Kẻ Săn Suy Nghĩ

Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 07
Trái tim của bóng tối

❊ ❊ ❊

Câu hỏi xuất hiện một cách hợp lý, tại sao các phạm nhân lại hợp tác với đặc vụ thi hành luật liên bang? Chúng tôi cũng tự hỏi điều đó khi bắt đầu dự án. Nhưng đa số phạm nhân chúng tôi tiếp cận trong những năm qua đều đồng ý nói chuyện với chúng tôi vì nhiều lý do.

Một số tên thực sự không yên lòng về những tội ác của mình và cảm thấy hợp tác vì một nghiên cứu tâm lý học là cách để phần nào sửa sai và thấu hiểu bản thân hơn. Tôi nghĩ Ed Kemper thuộc loại này. Những kẻ khác, như tôi đã đề cập, cuồng cảnh sát và lực lượng thi hành luật pháp, thích ở gần cảnh sát và đặc vụ FBI. Một vài kẻ nghĩ rằng hợp tác với “cơ quan chức năng” sẽ mang lại lợi ích nào đó dù chúng tôi chưa từng hứa hẹn điều gì. Một số lại cảm thấy bị thờ ơ và quên lãng nên chỉ muốn được chú ý và giải tỏa sự nhàm chán nhờ các cuộc viếng thăm của chúng tôi. Một số chỉ đơn giản là hoan nghênh cơ hội để chúng có thể làm sống lại những ảo tưởng chết chóc của chúng một cách chi tiết.

Chúng tôi muốn nghe bất cứ điều gì mà chúng muốn nói, nhưng chủ yếu quan tâm đến một số câu hỏi cơ bản mà chúng tôi đã liệt kê trong một bài báo giải thích mục tiêu nghiên cứu, phát hành tháng Chín năm 1980 của Bản tin Thi hành luật FBI.

1. Điều gì khiến một người trở thành tội phạm tình dục và những dấu hiệu cảnh báo sớm?

2. Điều gì kích động hoặc ngăn chặn việc phạm tội?

3. Kiểu phản ứng hoặc chiến lược ứng phó nào của người sắp trở thành nạn nhân sẽ hiệu quả với loại tội phạm tình dục nào để tránh trở thành nạn nhân?

4. Những gợi ý về sự nguy hiểm, khả năng dự đoán, tính khí và cách đối xử của hắn với nạn nhân

Để chương trình này có giá trị, chúng tôi hiểu mình phải chuẩn bị đầy đủ và có thể lọc ra ngay những điều mà mỗi phạm nhân nói với mình. Vì nếu bạn đủ thông minh, như nhiều gã phạm nhân, bạn sẽ tìm được một điểm yếu trong hệ thống mà bạn có thể sử dụng làm lợi thế cho mình. Theo bản chất tự nhiên của chúng, đa số tội phạm hàng loạt đều giỏi thao túng. Nếu tình trạng tâm thần bất ổn có thể có ích cho trường hợp của mình, bạn có thể là kẻ tâm thần bất ổn. Nếu tình trạng ăn năn hối lỗi có thể có ích cho trường hợp của mình, bạn có thể ăn năn hối lỗi. Nhưng với chúng, phương án hành động tốt nhất dù có là gì thì tôi nhận thấy những kẻ đồng ý nói chuyện với chúng tôi đều giống nhau. Chúng không có chuyện gì khác để nghĩ nên chúng dành nhiều thời gian nghĩ về bản thân và điều chúng đã làm, và có thể kể cho tôi nghe vô cùng chi tiết. Nhiệm vụ của chúng tôi là biết đủ về chúng và các tội ác của chúng trước để bảo đảm chúng đang nói sự thật, vì chúng cũng có đủ thời gian tạo dựng những tình huống thay thế khiến chúng có vẻ đáng cảm thông hơn hoặc vô tội so với những gì ghi trong hồ sơ.

Trong nhiều cuộc thẩm vấn thời kỳ đầu, sau khi nghe câu chuyện của phạm nhân, tôi muốn quay sang Bob Ressler hay bất kỳ ai đi cùng để nói “Có khi nào hắn bị kết tội vội vàng quá không? Hắn có câu trả lời hợp lý cho mọi câu hỏi. Tôi không biết họ có bắt đúng người không” Vì vậy, điều đầu tiên chúng tôi làm khi trở lại Quantico là kiểm tra các ghi chép và liên hệ với cảnh sát địa phương để có được hồ sơ vụ án nhằm bảo đảm không có án oan.

Là một cậu bé lớn lên ở Chicago, Bob Ressler vừa sợ vừa hứng thú với vụ sát hại bé gái sáu tuổi Suzanne Degnan, cô bé bị bắt đi khỏi nhà và giết hại. Xác cô bé được phát hiện trong tình trạng bị cắt thành từng mảnh nhỏ trong hệ thống cống của thành phố Evanston. Cuối cùng, một thanh niên tên William Heirens bị bắt và nhận tội đã giết cô bé cùng hai phụ nữ khác trong một chung cư khi các vụ trộm vượt khỏi tầm kiểm soát. Ở hiện trường của một vụ, vụ giết Frances Brown, hắn dùng thỏi son của nạn nhân viết nguệch ngoạc lên tường:

Vì ChúA

Làm ơn bắt Tôi đi

Trước Khi Tôi Giết Thêm

Tôi không thể kiểm soát bản thâN

Heirens đổ các vụ giết người cho một kẻ tên George Murman (có lẽ là viết tắt của “murder man” - sát nhân) mà hắn tuyên bố là sống bên trong hắn. Bob đã nói rằng trường hợp của Heirens có lẽ là một trong những động cơ ban đầu để anh ta theo đuổi sự nghiệp thực thi pháp luật.

Khi Dự án Nghiên cứu tính cách tội phạm được tài trợ và đi vào hoạt động, Bob và tôi thẩm vấn Heirens ở nhà tù Statesville ở Joliet, Illinois. Hắn đã bị giam từ khi bị kết tội năm 1946 và vẫn luôn là một tù nhân kiểu mẫu, phạm nhân đầu tiên trong bang hoàn thành bằng đại học. Sau đó hắn học lên cao học.

Đến lúc chúng tôi thẩm vấn hắn, Heirens chối bỏ mọi liên hệ với các tội ác, nói rằng hắn đã bị kết tội vội vàng. Dù chúng tôi hỏi điều gì, hắn đều có câu trả lời, khăng khăng rằng hắn có chứng cứ ngoại phạm và thậm chí còn không đến gần bất kỳ hiện trường án mạng nào. Lời hắn nói rất thuyết phục và tôi lo có thể đã xảy ra một vụ án oan nên khi trở về Quantico, tôi lục tìm mọi hồ sơ vụ án. Ngoài lời thú tội và những bằng chứng rõ ràng khác, tôi thấy dấu vân tay của hắn đã được tìm thấy ở hiện trường vụ Degnan. Nhưng Heirens đã dành rất nhiều thời gian ngồi trong khám suy nghĩ và đưa ra mọi câu trả lời mà nếu họ tiến hành kiểm tra phát hiện nói dối với hắn vào lúc đó, có lẽ hắn sẽ vượt qua dễ dàng.

Richard Speck, đang chịu liên tiếp nhiều án tù chung thân vì giết tám nữ sinh y tá trong một ngôi nhà phố ở Nam Chicago năm 1966, nói rõ rằng hắn không muốn bị đặt ngang hàng với những kẻ sát nhân khác mà chúng tôi đang nghiên cứu. “Tôi không muốn nằm trong danh sách đó với họ”, hắn bảo tôi. “Họ bị điên, mấy người đó. Tôi không phải một kẻ sát nhân hàng loạt.” Hắn không chối những gì hắn đã làm, hắn chỉ muốn chúng tôi biết hắn không giống những kė kia.

Ở một cấp độ, Speck nói đúng. Hắn không phải một kẻ sát nhân hàng loạt liên tục giết người với một vòng tuần hoàn cảm xúc hay một giai đoạn chậm lại giữa các tội ác. Hắn là kiểu tội phạm mà tôi mô tả là một kẻ sát nhân tập thể, giết hơn hai người trong một lần hành động. Trong trường hợp của Speck, hắn đến căn nhà với động cơ ăn trộm, cố gắng kiếm tiền để rời thành phố. Khi Corazon Amurao hai mươi ba tuổi mở cửa, hắn xông vào với một khẩu súng lục và một con dao, nói rằng hắn sẽ chỉ trói cô và năm người bạn cùng phòng lại rồi lấy tiền của họ. Hắn lùa họ vào một phòng ngủ. Trong một giờ đồng hồ tiếp theo, thêm ba cô gái trở về nhà sau các cuộc hẹn hoặc học tập tại thư viện. Khi đã kiểm soát tất cả họ, dường như Speck thay đổi ý định, tiến hành một cuộc cưỡng hiếp, bóp cổ, đâm và chém điên cuồng. Chỉ có Amurao sống sót, co rúm đầy sợ hãi trong góc. Speck đã không còn nhớ bao nhiêu người.

Sau khi hắn rời đi, cô ấy chạy ra ban công và gọi giúp đỡ. Cô ấy kể với cảnh sát về hình xăm “Born to Raise Hell” trên cẳng tay trái của kẻ tấn công. Một tuần sau đó, khi Richard Franklin Speck xuất hiện ở một bệnh viện địa phương sau nỗ lực tự vẫn bất thành, hắn bị nhận diện dựa vào hình xăm này.

Vì sự tàn bạo rành rành trong tội ác của hắn, Speck đã trở thành đối tượng của đủ mọi loại nghiên cứu từ các cộng đồng y học và tâm lý học. Ban đầu, Speck được tuyên bố là bị tình trạng mất cân bằng gen, có thêm một nhiễm sắc thể giới tính nam (Y), được cho là làm tăng hành vi hung hãn và chống đối xã hội. Những hành vi này thường xuyên đến rồi đi. Hơn một trăm năm trước, các chuyên gia phân tích hành vi dùng não tướng học - ngành nghiên cứu hình dạng hộp sọ - để chẩn đoán tính cách và năng lực tâm thần. Gần đây hơn, người ta cho rằng chỉ số của máy đo điện não cho thấy một biểu đồ mười bốn và sáu xung động đi lên lặp đi lặp lại là bằng chứng cho thấy sự rối loạn tính cách nghiêm trọng. Bồi thẩm đoàn vẫn tin vào vấn đề XYY, nhưng có một sự thật không thể chối cãi là nhiều người đàn ông có cấu trúc gen này hoàn toàn không có biểu hiện hành vi hung hãn hay chống đối xã hội. Và trên hết, một nghiên cứu chi tiết được tiến hành trên cơ thể Richard Speck phát hiện ra cấu trúc gen của hắn hoàn toàn bình thường - thậm chí không hề có nhiễm sắc thể Y thừa đó.

Speck, kẻ sau đó chết trong tù vì đau tim, không muốn nói chuyện với chúng tôi. Hắn là một trong những trường hợp bất thường mà chúng tôi đã liên hệ với quản ngục, người này đồng ý cho chúng tôi vào, nhưng lại nghĩ không nên để Speck biết trước việc chúng tôi đến. Khi đến nơi, chúng tôi cũng thấy nên làm như thế. Chúng tôi nghe tiếng hắn la hét và nguyền rủa từ một phòng tạm giam mà hắn được đưa tới để chúng tôi có thể xem xét phòng giam của hắn. Những tù nhân khác đang phát rổ lên vì cảm thông với hắn. Viên quản ngục muốn cho chúng tôi xem loại sách báo đồi trụy mà Speck giữ, nhưng Speck đang điên cuồng phản đối sự xâm phạm không gian này. Tù nhân rất ghét những gì giống như một cuộc lục soát. Phòng giam của chúng là sự riêng duy nhất chúng có. Khi chúng tôi đi xuống khu nhà giam ba tầng ở Joliet, cửa sổ bị vỡ, mấy con chim đang bay lên gần trần nhà, quản ngục cảnh báo chúng tôi nên đi ở chính giữa để các tù nhân không thể hắt nước tiểu hay ném phân vào chúng tôi.

Nhận ra việc này sẽ chẳng đi đến đâu, tôi nói nhỏ với viên quản ngục là chúng tôi sẽ tiếp tục xuống hành lang mà không dừng lại ở xà lim của Speck. Hiện nay, khi các nguyên tắc thẩm vấn đối tượng đã hiệu lực, có lẽ chúng tôi không thể đường đột xuất hiện trước mặt hắn nữa. Thực ra, cả cuộc nghiên cứu tính cách tội phạm từ giờ sẽ khó tiến hành hơn rất nhiều.

Không như Kemper hay Heirens, Speck không hẳn là một tù nhân kiểu mẫu. Có lần hắn giấu một cái máy chưng cất rượu mini kiểu thô sơ phía sau một hộc tủ giả trong chiếc bàn gỗ của quản ngục. Cái máy hầu như không làm ra giọt rượu nào, chỉ đủ để tạo mùi và khiến các quản ngục giận điên lên khi không tìm ra nó. Một lần khác, hắn tìm được một con chim sẻ bị thương bay vào qua một ô cửa sổ vỡ và đã chăm sóc cho nó khỏe lại. Khi nó đủ khỏe để đứng, hắn cột một sợi dây vào chân nó và để nó đậu lên vai. Một hôm, một viên quản ngục bảo hắn là trong tù không được nuôi thú cưng.

“Tôi không được nuôi nó sao?” Speck thách thức rồi bước tới gần một cây quạt đang quay và ném con chim nhỏ vào đó.

Giật mình, viên quản ngục nói: “Tôi tưởng anh thích con chim đó”.

“Đúng là tôi thích”, Speck đáp. “Nhưng nếu tôi không thể nuôi nó, không ai có thể”

Bob Ressler và tôi gặp hắn trong một phòng thẩm vấn ở Joliet cùng cố vấn trại giam của hắn, một công việc giống như cố vấn hướng dẫn ở trường trung học. Tương tự Manson, Speck chọn chỗ đầu bàn, ngồi trên một cái tủ để hắn có thể ở vị trí cao hơn chúng tôi. Tôi bắt đầu bằng việc nói với Speck điều chúng tôi muốn làm, nhưng hắn không thèm đếm xỉa gì đến chúng tôi, cứ càm ràm về “FBI chó để” muốn xem xét xà lim của hắn.

Khi nhìn những gã này, khi ngồi đối diện với chúng qua bàn trong một hội nghị ở nhà tù, điều đầu tiên tôi cố gắng làm là hình dung xem chúng trông như thế nào và nói năng ra sao khi thực hiện các tội ác. Tôi đã xem tất cả hồ sơ vụ án để chuẩn bị nên tôi biết từng tên đã và có thể làm gì, điều tôi phải làm là khơi dậy điều đó ở kẻ ngồi đối diện.

Bất cứ cuộc thẩm vấn nào của cảnh sát đều là một cuộc dụ dỗ; mỗi bên cố gắng dụ dỗ đối phương thuận theo những gì mình muốn. Và bạn phải đánh giá một người bị thẩm vấn trước khi tìm ra cách tiếp cận hắn. Tức giận hay chỉ trích đều không hiệu quả. (“Cái gì, đồ cuồng dâm gớm ghiếc! Mày đã ăn cánh tay của người ta hả?”) Bạn phải quyết định xem cái gì sẽ kích thích hắn. Với một số kẻ như Kemper, bạn có thể thẳng thắn, thực tế, miễn là bạn nói rõ bạn biết các tình tiết và chúng không thể phỉnh phờ bạn. Với những kẻ như Richard Speck, tôi hiểu là phải dùng cách tiếp cận mang tính xúc phạm.

Chúng tôi ngồi đó, trong phòng hội nghị và Speck đang bày trò làm lơ chúng tôi nên tôi xoay sang viên cố vấn. Anh ta là người cởi mở, hòa đồng, có kinh nghiệm trong việc kích động thái độ chống đối - một trong những tố chất mà chúng tôi tìm kiếm ở một chuyên viên thương thuyết giải cứu con tin. Tôi nói về Speck như thể hắn không có mặt ở đó.

“Anh biết hắn ta đã làm gì không, gã phạm nhân của anh ấy? Hắn đã giết tám người. Vài em trong đó nhìn ngon lành lắm. Hắn đã lấy đi tám miếng mồi béo bở khỏi miệng chúng ta. Anh thấy có công bằng không?”

Rõ ràng Bob cảm thấy không thoải mái với cách này. Anh ta không muốn hạ mình xuống cấp độ của tên giết người và dễ buồn bực về chuyện mỉa mai người chết. Dĩ nhiên, tôi đồng ý, nhưng trong tình huống thế này, tôi nghĩ ta cần làm việc phải làm thôi.

Viên cố vấn trả lời tôi rất tử tế và chúng tôi cứ nói qua nói lại như thế. Nghe như chúng tôi là hai học sinh đang ở trong phòng thay đồ, nếu sự thật không phải chúng tôi đang nói về các nạn nhân bị giết hại, khiến cho không khí từ kiểu ấu trĩ chuyển sang lố bịch.

Speck nghe một hồi, lắc lắc đầu, cười khẩy rồi nói “Bọn chó chúng mày điên rồi. Giữa tao và chúng mày có một ranh giới rõ ràng”

Thấy hắn mở miệng như thế, tôi liền xoay sang hắn. “Mày làm cách nào mà chơi được tám em một lúc hả? Buổi sáng mày ăn cái quái gì vậy?”

Hắn nhìn chúng tôi như hai kẻ quê mùa ngờ nghệch. “Tao không chơi hết tụi nó. Tình tiết đó hoàn toàn bịa đặt. Tao chỉ chơi một đứa thôi”

“Người nằm trên ghế bành?” Tôi hỏi.

“Phải”

Dù thô tục và kinh tởm, nhưng những lời này bắt đầu cho tôi biết một điều gì đó. Trước hết, dù hắn thù hằn và hung hãn cỡ nào nhưng hắn không nghĩ bản thân thuộc dạng cơ bắp. Hắn biết hắn không thể kiểm soát hết những người phụ nữ đó cùng lúc. Hắn là kẻ cơ hội - hắn sẽ cưỡng bức một người cho vui. Và từ những tấm ảnh chụp hiện trường vụ án, chúng tôi biết người hắn chọn nằm úp mặt trên ghế bành. Với hắn, cô ấy đã là một thi thể. Hắn không cần có bất cứ tiếp xúc nào với cô ấy. Chúng tôi cũng có thể thấy hắn không phải một người có suy nghĩ tinh tế và trật tự. Không quá khó khăn để một vụ trộm đơn giản và thành công trở thành vụ án giết người tập thể này. Hắn thừa nhận hắn giết họ không phải vì cơn hứng tình mà để họ không thể chỉ chứng hắn. Khi các nữ y tá trẻ về nhà, hắn đưa một người vào phòng ngủ, một người vào phòng thay đồ, như thể hắn đang lùa ngựa vào chuồng. Hắn không biết làm sao để xử lý tình huống đó.

Thú vị thay, hắn tuyên bố vết thương khiến hắn phải đến bệnh viện rồi cuối cùng bị bắt không phải do hắn muốn tự sát mà là kết quả của một vụ ẩu đả ở quán rượu. Hắn không cần hiểu ý nghĩa của những điều mình đang nói, hắn cứ nói hắn muốn chúng tôi nghĩ hắn là một kẻ cơ bắp “born to raise hell” thay vì một kẻ thất bại đáng thương với cách thoát tội duy nhất là tự sát.

Lúc này, vừa lắng nghe, tôi vừa bắt đầu tư duy về những thông tin này. Chúng không chỉ cho tôi biết một chút về Speck mà còn cho tôi biết thêm về loại hình tội phạm này. Nói cách khác, sau này, khi thấy những cảnh tượng tương tự, tôi sẽ hiểu rõ hơn về kiểu người chịu trách nhiệm cho những cảnh tượng đó. Dĩ nhiên đó là mục đích chính của chương trình này.

Khi chúng tôi xử lý dữ liệu của cuộc nghiên cứu, tôi cố gắng không dùng những biệt ngữ và thuật ngữ hàn lâm, thuộc ngành tâm lý học mà dùng những khái niệm rõ ràng, sẽ có ích cho các nhân viên thi hành luật. Khi nói với một thanh tra địa phương rằng người anh ta đang tìm là một kẻ tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng nghe thì có vẻ thú vị, nhưng không có ích gì mấy để anh ta bắt được Đối tượng vô danh. Một trong những điểm khác biệt chính mà chúng tôi tìm ra là liệu một tội phạm tư duy có tổ chức hay vô tổ chức hay thể hiện cả hai. Những kẻ như Speck bắt đầu cho chúng tôi thấy đường nét của một tên tội phạm suy nghĩ không có lớp lang.

Speck kể với tôi tuổi thơ hắn nhiều vất vả. Lần duy nhất tôi thấy chúng tôi đã chạm đến cảm xúc của hắn là khi hỏi về gia đình hắn. Đến năm hai mươi tuổi, hắn đã bị bắt gần bốn mươi lần và đã cưới một cô bé mười lăm tuổi, có một đứa con với cô này. Năm năm sau, hắn bỏ cô ấy, giận dữ và cay đắng, hắn kể rằng hắn chưa bao giờ thực hiện được ý định giết cô ấy. Nhưng hắn đã giết vài phụ nữ khác, gồm một phục vụ trong một quán rượu tồi tàn, đã từ chối khi hắn tiếp cận. Hắn cũng trộm đồ và tấn công một cụ bà sáu mươi lăm tuổi vài tháng trước khi hắn giết các y tá. Nếu mọi chuyện diễn ra đúng như thế, việc cưỡng bức tàn nhẫn một phụ nữ lớn tuổi cho chúng tôi thấy hình ảnh một thanh niên, thậm chí có thể là một thiếu niên, không có nhiều kinh nghiệm, sự tự tin hoặc sự tinh tế. Speck hai mươi sáu tuổi khi thực hiện vụ cưỡng hiếp. Số tuổi của hắn tỉ lệ nghịch với sự tinh tế và tự tin của hắn. Đó chắc chắn là ấn tượng của tôi về Richard Speck. Tuy hơn hai mươi tuổi nhưng hành vi của hắn, thậm chí đối với một tên tội phạm, lại chỉ ở cấp độ vị thành niên.

Quản ngục muốn cho chúng tôi xem một thứ nữa trước khi đi. Ở Joliet, cũng như những nhà tù khác, một thử nghiệm tâm lý đang được tiến hành để xem liệu những màu sắc pastel nhẹ nhàng có làm giảm sự hung hãn hay không. Chương trình này dựa trên nhiều giả thuyết hàn lâm. Họ thậm chí còn đưa những cảnh sát giỏi môn cử tạ nhất vào những căn phòng sơn hồng hoặc vàng và nhận thấy họ không thể nâng nhiều như trước.

Thế là quản ngục đưa chúng tôi đến một căn phòng ở cuối dãy xà lim và nói “Sơn màu hoa hồng theo lý thuyết sẽ làm mất đi tính hung hãn ở một tên tội phạm bạo lực. Và nếu anh đưa chúng vào một căn phòng như thế, theo lý thuyết chúng sẽ rất trấn tĩnh và thụ động. Hãy nhìn vào căn phòng này, Douglas, và cho tôi biết anh thấy gì”

“Tôi thấy trên tường không có nhiều sơn lắm”, tôi quan sát. Anh ta trả lời: “Đúng vậy. Anh thấy không, bọn họ không thích những màu này. Họ lột lớp sơn trên tường xuống và ăn nó”

Jerry Brudos là một kẻ nghiện giày. Nếu chỉ thế thôi thì sẽ chẳng có vấn đề gì. Nhưng do nhiều tình huống, trong đó có người mẹ ác nghiệt, độc đoán và những ham muốn không thể chế ngự của riêng hắn, sở thích này đã đi quá xa - từ hơi là lạ đến chết chóc.

Jerome Henry Brudos sinh. ở Nam Dakota, năm 1939 và lớn lên ở California. Hồi năm tuổi, hắn tìm thấy một đôi giày cao gót sáng lấp lánh ở một bãi rác địa phương. Khi hắn đem đôi giày về nhà và mang thử, mẹ hắn giận dữ bảo hắn bỏ đôi giày đi. Nhưng hắn giữ lại, giấu cho đến khi mẹ hắn tìm thấy, mang nó đi thiêu rụi và phạt hắn. Năm hắn mười sáu tuổi, đang sống ở Oregon, hắn thường xuyên đột nhập vào các nhà hàng xóm và trộm giày nữ, cuối cùng là trộm đồ lót, tất cả được hắn cất giữ và mặc thử. Năm sau, hắn bị bắt vì tội tấn công một cô gái mà hắn đã lừa vào xe để có thể thấy cô ấy khỏa thân. Hắn được điều trị vài tháng trong bệnh viện tiểu bang tại Salem, ở đó, người ta không phát hiện hắn có gì nguy hiểm. Sau khi tốt nghiệp trung học, hắn tham gia Lục quân một thời gian ngắn trước khi bị cho xuất ngũ vì vấn đề tâm lý. Hắn vẫn đột nhập vào nhà người khác và trộm giày với đồ lót - đôi khi chạm mặt những phụ nữ ở đó và bóp cổ họ bất tỉnh - dù bấy giờ hắn đã cưới một cô gái mà không lâu trước đó hắn phát sinh quan hệ, vì cảm giác trách nhiệm. Hắn vào học trường nghề và trở thành thợ điện.

Sáu năm sau, năm 1968, khi đã là cha của hai đứa con và vẫn tiếp tục những cuộc săn lùng đồ lưu niệm ban đêm, Brudos đã mở cửa cho một cô gái mười chín tuổi tên Linda Slawson, người có hẹn bán bộ sách bách khoa và đã đến nhầm nhà. Chớp lấy cơ hội này, hắn lôi cô gái vào tầng hầm, đánh cô bằng một vật nặng và siết cổ. Khi cô gái đã chết, hắn cởi hết quần áo của cô ra và mặc thử những bộ trang phục mà hắn sưu tập được cho thi thể. Trước khi thủ tiêu thị thể bằng cách nhấn chìm trong lòng sông Willamette nhờ một cái hộp số xe hơi bỏ đi, hắn cắt bàn chân trái của thi thể, đặt nó vào một trong những chiếc giày cao gót quý giá của hắn và khóa nó trong tủ lạnh. Trong vài tháng tiếp theo, hắn giết người thêm ba lần, cắt phần ngực của họ để làm ra những cái khuôn nhựa. Hắn bị chỉ chứng bởi nhiều nữ sinh mà hắn đã tiếp cận để hẹn hò với cùng một câu chuyện, rồi bị bắt khi cảnh sát theo dõi một nơi là điểm hẹn. Cuối cùng hắn nhận tội khi rõ ràng lời bào chữa rằng hắn bị điên không có hiệu quả.

Bob Ressler và tôi thẩm vấn hắn trong “căn nhà” vĩnh viễn của hắn ở Trại Cải tạo bang Oregon ở Salem. Hắn to con, mặt tròn, lịch sự và rất hợp tác. Nhưng khi tôi hỏi hắn chi tiết cụ thể về các tội ác, hắn nói hắn ngất đi do hạ đường huyết và không nhớ bất cứ việc gì hắn có thể đã làm sau đó.

“Anh biết đó John, tôi bị hạ đường huyết và có thể đi trên mái một tòa nhà rồi rơi xuống mà không biết mình đang làm gì”

Có một điều thú vị là khi Brudos thú nhận với cảnh sát, hắn lại nhớ rõ để kể cho họ chi tiết sống động về các tội ác, nơi có thể tìm được những thi thể và bằng chứng. Hắn cũng vô tình buộc tội chính mình. Hắn treo xác của một nạn nhân bằng một cái móc trong ga-ra, cho thi thể mặc những trang phục và mang những đôi giày hắn thích, sau đó đặt một cái gương trên sàn, bên dưới cô ấy để có thể nhìn thấy bên trong váy cô ấy. Khi chụp một tấm hình, hắn vô tình chụp luôn hình ảnh phản chiếu của mình.

Dù hắn nói mình bị ngất do hạ đường huyết, nhưng Brudos cho thấy rất nhiều xu hướng của một tội phạm hành động có sắp xếp. Việc này có liên hệ với yếu tố ảo tưởng mà hắn đã thể hiện từ khi còn nhỏ. Khi hắn là một đứa trẻ vị thành niên sống ở nông trại của gia đình, hắn mơ tưởng đến việc bắt các cô gái vào trong một đường hầm, nơi hắn có thể buộc họ làm những gì hắn muốn. Có một lần, hắn lừa được một cô gái vào nhà kho rồi ra lệnh cho cô cởi bỏ quần áo để hắn chụp hình. Chúng tôi thấy loại hành vi này vẫn hiện diện trong những tội ác ở tuổi trưởng thành, nhưng khi là một đứa trẻ vị thành niên, hắn quá ngây thơ, đơn thuần, không nghĩ gì khác ngoài việc chụp hình các nạn nhân khỏa thân. Sau khoảng thời gian trong hầm, hắn nhốt cô gái vào một cái kho chứa bắp, rồi một lúc sau trở lại, mặc quần áo khác, tóc chải kiểu khác, giả vờ là Ed, anh trai sinh đôi của Jerry. Hắn thả cô gái đang sợ chết khiếp ra, giải thích rằng Jerry đang được điều trị bệnh nặng và xin cô đừng nói với ai nếu không hắn sẽ gặp rắc rối và lại chịu một “khoảng lùi” khác.

Điều chúng tôi thấy rõ ràng ở con người Jerome Brudos, cùng sự leo thang mang tính điển hình của những hoạt động, là sự hoàn thiện liên tục của ảo tưởng trong lòng hắn. Đây là phát hiện có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với những thứ hắn có thể trực tiếp nói với chúng tôi. Tuy Kemper và Brudos có mục tiêu và cách thức gây án rất khác nhau, nhưng chúng tôi thấy ở cả hai tên này - và rất nhiều tên khác - nỗi ám ảnh và “sự cải thiện” các chi tiết từ tội ác này đến tội ác kế tiếp cũng như cấp độ hành động này đến cấp độ hành động kế tiếp. Đối tượng nạn nhân của Kemper là những nữ sinh xinh đẹp mà trong tâm trí hắn có liên hệ với mẹ hắn. Brudos, kẻ kém tinh tế và thông minh hơn, thì hài lòng với những nạn nhân ngẫu nhiên. Nhưng nỗi ám ảnh với các chi tiết là như nhau và kiểm soát cuộc sống của cả hai.

Khi trưởng thành, Brudos bắt vợ hắn là Darcie phải mặc những trang phục mà hắn thích và tuân theo nghi thức chụp ảnh của hắn, dù cô ấy là một phụ nữ thật thà, không thích mạo hiểm, cảm thấy khó chịu với điều này và sợ hãi chồng mình. Hắn có những ảo tưởng phức tạp về việc làm một bộ quần áo để hành hạ người khác nhưng đành bằng lòng với ga-ra nhà hắn. Trong cái ga-ra đó là chiếc tủ đồng có khóa có thể trữ những bộ phận cơ thể hắn ưa thích. Khi Darcie nấu món thịt cho bữa tối, cô ấy phải cho Jerry biết mình muốn nấu loại thịt nào và hắn sẽ đem đến cho cô. Cô ấy thường than vãn với bạn bè là nếu cô ấy được nhìn vào tủ đông và tự chọn một loại thịt thì sẽ dễ dàng hơn nhiều. Nhưng dù bất tiện, cô ấy cũng không cho rằng nó quá kỳ lạ để đi tố cáo. Hoặc nếu có cảm thấy lạ, cô ấy cũng quá sợ, không dám hó hé.

Brudos là một ví dụ gần như điển hình cho một tên tội phạm bắt đầu bằng những vụ việc lạ lùng vô hại rồi phát triển ngày càng mạnh - từ lúc tìm các đôi giày, đến quần áo của em gái hắn, cuối cùng là đồ cá nhân của những phụ nữ . Ban đầu hắn chỉ trộm từ các dây phơi quần áo, rồi hắn bám đuôi các phụ nữ mang giày cao gót và đột nhập vào những ngôi nhà trống, sau đó hắn gan dạ hơn, sẵn sàng đối đầu với những người trong nhà. Ban đầu chỉ mặc các trang phục vào người là đã đủ với hắn, nhưng rốt cục hắn muốn nhiều hơn thế. Bên ngoài xã hội, hắn bắt đầu đề nghị các cô gái cho hắn chụp ảnh họ. Sau đó, khi một người từ chối thoát y, hắn liền đe dọa cô ấy bằng dao. Nhưng một khi hắn giết cô gái và cảm thấy hài lòng, hắn liền lặp đi lặp lại việc đó, mỗi lần như vậy, hắn lại tăng cường việc cắt xẻo thi thể nạn nhân.

Tôi không có ý nói rằng mọi người đàn ông thích thú với giày cao gót hay hưng phấn khi nghĩ đến những chiếc áo ngực và quần lót ren màu đen đều sẽ trở thành tội phạm. Nếu đúng vậy thì đa số chúng ta đều sẽ vào tù. Nhưng như đã thấy ở Jerry Brudos, loại sở thích tình dục đổi trụy này có thể suy thoái và cũng mang tính “tình huống”. Để tôi đưa ra một ví dụ.

Một thời gian trước, ở một nơi không xa chỗ tôi ở lắm, một vị hiệu trưởng trường tiểu học bị tố cáo có sở thích kỳ lạ với bàn chân của trẻ em. Ông bày ra một trò chơi để xem có thể cù lét bàn chân hoặc ngón chân các em trong bao lâu. Nếu các em chịu được một khoảng thời gian nhất định, ông sẽ cho các em tiền. Các vị phụ huynh chú ý khi một số em bắt đầu xài tiền ở trung tâm thương mại mà vốn dĩ các em không đủ khả năng. Khi hiệu trưởng bị phòng giáo dục đuổi việc, nhiều khu vực trong cộng đồng đã phản đối. Ông là người có ngoại hình ưa nhìn, có mối quan hệ bình thường với một cô bạn gái lâu năm, học sinh và phụ huynh rất yêu mến ông. Các giáo viên cho rằng ông bị định tội quá vội vàng. Kể cả nếu ông có sở thích kỳ quái với các ngón chân, về bản chất việc đó cũng vô hại. Ông chưa từng bạo hành em nào hay bảo các em cởi quần áo. Đây không phải kiểu người sẽ ra ngoài và bắt cóc trẻ em để phục vụ sở thích biến thái của mình.

Tôi đồng ý với nhận định đó. Cộng đồng không gặp nguy hiểm gì từ ông ở khía cạnh đó. Tôi đã gặp ông, đó là một người thân thiện và dễ mến. Nhưng lỡ như trong lúc chơi trò đó, một em bé có phản ứng mạnh, bắt đầu la hét hoặc đe dọa sẽ tố cáo ông ấy. Trong một phút hoảng loạn, ông có thể giết đứa bé chỉ vì không biết làm gì khác để kiểm soát tình hình. Khi nhân viên phòng giáo dục liên hệ với đơn vị của tôi, tôi nói rằng tôi nghĩ quyết định sa thải vị hiệu trưởng kia là đúng đắn.

Cũng trong khoảng thời gian đó, tôi được gọi đến Đại học Virginia vì các nữ sinh bị xô ngã và guốc của họ bị trộm mất trong lần nhốn nháo này. May là không ai bị thương nặng, cảnh sát địa phương và an ninh trường học xem các vụ việc này chỉ là một trò đùa. Tôi đến gặp họ và ban giám hiệu nhà trường, kể cho họ nghe về Brudos và những kẻ khác mà tôi đã có kinh nghiệm điều tra, thế là đến lúc về, tôi đã thành công với nhiệm vụ khiến họ cảm thấy sợ hãi trước Chúa. Thái độ của những người chịu trách nhiệm thay đổi đáng kể từ sau lần đó và tôi hài lòng mà nói rằng sau đó không có thêm tai nạn nào khác.

Nhìn vào quá trình phạm tội tăng tiến của Jerry Brudos, tôi phải tự hỏi rằng việc thấu hiểu và can thiệp vào các giai đoạn sớm nhất có thể ngăn chặn quá trình sau đó hay không.

Ở Ed Kemper, tôi cảm nhận mình nhìn thấy một tên sát nhân hàng loạt hình thành từ tuổi thơ đáng buồn. Trường hợp của Jerry Brudos thì có phần phức tạp hơn. Rõ ràng, sở thích bệnh hoạn của hắn đã xuất hiện từ rất sớm. Khi hắn mê đắm đôi giày cao gót tìm thấy ở bãi rác, hắn chỉ là một đứa trẻ. Nhưng một phần sự mê đắm của hắn có thể là do chưa từng thấy thứ nào như vậy trước đây. Chúng không giống những đôi giày mẹ hắn mang. Rồi khi bà ấy phản ứng gay gắt, chúng trở thành trái cấm với hắn. Không lâu sau đó, hắn trộm giày của cô giáo mình. Nhưng khi cô giáo phát hiện, hắn lại thấy ngạc nhiên vì phản ứng của cô. Thay vì quở trách cô giáo lại thắc mắc tại sao hắn làm thế. Vậy là khi đó hắn đã nhận được những thông điệp hỗn độn từ những phụ nữ trưởng thành về việc hắn làm, và sự thôi thúc từ bên trong dần dần trở thành một thứ tội lỗi và chết chóc hơn nhiều.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu có người nhận ra sự nguy hiểm trong quá trình phát triển của hắn và thử áp dụng các biện pháp hữu ích để ứng phó với cảm xúc của hắn? Đến thời điểm vụ giết người đầu tiên xảy ra thì đã quá trễ. Nhưng ở bất kỳ thời điểm nào trên con đường phạm tội của hắn, liệu có thể ngăn chặn quá trình đó không? Qua cuộc nghiên cứu và công việc của tôi kể từ lúc đó, tôi cực kỳ bi quan về bất cứ thứ gì có liên quan, dù là mờ nhạt nhất, đến khả năng cải tạo dành cho đa số kẻ sát nhân vì động cơ tình dục. Nếu có cách gì khả thi thì phải áp dụng từ giai đoạn rất sớm, trước khi chúng tiến đến cột mốc ảo tưởng trở thành hiện thực.

Khi Arlene chị tôi còn vị thành niên, mẹ tôi thường nói bà có thể hiểu rõ về những cậu chàng mà Arlene đang hẹn hò bằng cách hỏi họ xem họ cảm thấy thế nào về mẹ mình. Nếu họ bày tỏ tình yêu và sự kính trọng đối với mẹ họ thì điều đó có lẽ sẽ phản ánh trong mối quan hệ của họ với các phụ nữ khác trong cuộc đời họ. Nếu có ai nghĩ mẹ mình là đồ tồi, một con điếm hay kẻ độc đoán, khả năng cao là hắn sẽ đối xử với những phụ nữ khác theo cùng một cách.

Từ kinh nghiệm của bản thân, tôi thấy quan sát của mẹ tôi hoàn toàn chính xác. Ed Kemper đã gây ra một đợt hủy diệt ở Santa Cruz, bang California, trước khi gom đủ dũng khí để giết người phụ nữ hắn thực sự ghét. Monte Rissell, kẻ đã cưỡng bức và giết năm cô gái tuổi vị thành niên ở thành phố Alexandria, bang Virginia, kể rằng nếu hắn được phép đi cùng bố hắn thay vì mẹ hắn khi cuộc hôn nhân hỗn loạn nghiêm trọng của họ đổ vỡ, hắn nghĩ bây giờ hắn sẽ là một luật sư thay vì tù nhân chung thân ở Trại Cải tạo Richmond, nơi chúng tôi thẩm vấn hắn.

Với Monte Ralph Rissell, chúng tôi có thể bắt đầu ghép thêm nhiều mảnh của vấn đề. Hồi bảy tuổi, Monte là đứa nhỏ nhất trong ba đứa con khi mẹ hắn ly hôn và chuyển đến California. Ở đó bà ta tái hôn và dành nhiều thời gian với người chồng mới, để bọn trẻ bơ vơ, thiếu sự giám sát của người lớn. Monte bắt đầu vướng vào rắc rối từ sớm - vẽ hình tục tĩu lên tường ở trường, sử dụng ma túy và sau đó bắn một người anh em họ bằng một khẩu BB sau một vụ cãi cọ. Hắn nói rằng bố dượng đã đưa cho hắn khẩu súng và sau lần nổ súng bốc đồng đó, ông ta đập vỡ cây súng rồi đánh Monte liên tiếp bằng nòng súng.

Khi Monte mười hai tuổi, cuộc hôn nhân thứ hai tan vỡ và gia đình hắn quay lại Virginia. Monte kể rằng hắn nghĩ mình và chị gái mình là những người có lỗi. Từ đó về sau, con đường phạm tội của hắn ngày càng leo thang: lái xe không giấy phép, trộm cắp, trộm xe, rồi cưỡng hiếp.

Sự chuyển tiếp sang việc giết người của hắn cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thông tin. Hồi còn trung học, đang trong thời gian thử thách và được tư vấn tâm lý, một điều khoản của án thử thách, hắn nhận được một lá thư từ người bạn gái. Cô này học trên hắn một năm và hiện đang học đại học ở xa. Lá thư nói rằng mối quan hệ của họ đã chấm dứt. Hắn lập tức lên xe, chạy đến trường đại học, tại đó hắn thấy cô gái và người bạn trai mới.

Thay vì có hành động công khai hoặc trút giận lên người gây ra chuyện, hắn lái xe trở về nhà ở Alexandria, tự củng cố tinh thần bằng bia và cần sa, rồi ngồi hàng giờ liền trong xe ở bãi đậu của khu nhà hắn để nghiền ngẫm.

Khoảng hai hoặc ba giờ sáng, hắn vẫn còn ở đó, thì một chiếc xe xuất hiện, chỉ có một phụ nữ đang lái xe. Đột nhiên, Rissell quyết định lấy lại những gì vừa mất. Hắn tiến về phía chiếc xe của người phụ nữ, chĩa một khẩu súng ngắn vào cô này, ép cô đi với hắn đến một nơi vắng vẻ gần khu nhà.

Rissell rất bình tĩnh, thận trọng và tỉ mỉ khi kể lại hành động của mình cho Bob Ressler và tôi nghe. Tôi đã kiểm tra chỉ số IQ của hắn trước, hơn 120. Tôi không thấy nhiều kẻ ăn năn hối lỗi - trừ những tội phạm hiếm hoi đã tự thú hoặc tự sát - còn đâu sự ăn năn của chúng chủ yếu là vì bị bắt và bỏ tù. Nhưng hắn không cố giảm nhẹ các tội ác của mình, và đúng là tôi có cảm giác hắn đang khai thật. Và hành vi mà hắn vừa mô tả và sắp mô tả, chứa một số thông tin quan trọng.

Trước hết, vụ việc này xảy ra sau một sự kiện hay sự cố mang tính kích hoạt - về sau chúng tôi gọi đó là tác nhân gây căng thẳng. Chúng tôi sẽ còn thấy xu hướng này nhiều lần. Bất cứ cái gì cũng có thể là tác nhân gây căng thẳng mang tính kích hoạt; chúng ta không hài lòng vì những thứ khác nhau. Nhưng không có gì lạ khi hai tác nhân phổ biến nhất là mất việc và mất vợ hoặc bạn gái. (Tôi nói vợ hoặc bạn gái là vì, như đã nói, gần như mọi kẻ sát nhân dạng này đều là đàn ông, vì những lý do mà tôi sẽ trình bày cụ thể sau.)

Từ việc nghiên cứu những kẻ như Monte Rissell, chúng tôi nhận ra những tác nhân gây căng thẳng này là một phần quan trọng trong động cơ giết người hàng loạt mà khi trông thấy những trường hợp cụ thể ở hiện trường án mạng, chúng tôi tự tin dự đoán chính xác tác nhân gây căng thẳng là gì. Trong vụ giết người ở Alaska của Jud Ray mà tôi đã đề cập ở chương 4, thời điểm và chi tiết của vụ giết một phụ nữ và hai đứa con gái nhỏ đã giúp Jud dự đoán được tên sát nhân vừa mất bạn gái và công việc. Cả hai sự kiện tổn thương này là có thật. Thực ra, người bạn gái đã bỏ đối tượng để đến với sếp hắn, người này sau đó đã sa thải hắn để hắn biến khỏi cuộc đời họ.

Thế là vào cái đêm thấy bạn gái đi với một nam sinh, Monte Rissell đã thực hiện vụ giết người đầu tiên. Bản thân điều này đã đủ quan trọng. Nhưng sự việc diễn ra chính xác như thế nào và tại sao còn cho chúng tôi biết nhiều hơn.

Hóa ra, nạn nhân của Rissell ngẫu nhiên lại là một cô gái làng chơi, điều đó có hai ý nghĩa: cô ta không sợ quan hệ với người lạ như những người ngoài ngành và dù sợ, nhưng có lẽ cô ta có bản năng sinh tồn khá nhạy. Vì vậy, khi hắn ép cô đến chỗ vắng và rõ ràng định cưỡng bức cô khi dùng súng uy hiếp, cô gái này đã cố làm dịu tình hình bằng cách nâng váy lên và hỏi kẻ tấn công mình rằng hắn thích như thế nào.

“Cô ta hỏi tôi muốn làm như thế nào”, hắn kể. Nhưng thay vì làm hắn bớt căng thẳng hoặc mẫn cảm, hành vi này của cô gái chỉ khiến hắn nổi giận. “Giống như ả điếm đó đang cố kiểm soát tình hình. Có vẻ cô ta đã giả vờ lên đỉnh hai hay ba lần để xoa dịu hắn nhưng việc này chỉ làm mọi chuyện tệ hơn. Nếu cô ta có thể “tận hưởng” lần cưỡng bức này thì điều đó khiến hắn càng tin chắc phụ nữ đều là đồ bần tiện. Với hắn, cô ta không còn giống con người và rất dễ để suy luận đến chuyện giết cô ta.

Nhưng hắn đã thả một nạn nhân khác đi khi cô này nói đang chăm sóc cho người cha bị ung thư. Anh trai Rissell bị ung thư nên hắn thông cảm cho cô. Cô gái này trở nên gần gũi với hắn, khác cô gái làng chơi, hay người y tá mà Richard Speck đã tấn công khi cô bị trói, nằm úp mặt trên ghế.

Nhưng sự việc này lý giải tại sao rất khó đưa ra lời khuyên chung là nên làm gì trong tình huống bị cưỡng bức. Tùy vào tính cách và động cơ gây án của tên tội phạm, thuận theo hắn hoặc thuyết phục để được tha có lẽ là cách tốt nhất. Hoặc cách này có thể làm mọi chuyện tệ hơn. Phản kháng hoặc vùng vẫy đối với “kẻ cưỡng bức để chứng tỏ sức mạnh” có thể khiến hắn dừng lại. Phản kháng với “kẻ cưỡng bức do bị chọc giận”, trừ phi nạn nhân đủ khỏe hoặc nhanh để chạy thoát, có thể khiến nạn nhân bị giết. Cố gắng ra vẻ vụ việc mang lại khoái cảm, vì kẻ cưỡng bức tự ti về khả năng tình dục, không hẳn là chiến thuật tốt nhất. Đây là những tội ác sản sinh do giận dữ và thù địch, nhằm khẳng định sức mạnh. Khía cạnh tình dục chỉ mang tính ngẫu nhiên.

Sau khi cưỡng bức cô gái hắn bắt cóc khỏi bãi đậu xe, trong khi đang vô cùng giận dữ như vậy, Rissell chưa quyết định sẽ làm gì với nạn nhân. Nhưng lúc này cô gái lại làm điều mà nhiều người trong chúng ta cho là hành động hợp lý: cố gắng bỏ chạy. Việc này càng khiến hắn cảm thấy cô ấy đang kiểm soát tình hình chứ không phải hắn. Theo lời Rissell, mà chúng tôi trích lại trong một bài báo về nghiên cứu cho Tạp chí Tâm thần học Mỹ: “Cô ta chạy xuống khe núi. Lúc đó tôi tóm được cô ta. Tôi dùng tay khóa cổ cô ta. Cô ta to con hơn tôi. Tôi bắt đầu siết cổ cô ta… cô ta sẩy chân… chúng tôi lăn xuống đồi, rơi vào dòng nước. Tôi đập đầu cô ta vào cạnh một tảng đá và nhấn đầu cô ta xuống nước.”

Điều chúng tôi học được là hành vi của nạn nhân cũng quan trọng không kém hành vi của đối tượng trong việc phân tích tội ác. Đây là một nạn nhân có nguy cơ cao hay thấp? Cô ấy đã nói hay làm gì, và điều đó kích động đối tượng hay khiến hắn khựng lại? Tình huống giữa hai bên xảy ra vì lý do gì?

Nạn nhân mà Rissell lựa chọn đơn giản là những người ở gần hắn - trong và xung quanh khu vực hắn sinh sống. Và một khi hắn đã giết người, điều cấm kỵ đó đã không còn. Hắn nhận ra mình có thể thực hiện, tận hưởng việc đó, và thoát tội. Nếu được gọi đến để điều tra vụ này và mô tả tính cách của một Đối tượng vô danh, chúng tôi sẽ thấy hắn đã có chút kinh nghiệm - một tội nào đó không phải tội giết người - mà thực tế là đúng như vậy. Thẳng thắn mà nói, điều chúng tôi có thể đoán sai, ít nhất là vào lúc ban đầu, là độ tuổi. Ở thời điểm giết người lần đầu, Rissell chỉ mới mười chín tuổi. Chúng tôi có lẽ sẽ đoán hắn từ hơn hai mươi đến gần ba mươi.

Nhưng trường hợp của Rissell cho thấy tuổi tác chỉ là khái niệm tương đối trong công việc của chúng tôi. Năm 1989, Gregg McCrary thuộc đơn vị của tôi được mời đến vì một loạt vụ án giết hại các cô gái làng chơi vô cùng khó hiểu ở Rochester, New York. Hợp tác mật thiết với Đại úy Lynde Johnson và lực lượng cảnh sát hạng nhất, Gregg đã phát triển một bản mô tả chi tiết và đề nghị một chiến lược cuối cùng đã dẫn đến việc bắt giữ và khởi tố thành công Arthur Shawcross. Sau đó, khi chúng tôi xem xét bản mô tả thì phát hiện Gregg đã mô tả gần như chính xác tuyệt đối - chủng tộc, tính cách, loại hình công việc, đời sống gia đình, xe cộ, sở thích, sự quen thuộc với khu vực gây án, mối quan hệ với cảnh sát; hầu như mọi thứ, trừ độ tuổi. Greg đã dự đoán một người đàn ông từ hai mươi mấy đến ba mươi tuổi, đã quen với việc giết người. Thực tế Shawcross bốn mươi lăm tuổi. Hóa ra hắn đã ở tù mười lăm năm vì tội giết hai đứa trẻ (cũng như gái mại dâm và người già, trẻ em là mục tiêu dễ bị tấn công), đây là lý do hắn ngưng hoạt động. Trong những tháng được phóng thích có điều kiện, hắn tiếp tục ở nơi hắn đã dừng lại.

Giống Arthur Shawcross phạm tội khi đang trong thời gian được phóng thích, Monte Rissell cũng thế. Và giống Ed Kemper, hắn có thể thuyết phục một nhà tâm thần học rằng hắn đang rất tiến bộ trong khi sự thật thì hắn lại đang đi giết người. Việc này như một phiên bản bệnh hoạn của trò đùa rằng cần bao nhiều nhà tâm thần học để thay một cái bóng đèn - câu trả lời là một, nhưng chỉ khi cái bóng đèn muốn được thay. Các nhà tâm thần học và chuyên gia sức khỏe tâm thần đã quen với việc dựa trên sự tự báo cáo của đối tượng để theo dõi tiến triển của hắn và điều này cho thấy bệnh nhân muốn “khỏe” lại. Hóa ra việc lừa nhiều nhà tâm thần học lại vô cùng dễ dàng, và đa số người giỏi sẽ nói rằng yếu tố duy nhất dự đoán tính bạo lực tương đối đáng tin là quá khứ bạo lực. Một trong những điều mà tôi hy vọng chúng tôi đã đạt được từ cuộc nghiên cứu tính cách tội phạm và công việc của chúng tôi kể từ lúc đó là giúp cộng đồng sức khỏe tâm thần nhận thức được những hạn chế của việc tự báo cáo có liên quan đến hành vi phạm tội. Theo bản năng, một tên sát nhân hoặc cưỡng hiếp hàng loạt thích thao túng, ái kỷ và hoàn toàn ích kỷ. Hắn sẽ nói với quản chế hoặc nhà tâm thần học của trại giam bất cứ điều gì mà họ muốn nghe để ra khỏi tù hoặc không phải vào tù.

Khi Rissell mô tả những lần giết người sau của hắn, chúng tôi thấy có sự tiến triển đều đặn. Hắn cảm thấy phiền phức vì nạn nhân thứ hai liên tục chất vấn hắn: “Cô ta muốn biết tại sao tôi muốn làm việc đó; tại sao tôi chọn cô ta; chẳng phải tôi có bạn gái rồi sao; tôi có vấn đề gì; tôi định làm gì.”

Cô gái lái xe khi đang bị dí súng và cũng giống như nạn nhân đầu tiên, cô ấy cố gắng chạy trốn. Đến lúc này, hắn nhận ra mình phải giết cô gái, liên tiếp đâm vào ngực cô ấy.

Đến vụ giết người thứ ba, mọi chuyện trở nên khá dễ dàng. Hắn đã học được kinh nghiệm từ lần trước và không để cho nạn nhân này mở miệng nói chuyện; hắn bắt cô im lặng. “Khi đó tôi nghĩ… Mình đã giết hai người rồi. Thôi thì giết luôn người này.

Chính trong giai đoạn này của quá trình, hắn tha cho người phụ nữ đang chăm sóc người cha bị ung thư. Nhưng với hai vụ giết người cuối, dự định của hắn rất rõ ràng. Hắn dìm một người chết đuối, người còn lại thì hắn đâm chết - khoảng năm mươi đến một trăm nhát theo ước tính của hắn.

Như hầu hết những tội phạm khác, Rissell cho chúng tôi thấy hắn đã có ảo tưởng từ trước khi các vụ cưỡng hiếp hoặc giết người bắt đầu. Chúng tôi hỏi hắn lấy những ý tưởng này từ đâu. Hóa ra chúng xuất phát từ nhiều nguồn, nhưng một trong số đó, theo lời hắn, là do hắn đã đọc tin tức về David Berkowitz.

David Berkowitz, ban đầu được gọi là “Kẻ sát nhân 44 ly” sau đó là “Con trai của Sam” sau khi hắn bắt đầu gửi thư cho các báo trong giai đoạn hắn gieo rắc nỗi kinh hoàng khắp thành phố New York, như một kẻ ám sát hơn là sát nhân hàng loạt điển hình. Trong vòng gần một năm - từ tháng Bảy năm 1976 đến tháng Bảy năm 1977 - sáu thanh niên nam nữ bị giết và nhiều người khác bị thương, tất cả đều đậu xe ở khu vực dành cho các cặp tình nhân và bị bắn khi ngồi trong xe bằng một khẩu súng ngắn uy lực mạnh.

Giống một số kẻ sát nhân hàng loạt, Berkowitz là sản phẩm của một gia đình mà hắn được nhận nuôi nhưng lại không hay biết mãi đến lúc hắn gia nhập Lục quân. Hắn muốn được đến Việt Nam, nhưng kết quả là bị đưa sang Hàn Quốc, nơi hắn quan hệ tình dục lần đầu tiên, với một cô gái điếm và bị mắc bệnh lậu. Khi giải ngũ và trở về New York, hắn bắt đầu truy tìm mẹ ruột của mình và tìm được bà ấy đang sống với con gái - em gái của hắn - ở Long Beach, Long Island. Điều làm hắn ngạc nhiên và thất vọng là họ không muốn dính dáng gì tới hắn. Vốn hắn đã nhút nhát, bất an và giận dữ, bây giờ hắn bùng nổ thành một kẻ có khả năng giết người. Hắn đã học cách bắn súng hồi tham gia quân ngũ. Hắn đến Texas và lùng mua được một khẩu Charter Arms Bulldog - một khẩu súng ngắn 44 ly - một vũ khí uy lực giúp hắn cảm thấy mình to hơn, mạnh hơn. Hắn đến những bãi rác của New York và tập bắn bằng khẩu súng này, nhắm những mục tiêu nhỏ, đến khi thật chắc tay. Rồi sau đó, gã nhân viên bưu điện cấp thấp vào ban ngày này đi săn mồi vào ban đêm.

Chúng tôi thẩm vấn Berkowitz ở Nhà tù bang Attica, nơi hắn đang chịu án phạt hai mươi lăm năm đến chung thân cho sáu tội sát nhân sau khi điều đình nhận tội, nhưng rồi hắn lại chối hết mọi tội lỗi. Hắn là nạn nhân của một vụ tấn công đến gần chết trong tù vào năm 1979, cổ hắn bị cắt từ phía sau. Vết thương phải may năm mươi sáu mũi và vẫn chưa nhận diện được kẻ tấn công. Vì vậy, chúng tôi đến tìm hắn mà không báo trước, không muốn đẩy hắn vào tình cảnh hiểm nghèo thêm nữa. Với sự hợp tác của quản ngục, chúng tôi đã điền gần đây đủ bảng câu hỏi trước nên có sự chuẩn bị tốt.

Với cuộc gặp mặt này, tôi mang theo một số vật dụng hỗ trợ. Như đã nói, cha tôi là thợ in ở New York và Chủ tịch Công đoàn In ở Long Island, ông cho tôi nhiều tờ báo khổ nhỏ với những cái tít thật lớn về các vụ án của “Con trai của Sam”.

Tôi giơ lên tờ Daily News của New York, sau đó đẩy qua bên kia bàn cho hắn, nói: “David, một trăm năm sau, sẽ không ai nhớ Bob Ressler hay John Douglas là ai nhưng họ sẽ nhớ ‘Con trai của Sam. Thực ra, ngay lúc này đang có một vụ án ở Wichita, Kansas, một gã đã giết khoảng sáu phụ nữ và tự gọi mình là Kẻ siết cổ BTK. Những chữ này có ý nghĩa là ‘trói, hành hạ, giết. Anh biết không, hắn đang viết những lá thư và hắn nhắc đến anh trong đó. Hắn nói về David Berkowitz, ‘Con trai của Sam. Hắn muốn được như anh vì anh có sức mạnh này. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu hắn viết thư gửi đến đây cho anh”

Theo tôi, Berkowitz không phải kiểu người thu hút và hắn vẫn luôn muốn được công nhận hoặc đạt được những thành tựu cá nhân. Hắn có cặp mắt màu xanh sáng luôn cố gắng đoán xem người ta có thực lòng hứng thú với hắn không hay đang cười nhạo hắn. Khi hắn nghe những gì tôi nói, mắt hắn sáng lên.

“Anh không có cơ hội cho lời khai trước tòa”, tôi tiếp tục, “nên công chúng chỉ biết anh là một thằng khốn kiếp. Nhưng từ việc tiến hành thẩm vấn, chúng tôi biết còn có một mặt khác của câu chuyện, một mặt mẫn cảm hơn, một mặt bị tác động bởi quá khứ của anh. Và chúng tôi muốn anh có cơ hội kể cho chúng tôi nghe.

Hắn không tỏ vẻ thân thiện nhưng không chần chừ khi nói chuyện với chúng tôi. Hắn thừa nhận đã thực hiện hơn 2000 vụ phóng hỏa ở khu vực Brooklyn Queens, hắn ghi chú thật chi tiết những vụ này. Đó là điểm khiến hắn giống một kẻ ám sát - cô độc đắm mình vào việc lưu lại nhật ký hành trình đầy ám ảnh này. Một điểm khác là hắn không muốn có tiếp xúc cơ thể với nạn nhân. Hắn không phải kẻ cưỡng hiếp hay có sở thích quái dị. Hắn không tìm kiếm các món đồ lưu niệm. Bất cứ cáo buộc nào liên quan đến tình dục đều là từ hành động bắn người của hắn mà ra.

Những vụ phóng hỏa chủ yếu gây phiền toái như đốt các thùng rác hay công trình bỏ hoang. Như rất nhiều kẻ thích phóng hỏa, hắn sẽ thủ dàm khi ngắm nhìn ngọn lửa, rồi sau đó là khi đơn vị cứu hỏa đến để dập lửa. Việc phóng hỏa cũng phù hợp với hai yếu tố khác của “tam giác giết người”: tè dầm và ngược đãi động vật.

Tôi luôn nghĩ những cuộc thẩm vấn trong tù giống như công việc đãi vàng. Phần lớn những gì bạn tìm được chỉ là đống sỏi vô giá trị, nhưng nếu bạn tìm được một cục vàng thì mọi nỗ lực là hoàn toàn xứng đáng. Và đó chắc chắn là trường hợp của David Berkowitz.

Điều vô cùng thú vị với chúng tôi là khi hắn theo dõi khu vực dành cho các đôi tình nhân, thay vì đi sang phía ghế lái của xe - thường là phía người nam ngồi - vốn có vẻ nguy hiểm hơn, hắn lại vòng qua phía ghế phụ. Điều này cho thấy, khi hắn nổ súng vào chiếc xe đó trong tư thế điển hình của một cảnh sát, sự căm ghét và giận dữ của hắn nhắm vào người phụ nữ. Hàng loạt vết đạn bắn, cũng như vết dao đâm, cho thấy mức độ giận dữ. Người nam chỉ đơn giản là có mặt sai chỗ sai thời điểm. Có lẽ không hề có sự giao tiếp bằng mắt giữa kẻ tấn công và nạn nhân. Mọi thứ được thực hiện từ xa. Hắn có thể chiếm hữu người phụ nữ trong ảo tưởng của hắn mà không bao giờ phải tiếp xúc với cô ấy.

Thú vị không kém, một khối vàng khác đã trở thành một phần của nhận thức chung về những kẻ sát nhân hàng loạt là Berkowitz cho chúng tôi biết hắn đi săn mỗi đêm. Khi hắn không tìm được một nạn nhân ngẫu nhiên, một nạn nhân có mặt sai chỗ sai thời điểm, hắn sẽ quay lại những khu vực mà trước đó hắn từng thành công. Hắn sẽ quay lại một hiện trường án mạng (nhiều kẻ khác quay lại nơi vứt xác) và nơi chôn cất rồi gần như lăn lộn trên đất, nhớ lại ảo tưởng đó hết lần này đến lần khác.

Đây cũng là lý do mà những kẻ sát nhân hàng loạt khác chụp ảnh hoặc quay phim các vụ án của hắn. Sau khi nạn nhân đã chết và thi thể đã bị vứt đi, chúng muốn có thể hồi tưởng cảm giác hưng phấn đó, tái diễn ảo tượng của mình, lặp đi lặp lại nhiều lần. Berkowitz không cần trang sức, đồ lót, các bộ phận cơ thể hay bất kỳ đồ lưu niệm nào. Hắn nói rằng hồi tưởng đã là đủ với hắn. Sau đó hắn sẽ về nhà, thủ dâm và nhớ lại ảo tưởng của hắn.

Chúng tôi sẽ sử dụng thông tin quý giá này thật hiệu quả. Những người làm trong ngành thi hành luật vẫn luôn phán đoán kẻ sát nhân có trở lại hiện trường nơi hắn gây án, nhưng không thể chứng minh hay giải thích nguyên nhân. Từ những đối tượng như Berkowitz, chúng tôi bắt đầu khám phá ra phán đoán đó là đúng, tuy không phải lúc nào cũng vì những lý do mà chúng tôi hoài nghi. Sự ăn năn chắc chắn là một nguyên nhân. Như Berkowitz đã chứng tỏ, có thể còn nhiều lý do khác. Khi đã hiểu tại sao một loại tội phạm nào đó có thể quay lại hiện trường, chúng ta có thể bắt đầu lên kế hoạch đối phó với hắn.

Cái tên “Con trai của Sam” bắt nguồn từ một ghi chú sơ sài gửi cho đội trưởng cảnh sát Joseph Borelli, vị này sau đó trở thành chánh thanh tra Sở Cảnh sát New York. Tờ ghi chú được tìm thấy gần xe của hai nạn nhân Alexander Esau và Valentina Suriani ở khu Bronx. Như những người khác, hai nạn nhân này bị giết từ tầm bắn trực xạ. Tờ ghi chú viết:

Tôi vô cùng đau đớn khi ông gọi tôi là kẻ ghét phụ nữ. Tôi không phải. Nhưng tôi là một con quái vật. Tôi là “con trai của Sam”. Tôi là một thằng nhóc hư đốn.

Khi bố Sam say, ông ta trở nên cục súc. Ông ta đánh đập các thành viên trong gia đình. Đôi khi ông ta trói tôi ở phía sau nhà. Những lúc khác ông ta nhốt tôi trong ga-ra. Sam thích uống máu.

“Ra ngoài và giết người đi”, bố Sam ra lệnh.

Đằng sau ngôi nhà của chúng tôi, có một số người đã chết. Chủ yếu là những người trẻ - bị cưỡng hiếp và giết hại - máu của họ đã cạn - lúc này chỉ còn lại xương.

Bố Sam cũng nhốt tôi trên gác mái. Tôi không thể ra khỏi đó nhưng tôi nhìn ra cửa sổ gác mái và ngắm thế giới trôi qua.

Tôi cảm giác mình như một kẻ bên lề. Tôi ở một bước sóng khác với mọi người - được lập trình để giết chóc.

Nhưng, để ngăn tôi thì ông phải giết tôi. Tất cả cảnh sát, hãy chú ý: Bắn tôi trước - bắn để giết cho bằng được, còn không thì tránh đường cho tôi nếu không mấy người sẽ chết!

Bố Sam giờ già rồi. Ông ta cần máu để duy trì tuổi trẻ. Ông ta bị đau tim nhiều lần quá. “A, ta đau quá, con trai ơi.”

Người tôi nhớ nhất là công chúa xinh đẹp của mình. Nàng đang nghỉ ngơi trong ngôi nhà phụ nữ của chúng tôi. Nhưng tôi sẽ gặp nàng sớm thôi.

Tôi là “con quái vật” - “con quỷ Beelzebub” - kẻ khổng lồ mũm mĩm.

Tôi thích đi săn. Lảng vảng trên các con phố, tìm kiếm những kẻ dễ tấn công - miếng thịt ngon lành. Phụ nữ ở Queens là xinh đẹp nhất. Tôi phải thu hút họ. Tôi sống để đi săn - cuộc sống của tôi. Máu cho bố.

Ngài Borelli, tôi không muốn giết chóc nữa. Không thưa ngài, không muốn nữa nhưng tôi phải giết, “vì danh dự của bố mày”.

Kẻ tầm thường này đã trở nên nổi tiếng khắp cả nước. Hơn một trăm thanh tra tham gia một tổ gọi là Lực lượng Đặc nhiệm Omega. Những lần liên lạc lung tung, điên rồ tiếp diễn, trong đó có những lá thư gửi cho các tờ báo và nhà báo như Jimmy Breslin. Cả thành phố chìm trong nỗi khiếp sợ. Ở bưu điện, hắn kể, hắn cảm thấy khoái trá vô cùng khi nghe mọi người nói về Con trai của Sam và không biết họ đang ở chung phòng với hắn.

Vụ tấn công tiếp theo xảy ra ở Bayside, Queens, nhưng cả hai người nam và nữ đều sống sót. Năm ngày sau, một cặp đôi ở Brooklyn không may mắn như vậy. Stacy Moskowitz chết tại chỗ. Robert Violante sống sót, nhưng bị mù do các vết thương.

Cuối cùng Con trai của Sam bị bắt vì đậu chiếc Ford Galaxy quá gần một trụ nước cứu hỏa vào đêm xảy ra vụ giết người cuối cùng. Một nhân chứng trong khu vực nhớ rằng có nhìn thấy một cảnh sát viết giấy phạt, và khi điều tra, chiếc vé phạt dẫn tới David Berkowitz. Khi bị cảnh sát chất vấn, hắn chỉ nói: “Thôi được, các ông đã bắt được tôi”.

Sau khi bị bắt, Berkowitz giải thích “Sam” là để chỉ hàng xóm của hắn, Sam Carr. Harvey, con chó tha mồi Labrador màu đen của người này trong mắt David có vẻ là con quỷ 3.000 năm tuổi đã ra lệnh cho hắn giết người. Ở một thời điểm, hắn đã bắn con chó bằng một khẩu súng lục ổ quay 22 ly, nhưng con vật sống sót. Hắn lập tức được xác định là bị tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng bởi phần lớn chuyên gia trong cộng đồng tâm thần học, toàn bộ nguyên do đều dựa vào những lá thư của hắn. “Công chúa xinh đẹp” trong lá thư đầu tiên của hắn có vẻ là một trong các nạn nhân, Donna Lauria, Sam đã hứa sẽ cho hắn linh hồn của cô sau khi cô chết.

Với tôi, điều quan trọng nhất ở những lá thư, hơn bất cứ nội dung nào trong thư, là cách mà chữ viết của hắn thay đổi. Trong lá thư đầu tiên, chữ viết gọn gàng và trật tự, sau đó dần dần xấu đi đến mức gần như không thể đọc được. Những từ viết sai chính tả ngày càng nhiều hơn. Cứ như có hai người khác nhau viết những lá thư đó. Tôi cho hắn xem sự khác biệt này. Hắn thậm chí còn không nhận ra. Nếu lúc đó tôi mô tả về hắn, ngay khi nhìn thấy sự thay đổi trong chữ viết, tôi sẽ biết hắn là kẻ yếu ớt, dễ phạm sai lầm, những sai lầm ngớ ngẩn như đậu xe phía trước một trụ nước cứu hỏa, khiến cảnh sát dễ dàng bắt được hắn. Điểm yếu ớt đó sẽ là thời cơ để tiến hành một chiến lược vây bắt chủ động.

Tôi tin Berkowitz chịu kể hết với chúng tôi là vì những việc chúng tôi đã làm để chuẩn bị cho vụ án này. Khi mới vào cuộc thẩm vấn, chúng tôi nói đến chủ đề con chó 3.000 năm tuổi ra lệnh cho hắn phạm tội. Cộng đồng tâm thần học đã chấp nhận câu chuyện này là đáng tin và nghĩ nó giải thích được động cơ của hắn. Nhưng tôi biết câu chuyện đó chỉ ra đời sau khi hắn bị bắt. Đó là cách để hắn thoát tội. Vì vậy, khi hắn bắt đầu dài dòng kể lể về con chó này, tôi chỉ nói: “David, thôi nói nhảm đi. Con chó không liên quan gì đến chuyện đó cả.”

Hắn cười, gật đầu thừa nhận. Chúng tôi đã đọc một số bài bình luận từ khía cạnh tâm lý học về các bức thư. Có một bài so sánh hắn với nhân vật Jerry trong vở kịch Câu chuyện sở thú của Edward Albee. Một bài khác lại cố gắng hiểu tâm bệnh của hắn bằng cách phân tích từng từ một trong các lá thư. Nhưng khi đó Daivd đang ném cho họ một cú bóng vòng, tất cả họ đều vung gậy và đập hụt.

Có một sự thật đơn giản là David Berkowitz tức giận vì cách mẹ hắn và những phụ nữ khác trong đời đối xử với hắn, và hắn cảm thấy tự ti khi ở gần họ. Ảo tưởng chiếm hữu họ bùng nổ thành một thực tế chết chóc. Điều quan trọng với chúng tôi là các chi tiết.

Với khả năng quản lý tài ba khoản trợ cấp NIJ của Bob Ressler và sự tổng hợp các cuộc thẩm vấn của Ann Burgess, đến năm 1983, chúng tôi đã hoàn thành một nghiên cứu chi tiết trên 36 đối tượng. Chúng tôi cũng thu thập dữ liệu từ 118 nạn nhân của chúng, chủ yếu là phụ nữ.

Từ cuộc nghiên cứu, chúng tôi đã hình thành một hệ thống để có thể hiểu và phân loại tội phạm bạo lực dễ hơn. Lần đầu tiên, chúng tôi có thể bắt đầu liên kết những gì đang diễn ra trong tâm trí một kẻ tội phạm với chứng cứ hắn để lại ở hiện trường. Điều đó giúp việc truy tìm, bắt giữ và khởi tố chúng hiệu quả hơn. Nghiên cứu bắt đầu trả lời cho những câu hỏi có từ lâu về bệnh điên và “Loại người nào có thể làm ra chuyện như vậy?”

Năm 1988, chúng tôi mở rộng các kết luận của mình, viết thành một cuốn sách với tựa đề Tội phạm giết người vì tình dục: Các xu hướng và động cơ, do Lexington Books xuất bản. Khi tôi viết những dòng này, cuốn sách đã được in đến lần thứ bảy. Nhưng dù chúng tôi học hỏi được bao nhiêu đi chăng nữa thì như chúng tôi thừa nhận trong phần kết luận của mình, “nghiên cứu này làm nảy sinh nhiều câu hỏi hơn là trả lời chúng”.

Hành trình đi vào tâm trí của tội phạm bạo lực vẫn đang tiếp diễn. Theo định nghĩa, sát nhân hàng loạt là những kẻ giết người “thành công”, biết học hỏi từ kinh nghiệm của bản thân. Chúng tôi chỉ có thể bảo đảm mình luôn học hỏi nhanh hơn chúng mà thôi.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.