Đặt mình vào vị trí của tên thợ săn.
Đó là điều tôi phải làm. Hãy nghĩ đến một trong những bộ phim về thế giới tự nhiên: một con sư tử trên bình nguyên Serengeti ở châu Phi. Nó thấy một bầy linh dương đông đúc bên một vũng nước. Nhưng bằng cách nào đó - chúng ta có thể thấy điều đó trong mắt nó - con sư tử chọn ra một con trong cả ngàn con linh dương. Nó đã tự rèn luyện để nhìn ra sự yếu ớt, khả năng dễ bị tấn công, một điều gì đó ở một cá thể của bầy linh dương biến cá thể đó trở thành con mồi béo bở nhất.
Với một số người nhất định cũng thế. Nếu tôi là một trong số họ, tôi sẽ đi săn mỗi ngày, tìm kiếm nạn nhân, tìm kiếm nạn nhân cơ hội[1]. Giả sử tôi đang ở trong một khu mua sắm có hàng ngàn người. Tôi vào khu trò chơi điện tử và khi lướt qua hơn năm mươi đứa trẻ đang chơi ở đó, tôi phải là một thợ săn, tôi phải là người mô tả nhân dạng[2], tôi phải mô tả được nhân dạng của con mồi tiềm năng đó. Tôi phải suy ra ai trong số năm mươi đứa trẻ này yếu đuối và có khả năng trở thành nạn nhân. Tôi phải xem cách ăn mặc của đứa trẻ. Tôi phải tự rèn luyện khả năng phát hiện các manh mối thầm lặng mà đứa trẻ đang để lộ. Và tôi phải rất, rất giỏi thì mới có thể làm tất cả những điều đó trong chớp nhoáng. Sau đó, khi đã quyết định, khi đã hành động, tôi phải biết cách đưa đứa trẻ ra khỏi khu mua sắm một cách lặng lẽ và không gây nghi ngờ khi cha mẹ đứa trẻ có thể chỉ ở cách đó hai cửa hàng. Tôi không được phép phạm bất cứ sai lầm nào.
Chính sự phấn khích của chuyến đi săn khiến những kẻ này phạm tội. Nếu bạn có thể có phản ứng da điện[3] khi đọc tài liệu về một trong những gã này, lúc hắn tập trung vào nạn nhân tiềm năng của mình, tôi nghĩ bạn cũng sẽ có phản ứng tương tự khi nhìn con sư tử đó trong thế giới hoang dã. Và dù chúng ta đang nói đến những kẻ săn trẻ em, thiếu nữ hay người già, gái điếm hay bất kỳ nhóm đối tượng khả định nào khác - hay những kẻ có vẻ không có đối tượng ưa thích cụ thể nào - cũng không quan trọng. Tất cả chúng đều giống nhau, theo nhiều cách.
Nhưng chính những điểm khác biệt của chúng, và những manh mối về phẩm chất cá nhân mà chúng để lại đã dẫn lối cho chúng tôi đến một vũ khí mới trong việc diễn giải những loại tội ác bạo lực nhất định, cũng như truy tìm, bắt giữ và khởi tố kẻ thủ ác. Tôi dành phần lớn sự nghiệp đặc vụ FBI của mình để nỗ lực phát triển thứ vũ khí đó, và đó là nội dung của cuốn sách này. Trong mọi vụ hung án kể từ buổi đầu của văn minh, vẫn luôn tồn tại câu hỏi cơ bản, đầy nhức nhối đó: Loại người nào có thể làm ra chuyện như thế? Công việc mô tả nhân dạng và phân tích hiện trường phạm tội mà chúng tôi thực hiện tại Đơn vị Hỗ trợ điều tra của FBI sẽ cố gắng trả lời câu hỏi đó.
Hành vi phản ánh tính cách.
Không phải lúc nào cũng dễ dàng, và không bao giờ dễ chịu, khi đặt mình vào vị trí của những gã đó - hay trong tâm trí chúng. Nhưng đó là việc mà tôi và các đồng nghiệp phải làm. Chúng tôi phải cố gắng cảm nhận cảm xúc của từng tội phạm.
Mọi thứ chúng tôi nhìn thấy tại một hiện trường vụ án đều cho chúng tôi biết chút gì đó về đối tượng vô danh - hay UNSUB theo ngôn ngữ của ngành cảnh sát - đã thực hiện hành vi phạm tội. Bằng cách nghiên cứu càng nhiều vụ án càng tốt và nói chuyện với các chuyên gia - cũng chính là kẻ thủ ác - chúng tôi đã học được cách diễn giải những manh mối này như cách một bác sĩ đánh giá những triệu chứng khác nhau để chẩn đoán một bệnh hay tình trạng cụ thể. Và cũng như việc một bác sĩ có thể bắt đầu hình thành chẩn đoán của mình sau khi nhận ra vài khía cạnh của một căn bệnh mà họ từng thấy, chúng tôi có thể đưa ra nhiều kết luận khác nhau khi nhìn thấy những đường nét bắt đầu hiện ra.
Có một lần vào đầu những năm 1980, khi tôi đang chủ động phỏng vấn những tên sát nhân trong tù cho nghiên cứu chuyên sâu của chúng tôi, tôi cùng những tội phạm bạo lực ngồi thành một vòng tròn trong Trại Cải tạo bang Maryland cổ xưa, bằng đá, theo phong cách Gothic, ở Baltimore. Mỗi kẻ là một trường hợp thú vị - một kẻ giết cảnh sát, một kẻ giết trẻ em, một kẻ buôn ma túy và những kẻ thi hành luật - nhưng tôi quan tâm nhất đến việc phỏng vấn một kẻ cưỡng hiếp, giết người về cách thức hành động của hắn nên tôi hỏi những tù nhân khác xem họ có biết ai ở nhà tù mà tôi có thể nói chuyện không.
“Có, có thằng Charlie Davis”, một trong các tù nhân nói, nhưng mấy kẻ còn lại đều cho rằng hắn sẽ không chịu nói chuyện với đặc vụ liên bang. Một người đi tìm hắn trong sân nhà tù. Điều làm mọi người ngạc nhiên là Davis thật sự đến và tham gia vào cuộc nói chuyện, có lẽ vì tò mò hoặc buồn chán chứ chẳng vì lý do nào khác. Chúng tôi có một lợi thế trong nghiên cứu này, đó là tù nhân có nhiều thời gian và chẳng có gì nhiều để làm với ngần đó thời gian.
Thường thì khi tiến hành phỏng vấn trong tù - và điều này luôn đúng ngay từ đầu - chúng tôi cố gắng tìm hiểu trước về đối tượng phỏng vấn càng nhiều càng tốt. Chúng tôi xem xét hồ sơ của cảnh sát, ảnh chụp hiện trường vụ án, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản tại tòa; bất cứ thứ gì có thể cung cấp thông tin về động cơ hoặc cá tính của đối tượng. Đó cũng là cách chắc chắn nhất để bảo đảm đối tượng sẽ không chiêu trò vì lợi ích cá nhân hoặc chỉ đang tự mua vui cho bản thân, mà sẽ nói thẳng ra với người điều tra. Nhưng trong trường hợp này, rõ ràng tôi chưa chuẩn bị nên tôi thừa nhận luôn điều đó và cố gắng biến nó thành lợi thế cho mình.
Davis là một gã to con dềnh dàng, cao khoảng 1m90, tuổi tác đầu ba mươi, râu cạo nhẵn nhụi, ăn vận gọn gàng. Tôi mở lời bằng cách nói: “Anh có lợi thế so với tôi, Charlie. Tôi không biết anh đã làm những gì.
“Tôi đã giết năm người”, hắn trả lời.
Tôi yêu cầu hắn miêu tả các hiện trường vụ án cũng như những gì hắn đã làm với các nạn nhân. Lúc này tôi mới biết, hóa ra Davis từng làm tài xế xe cấp cứu bán thời gian. Vậy nên việc hắn sẽ làm là siết cổ người phụ nữ, đặt xác cô ấy ở vệ đường trong khu vực hắn phụ trách lái xe, thực hiện một cuộc gọi nặc danh sau đó trả lời cuộc gọi đó và nhặt thi thể lên. Không một ai biết rằng khi hắn đặt nạn nhân lên cáng thì kẻ thủ ác đang có mặt ngay đó, giữa mọi người. Chính sự kiểm soát và sắp đặt vụ việc ở mức độ này là điều thực sự làm hắn hưng trí và phấn khích tột cùng. Bất cứ điều gì tương tự mà tôi có thể học hỏi về kỹ thuật đều cực kỳ đáng giá.
Hành động siết cổ cho tôi biết hắn là kẻ giết người bộc phát, rằng suy nghĩ ban đầu của hắn là cưỡng hiếp nạn nhân. Tôi nói với hắn: “Anh biết rất rõ về cảnh sát. Anh thích làm cảnh sát, thích được ở vị trí có thực quyền thay vì làm một công việc nhàm chán kém xa khả năng của anh. Hắn cười, nói rằng cha hắn từng là trung úy cảnh sát.
Tôi đề nghị hắn miêu tả cách thức hành động: lấy ví dụ hắn theo dõi một cô gái trẻ có ngoại hình xinh xắn, thấy cô ấy đánh xe vào bãi đậu của một nhà hàng chẳng hạn. Thông qua những người quen trong ngành cảnh sát của cha mình, hắn có thể kiểm tra biển số xe. Sau đó, khi đã biết tên chủ xe, hắn sẽ gọi cho nhà hàng để chuyển lời nhắn rằng cô ấy quên tắt đèn xe. Khi cô gái bước ra ngoài, hắn bắt cóc cô - đẩy cô vào xe hắn hoặc xe cô, còng tay cô rồi lái đi.
Hắn miêu tả năm vụ sát hại theo thứ tự, gần như đang hồi tưởng những chuyện tốt đẹp. Kể đến vụ cuối cùng, hắn đề cập rằng hắn đã để cô gái ngồi ở ghế trước và che người cô ấy lại, một chi tiết mà lần đầu tiên hắn nhớ ra.
Tại thời điểm đó, tôi xoay chuyển tình thế một chút. Tôi bảo: “Charlie, để tôi nói anh nghe vài điều về bản thân anh: Anh gặp rắc rối trong các mối quan hệ với phụ nữ. Anh gặp khó khăn về tài chính khi anh giết người đầu tiên. Khi đó anh đã gần ba mươi tuổi và anh biết khả năng của mình vượt trội hơn hẳn công việc anh đang làm nên mọi thứ trong cuộc đời anh thật chán chường và không thể kiểm soát”
Hắn chỉ gật đầu. Cho đến lúc đó thì mọi chuyện vẫn tốt. Tôi chưa nói gì quá khó để phỏng đoán.
“Khi đó anh uống rất nhiều rượu”, tôi nói tiếp. “Anh nợ tiền. Anh cãi nhau với những người phụ nữ mà anh sống chung. [Hắn chưa kể với tôi là hắn có sống với ai đó, nhưng tôi khá chắc là có.] Vào những đêm tồi tệ nhất, anh sẽ ra ngoài đi săn. Anh sẽ không trả đũa bạn gái cũ của mình nên anh phải xả cơn tức đó lên người khác”
Có thể thấy ngôn ngữ cơ thể của Davis đang dần thay đổi, trở nên cởi mở hơn. Vì vậy, với những thông tin ít ỏi có được, tôi tiếp tục: “Nhưng nạn nhân cuối cùng này lại là một vụ giết người nhẹ nhàng hơn nhiều. Cô ấy khác với những người còn lại. Anh để cô ấy mặc lại quần áo sau khi cưỡng hiếp. Anh trùm đầu cô ấy. Anh không làm thế với bốn nạn nhân trước. Không như những người kia, anh cảm thấy không thoải mái với nạn nhân này”
Khi nhóm tội phạm bắt đầu lắng nghe kỹ hơn, bạn biết bạn đã có chút tiến triển. Tôi học được điều này từ những cuộc phỏng vấn tại nhà giam và có thể tận dụng hết lần này đến lần khác trong các tình huống thẩm vấn. Tôi thấy mình đã hoàn toàn thu hút sự chú ý của hắn. “Cô ấy nói với anh điều gì đó khiến anh cảm thấy giết cô ấy thì thật tồi tệ, nhưng anh vẫn giết”
Đột nhiên, mặt hắn đỏ gay. Dường như hắn đang rơi vào trạng thái xuất thần và tôi có thể thấy hắn đang hồi tưởng hiện trường lúc đó. Hắn chần chừ nói với tôi rằng cô gái ấy bảo chồng cô ấy có vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và cô ấy thấy lo cho chồng; anh chồng đang bệnh và có lẽ sắp chết. Đây có thể là mưu mẹo của cô gái, hoặc không - tôi không tài nào biết được. Nhưng rõ ràng điều đó đã tác động đến Davis.
“Nhưng khi đó tôi không cải trang. Cô ta biết tôi là ai nên tôi phải giết cô ta.”
Tôi ngừng lại một lúc rồi hỏi: “Anh đã lấy thứ gì đó của cô ấy, phải không?”
Hắn lại gật đầu, sau đó thừa nhận hắn đã lục lọi bóp của cô gái. Hắn lấy ra tấm hình cô ấy chụp với chồng và con trong dịp Giáng sinh và giữ nó.
Tôi chưa từng gặp hắn nhưng tôi bắt đầu hiểu được hắn một cách rõ ràng nên tôi hỏi: “Anh đã tới nghĩa trang, phải không Charlie?” Hắn đỏ mặt, điều này cũng xác nhận phán đoán của tôi là hắn có theo dõi báo chí về vụ việc nên biết nạn nhân của mình được chôn ở đâu. “Anh tới đó vì cảm thấy không hề dễ chịu về lần giết người này. Và anh mang theo một thứ tới nghĩa trang, anh đặt nó trên nấm mộ đó”
Những tù nhân khác hoàn toàn im lặng, lắng nghe hết sức chăm chú. Họ chưa từng thấy Davis như vậy. Tôi lặp lại: “Anh mang thứ gì đó tới ngôi mộ. Cái gì vậy, Charlie? Anh mang tấm ảnh đó tới, phải không?” Hắn lại gật, rồi gục đầu xuống.
Đây không hẳn là trò ảo thuật lôi con thỏ ra từ cái nón như những tù nhân khác nhìn nhận. Rõ ràng tôi đang phán đoán, nhưng những phán đoán của tôi dựa trên nhiều kiến thức, nghiên cứu và kinh nghiệm mà tôi và các đồng nghiệp đã ghi chép vào lúc đó và tiếp tục thu thập. Ví dụ, chúng tôi nghiệm ra điều người ta thường nói rằng những kẻ giết người đến thăm mộ nạn nhân thường đúng sự thật, nhưng không nhất định vì những lý do mà chúng ta đã nghĩ lúc đầu.
Hành vi phản ánh tính cách.
Một trong những lý do khiến công việc của chúng tôi thậm chí là cần phải liên quan đến bản chất hay thay đổi của tội ác bạo lực. Chúng ta đều biết về những vụ giết người liên quan đến ma túy từng làm náo loạn hầu hết các thành phố ở nước ta, những vụ án liên quan đến súng đã trở thành chuyện thường ngày và là nỗi hổ thẹn của cả quốc gia. Nhưng đa số các vụ phạm tội, đặc biệt là những vụ bạo lực nhất, xảy ra giữa những người có quen biết nhau theo cách nào đó.
Hiện nay, chúng ta không còn thấy nhiều vụ việc như thế. Khoảng những năm 1960, tỷ lệ phá án giết người ở đất nước này là hơn 90%. Nhưng chúng ta không còn thấy tỷ lệ đó nữa. Hiện nay, bất chấp nhiều tiến bộ ấn tượng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, bất chấp thời đại máy tính đã đến, bất chấp ngày càng nhiều sĩ quan cảnh sát được đào tạo tốt hơn và có khả năng tốt hơn, tỷ lệ tội phạm giết người vẫn đang tăng và tỷ lệ phá án đang giảm. Ngày càng nhiều tội ác do “người lạ” thực hiện và nhắm vào “người lạ”, và trong nhiều vụ việc, chúng ta không biết động cơ là gì để điều tra, ít nhất là không biết động cơ rõ ràng hay “hợp lý” nào.
Ngày trước, đa số các vụ giết người và tội phạm bạo lực tương đối dễ lĩnh hội đối với các nhân viên thi hành luật. Chúng là kết quả của việc biểu lộ thái quá những cảm xúc mà tất cả chúng ta đều có: sự giận dữ, lòng tham, sự ghen ghét, lợi ích, báo thù. Một khi vấn đề cảm xúc này được giải quyết, tội ác hoặc tội ác liên hoàn sẽ kết thúc. Ai đó sẽ chết nhưng chỉ có thế và thường thì cảnh sát biết mình đang tìm ai và cái gì.
Nhưng có một loại tội phạm bạo lực mới nổi lên trong những năm gần đây - những tội phạm gây án hàng loạt, những kẻ thường không dừng lại cho đến khi bị bắt hoặc bị giết, những kẻ học hỏi từ kinh nghiệm và thường ngày càng giỏi gây án, liên tục hoàn thiện kịch bản của mình từ tội ác này đến tội ác khác. Tôi nói “nổi lên” là vì có lẽ hắn vẫn luôn tồn tại ở mức độ nào đó, mãi từ thập niên 1880 ở Luân Đôn với Jack Đồ tể, thường được xem là sát nhân hàng loạt đầu tiên thời hiện đại. Và tôi gọi “hắn” là vì, nhiều lý do mà chúng ta sẽ thảo luận sau, gần như tất cả những kẻ giết người hàng loạt đều là đàn ông.
Trên thực tế, tội phạm giết người hàng loạt có thể là hiện tượng đã tồn tại lâu hơn nhận biết của chúng ta. Những câu chuyện và truyền thuyết đã lưu truyền qua nhiều thế hệ về phù thủy, người sói và ma cà rồng có thể là cách lý giải cho những nỗi oán giận ghê gớm đến mức không ai trong những thành phố nhỏ và khép kín ở châu Âu và châu Mỹ thuở sơ khai có thể lĩnh hội những hành vi lệch lạc mà hiện nay chúng ta xem nhẹ. Quái vật hẳn phải là những sinh vật siêu nhiên. Chúng không thể giống chúng ta.
Những tên cưỡng hiếp và giết người hàng loạt cũng thường gây hoang mang nhất, khiến mọi người bất an nhất và khó bắt nhất trong tất cả những tên tội phạm bạo lực. Phần vì chúng thường bị kích động bởi những yếu tố phức tạp hơn nhiều so với những yếu tố cơ bản mà tôi vừa liệt kê. Điều này khiến cho cách thức hành động của chúng khó hiểu hơn, làm chúng không có những cảm xúc bình thường như lòng trắc ẩn, cảm giác tội lỗi hay ăn năn.
Đôi khi, cách duy nhất để bắt chúng là học suy nghĩ giống như chúng. Để không ai nghĩ rằng tôi sẽ tiết lộ những bí mật điều tra được bảo vệ kỹ lưỡng, vốn có thể là “cẩm nang” cho những kẻ sẽ trở thành tội phạm, thì tôi xin cam đoan điều đó. Tôi sẽ nói đến cách chúng tôi phát triển phương thức mô tả tính cách tội phạm thông qua hành vi, phân tích tội phạm và chiến lược khởi tố, chứ tôi không thể biến cuốn sách này thành một tài liệu hướng dẫn dù tôi có muốn vậy chăng nữa. Lý do thứ nhất là phải mất đến hai năm để chúng tôi đào tạo những đặc vụ đã có kinh nghiệm và kỹ năng cực tốt được chọn vào đơn vị của tôi. Lý do thứ hai là dù tên tội phạm có nghĩ mình biết nhiều thế nào đi nữa thì càng cố tránh bị phát hiện hay đánh lạc hướng chúng tôi, hắn sẽ càng để lộ nhiều manh mối về hành vi để chúng tôi điều tra.
Như nhân vật Sherlock Holmes của Ngài Arthur Conan Doyle đã nói từ nhiều thế kỷ trước, “Tính lập dị gần như luôn là một manh mối. Một tội ác càng không có gì đặc biệt, và bình thường, thì càng khó phá án.”[4] Nói cách khác, càng biết nhiều về hành vi thì bảng mô tả và phân tích nhân dạng mà chúng tôi có thể giao cho cảnh sát địa phương càng hoàn thiện. Bản mô tả nhân dạng mà cảnh sát địa phương dùng để điều tra càng rõ ràng, họ càng dễ loại trừ các nghi phạm và tập trung tìm ra hung thủ thực sự.
Điều này lại dẫn tới một tuyên bố miễn trừ trách nhiệm khác cho công việc của chúng tôi. Trong Đơn vị Hỗ trợ điều tra, một bộ phận của Trung tâm Phân tích Tội phạm bạo lực Quốc gia của FBI tại Quantico, chúng tôi không bắt tội phạm. Để tôi lặp lại: Chúng tôi không bắt tội phạm. Cảnh sát địa phương là người bắt tội phạm và xét đến những áp lực khủng khiếp mà họ phải chịu thì đa số họ đã làm rất tốt công việc của mình. Chúng tôi cố gắng hỗ trợ cảnh sát địa phương tập hợp điều tra, sau đó gợi ý một số kỹ thuật chủ động giúp dẫn dụ tội phạm xuất đầu lộ diện. Một khi họ đã bắt được tội phạm - tôi nhấn mạnh lại là họ, không phải chúng tôi - chúng tôi sẽ cố gắng tạo ra một chiến lược giúp công tổ viên làm lộ bản tính thực sự của bị cáo trước tòa.
Chúng tôi có thể làm việc này nhờ nghiên cứu và kinh nghiệm chuyên môn. Trong khi một sở cảnh sát địa phương ở khu vực Trung Tây có thể lần đầu trông thấy những điều khủng khiếp này trong một vụ điều tra giết người hàng loạt, đơn vị của tôi có lẽ đã xử lý hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng ngàn vụ tương tự. Tôi luôn nói với các đặc vụ của mình thế này: “Muốn hiểu họa sĩ thì phải xem tranh. Chúng tôi đã xem rất nhiều “bức tranh” trong nhiều năm và trò chuyện với những “họa sĩ tài ba” nhất.
Chúng tôi bắt đầu phát triển công việc của Đơn vị Khoa học hành vi của FBI theo phương pháp cụ thể, đơn vị này sau trở thành Đơn vị Hỗ trợ điều tra vào cuối những năm 1970 đầu những năm 1980.
Và tuy đa số các cuốn sách thường tô son điểm phấn và làm cho công việc của chúng tôi có vẻ kịch tính, như tác phẩm đáng nhớ Sự im lặng bầy cừu của tác giả Tom Harris mà phần nào mang tính tưởng tượng và thiên về tạo hiệu ứng kịch tính hơn, nhưng các tiền đề của chúng tôi lại thực sự xuất phát từ các tác phẩm văn học trinh thám hư cấu hơn là từ vụ việc thật. C. Auguste Dupin, vị thám tử nghiệp dư anh hùng trong tác phẩm kinh điển Án mạng trên phố Morgue[5] (1841) của Edgar Allan Poe, có thể là chuyên viên mô tả nhân dạng đầu tiên trong lịch sử. Câu chuyện này có lẽ cũng khắc họa lần đầu một kỹ thuật chủ động được chuyên viên mô tả nhân dạng sử dụng để tìm ra một đối tượng vô danh và minh oan cho người đàn ông vô tội bị bắt giam vì những vụ giết người.
Như các đặc vụ trong đơn vị của tôi 150 năm sau, Poe hiểu được giá trị của mô tả nhân dạng khi chỉ chứng cứ pháp y không đủ để giải quyết một vụ án đặc biệt dã man và dường như không có động cơ. “Thiếu nguồn lực thông thường” tác giả viết, “nhà phân tích đã tự đưa mình vào tâm trí của đối thủ, tự xem mình là đối thủ, và nhờ đó mà thường xuyên thấy được, ngay lập tức, các phương pháp duy nhất có thể dẫn dụ hắn vào sai lầm hoặc khiến hắn hấp tấp dẫn đến tính toán sai”
Còn một điểm tương đồng nhỏ khác cũng đáng nhắc đến. Ngài Dupin thích làm việc đơn độc trong phòng mình, đóng cửa sổ và kéo kín rèm để ngăn ánh sáng và sự xâm phạm từ thế giới bên ngoài. Trong vấn đề này, tôi và đồng nghiệp không có lựa chọn. Văn phòng của chúng tôi tại Học viện FBI ở Quantico nằm sâu dưới lòng đất vài tầng, trong một không gian không có cửa sổ vốn được thiết kế làm trụ sở an ninh cho các quan chức thi hành luật liên bang trong trường hợp khẩn cấp quốc gia. Đôi khi, chúng tôi tự gọi mình là Hầm Phân tích Tội phạm bạo lực Quốc gia. Ở độ sâu 18m, chúng tôi thường nói mình nằm sâu hơn người chết những mười lần.
Tiểu thuyết gia người Anh Wilkie Collins đã bắt đầu công việc mô tả nhân dạng này trong những tác phẩm tiên phong như Cô gái áo trắng[6] (dựa trên một vụ án có thật) và Viên đá mặt trăng[7]. Nhưng chính nhân vật bất tử Sherlock Holmes của Ngài Arthur Conan Doyle là người đã đưa hình thức phân tích điều tra tội phạm này cho cả thế giới biết trong bối cảnh thành phố Luân Đôn thời Victoria mờ ảo dưới ánh đèn bằng khí đốt. Dường như lời khen ngợi tốt nhất có thể dành cho bất kỳ ai trong chúng tôi chính là được so sánh với nhân vật hư cấu này. Tôi xem đó là một vinh dự thực sự vào vài năm trước, khi tôi đang điều tra một vụ giết người ở Missouri, một tít báo của tờ St. Louis Globe Democrat đã gọi tôi là “Sherlock Holmes hiện đại của FBI”
Thật thú vị khi nhận thấy trong khoảng thời gian mà Holmes đang điều tra những vụ án phức tạp và khó khăn của ông, Jack Đồ tể ngoài đời thực đang giết những cô gái làng chơi ở khu East End của thành phố Luân Đôn. Hai người đàn ông ở hai phía đối lập của luật pháp, và ranh giới giữa thực tế với trí tưởng tượng, đã hoàn toàn thao túng suy nghĩ của công chúng, đến mức một số câu chuyện về Sherlock Holmes “hiện đại” do những người hâm mộ Conan Doyle viết đã đưa vị thám tử vào bối cảnh của những vụ giết người chưa có lời giải ở Whitechapel.
Năm 1988, tôi được đề nghị phân tích các vụ án của gã Đồ tể cho một chương trình truyền hình phát sóng toàn quốc. Tôi sẽ thuật lại những kết luận của mình về Đối tượng vô danh nổi tiếng nhất lịch sử này trong phần sau của cuốn sách.
Phải đến hơn một thế kỷ sau tác phẩm Án mạng trên phố Morgue và hơn nửa thế kỷ sau Sherlock Holmes, việc mô tả hành vi mới rời khỏi các trang sách và diễn ra trong đời thực. Đến giữa thập niên 1950, thành phố New York rung chuyển bởi những vụ nổ của “Kẻ đánh bom điên rổ”, kẻ chịu trách nhiệm cho hơn ba mươi vụ đánh bom trong suốt mười lăm năm. Hắn tấn công những công trình công cộng nổi bật như ga tàu Grand Central, Pennsylvania và Hội trường Âm nhạc Radio City. Là một đứa trẻ sống ở Brooklyn tại thời điểm đó, tôi nhớ rất rõ vụ này. Hết cách, năm 1957, cảnh sát gọi một chuyên gia tâm thần học ở khu Greenwich Village, tiến sĩ James A. Brussel, nghiên cứu những bức ảnh chụp hiện trường đánh bom và phân tích tỉ mỉ những lá thư châm chọc mà kẻ đánh bom gửi cho các tờ báo. Ông ấy đưa ra một số kết luận chi tiết từ kiểu hành vi chung mà mình nắm bắt được, gồm các sự thật rằng thủ phạm bị hoang tưởng, căm ghét cha mình, yêu mẹ mình đến mức ám ảnh và sống trong một thành phố ở bang Connecticut. Ở cuối bảng mô tả, Brussel hướng dẫn cảnh sát như sau:
Tìm một gã đàn ông đậm người. Trung niên. Sinh ra ở nước ngoài. Theo Công giáo La Mã. Độc thân. Sống với một anhem trai hoặc chịem gái. Khi tìm thấy hắn, có khả năng hắn đang mặc một bộ vest hai hàng nút. Nút cài chỉn chu.
Từ những chi tiết tham khảo trong một số lá thư, dường như có khả năng kẻ đánh bom hiện là hoặc từng là nhân viên tại Consolidated Edison, công ty điện lực thành phố, và có bất bình với công ty này. So sánh bản mô tả với những đối tượng đã được khoanh vùng này, cảnh sát tìm được cái tên George Metesky, người từng làm ở Con Ed trong thập niên 1940 trước khi các vụ đánh bom bắt đầu. Khi họ đến thành phố Waterbury, bang Connecticut vào một buổi chiều để bắt một người đàn ông đậm người, độc thân, trung niên, sinh ở nước ngoài, theo đạo Công giáo La Mã, sự khác biệt duy nhất so với bản mô tả là hắn không sống với một người anhem hoặc chịem mà sống với hai cô em gái còn độc thân. Sau khi một nhân viên cảnh sát yêu cầu hắn thay trang phục để đi đến đồn, hắn đã bước ra khỏi phòng ngủ vài phút sau đó trong một bộ vest hai hàng nút - nút cài đàng hoàng.
Diễn giải việc đưa ra những kết luận chính xác một cách khó giải thích của mình, tiến sĩ Brussel nói rằng một chuyên gia tâm thần học thường xem xét một người, sau đó cố gắng đưa ra một số dự đoán hợp lý về cách người đó phản ứng trong một tình huống cụ thể. Khi lập bản mô tả, Brussel nói, ông đã đảo ngược quá trình này, cố gắng dự đoán một người thông qua chứng cứ từ những hành động của hắn.
Nhìn lại vụ Kẻ đánh bom điên rồ từ quan điểm của chúng tôi sau gần bốn mươi năm thì vụ việc dường như khá đơn giản. Nhưng tại thời điểm đó, đây là một dấu mốc thực sự trong quá trình phát triển của ngành mà sau này được gọi tên là khoa học nghiên cứu hành vi trong điều tra tội phạm và tiến sĩ Brussel - sau đó đã hợp tác với Sở Cảnh sát Boston trong vụ Kẻ siết cổ ở Boston - chính là người tiên phong thực thụ trong lĩnh vực này.
Tuy thường được xem là diễn dịch, nhưng điều mà các nhân vật hư cấu Dupin[8] và Holmes, cũng như tiến sĩ Brussel ngoài đời thực cùng chúng tôi sau này, đang làm lại mang tính quy nạp nhiều hơn - đó là quan sát những yếu tố cụ thể của một vụ án để từ đó đưa ra những kết luận lớn hơn. Khi tôi đến Quantico năm 1977, các trợ giáo trong Đơn vị Khoa học hành vi, những người tiên phong như Howard Teten, đang bắt đầu áp dụng ý tưởng của tiến sĩ Brussel vào những vụ án được các chuyên viên cảnh sát chuyển đến cho họ trong các lớp học ở Học viện Quốc gia. Nhưng bấy giờ, cách làm này chỉ mang tính chủ quan và không hề được hỗ trợ bằng các nghiên cứu tỉ mỉ. Tình hình là như vậy khi tôi bắt đầu công việc tại đơn vị.
Tôi đã nói việc chúng tôi có thể đặt mình vào vị trí và tâm trí của sát nhân giấu mặt là rất quan trọng. Qua nghiên cứu và kinh nghiệm của mình, chúng tôi thấy - dù khó khăn và khổ sở - việc đặt mình vào vị trí của nạn nhân cũng quan trọng không kém. Chỉ khi hiểu rõ cách nạn nhân phản ứng với những điều khủng khiếp đang xảy đến với mình, chúng tôi mới có thể thực sự hiểu hành vi và phản ứng của kẻ thủ ác.
Để hiểu được thủ phạm, ta phải xem xét vụ án. Đầu thập niên 1980, Sở Cảnh sát của một thị trấn nhỏ ở miền quê Georgia mang đến cho tôi một vụ án gây sốc. Một bé gái mười bốn tuổi xinh xắn, một majorette[9] ở trường trung học cơ sở địa phương, bị bắt cóc từ trạm xe buýt ở trường cách nhà khoảng hơn 90m. Vài ngày sau, xác cô bé được tìm thấy ở một khu vực rừng cây dành cho các cặp yêu đương cách nhà chừng 16km trong tình trạng quần áo xốc xếch. Cô bé đã bị tấn công tình dục, nguyên nhân cái chết là chấn thương do lực đánh mạnh vào đầu. Gần xác cô bé là một tảng đá to dính máu.
Trước khi đưa ra bản phân tích, tôi phải tìm hiểu về cô bé càng nhiều càng tốt. Tôi nhận thấy tuy rất xinh xắn, đáng yêu nhưng đây vẫn là một cô bé mười bốn tuổi có ngoại hình đúng với độ tuổi, chứ không trưởng thành như một số trẻ vị thành niên khác. Những người quen biết đều chắc cô bé không phải hạng dễ dãi hay thích tán tỉnh, không đời nào sử dụng ma túy hay uống rượu và là một người ấm áp, thân thiện với bất cứ ai từng tiếp xúc. Phân tích pháp y cho thấy cô bé vẫn còn trinh trước khi bị cưỡng bức.
Đây đều là những thông tin thiết yếu với tôi, vì chúng giúp tôi hiểu được cô bé phản ứng thế nào sau khi bị bắt cóc, và từ đó hiểu được tên tội phạm phản ứng với cô bé ra sao trong tình huống đó. Từ đây, tôi kết luận rằng việc giết người không theo kế hoạch của gã, mà là một phản ứng hoảng loạn do bất ngờ (dựa vào tâm lý hoang tưởng méo mó của kẻ tấn công) vì cô bé không lấy gì làm hân hoan với hắn. Điều này lại giúp tôi tiến gần hơn đến tính cách của gã sát nhân, và bản mô tả nhân dạng của tôi giúp cảnh sát tập trung vào một nghi phạm của một vụ cưỡng bức từ năm trước trong một thị trấn lớn hơn gần đó. Việc hiểu được nạn nhân cũng giúp tôi đề ra chiến lược cho cảnh sát dùng khi thẩm vấn đối tượng tình nghi đầy khó khăn này, kẻ mà tôi dự đoán đã vượt qua một bài kiểm tra phát hiện nói dối trước đó. Tôi sẽ thảo luận chi tiết hơn về vụ án hấp dẫn nhưng đau lòng này sau. Còn lúc này, quý độc giả chỉ cần biết rằng cuối cùng gã đã nhận tội giết cô bé và cả vụ cưỡng hiếp trước đó. Hắn bị định tội và kết án, và khi tôi viết những dòng này, hắn đang nằm trong danh sách chờ tử hình ở Georgia.
Khi truyền đạt về những yếu tố của mô tả tính cách tội phạm và phân tích hiện trường vụ án cho các đặc vụ FBI hoặc chuyên viên thi hành luật tham dự Học viện Quốc gia, chúng tôi cố gắng dẫn dắt họ suy nghĩ về toàn bộ câu chuyện của vụ án. Roy Hazelwood, đồng nghiệp của tôi, dạy khóa mô tả nhân dạng cơ bản nhiều năm trước khi nghỉ hưu năm 1993, thường chia bản phân tích ra thành ba câu hỏi và cụm từ khác nhau - cái gì, tại sao và ai:
Cái gì đã xảy ra? Câu hỏi này bao gồm mọi thứ có thể có giá trị, về mặt hành vi, trong vụ án.
Tại sao sự việc lại diễn ra theo cách này? Ví dụ, tại sao lại phân xác sau khi giết? Tại sao không có món đồ giá trị nào bị lấy đi? Tại sao không có dấu hiệu đột nhập? Lý do cho các yếu tố quan trọng về mặt hành vi trong vụ án là gì?
Và sau đó là:
Ai có thể phạm tội ác này vì những lý do trên?
Đó là nhiệm vụ chúng tôi tự đặt ra cho mình.
❀ ❀ ❀
[1] Nguyên văn: victim of opportunity, những nạn nhân mà tội phạm nhắm đến mà không có kế hoạch trước, khi hắn trông thấy cơ hội hành động và nắm bắt tức thời.
[2] Nguyên văn: profiler.
[3] Nguyên văn: galvanic skin response, sự thay đổi trong hoạt động của tuyến mô hội, phản ánh cường độ cảm xúc của một người.
[4] Nguyên văn: Singularity is almost invariably a clue. The more featureless and commonplace a crime is, the more difficult it is to bring it home.
[5] Nguyên văn: The Murders in the Rue Morgue.
[6] Nguyên văn: The Woman in White.
[7] Nguyên văn: The Moonstone.
[8] Thám tử Le Chevalier C. Auguste Dupin trong Án mạng trên phố Morgue.
[9] Một bé gái hoặc thiếu nữ dẫn đầu một ban nhạc trong các buổi diễu hành.