhau ngày càng nhanh, rồi đột nhiên, một trong mấy chùm đó bay xuống phía khán giả. Mọi người đều cố bắt cho bằng được. Con nhảy lên, chụp lấy chùm tua và mang nó trả lại cho cô ấy, và hôm nay chúng con ở đây cùng nhau.
Miệng ông ấy há thật to. Tôi đã khiến ông ấy hoàn toàn tin tưởng, rồi tôi thôi giả vờ và bắt đầu phá ra cười, giống như lúc tôi làm bài báo cáo sách hồi cấp hai. “Ý anh là chuyện này không phải sự thật?” Ông ấy hỏi. Lúc này Pam cũng đang cười. Chúng tôi lắc đầu. Tôi không biết vị cha xứ cảm thấy nhẹ nhõm hay thất vọng.
Bob McGonigel là phù rể của tôi. Buổi sáng hôm đám cưới, trời mưa, không khí ảm đạm, và tôi rất muốn tiến hành hôn lễ. Tôi bảo Bob gọi cho Pam, lúc này đang ở nhà mẹ cô ấy, và hỏi xem cô ấy có thấy hay nghe tin gì từ tôi không. Dĩ nhiên cô ấy nói không và Bob nói tối hôm trước, tôi không về nhà, anh ấy lo rằng tôi bắt đầu sợ và rút lui. Nhìn lại hôm đó, tôi không thể tin được khiếu hài hước của mình lại quá đáng như vậy, nhưng tôi hơi thất vọng vì không khiến cô ấy có phản ứng gì mạnh mẽ hơn. Sau hôm đó, cô ấy nói với tôi cô ấy bị sốc vì những thứ cần chuẩn bị và lo lắng mái tóc xoăn của cô ấy sẽ xoắn tít lên vì độ ẩm cao đến nỗi việc chú rể biến mất chỉ là một vấn đề nho nhỏ.
Khi chúng tôi đọc lời thề trong nhà thờ vào chiều hôm đó, và vị cha xứ tuyên bố chúng tôi là vợ chồng, tôi ngạc nhiên vì ông ấy đã nói vài lời tốt đẹp về mình.
“Cha gặp John Douglas lần đầu vào hôm kia, và anh ấy làm cha phải suy nghĩ rất nhiều về cảm xúc dành cho những đức tin tôn giáo của bản thân.
Chúa biết tôi đã nói gì khiến ông ấy phải suy nghĩ nhiều nhưng đôi khi ngài hành động theo những cách rất bí ẩn. Lần thứ hai tôi kể chuyện cái tua rua cho một vị cha xứ, người Pam mời đến để cầu nguyện cho tôi ở Seattle, tôi cũng khiến ông ấy tin chuyện đó.
Chúng tôi có chuyến trăng mật ngắn ở Poconos với bồn tắm hình trái tim, trần nhà lắp gương, mấy thứ sang trọng thường thấy rồi lái xe đến Long Island, nơi bố mẹ tôi đang tổ chức một bữa tiệc cho chúng tôi vì chỉ có vài người trong gia đình tôi có thể đến dự đám cưới.
Sau khi chúng tôi kết hôn, Pam chuyển đến Milwaukee. Cô ấy đã tốt nghiệp và trở thành giáo viên. Các giáo viên mới đều có thời gian làm trợ giảng ở những ngôi trường thiếu kỷ luật nhất trong thành phố. Có một trường cấp hai đặc biệt tệ. Giáo viên ở đó thường xuyên bị xô ngã, bị đá, và nhiều nữ giáo viên trẻ suýt bị cưỡng bức. Cuối cùng tôi cũng rời khỏi bộ phận tuyển dụng và đang hoạt động trong đơn vị phản ứng, chủ yếu xử lý các vụ cướp ngân hàng. Tuy công việc của tôi vốn nguy hiểm, nhưng tôi thấy lo lắng cho tình hình của Pam hơn. Ít nhất tôi còn có súng để tự vệ. Có một lần, bốn học sinh đẩy cô ấy vào một phòng học trống, sàm sỡ và tấn công cô ấy. Cô ấy hét lên và chạy thoát nhưng tôi thì giận điên người. Tôi muốn dẫn theo một số đặc vụ khác đến trường và dạy cho chúng một bài học.
Bạn thân của tôi khi đó là một đặc vụ tên Joe Del Campo, người cùng tôi giải quyết các vụ cướp ngân hàng. Chúng tôi thường đến tiệm bánh bagel ở đường Oakland, gần cơ sở của Đại học Wisconsin, Milwaukee. Một đôi vợ chồng tên là David và Sarah Goldberg quản lý tiệm bánh, tôi và Joe nhanh chóng kết bạn với họ. Thực ra thì họ bắt đầu xem chúng tôi như con trai họ.
Có vài buổi sáng, chúng tôi đến tiệm, mang theo súng, giúp vợ chồng Goldberg cho bánh vào lò nướng. Chúng tôi ăn sáng, rời đi và bắt một kẻ đang trốn cảnh sát, theo dấu một số đầu mối trong những vụ án khác, rồi trở lại tiệm ăn trưa. Joe và tôi đều rèn luyện cơ thể ở Trung tâm Cộng đồng Do Thái. Đến gần Giáng sinh và lễ Hanukkah, chúng tôi mua thẻ thành viên trung tâm cho vợ chồng Goldberg. Về sau, các đặc vụ khác bắt đầu đến tiệm, mà chúng tôi gọi đơn giản là tiệm Goldberg, và chúng tôi từng tổ chức một bữa tiệc ở đó, có các SAC và ASAC tham dự.
Joe Del Campo nhanh trí, biết nhiều thứ tiếng và là một tay thiện xạ. Kỹ năng của anh ta góp phần quan trọng trong những tình huống có lẽ là kỳ lạ và l khó hiểu nhất mà tôi từng tham gia.
Vào một ngày mùa đông, Joe và tôi đang ở văn phòng thẩm vấn một tội phạm chúng tôi vừa bắt sáng hôm đó thì nhận được một cuộc gọi nói rằng cảnh sát Milwaukee đang gặp một vụ bắt giữ con tin. Tối qua Joe thức cả đêm để trực nhưng chúng tôi để đối tượng thẩm vấn chờ, còn mình thì đến hiện trường.
Khi đến nơi, một ngôi nhà cổ theo phong cách Tudor, chúng tôi biết được đối tượng Jacob Cohen là một kẻ đào tẩu bị buộc tội giết một cảnh sát ở Chicago. Hắn vừa bắn một đặc vụ FBI, Richard Carr, khi người này cố tiếp cận hắn trong khu nhà của hắn, lúc này đang bị nhóm SWAT mới huấn luyện của FBI bao vây. Gã điên ấy chạy vào vòng vây của nhóm SWAT và ăn hai lượt đạn vào mông. Hắn bắt một bé trai đang xúc tuyết và chạy vào một ngôi nhà. Hiện tại hắn đang giữ ba con tin - hai đứa trẻ và một người lớn. Cuối cùng, hắn thả người lớn và một đứa trẻ ra. Hắn giữ lại bé trai ước chừng 10-12 tuổi.
Lúc này, mọi người đều sôi máu. Trời lạnh như cắt. Cohen đang phát điên, càng tệ hơn khi mông hắn ghim đầy đạn chì. FBI và cảnh sát Milwaukee nổi giận với đối phương vì đã để tình hình đến mức này. Nhóm SWAT của FBI thì tức điên vì đây là vụ án lớn đầu tiên của họ nhưng họ đã không bắt được mà còn để hắn thoát khỏi vòng vây. Lúc này các đặc vụ FBI muốn trả thù vì hắn đã hạ một đồng đội của họ. Còn cảnh sát Chicago tuyên bố muốn bắt hắn và nếu có ai có quyền bắn hắn thì đó chính là họ.
SAC Herb Hoxie đến hiện trường và theo tôi là đã phạm phải hai sai lầm, góp phần vào số sai lầm mà mọi người đã phạm trước đó. Đầu tiên, ông ta dùng loa cầm tay, thứ khiến ông ta trông như một kẻ độc tài. Một cuộc điện thoại kết nối riêng là biện pháp thận trọng hơn, lại cho phép chúng ta thương lượng riêng. Rồi ông ta thực hiện cái mà tôi cho là sai lầm thứ hai: ông ta đề nghị bản thân trở thành con tin thay cho đứa bé.
Thế là Hoxie ngồi vào ghế lái của một chiếc xe FBI. Cảnh sát đứng thành một vòng quanh chiếc xe khi nó lùi vào lối cho xe chạy vào nhà. Trong lúc đó, Del Compo bảo tôi nâng anh ta nhảy lên mái nhà. Hãy nhớ đó là một ngôi nhà kiểu Tudor với mái dốc đứng, trơn trượt vì băng tuyết, và Joe đã thức trắng đêm. Vũ khí duy nhất anh ta mang theo là khẩu magnum nòng dài 6cm.
Cohen ra khỏi ngôi nhà, cánh tay vòng quanh đầu đứa bé, ôm sát nó vào người. Thanh tra Beasley của Sở Cảnh sát Milwaukee bước ra khỏi vòng tròn cảnh sát và nói “Jack, chúng tôi đã có thứ anh muốn. Hãy thả thằng bé ra!” Del Compo vẫn đang bò trên mái nhà. Cảnh sát thấy anh ta ở trên đó và nhận ra ý định của anh ta.
Đối tượng và con tin đang lại gần chiếc xe. Khắp nơi bao phủ trong băng tuyết. Rồi đột nhiên đứa bé bị trượt chân trên mặt băng và vuột khỏi tay Cohen. Del Compo lên đến đỉnh mái nhà. Tính được với nòng súng ngắn, viên đạn có thể bay cao hơn, anh ta nhắm vào cổ đối tượng và bắn một phát.
Đó là một cú bắn trực tiếp, một phát đạn tuyệt vời, ghim ngay giữa cổ đối tượng. Cohen gục xuống, nhưng không ai biết là hắn hay đứa bé trúng đạn.
Đúng ba giây sau, chiếc xe lãnh một loạt đạn. Trong làn đạn, thanh tra Beasley bị bắn vào gót chân. Đứa bé bò lồm cồm trước chiếc xe vốn đang lăn về phía nó vì Hoxie bị mảnh kính văng trúng và đã mất lái. May mắn là đứa bé không bị thương nặng.
Đúng kiểu FBI, tin tức trên các đài truyền hình địa phương tối đó phát hình ảnh đặc vụ quản lý Herbert Hoxie trên băng ca được đẩy ra khỏi phòng cấp cứu, máu chảy thành dòng từ lỗ tai ông ta. Và ông ta tuyên bố với báo giới, trong lúc họ đẩy ông ta đi “Đột nhiên tôi nghe tiếng súng, đạn bay khắp nơi. Tôi đoán tôi đã trúng đạn, nhưng tôi nghĩ mình không sao…” FBI, Chúa, tình mẹ, bánh táo, vân vân và vân vân.
Nhưng đó chưa phải kết thúc. Suýt nữa đã xảy ra ẩu đả, cảnh sát suýt nữa đã đánh Del Compo bầm dập vì cướp mất cơ hội nổ súng của họ. Nhóm SWAT cũng không quá hài lòng vì anh ta làm hình ảnh của họ trở nên tệ hại. Họ đến gặp ASAC Ed Best để than phiền nhưng ông ấy đã đứng về phía Del Compo và nói rằng Joe đã cứu nguy cho tình huống tệ hại mà họ gây ra.
Cohen bị khoảng ba mươi đến bốn mươi vết thương do đạn bắn nhưng vẫn còn sống khi họ đưa hắn đi bằng xe cấp cứu. May cho tất cả những người tham gia vụ việc, hắn được chẩn đoán đã chết trên đường đến bệnh viện.
Đặc vụ Carr sống sót một cách kỳ diệu. Viên đạn của Cohen xuyên qua chiếc áo khoác Carr mặc, găm vào vai, chệch khỏi khí quản và nằm lại trong phổi. Carr giữ lại chiếc áo khoác với lỗ thủng từ viên đạn và kể từ hôm đó, anh ta mặc nó một cách đầy tự hào.
Del Campo và tôi là một đôi xuất sắc trong một thời gian, trừ những tràng cười mà chúng tôi đã bắt đầu thì không thể dừng lại. Có lần chúng tôi đến một quán rượu cho người đồng tính, cố gắng tìm người làm mật thám theo dõi một tên tội phạm giết người đồng tính đang bỏ trốn. Khi đó trời đã tối, mắt chúng tôi phải mất một lúc để điều tiết. Đột nhiên, chúng tôi nhận ra những người khác đang nhìn mình và bắt đầu cãi nhau xem họ muốn ai trong hai đứa. Rồi chúng tôi thấy tấm biển phía trên quầy rượu, “Thật tốt khi tìm được một người đàn ông cứng cáp”, và phá ra cười như hai thằng dở hơi.
Chẳng cần gì nhiều. Chúng tôi cười khi nói chuyện với một ông cụ ngồi xe lăn trong một viện dưỡng lão và lại cười khi thẩm vấn một chủ doanh nghiệp ăn mặc sang trọng, trạc bốn mươi tuổi và chỏm tóc giả đã trượt xuống nửa cái trán của ông ta. Không quan trọng thời điểm. Nếu một tình huống nào đó có chút gì đó hài hước, Joe và tôi sẽ nhìn thấy. Nghe có vẻ vô cảm nhưng đây có lẽ là một tài năng hữu ích. Khi công việc của bạn là xem xét hiện trường án mạng và địa điểm vứt xác, đặc biệt là những vụ án có liên quan đến trẻ em, khi bạn đã nói chuyện với hàng trăm, sau đó là hàng ngàn nạn nhân và người thân của họ, khi bạn đã thấy những điều khó tin mà một số kẻ có thể làm với người khác, tốt nhất là bạn vẫn có thể cười vì những điều ngớ ngẩn. Nếu không, chẳng chóng thì chày, bạn cũng sẽ phát điên.
Không như nhiều người làm công việc thực thi pháp luật, tôi không bao giờ mê súng, nhưng kể từ khi gia nhập Không quân, tôi vẫn có khả năng bắn tốt. Tôi nghĩ nếu gia nhập nhóm SWAT một thời gian hẳn sẽ thú vị lắm. Mỗi văn phòng thực địa đều có một nhóm. Đó là công việc bán thời gian; năm thành viên của nhóm được gọi đến khi cần. Tôi lập nhóm và được chỉ định vào vị trí bắn tỉa - người luôn ở vị trí xa nhất và bắn đường đạn dài. Những người khác trong nhóm đều có nhiều kinh nghiệm tham gia quân ngũ - đơn vị Mũ nổi xanh, Cảnh sát cơ động - còn tôi thì dạy bơi cho vợ con của những tay phi công. Nhóm trưởng David Kohl, sau này trở thành một phó giám đốc ở Quantico, đề nghị tôi quản lý Đơn vị Hỗ trợ điều tra.
Trong một vụ án nọ có phần đơn giản hơn vụ lùm xùm Jacob Cohen, có một gã cướp ngân hàng, sau đó bị cảnh sát rượt đuổi, cuối cùng dựng rào chắn trốn cảnh sát trong một nhà kho. Đó là khi chúng tôi được gọi đến. Trong nhà kho này, hắn cởi hết quần áo ra, rồi lại mặc vào. Có vẻ gã này điên thật. Rồi hắn yêu cầu đưa vợ hắn đến hiện trường, và cảnh sát đồng ý.
Nhiều năm sau, khi đã nghiên cứu tỉ mỉ hơn về loại tính cách này, chúng tôi hiểu rằng cảnh sát không được làm thế - không được đồng ý với loại yêu cầu này - vì người mà chúng muốn gặp thường bị chúng cho là nguồn cơn của mọi chuyện. Vì thế, chúng ta đang đưa người đó vào thế nguy hiểm khôn lường và đẩy họ vào tình huống giết người - tự sát.
May mắn là lần đó họ không đưa người vợ vào nhà kho mà cho cô ấy nói chuyện với hắn qua điện thoại. Và y như rằng, ngay khi hắn gác máy, hắn tự bắn vào đầu bằng một khẩu súng ngắn.
Chúng tôi vào vị trí, chờ đợi suốt nhiều giờ, rồi đột nhiên mọi chuyện kết thúc. Nhưng không phải lúc nào cũng có thể rũ bỏ căng thẳng nhanh như thế nên sự việc thường dẫn đến chuyện hài hước kỳ quặc. “Khỉ thật, sao hắn phải làm thế?” Một trong các đặc vụ nhận xét. “Douglas bắn rất giỏi. Anh ta có thể kết thúc cuộc đời giúp hắn mà.
Tôi ở Milwaukee hơn năm năm. Cuối cùng, Pam và tôi chuyển từ căn hộ ở Đại lộ Juneau đến một ngôi nhà trên đường Brown Deer, xa văn phòng, gần biên giới phía bắc của thành phố. Công việc của tôi chủ yếu là điều tra các vụ cướp ngân hàng và dần dần nhận được nhiều lời khen vì tài phá án. Tôi thấy mình thành công nhất khi có thể tìm ra một “đặc trưng” kết nối nhiều vụ án với nhau, một yếu tố mà sau này trở thành nền tảng phân tích các vụ sát nhân hàng loạt của chúng tôi.
Thất bại đáng chú ý duy nhất của tôi trong thời gian này là sau khi Jerry Hogan trở thành SAC thay Herb Hoxie. Công việc không có đãi ngộ gì nhiều, nhưng một trong số các đãi ngộ đó là một chiếc xe hơi do Cục cấp, và Hogan rất tự hào về chiếc Ford Ltd. màu xanh ngọc lục bảo mới của mình. Một ngày nọ, tôi cần một chiếc xe để đi điều tra và lúc đó không còn chiếc nào trống. Hogan đang dự một cuộc họp nên tôi hỏi ASAC Arthur Fulton xem có thể dùng xe của SAC không. Chần chừ một lúc, anh ta cũng đồng ý.
Rồi Jerry gọi tôi vào văn phòng và quát tôi vì đã dùng xe của anh ta, làm nó bị bẩn và tệ nhất là khi trở về thì xe bị xẹp một bánh. Tôi hoàn toàn không chú ý chuyện đó. Lúc này tôi và Jerry rất thân thiết nên suốt thời gian anh ta la ó, tôi cứ cười miết. Chuyện đó hóa ra là một sai lầm.
Sau đó, người giám sát nhóm của tôi, Ray Byrne nói với tôi: “John, anh biết là Jerry Hogan rất thích anh, nhưng anh ta phải dạy anh một bài học. Anh ta chỉ định anh đến khu bảo tồn người Da đỏ”
Đó là khoảng thời gian sôi sục vì vụ thảm sát Wounded Knee[1] và làn sóng ý thức về quyền của người Mỹ bản địa. Ở các khu bảo tồn, họ căm ghét chúng tôi, như ở các khu phố Do Thái tại Detroit. Người Anh-điêng bị Chính phủ đối xử thậm tệ. Lần đầu tôi đến Khu Bảo tồn Menominee ở Green Bay, tôi không thể tin nổi những người này phải sống trong tình trạng nghèo đói và kém vệ sinh đến thế. Phần lớn nền văn hóa của họ đã bị tước bỏ, tôi thấy họ gần như không còn cảm xúc gì. Phần lớn do tình trạng nghèo đói và lịch sử thù địch cũng như lãnh đạm với Chính phủ, ở nhiều khu bảo tồn, tỷ lệ nghiện rượu, bạo hành vợ con, tấn công, giết người cao. Nhưng vì họ hoàn toàn không tin tưởng Chính phủ nên đặc vụ FBI gần như không thể có sự hợp tác hay hỗ trợ từ các nhân chứng.
Những người đại diện của Cục Dân sự Anh-điêng cũng không giúp được gì. Kể cả người thân của nạn nhân cũng không can dự vì sợ bị nhìn thấy đang hợp tác với kẻ thù. Đôi khi, lúc chúng tôi phát hiện một vụ giết người và đến hiện trường, thi thể đã ở đó vài ngày, bị giòi bọ bám đầy.
Tôi ở khu bảo tồn hơn một tháng, điều tra ít nhất sáu vụ giết người. Tôi thấy thương cho những người này nên lúc nào cũng buồn bã, tuy tôi may mắn được rời khỏi đó để về nhà vào buổi tối. Tôi chưa từng thấy họ, một bộ lạc, có quá nhiều điều phải vượt qua đến thế. Tuy khá nguy hiểm, nhưng quãng thời gian ở Khu Bảo tồn Menominee là lần đầu tiên tôi tập trung điều tra hiện trường án mạng, một trải nghiệm tàn nhẫn nhưng quý giá.
Điều tuyệt vời nhất trong giai đoạn ở Milwaukee chắc chắn là sự ra đời của đứa con đầu lòng của tôi, Erika, vào tháng Mười một năm 1975. Chúng tôi chuẩn bị ăn bữa tối lễ Tạ ơn tại một câu lạc bộ thể thao ngoài trời ở địa phương với bạn bè, Sam và Esther Ruskin, thì Pam chuyển dạ. Hôm sau, Erika chào đời.
Tôi vốn đang điều tra các vụ cướp ngân hàng và hoàn thành bằng thạc sĩ, đứa con mới sinh đồng nghĩa với việc tôi càng có ít thời giờ để ngủ hơn. Nhưng không cần phải nói, Pam là người chăm con. Tôi cảm thấy có trách nhiệm với gia đình hơn từ khi lên chức bố, và tôi thích nhìn Erika trưởng thành. Tôi nghĩ thật may cho chúng tôi vì khi đó tôi chưa bắt đầu điều tra các vụ giết người và bắt cóc trẻ em. Nếu tôi đã làm công việc đó, nếu tôi thực sự dừng lại và nghĩ về những gì diễn ra ngoài kia, tôi không biết liệu mình có thể quen với việc làm cha thoải mái được như thế hay không. Đến khi đứa con thứ hai, Lauren, ra đời năm 1980, tôi đã dấn sâu vào công việc đó.
Tôi nghĩ, việc làm cha cũng là động lực giúp tôi cố gắng khai thác tiềm năng của bản thân hơn. Tôi biết mình không muốn chỉ làm công việc hiện tại trong suốt sự nghiệp. Jerry Hogan khuyên tôi nên làm việc ngoài thực địa mười năm trước khi định nộp đơn ứng tuyển bất kỳ vị trí nào khác; như thế tôi sẽ có kinh nghiệm để vào vị trí ASAC và cuối cùng là SAC, sau đó có thể lên làm ở tổng bộ. Nhưng với một đứa con và hy vọng có thêm nhiều đứa nữa, cuộc sống của một đặc vụ ngoài thực địa, chuyển từ văn phòng này sang văn phòng khác, không thực sự hấp dẫn.
Thời gian trôi qua, những quan điểm khác về công việc bắt đầu xuất hiện. Việc huấn luyện bắn tỉa và các bài tập của nhóm SWAT không còn hấp dẫn. Với chuyên môn và hứng thú trong ngành tâm lý học - lúc này tôi đã có bằng thạc sĩ - tôi cảm thấy phần mang tính thách thức của công việc là cố gắng kiểm soát tình huống trước khi lâm vào tình thế phải nổ súng. SAC giới thiệu tôi đi học một khóa về thương thuyết giải cứu con tin kéo dài hai tuần ở Học viện FBI tại Quantico, học viện này mới đi vào hoạt động vài năm.
Tại đó, với sự dạy dỗ của những đặc vụ đã trở thành huyền thoại như Howard Teten và Pat Mullany, lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với lĩnh vực mà bấy giờ đã được gọi là khoa học nghiên cứu hành vi. Điều đó đã thay đổi sự nghiệp của tôi.
❀ ❀ ❀
[1] Vụ quân đội Mỹ thảm sát hàng trăm người Lakota - một bộ tộc người da đỏ - phân nửa trong số đó là phụ nữ và trẻ em.