Kẻ Săn Suy Nghĩ

Lượt đọc: 92 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
Thành phố Atlanta

❊ ❊ ❊

Mùa đông năm 1981, thành phố Atlanta bị bao vây.

Sự việc diễn ra lặng lẽ từ một năm rưỡi trước, hầu như không ai chú ý. Trước khi sự việc kết thúc - nếu nó thực sự sẽ kết thúc - nó đã trở thành một trong những cuộc truy lùng tội phạm công khai nhất trong lịch nước Mỹ, chính trị hóa một thành phố và chia cắt một quốc gia, mỗi bước điều tra đều gây ra tranh luận ác liệt.

Ngày 28 tháng Bảy năm 1979, cảnh sát tiến hành điều tra do có lời than phiền về mùi hôi thối trong rừng trên đường Niskey Lake và phát hiện thi thể của Alfred Evans mười ba tuổi. Cậu bé đã mất tích ba ngày. Trong lúc xem xét địa điểm này, cảnh sát phát hiện một thi thể khác cách đó khoảng 15m - đã phân hủy một phần - của cậu bé mười bốn tuổi Edward Smith, mất tích trước Alfred bốn ngày. Cả hai đều là người da màu. Chuyên viên pháp y xác định có lẽ Alfred Evans đã bị siết cổ, còn Edward Smith thì chắc chắn bị bắn bằng một khẩu súng cỡ 22 ly.

Vào ngày 8 tháng Mười một, thi thể của Yusef Bell mười chín tuổi được phát hiện trong một ngôi trường bỏ hoang. Cậu bé đã mất tích từ cuối tháng Mười và cũng bị siết cổ. Tám ngày sau đó, thi thể của Milton Harvey mười bốn tuổi được tìm thấy gần đường Redwine và đường Desert Drive ở khu vực East Point của Atlanta. Cậu bé được báo mất tích vào đầu tháng Chín, cũng như Alfred Evans, không thể xác định rõ nguyên nhân tử vong. Cả hai cậu bé này cũng là người da màu. Nhưng không có đủ bằng chứng về sự tương đồng để quy cho các vụ án bất kỳ ý nghĩa nào. Đáng tiếc, trong một thành phố lớn như Atlanta, trẻ em thường hay biến mất. Một số đứa trẻ được phát hiện đã chết.

Sáng ngày 5 tháng Ba năm 1980, một cô bé mười hai tuổi tên Angel Lanier đi học nhưng không đến trường. Năm ngày sau, thi thể cô bé được tìm thấy, bị trói bằng dây điện và bị bịt miệng, bên lề đường. Cô bé mặc đủ quần áo, gồm cả quần lót, nhưng một cái quần lót khác bị nhét vào miệng cô bé. Nguyên nhân tử vong được xác định là bị siết cổ bằng dây. Chuyên viên pháp y không phát hiện bằng chứng nạn nhân bị tấn công tình dục.

Jeffrey Mathis mười một tuổi biến mất vào ngày 12 tháng Ba. Lúc này, Phòng Cảnh sát Atlanta vẫn chưa kết luận được gì từ sáu đứa trẻ da màu mất tích hoặc bị phát hiện đã chết. Những điểm khác biệt cũng nhiều như những điểm tương đồng giữa các vụ án, và họ đã không nghiêm túc cân nhắc khả năng một số hoặc tất cả các em có thể có liên hệ gì đó với nhau.

Nhưng người khác thì có. Vào ngày 15 tháng Tư, Camille - mẹ của Yusef Bell - phối hợp với phụ huynh của những đứa trẻ da màu bị mất tích và bị giết khác, tuyên bố thành lập Ủy ban Ngăn chặn các vụ sát hại trẻ em. Họ yêu cầu sự giúp đỡ và nhận định từ chính quyền về tình hình hiện tại. Việc này lẽ ra không nên xảy ra ở Atlanta, thủ phủ quốc tế của vùng New South. Đây là thành phố năng động, lẽ ra phải “không có thời gian thù ghét nhau”, như vị thị trưởng da màu Maynard Jackson và một ủy viên da màu của Hội đồng An ninh chung tên là Lee Brown đã nhận định.

Những cái chết khủng khiếp vẫn chưa ngừng lại. Ngày 19 tháng Năm, Eric Middlebrook mười bốn tuổi được phát hiện đã bị giết ở cách nhà khoảng 400m. Nguyên nhân tử vong là lực đánh vào đầu. Ngày 9 tháng Sáu, Christopher Richardson mười hai tuổi mất tích. Ngày 22 tháng Sáu, bé gái thứ hai, LaTonya Wilson tám tuổi, bị bắt đi từ phòng ngủ của mình vào sáng sớm ngày Chủ nhật. Hai ngày sau, thi thể của Aaron Wyche mười tuổi được phát hiện dưới chân một cây cầu ở quận DeKalb. Cậu bé chết do bị ngạt và gãy cổ. Anthony “Tony” Carter, chín tuổi, được phát hiện đằng sau một nhà kho ở đường Wells vào ngày 6 tháng Bảy, úp mặt xuống cỏ, chết do bị đâm nhiều nhát. Từ chi tiết hiện trường không có máu, có thể thấy thi thể cậu bé đã được đưa từ một nơi khác đến.

Không thể làm ngơ trước sự trùng hợp này nữa, ủy viên Hội đồng An ninh chung Brown thành lập Đội đặc nhiệm xử lý án mất tích và sát hại, cuối cùng đội này có đến hơn năm mươi thành viên. Nhưng chuỗi vụ án vẫn tiếp diễn. Earl Terrell, mười tuổi, được báo mất tích vào ngày 31 tháng Bảy trên đường Redwine, gần nơi phát hiện thi thể của Milton Harvey. Và khi Clifford Jones mười hai tuổi được phát hiện đã chết vì bị siết cổ trong một con hẻm đường Hollywood, cuối cùng cảnh sát cũng chấp nhận mối liên hệ giữa các vụ và tuyên bố từ giờ cuộc điều tra sẽ diễn ra theo nhận định đó.

Cho đến tận lúc này, FBI chưa có quyền can thiệp vào vụ án vì tội ác ghê tởm này vẫn là chuỗi vụ án thuộc phạm vi địa phương. Việc Earl Terrell mất tích sau đó đưa đến cơ hội cho FBI. Gia đình cậu bé nhận được một số cuộc gọi yêu cầu tiền chuộc để con trai họ được trở về an toàn. Người gọi cho biết Earl đã được đưa tới Alabama. Việc đưa nạn nhân vượt qua ranh giới tiểu bang kích hoạt đạo luật về bắt cóc của liên bang và cho phép FBI tham gia điều tra. Nhưng không lâu sau đó, sự thật được làm sáng tỏ rằng các cuộc gọi đòi tiền chuộc chỉ là một trò chơi khăm. Hy vọng rằng Earl còn sống tắt dần và FBI phải rút lui.

Một cậu bé khác, Darron Glass mười một tuổi, được báo mất tích vào ngày 16 tháng Chín. Thị trưởng Maynard Jackson yêu cầu Nhà Trắng hỗ trợ - nếu rõ FBI hãy tiến hành một cuộc điều tra lớn về các vụ sát hại và mất tích của trẻ em ở Atlanta. Khi phạm vi quyền hạn vẫn là một vấn đề nan giải, Bộ trưởng Tư pháp Griffin Bell ra lệnh cho FBI bắt đầu điều tra xem những đứa trẻ chưa được tìm thấy có đang bị giam giữ, vi phạm đạo luật về bắt cóc của liên bang hay không; nói cách khác, các vụ án này có yếu tố liên bang không? Với trách nhiệm bổ sung, Văn phòng thực địa ở Atlanta được giao nhiệm vụ xác định các vụ án có thực sự liên hệ với nhau không. Thực tế, thông điệp gửi đến Cục là: giải quyết các vụ án và tìm ra hung thủ càng nhanh càng tốt.

Hiển nhiên cánh truyền thông rất hứng thú với chuỗi sự kiện này. Số lượng ảnh những gương mặt trẻ thơ da màu được đăng thường xuyên trên báo chí cứ nhiều lên, trở thành lời tuyên bố tội lỗi chung của cả thành phố. Đây có phải một âm mưu diệt chủng đối với cộng đồng người da màu, nhắm đến những thành viên yếu ớt nhất?

Liệu đây có phải do hội kín Klan, Đảng Phát xít hay một nhóm người thù ghét nào khác thể hiện sự phản đối sau hơn một thập kỷ kể từ lúc ban hành các đạo luật về quyền dân sự chủ yếu? Hay chỉ là một gã điên với nhiệm vụ cá nhân của hắn là sát hại trẻ em? Trường hợp sau dường như ít có khả năng nhất. Những đứa trẻ này trở thành nạn nhân với tốc độ nhanh khủng khiếp. Và mặc dù đến nay, hầu hết những kẻ sát nhân hàng loạt là người da trắng, chúng gần như chưa bao giờ giết người không thuộc chủng tộc của mình. Giết người hàng loạt là tội ác cá nhân, không phải tội ác chính trị.

Nhưng quả thực điều này đã cho FBI thêm một quyền hạn chính đáng khác trong vụ án. Nếu góc độ bắt cóc liên bang không thuận, chúng tôi vẫn có trách nhiệm xác định xem vụ việc này có phù hợp với Đạo luật 44: vi phạm các quyền dân sự liên bang.

Đến thời điểm Roy Hazelwood và tôi xuống Atlanta, đã có mười sáu trường hợp và không có dấu hiệu dừng lại. Khi đó, sự can thiệp của Cục đã đặt cho vụ án một cái tên chính thức: ATKID, còn gọi là Vụ án lớn 30, tuy không có hoạt động gì phô trương khi FBI tham dự. Cảnh sát Atlanta không muốn ai chiếm diễn đàn của họ, còn Văn phòng thực địa Atlanta của FBI thì không muốn tạo ra những kỳ vọng mà họ có thể không đáp ứng được.

Roy Hazelwood là lựa chọn hợp lý để hợp tác với tôi ở Atlanta. Trong số các giảng viên của Đơn vị Khoa học hành vi, Roy đang làm công việc mô tả nhân dạng nhiều nhất, đang dạy khóa học về bạo lực giữa các cá nhân và tiếp nhận nhiều vụ án cưỡng bức được đưa đến đơn vị. Mục tiêu chính của chúng tôi là tự xác định xem các vụ án có liên hệ với nhau không, nếu có thì có phải là một âm mưu nào đó không?

Chúng tôi xem lượng hồ sơ khổng lồ của vụ án - ảnh chụp hiện trường, bản mô tả trang phục của từng đứa trẻ khi được tìm thấy, lời khai của các nhân chứng trong khu vực, kết quả khám nghiệm tử thi. Chúng tôi đặt câu hỏi với người thân của bọn trẻ để xem có sự tương đồng giữa các nạn nhân hay không. Cảnh sát chở chúng tôi đi quanh các khu vực mà bọn trẻ biến mất và đưa chúng tôi đến từng địa điểm vứt xác.

Không trao đổi với nhau những ấn tượng của bản thân, Roy và tôi cùng làm bài kiểm tra tâm lý do một nhà tâm lý học pháp y tiến hành, với giả định mỗi chúng tôi đều là hung thủ. Bài kiểm tra gồm động cơ, quá khứ và đời sống gia đình - những thứ chúng tôi đưa vào một bản mô tả nhân dạng. Vị tiến sĩ thực hiện bài kiểm tra kinh ngạc khi kết quả của chúng tôi gần như giống hệt.

Và những gì chúng tôi cần nói không hướng đến mục đích giành chiến thắng trong cuộc thi về độ nổi tiếng.

Đầu tiên, chúng tôi không nghĩ đây là những vụ án vì thù ghét theo kiểu hội kín Klan. Thứ hai, chúng tôi gần như chắc chắn hung thủ là người da màu. Thứ ba, tuy nhiều cái chết và vụ mất tích có liên hệ với nhau, nhưng không phải tất cả đều liên hệ với nhau.

Cục Điều tra Georgia đã nhận được nhiều lời gợi ý về sự dính líu của hội Ku Klux Klan, nhưng chúng tôi không để ý đến. Nếu nghiên cứu các vụ án vì thù ghét từ những ngày đầu lập nước, bạn sẽ thấy chúng thường mang tính công khai cao, những hành động mang tính biểu tượng mạnh mẽ. Một vụ hành hình vì thù ghét thường nhằm tạo ra một tuyên bố công khai và phơi bày cho mọi người xem. Một tội ác như vậy, hay tội danh giết người vì phân biệt chủng tộc khác là hành động khủng bố, và để nó có hiệu quả, mọi người phải dễ dàng nhìn thấy. Những kẻ trong hội Ku Klux Klan[1] không mặc đồ trắng để rồi hòa mình vào đám đông không ai trông thấy. Nếu một nhóm người thù ghét nhắm vào những đứa trẻ da màu ở khu vực Atlanta, chúng sẽ không chịu để sự việc trôi qua lặng lẽ suốt nhiều tháng trước khi cảnh sát và mọi người đoán được chuyện gì đó đang diễn ra. Lẽ ra thật nhiều thi thể sẽ xuất hiện trên Quốc lộ và thông điệp của nhóm này sẽ vô cùng rõ ràng. Chúng tôi không thấy loại hành vi đó trong những vụ án này.

Những địa điểm vứt xác là những khu vực với cư dân phần lớn là người da màu hoặc những khu dành riêng cho người da màu trong thành phố. Một người da trắng, chứ đừng nói là một nhóm người da trắng, không thể lang thang khắp các khu phố này mà không bị chú ý. Cánh sát đã thăm dò khắp nơi nhưng không có báo cáo nào cho thấy có người da trắng đến gần bất kỳ đứa trẻ hay địa điểm vứt xác nào. Những khu vực này luôn tấp nập người, nên dù là vào buổi tối, một người đàn ông da trắng không thể quanh quẩn ở đó mà hoàn toàn không bị chú ý. Điểm này cũng phù hợp với kinh nghiệm của chúng tôi rằng những kẻ sát nhân vì tình dục thường nhắm đến người cùng chủng tộc. Dù không có bằng chứng rõ ràng về việc sàm sỡ, nhưng những tội ác này phù hợp với xu hướng của một vụ giết người vì tình dục.

Có mối liên kết mạnh mẽ giữa nhiều nạn nhân. Các em đều còn nhỏ, hoạt bát và sáng dạ, nhưng thiếu kinh nghiệm và suy nghĩ tương đối đơn thuần về thế giới bên ngoài khu phố của mình. Chúng tôi cảm thấy đây là kiểu trẻ em dễ mắc lừa, dễ bị dụ dỗ hoặc hấp dẫn. Kẻ đó phải có một chiếc xe, vì các nạn nhân bị đưa khỏi nơi các em bị bắt. Và chúng tôi cảm thấy hắn phải tỏa ra cảm giác quyền lực của một người trưởng thành. Rất nhiều em trong số đó có hoàn cảnh nghèo túng. Ở một số ngôi nhà, chúng tôi thấy không có điện hoặc nước sạch.

Vì lẽ đó, và bọn trẻ cũng tương đối thiếu tinh tế, tôi nghĩ chẳng cần dụ dỗ gì nhiều. Để kiểm tra việc này, chúng tôi đề nghị các cảnh sát mật của Atlanta vào những khu này, đóng giả công nhân, và cho một đứa trẻ năm đô la để theo họ làm một việc gì đó. Họ để các cảnh sát da màu và cả da trắng làm việc này, và dường như màu da không quan trọng. Bọn trẻ này khát khao sinh tồn đến mức làm bất cứ điều gì để có năm đô la. Không cần phải là một người quá thông minh để bắt được các em. Một điều khác mà thử nghiệm này đã chỉ ra đó là người da trắng quả thực bị chú ý ở những khu vực này.

Nhưng như tôi đã nói, tuy chúng tôi quả thực nhận thấy một mối liên kết mạnh mẽ, dường như không phải với mọi trường hợp. Sau khi cẩn thận đánh giá các nạn nhân và tình huống, tôi nghĩ hai bé gái không phải bị hung thủ chính của vụ này sát hại, thậm chí không do cùng một người giết. Cách thức bắt cóc LaTonya Wilson từ phòng ngủ của cô bé quá đặc thù. Với các bé trai, tôi nghĩ đa số trường hợp bị sát hại bằng “biện pháp nhẹ” - siết cổ - có liên hệ, không nhất định là mọi vụ có nguyên nhân tử vong không xác định. Và những khía cạnh khác của bằng chứng đã khiến chúng tôi tin rằng mình không đương đầu với một kẻ giết người duy nhất. Chứng cứ thuyết phục ở một số vụ cho thấy kẻ giết người từng là một thành viên trong gia đình nạn nhân, nhưng Giám đốc FBI William Webster đã công bố rộng rãi điểm này, ông ấy bị báo chí gây sức ép. Ngoài những vấn đề chính trị hiển nhiên, với tuyên bố này, bất cứ vụ án nào nằm ngoài danh sách Mất tích và sát hại đều khiến gia đình nạn nhân đó không thể nhận phần trợ cấp nào trong số những quỹ ủng hộ đang được các tổ chức và cá nhân trên cả nước đóng góp.

Dù cảm thấy hung thủ nhiều hơn một người nhưng chúng tôi nghĩ mình đang đối đầu với một kẻ cụ thể, đã thành công và sẽ tiếp tục giết người cho đến khi bị bắt. Roy và tôi đưa ra bản mô tả về một người đàn ông da đen, độc thân, độ tuổi 25-29. Hắn rất thích những gì liên quan đến cảnh sát, lái một chiếc xe giống xe cảnh sát và ở một thời điểm nào đó, hắn sẽ thâm nhập vào cuộc điều tra. Hắn có một con chó dạng cảnh khuyển, một con chó chăn cừu Đức hoặc Doberman. Hắn không có bạn gái, thích các bé trai, nhưng chúng tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu nào của việc cưỡng hiếp hay bạo hành tình dục thái quá. Tôi nghĩ điều này nói lên sự tự ti về khả năng tình dục của hắn. Hắn sẽ có cách nào đó để dẫn dụ hoặc lừa những đứa trẻ này. Tôi đoán cách đó có liên quan đến âm nhạc hoặc biểu diễn. Hắn sẽ có một câu nói rất hay để dụ bọn trẻ, nhưng hắn không thể nói ra. Ở giai đoạn đầu trong mỗi mối quan hệ, đứa trẻ sẽ từ chối hắn hoặc ít nhất là hắn nhìn nhận tình huống theo cách đó và hắn sẽ cảm thấy buộc phải giết nó.

Phòng Cảnh sát Atlanta kiểm tra mọi kẻ ấu dâm và từng phạm tội liên quan đến tình dục mà họ biết, cuối cùng lọc ra một danh sách khoảng 1.500 nghi phạm. Các nhân viên cảnh sát và đặc vụ FBI đến các trường học, hỏi chuyện các em để xem có em nào từng bị những người đàn ông trưởng thành tiếp cận và chưa nói với bố mẹ hoặc cảnh sát không. Họ lên các chuyến xe buýt, phát nhiều tờ rơi in hình những đứa trẻ đang mất tích, hỏi xem có ai thấy chúng không, đặc biệt là thấy chúng đi cùng đàn ông. Họ cho cảnh sát chìm đến các quán rượu đồng tính, cố gắng nghe ngóng để tìm kiếm manh mối.

Không phải ai cũng đồng ý với chúng tôi. Và không phải ai cũng vui khi chúng tôi có mặt ở đó. Ở một trong các hiện trường án mạng, tại một khu chung cư bỏ hoang, một cảnh sát da màu đến chỗ tôi và hỏi, “Anh là Douglas, phải không?”

“Đúng vậy”

“Tôi đã thấy bản mô tả của anh. Chỉ là một đống phân” Tôi không chắc anh ta đang thực sự đánh giá công việc của tôi hay chỉ nêu ra tuyên bố thường trực của cánh báo chí rằng không có kẻ sát nhân hàng loạt nào là người da màu. Điều này không chính xác. Chúng tôi đã điều tra nhiều vụ án có kẻ sát nhân hàng loạt là người da màu, giết các cô gái làng chơi và cả người nhà của chúng, nhưng không phải theo kiểu giết người lạ, và không phải với cách thức hành động mà chúng tôi đang thấy ở đây.

“Nghe này, tôi không việc gì phải có mặt ở đây”, tôi nói. “Tôi không yêu cầu được tới đây” Thực ra, mức độ tuyệt vọng của tôi đã lên rất cao. Mọi người tham dự đều muốn vụ án được giải quyết, nhưng ai cũng muốn tự mình phá án. Như sự thật thường thấy, Roy và tôi biết chúng tôi đến đây để nhận một phần những lời chỉ trích và bị đổ lỗi nếu mọi chuyện đi chệch hướng.

Ngoài ý tưởng đây là âm mưu của Klan, đủ loại giả thiết được đưa ra, một số nghe có vẻ lạ lùng hơn cả. Nhiều đứa trẻ được phát hiện trong tình trạng thiếu nhiều món trang phục khác nhau, nhưng không trường hợp nào giống hệt nhau. Liệu tên sát nhân này có đang may áo cho con ma nơ canh của hắn ở nhà giống như cách Ed Gein đã sưu tập những phần da khác nhau của nhiều người phụ nữ? Trong những vụ án về sau, liệu Đối tượng vô danh có đang phát triển bằng cách vứt xác ở nơi dễ nhìn thấy hơn? Hay có thể Đối tượng vô danh ban đầu đã tự sát và một kẻ bắt chước đang kế thừa công việc của hắn?

Theo tôi, tiến triển thực thụ đầu tiên xuất hiện khi tôi trở về Quantico. Một cuộc gọi đến phòng cảnh sát ở Conyers, một thị trấn nhỏ cách Atlanta khoảng 32km. Tôi nghe đoạn băng ghi âm trong văn phòng của Larry Monroe, cùng với tiến sĩ Park Dietz. Trước khi trở thành trưởng Đơn vị Khoa học hành vi, Monroe là một trong những giảng viên nổi bật tại Quantico. Giống Ann Burgess, Park Dietz được Roy Hazelwood mời đến đơn vị. Lúc đó ông ấy ở Harvard và vừa bắt đầu nổi danh trong giới thi hành luật. Hiện đang có văn phòng ở California, Park có lẽ là nhà tâm thần học pháp y lỗi lạc nhất cả nước và là cố vấn thường trực cho đơn vị chúng tôi.

Người gọi điện trong đoạn ghi âm tuyên bố mình là kẻ sát hại trẻ em ở Atlanta và nhắc đến tên của nạn nhân gần nhất. Rõ ràng hắn là người da trắng, nghe như một kẻ lỗ mãng, và hứa là hắn “sẽ giết thêm lũ nhãi da đen đó”. Hắn cũng nêu tên một địa điểm cụ thể dọc đường Rigmon ở quận Rockdale, nơi cảnh sát có thể tìm được một thi thể khác.

Tôi nhớ không khí phấn khởi trong phòng mà tôi e là mình đã phải cắt ngang. “Đây không phải tên sát nhân”, tôi tuyên bố, “nhưng các anh phải bắt hắn vì hắn sẽ còn gọi đến và là một mối phiền phức phát sinh làm các anh phân tâm khi hắn còn ở ngoài kia.

Bất chấp niềm vui của phía cảnh sát, tôi tin mình nhận định đúng về gã khốn này. Tôi đã gặp một tình huống tương tự không lâu trước vụ này khi Bob Ressler và tôi sang Anh để dạy một khóa ở Bramshill, học viện cảnh sát Anh (tương tự Quantico), cách Luân Đôn khoảng một giờ. Nước Anh đang trong giai đoạn tên Đồ tể Yorkshire hoành hành. Kẻ sát nhân này, dường như đi theo con đường của kẻ giết người khu Whitechapel vào cuối thời Victoria[2], đang đánh giết phụ nữ ở khu vực miền bắc, chủ yếu là gái mại dâm. Đến khi đó đã có tám người chết. Có ba phụ nữ khác trốn thoát, nhưng không thể mô tả được gì về hung thủ. Độ tuổi ước tính cũng rộng, từ mười ba đến gần sáu mươi. Cũng như Atlanta, toàn khu vực Anh chìm trong nỗi kinh hoàng. Đó là vụ truy tìm hung thủ lớn nhất trong lịch sử nước Anh. Tính đến cuối, cảnh sát đã tiến hành thẩm vấn gần 250.000 người trên cả nước.

Các phòng cảnh sát và báo chí nhận được thư từ “Jack Đồ tể”, lãnh trách nhiệm về các vụ án. Rồi một cuộn băng cát-sét dài hai phút được gửi tới hòm thư của Trưởng thanh tra George Oldfield, chế nhạo cảnh sát và nói rằng sẽ tiếp tục ra tay. Tương tự vụ án ở Atlanta, đây có vẻ là phát hiện lớn. Đoạn băng được sao ra và phát khắp cả nước - trên truyền hình và đài phát thanh, trên các đường dây điện thoại miễn phí, trên loa tại các trận bóng đá - để xem có ai nhận ra giọng nói đó không.

Chúng tôi được biết John Domaille đang ở Bramshill khi chúng tôi ở đó. Ông ấy là một cảnh sát có tiếng và đội trưởng đội điều tra các vụ án của gã Đồ tể. Ông ấy nghe nói có hai chuyên viên mô tả nhân dạng từ FBI đến và có lẽ hai bên nên gặp nhau. Thế là sau khi hết giờ, Bob và tôi ngồi riêng trong quán nước của học viện. Viên cảnh sát đến, ai đó trong quầy nhận ra và bắt chuyện với ông ta. Chúng tôi có thể hiểu thái độ của ông ta và biết ông ta đang chế giễu hai tên người Mỹ bọn tôi. Tôi nói với Ressler: “Dám cá đó là ông ta”.

Quả nhiên, có người chỉ chúng tôi cho ông ta thấy, ông ta và mấy người khác đến bàn chúng tôi rồi ông ta tự giới thiệu. Tôi nói: “Tôi thấy ông không mang theo tập hồ sơ nào”.

Ông ta bắt đầu viện lý do rằng vụ án này rất phức tạp và khó mà trao đổi hết thông tin với chúng tôi trong khoảng thời gian ngắn như vậy.

“Được thôi”, tôi đáp lại. “Chúng tôi cũng có rất nhiều vụ án. Vậy tôi thà ngồi đây uống nước còn hơn.”

Kiểu cách “thích thì làm không thì thôi” của chúng tôi khiến mấy người Anh cảm thấy hứng thú. Một người hỏi chúng tôi cần gì để mô tả hung thủ của một vụ án. Tôi bảo anh ta hãy bắt đầu bằng cách miêu tả các hiện trường án mạng. Anh ta bảo rằng có vẻ Đối tượng vô danh buộc các cô gái vào một tư thế dễ bị tấn công rồi tấn công họ bằng dao hoặc búa. Hắn cắt xẻo thi thể họ sau khi chết. Giọng nói trên băng ghi âm khá lưu loát và sành điệu đối với một gã đi giết gái làng chơi. Vì vậy, tôi nói: “Dựa trên những hiện trường anh vừa miêu tả và đoạn ghi âm tôi nghe ở Seattle, đó không phải tên Đồ tể. Các anh đang lãng phí thời gian cho chuyện đó”

Tôi giải thích kẻ sát nhân họ đang tìm sẽ không liên lạc với cảnh sát. Hắn là một kẻ cô độc gần như không được ai chú ý, ở độ tuổi gần ba mươi hoặc đầu ba mươi, thù ghét phụ nữ do bệnh lý, bỏ học và có thể là tài xế xe tải vì có vẻ hắn đi đây đó khá nhiều. Việc giết các cô gái bán hoa là do hắn đang cố gắng trừng phạt phụ nữ nói chung.

Bất chấp thời gian và nguồn lực mà họ bỏ ra để có được đoạn băng này, Domaille nói “Tôi thấy lo chuyện đó” và sau đó thay đổi phương hướng điều tra. Khi cảnh sát bắt được tài xế xe tải ba mươi lăm tuổi Peter Sutcliffe nhờ may mắn vào ngày 2 tháng Một năm 1981 - thời điểm các vụ giết người đang diễn ra ở Atlanta - và được chứng minh là tên Đồ tể, hắn không có chút nào giống với người đã làm và gửi đoạn băng ghi âm. Kẻ bắt chước này hóa ra là một cảnh sát đã về hưu, người có mối thù cần giải quyết với Thanh tra Oldfield.

Sau khi nghe đoạn băng ở Georgia, tôi nói chuyện với cảnh sát Conyers và Atlanta, rồi đưa ra một biện pháp có thể dụ gã bắt chước này lộ mặt mà không cần suy nghĩ quá nhiều. Giống như gã Đồ tể, giọng điệu của gã này có vẻ nhạo báng và trịch thượng. “Từ giọng điệu của gã và những điều gã nói, gã nghĩ các anh là một lũ ngu”, tôi nói, “vậy hãy tận dụng điều này”

Tôi khuyên họ hãy giả vờ ngu giống như hắn nghĩ. Hãy đến đường Sigmon, nhưng lùng sục ở phía đối diện của con đường; hoàn toàn bỏ qua hắn. Hắn sẽ quan sát mọi chuyện và các anh có thể may mắn tóm được hắn ngay ở đó. Nếu không, ít nhất hắn sẽ gọi đến để nói rằng các anh thật ngu ngốc, các anh đã tìm sai chỗ. Park Dietz rất thích việc này, ghi nhận cách thức làm việc ngẫu hứng, không chuẩn bị trước này vào kho kiến thức hàn lâm của mình.

Cảnh sát khua chiêng gõ mõ đi tìm gã này, hoàn toàn sai phương hướng và quả nhiên, gã gọi lại để nói rằng họ thật ngu ngốc. Họ đặt bẫy, truy tìm và bắt được gã lỗ mãng này ngay trong nhà hắn. Để bảo đảm hắn không làm thật, họ tìm kiếm ở đúng đoạn đường Sigmon gã nói, nhưng dĩ nhiên không có thi thể nào.

Sự việc ở Conyers không phải điều duy nhất làm chệch hướng điều tra của vụ án này. Những cuộc điều tra lớn thường gặp nhiều trường hợp tương tự, và vụ ở Atlanta cũng không ngoại lệ. Gần con đường này, trong cánh rừng gần nơi những thi thể hóa thành xương trắng được phát hiện sớm nhất, các thanh tra phát hiện một tạp chí phái nữ, trên vài trang báo có tinh dịch. Phòng thí nghiệm của FBI tìm được dấu vân tay và từ đó lần ra danh tính của một người. Đó là một gã đàn ông da trắng, lái một chiếc xe tải và làm nghề diệt côn trùng. Dĩ nhiên, tính biểu tượng tâm lý của nghề này vô cùng hoàn hảo. Với loại người chống đối xã hội này, từ diệt côn trùng đến diệt trẻ em da màu chỉ là một bước chuyển nhỏ. Chúng tôi đã biết nhiều tên sát nhân hàng loạt trở lại hiện trường gây án và địa điểm vứt xác. Cảnh sát suy đoán hắn chạy xe dọc lề đường, nhìn về nơi hắn thực hiện tội ác và thủ dâm khi hồi tưởng cảm giác kích động của chuyến đi săn và giết chóc.

Sự tiến triển này đến tai giám đốc FBI, đến tai ngài Bộ trưởng Tư pháp và cả Nhà Trắng. Tất cả họ đều hồi hộp chờ đợi để thông báo rằng chúng ta đã bắt được kẻ sát hại trẻ em ở Atlanta. Họ còn chuẩn bị một thông cáo báo chí. Nhưng có hai điều làm tôi phải suy nghĩ. Thứ nhất, hắn là người da trắng. Thứ hai, hắn có gia đình hạnh phúc. Tôi đoán phải có lý do nào khác nên gã này mới ở đó.

Họ đưa hắn đến đồn để thẩm vấn. Hắn chối hết. Họ cho hắn xem cuốn tạp chí có dính tinh dịch. Họ nói đã lấy được dấu vân tay của hắn trên đó. Phải, hắn thừa nhận, tôi đã lái xe trên đường và ném nó ra khỏi xe. Cách giải thích đó cũng vô lý. Hắn đang lái xe, một tay trên vô lăng, một tay trên người hắn, rồi hắn còn có thể ném văng thứ này vào rừng? Nếu vậy tay hắn phải giống tay Johnny Unitas[3].

Nhận ra mình đang rơi vào tình huống nghiêm trọng, hắn thừa nhận vợ hắn đang mang thai, có thể sinh bất kỳ lúc nào và đã nhiều tháng rồi hắn không được quan hệ. Thay vì nghĩ đến chuyện phản bội người phụ nữ mình yêu, người đang mang đứa con của hắn, hắn đã đến cửa hàng 7-Eleven, mua cuốn tạp chí này, rồi nghĩ là sẽ vào khu rừng vắng vẻ đó trong giờ ăn trưa để giải tỏa một chút.

Tôi thấy tội nghiệp cho ông bạn này. Chẳng có gì to tát! Anh ta nghĩ mình sẽ giải tỏa ở nơi chẳng phiền đến ai, tự lo việc của mình, thế mà bây giờ ngay cả Tổng thống Hoa Kỳ cũng biết anh ta đã thủ dâm trong rừng!

Khi họ tóm được kẻ bắt chước ở Conyers, tôi nghĩ thế là xong; ít nhất, chúng tôi có thể loại bỏ tên điên phân biệt chủng tộc này để cảnh sát tập trung vào cuộc điều tra. Nhưng tôi đã không tính đến một việc, đó là vai trò tích cực của báo chí. Kể từ đó, tôi luôn bảo đảm mình không bao giờ phạm phải sai sót đó nữa. Tôi nhận ra một điều là, ở một thời điểm nhất định, sự chú ý của truyền thông dành cho những vụ sát hại trẻ em trở thành sự thỏa mãn cho tên sát nhân. Điều tôi không tính đến hắn sẽ phản ứng một cách cụ thể với tin tức truyền thông.

Chuyện là cánh báo chí quá nóng lòng muốn biết về bất kỳ tiến triển nào trong vụ án đến mức họ đưa rất nhiều tin về cuộc truy tìm của cảnh sát ở đường Sigmon, mà kết quả là không tìm được gì. Nhưng không lâu sau đó, một thi thể được phát hiện ở nơi dễ thấy trên đường Sigmon ở quận Rockdale: thi thể của Terry Pue mười lăm tuổi.

Với tôi, đây là tiến triển cực kỳ quan trọng và là khởi đầu cho chiến lược bắt giữ kẻ sát nhân. Điều này có nghĩa là hắn theo dõi kỹ tin tức báo đài và phản ứng với những gì họ đưa tin. Hắn biết cảnh sát sẽ chẳng tìm được thi thể nào trên đường Sigmon vì hắn không vứt ở đó. Nhưng bây giờ, hắn đang chứng tỏ hắn có uy đến mức nào, hắn có thể thao túng báo chí và cảnh sát ra sao. Hắn đang thể hiện sự ngạo mạn và khinh bỉ. Hắn có thể vứt một thi thể trên đường Sigmon nếu hắn muốn! Hắn phá vỡ hình mẫu hắn tạo ra và lái xe qua đoạn đường dài 32-48km chỉ để chơi trò này. Chúng tôi biết hắn đang quan sát nên hãy xem chúng tôi có thể tận dụng điều đó để thao túng hành vi của hắn hay không.

Nếu tôi biết hay cân nhắc khả năng này trước, tôi đã nghĩ ra biện pháp giám sát khu vực chung dọc theo đường Sigmon. Nhưng bấy giờ đã quá muộn. Chúng tôi phải nhìn về phía trước và xem mình có thể làm gì.

Tôi có một số ý tưởng, Frank Sinatra và Sammy Davis Con sắp đến Atlanta để tổ chức một buổi biểu diễn tại sân vận động Omni nhằm gây quỹ cho gia đình các nạn nhân. Sự kiện này được báo đài đưa tin rầm rộ và tôi chắc chắn kẻ sát nhân sẽ đến đó. Thách thức ở đây là làm sao để tìm ra hắn trong hơn 20.000 người?

Roy Hazelwood và tôi suy đoán hắn là kẻ rất mê những gì liên quan đến cảnh sát. Đó có thể là mấu chốt của sự việc. “Hãy cho hắn một tấm vé miễn phí”, tôi đề nghị.

Như thường lệ, cảnh sát và đặc vụ ở Văn phòng thực địa Atlanta nhìn tôi như thể tôi đã phát rồ. Vì vậy tôi giải thích ý của mình: Chúng ta sẽ thông báo vì có quá nhiều người tham dự nên cần thêm nhân viên an ninh. Chúng ta sẽ đề nghị mức lương tối thiểu, yêu cầu mỗi ứng viên phải có xe riêng (vì chúng tôi biết hung thủ có xe riêng) và những ai có kinh nghiệm hoặc từng làm việc trong ngành thi hành luật sẽ được ưu tiên. Chúng ta sẽ phỏng vấn sàng lọc tại sân vận động, dùng camera giám sát giấu kín. Chúng ta sẽ loại trừ những nhóm người mình không quan tâm đến - phụ nữ, người già… - và tập trung vào các nam thanh niên da màu. Mỗi người sẽ điền vào một tờ đăng ký, chúng ta sẽ bảo họ liệt kê kinh nghiệm như lái xe cứu thương chẳng hạn, xem họ có từng ứng tuyển làm cảnh sát hoặc bảo an chưa, mọi điều giúp xác định nghi phạm. Chúng ta có thể lọc ra một nhóm còn khoảng 10-12 người để có thể kiểm tra chéo với các bằng chứng khác.

Ý tưởng này được trình lên thứ trưởng Bộ Tư pháp. Vấn đề là, khi cả một tổ chức lớn cùng làm một việc gì đó không chính thống, có thể gặp tình trạng “tê liệt phân tích”. Khi chiến thuật của tôi được thông qua thì đã là ngay trước ngày diễn ra hòa nhạc và nỗ lực tuyển dụng “nhân viên an ninh” bấy giờ quá mong manh, quá trễ rồi.

Tôi có một kế hoạch khác. Tôi muốn làm những cây thánh giá bằng gỗ, cao khoảng 3,4cm. Một số cây sẽ được đưa cho các gia đình, số khác được đặt ở các hiện trường làm vật kỷ niệm. Có thể dựng một cây lớn ở một nhà thờ để tưởng nhớ các nạn nhân. Một khi công khai chuyện này, tôi biết tên sát nhân sẽ đến một số địa điểm, đặc biệt là những nơi xa. Thậm chí hắn có thể cố lấy một cây thánh giá. Nếu chúng ta giám sát những địa điểm mấu chốt, tôi nghĩ khả năng tóm được hắn rất cao.

Nhưng Cục mất đến vài tuần để thông qua kế hoạch này. Rồi lại còn tranh nhau xem bên nào được làm thánh giá - bộ phận triển lãm của FBI ở Washington, cửa hàng mộc ở Quantico hay Văn phòng thực địa Atlanta nên làm? Cuối cùng những cây thánh giá cũng được làm xong, nhưng đến thời điểm có thể sử dụng được thì các sự kiện của vụ án đã tăng lên quá nhiều.

Đến tháng Hai, thành phố bắt đầu hỗn loạn. Các nhà ngoại cảm xuất hiện, tất cả đều đưa ra “bản mô tả nhân dạng” riêng, nhiều bản mâu thuẫn gay gắt với nhau. Cánh nhà báo chộp lấy bất kỳ khả năng nào, dẫn lời bất kỳ ai có liên quan đến vụ án dù chỉ một chút, những người chịu nói. Nạn nhân tiếp theo sau Terry Pue được tìm thấy trên đường Sigmon là Patrick Baltazar mười hai tuổi, trên Cao tốc Buford ở quận DeKalb. Như Terry Pue, cậu bé này bị siết cổ. Thời điểm đó, có người trong bộ phận giám định pháp y tuyên bố rằng những cọng lông và sợi tìm thấy trên thi thể Patrick Baltazar trùng khớp với những thứ tìm được trên năm nạn nhân trước đó.

Năm nạn nhân này thuộc nhóm nạn nhân tôi đã liên hệ với nhau là do cùng một người sát hại. Thông báo về những phát hiện của phòng pháp y được báo chí đưa tin rầm rộ.

Và tôi nhận ra một điều. Hắn sẽ bắt đầu vứt thi thể xuống sông. Bây giờ hắn biết họ đang thu thập lông và sợi. Trên thi thể nạn nhân trước đó, Patrick Rogers, được tìm thấy ở địa phận quận Cobb của sông Chattahoochee vào tháng Mười hai, một nạn nhân bị tấn công bằng lực mạnh vào đầu. Nhưng Patrick mười lăm tuổi, cao 1m75, nặng 65kg, đã bỏ học và gặp nhiều rắc rối với pháp luật. Cảnh sát không xem trường hợp của cậu bé là có liên quan. Dù đúng hay không thì tôi cảm thấy bây giờ kẻ sát nhân sẽ ra sông, nơi nước có thể cuốn trôi tất cả bằng chứng.

Chúng ta phải bắt đầu giám sát các con sông, tôi nói, đặc biệt là Chattahoochee, dòng sông chính tạo thành ranh giới phía bắc của thành phố với quận Cobb lân cận. Nhưng cảnh sát thuộc nhiều địa phận tham dự, mỗi đơn vị thuộc một quận, thêm cả FBI, và không ai có thể chịu trách nhiệm chung. Đến lúc đội tuần tra tổng hợp gồm FBI và nhân sự Đội đặc nhiệm Án sát nhân được thành lập và chấp thuận thì đã sang tháng Tư.

Nhưng trong lúc đó, tôi không ngạc nhiên khi phát hiện thi thể tiếp theo - Curtis Walker mười ba tuổi - xuất hiện ở sông Nam. Hai thi thể nữa -Timmie Hill mười ba tuổi và Eddie Duncan, nạn nhân lớn nhất, hai mươi mốt tuổi - xuất hiện cách nhau một ngày ở sông Chattahoochee. Không giống các nạn nhân trước đó, đa số được tìm thấy với trang phục đầy đủ trên người, ba thi thể này đã bị lột sạch chỉ còn quần lót, đó là một cách khác để hắn loại bỏ lông và sợi trên người nạn nhân.

Nhiều tuần trôi qua, các đội giám sát vẫn miệt mài quan sát những cây cầu và địa điểm có thể là nơi vứt xác trên sông. Nhưng không có gì xảy ra. Rõ ràng các nhà chức trách đang mất lòng tin và cảm thấy họ chẳng đi tới đâu. Vì không có tiến triển rõ rệt nào nên hoạt động giám sát được lên kế hoạch chấm dứt vào phiên đổi ca lúc 6:00 sáng ngày 22 tháng Năm.

Vào khoảng 2:30 sáng hôm đó, một tân binh của học viện cảnh sát tên Bob Campbell đang trong ca giám sát cuối cùng trên bờ sông Chattahoochee dưới cầu Jackson Parkway. Anh ta thấy một chiếc xe chạy ngang qua và dường như có dừng lại một lúc ở giữa cầu.

“Tôi vừa nghe thấy âm thanh nước bắn rất lớn!” Anh ta căng thẳng nói vào bộ đàm. Viên cảnh sát hướng đèn pin vào dòng nước và trông thấy những gợn sóng. Chiếc xe quay đầu rồi chạy ngang qua cầu, nơi một chiếc xe cảnh sát theo dõi và bắt nó dừng lại. Đó là một chiếc wagon hiệu Chevrolet năm 1970, tài xế là một thanh niên da màu gầy, thấp, tóc xoăn, hai mươi ba tuổi, tên là Wayne Bertram Williams. Hắn trung thực và hợp tác. Hắn nói mình là nhà tài trợ âm nhạc và đang sống với bố mẹ. Cảnh sát thẩm vấn hắn và quan sát trong xe trước khi cho hắn đi. Nhưng họ không để mất dấu hắn.

Hai ngày sau, thi thể khỏa thân của Nathaniel Cater hai mươi bảy tuổi nổi lên ở hạ lưu, không xa nơi Jimmy Ray Payne, hai mươi mốt tuổi, được phát hiện trước đó một tháng. Không đủ bằng chứng để bắt Williams và xin lệnh lục soát nhà, nhưng hắn bị giám sát công khai.

Hắn nhanh chóng nhận ra việc cảnh sát theo dõi mình và kéo họ vào những cuộc rượt đuổi quanh thành phố. Thậm chí hắn còn lái xe đến nhà Ủy viên Hội đồng an ninh chung Lee Brown và nhấn còi inh ỏi. Trong nhà hắn có phòng tối và trước khi xin được lệnh lục soát, cảnh sát trông thấy hắn đốt nhiều ảnh chụp ở sân sau. Hắn cũng rửa sạch chiếc xe.

Wayne Williams khớp với bản mô tả của chúng tôi ở mọi khía cạnh chính, gồm cả việc hắn có nuôi một con chó chăn cừu Đức. Hắn rất thích cảnh sát, từng bị bắt vài năm trước khi giả dạng nhân viên công vụ. Sau vụ đó, hắn lái một chiếc xe cảnh sát thừa được bán ra và dùng máy quét vô tuyến của cảnh sát để vào các hiện trường gây án và chụp ảnh. Về sau khi xem lại, có một số nhân chứng nhớ đã nhìn thấy hắn trên đường Sigmon khi cảnh sát phản ứng với manh mối qua cuộc gọi điện thoại và tiến hành tìm kiếm thi thể không có thực. Hắn đã chụp ảnh ở đó và đưa cho cảnh sát. Chúng tôi cũng phát hiện ra quả thực hắn đã tham dự buổi hòa nhạc từ thiện ở sân Omni.

Không bắt hắn nhưng FBI mời hắn đến trụ sở, hắn rất hợp tác và không yêu cầu luật sư. Từ những báo cáo nhận được, tôi cho rằng cuộc thương thuyết đã không được lên kế hoạch hay tổ chức đúng cách. Cuộc thương thuyết quá bạo lực và thẳng thừng. Tôi lại nghĩ lúc đó hắn có thể bị thuyết phục. Sau cuộc thẩm vấn, nghe nói hắn vẫn quanh quẩn ở trụ sở và làm như thể vẫn còn muốn nói chuyện về công việc của cảnh sát và FBI. Nhưng hôm đó, khi hắn rời khỏi, tôi biết họ sẽ không bao giờ moi được lời thú tội từ hắn. Hắn đồng ý làm kiểm tra phát hiện nói dối, kết quả là không phát hiện được gì. Sau đó, khi cảnh sát và các đặc vụ FBI xin được lệnh và đến lục soát ngôi nhà mà hắn sống với bố mẹ, những giáo viên đã về hưu, họ tìm thấy mấy cuốn sách hướng dẫn qua mặt máy phát hiện nói dối.

Cảnh sát nhận được lệnh lục soát vào ngày 3 tháng Sáu. Dù Williams đã rửa xe, nhưng cảnh sát vẫn tìm thấy lông và sợi liên hệ hắn với mười hai vụ giết người, đúng những người mà tôi đã suy luận là do cùng một kẻ giết.

Bằng chứng này rất thú vị. Họ không chỉ tìm thấy những sợi liên hệ các thi thể với phòng, nhà và xe của Williams, mà Larry Peterson của Phòng thí nghiệm tội phạm bang Georgia còn so sánh những sợi từ quần áo mà một số nạn nhân đã mặc vào một số dịp trước khi biến mất và cho kết quả trùng khớp. Nói cách khác, có sự liên hệ với Williams trước khi một số cái chết xảy ra.

Ngày 21 tháng Sáu, Wayne B. Williams bị bắt vì tội giết Nathaniel Cater. Việc điều tra những cái chết khác vẫn tiếp diễn. Bob Ressler và tôi đang ở Khách sạn Hampton, gần Newport News, Virginia, diễn thuyết trước một hội nghị của Hiệp hội Trung tâm Cải tạo các bang miền Nam thì vụ bắt giữ được tuyên bố. Tôi chỉ vừa từ Anh và vụ Đồ tể Yorkshire trở về, tôi đang nói về công việc của mình là nghiên cứu những kẻ sát nhân hàng loạt. Hồi tháng Ba, tạp chí People đã đăng một bài về Ressler và tôi với việc chúng tôi đang truy tìm kẻ sát nhân ở Atlanta. Trong bài báo, mà tổng bộ đã chỉ thị chúng tôi phải hợp tác, tôi nếu lên những yếu tố của bản mô tả nhân dạng kẻ này, đặc biệt là ý kiến của chúng tôi rằng Đối tượng vô danh là người da màu. Bài báo được độc giả cả nước chú ý. Thế là khi tôi đang nhận câu hỏi từ nhóm khán giả hơn 500 người, có người hỏi ý kiến của tôi về việc bắt giữ Williams.

Tôi nêu một số thông tin về vụ án và việc chúng tôi tham gia điều tra, cách chúng tôi đưa ra bản mô tả nhân dạng. Tôi nói hắn khớp với bản mô tả và cẩn thận nói thêm rằng nếu đúng thật là hắn thì tôi nghĩ hắn “trông khá ổn để có thể giết khá nhiều người”.

Tôi không biết người hỏi là một phóng viên, nhưng tôi dám chắc có biết tôi cũng sẽ trả lời như vậy. Hôm sau, lời tôi được trích dẫn trên tờ nhật báo Newport News-Hampton Daily Press như sau, “Hắn trông khá ổn để có thể giết khá nhiều người”, hoàn toàn không đề cập đến lời phát biểu vô cùng quan trọng của tôi trước đó.

Bài báo gây chú ý với cánh báo chí và hôm sau, cả nước trích dẫn lời tôi trên mọi chương trình tin tức và mọi tờ báo lớn, kể cả một bài báo trên Atlanta Constitution với tựa đề: “Chuyên viên FBI: Williams có thể đã giết nhiều người”.

Tôi nhận được cuộc gọi từ khắp mọi nơi. Máy quay của đài truyền hình xuất hiện ở sảnh khách sạn và cả hành lang bên ngoài phòng tôi. Ressler và tôi phải leo cầu thang thoát hiểm để ra ngoài.

Trong khi đó, ở tổng bộ, vụ việc đã gây ra nhiều rắc rối. Dường như một đặc vụ FBI có liên quan mật thiết tới vụ án đã tuyên bố Wayne Williams có tội mà không cần xét xử. Trên đường về Quantico, tôi cố gắng giải thích với Trưởng đơn vị Larry Monroe qua điện thoại về câu chuyện đã thực sự xảy ra. Anh ta và Phó Giám đốc Jim McKenzie cố gắng giúp tôi thoát khỏi vụ này và can thiệp với OPR - Văn phòng trách nhiệm chuyên môn.

Tôi nhớ lúc đó mình đang ngồi ở tầng trên của thư viện tại Quantico, nơi tôi thường tới để viết các bản mô tả nhân dạng trong bình yên và lặng lẽ. Ở đó cũng có lợi thế là có cửa sổ nhìn ra ngoài, không như các văn phòng ngầm của chúng tôi. Monroe và McKenzie đến nói chuyện với tôi. Họ là những người hết lòng ủng hộ tôi. Tôi là người duy nhất làm công việc mô tả nhân dạng toàn thời gian, tôi hoàn toàn kiệt sức vì phải chạy khắp nơi, Atlanta là vụ việc khiến tôi cạn kiệt cảm xúc, và lời cảm ơn tôi nhận được cho tất cả những điều đó là lời đe dọa bị khiển trách vì tuyên bố được cánh nhà báo chọn lọc mà không kèm theo ngữ cảnh.

Chúng tôi đã giành được thắng lợi lớn cho nghệ thuật mô tả nhân dạng và phân tích điều tra tội phạm nhờ vụ này. Đánh giá của chúng tôi về Đối tượng vô danh và điều hắn sẽ làm tiếp theo hoàn toàn chính xác. Mọi người đều đang quan sát chúng tôi, kể cả Nhà Trắng. Tôi đã rất liều lĩnh và nếu tôi sai thì chương trình này đã bị dẹp từ lâu.

Chúng tôi luôn được cảnh báo là công việc này có nguy cơ cao, lợi ích lớn. Nước mắt lưng tròng, tôi nói với Monroe và McKenzie tôi thấy công việc này “có nguy cơ cao và chả ích gì sất”. Tôi nói công sức mình bỏ ra thật không đáng và ném mấy tập hồ sơ xuống bàn. Jim McKenzie bảo có lẽ tôi nói đúng, nhưng họ chỉ muốn giúp tôi thôi.

Khi tôi đến tổng bộ để trình bày trước OPR, điều đầu tiên tôi phải làm là ký vào giấy miễn trừ mọi quyền của mình. Bảo vệ công lý ở thế giới bên ngoài và thực thi công lý nội bộ không nhất định giống nhau. Điều đầu tiên họ làm là lấy ra cuốn tạp chí People. Trên trang bìa là ảnh của Jackie Onassis[4].

“Chẳng phải anh đã được cảnh báo về việc thực hiện những cuộc phỏng vấn như thế này sao?” Không, tôi nói, cuộc phỏng vấn đã được chấp thuận. Và ở đó, tôi đang nói về nghiên cứu về những kẻ sát nhân hàng loạt nói chung thì có ai đó khơi ra vụ án Wayne Williams. Tôi đã trả lời rất thận trọng. Tôi không thể can thiệp cách họ ghi lại câu trả lời của tôi.

Họ phê bình tôi suốt bốn tiếng đồng hồ. Tôi phải viết một báo cáo, xem qua các bài báo và việc gì đã xảy ra trên từng tờ. Khi tôi làm xong, họ chẳng nói gì, không phản hồi về cách xử lý vụ việc này của tôi. Tôi cảm thấy mình đã cống hiến cho Cục quá nhiều mà không có gì bảo đảm, hy sinh quá nhiều thứ khác, không dành được thời gian cho gia đình, và bây giờ tôi đang đối diện với viễn cảnh bị khiển trách, bị cắt lương hoặc có khi mất luôn việc. Trong mấy tuần tiếp theo, tôi không hề muốn rời giường mỗi buổi sáng.

Khi đó, Jack, bố tôi gửi cho tôi một lá thư. Trong thư, bố nói về quãng thời gian ông ngưng làm việc ở tờ Brooklyn Eagle vì họ không thể trả công. Ông cũng rất chán nản. Ông đã rất chăm chỉ, hoàn thành tốt phận sự, nhưng cũng cảm thấy không thể kiểm soát cuộc đời mình. Ông giải thích rằng ông đã học cách đối diện với mọi chuyện xảy đến với mình như thế nào và tập hợp các nguồn nội lực để cố gắng thêm một ngày ra sao. Tôi mang theo lá thư đó trong cặp táp của mình suốt một thời gian dài sau khi xảy ra sự việc này.

Sau năm tháng, OPR quyết định khiển trách tôi, quả quyết tôi đã được cảnh báo sau bài báo của People là không được nói chuyện với báo giới về những cuộc điều tra chưa có kết quả. Lá thư khiển trách do chính Giám đốc Webster gửi đến.

Dù rất giận nhưng tôi không có thời gian than vãn trừ phi chuẩn bị nghỉ hẳn, và dù cảm xúc của tôi về tổ chức ở thời điểm đó có như thế nào đi nữa, với tôi, công việc này quá quan trọng. Tôi còn nhiều vụ án đang điều tra trên khắp nước Mỹ và phiên xét xử Wayne Williams sắp diễn ra. Đã đến lúc cố gắng thêm một ngày.

Phiên xét xử Wayne Williams bắt đầu vào tháng Một năm 1982 sau sáu ngày chọn bồi thẩm đoàn. Ban bồi thẩm sau cùng chủ yếu là người da màu, chín nữ, ba nam. Tuy chúng tôi cảm thấy hắn chịu trách nhiệm cho việc giết ít nhất mười hai đứa trẻ nhưng Williams chỉ bị xét xử tội giết hai người, Nathaniel Cater và Jimmy Ray Payne. Trớ trêu là cả hai người này đều đã ở độ tuổi hai mươi.

Biện hộ cho Williams là một nhóm luật sư nổi tiếng đến từ Jackson, Mississipi - Jim Kitchens và Al Binder - và một nữ luật sư đến từ Atlanta - Mary Welcome. Một số thành viên chính ở bên khởi tố là các trợ lý công tố viên Gordon Miller và Jack Mallard. Vì tính chất công việc của tôi trong giai đoạn điều tra vụ án nên văn phòng công tố viên yêu cầu tối đến và cố vấn cho họ khi phiên tòa diễn ra. Phần lớn thời gian vụ kiện, tôi ngồi ngay sau bàn của ban công tố.

Nếu phiên tòa đó diễn ra vào lúc này, tôi có thể làm chứng về cách thức gây án, những khía cạnh đặc trưng và sự liên hệ các vụ án với nhau, như tôi đã làm trong nhiều phiên tòa khác. Và nếu có kết án, trong quá trình cân nhắc hình phạt, tôi có thể đưa ra ý kiến chuyên môn về sự nguy hiểm của bị cáo trong tương lai. Nhưng năm 1982, những gì chúng tôi làm chưa được các tòa án công nhận nên tôi chỉ có thể cố vấn về chiến lược khởi tố.

Phần lớn bằng chứng khởi tố dựa trên khoảng 700 sợi lông và sợi tổng hợp, đã được Larry Peterson và đặc vụ Hal Deadman, một chuyên gia từ phòng thí nghiệm của FBI ở Washington phân tích tỉ mỉ. Dù Williams chỉ bị truy tố tội giết hai người nhưng quy trình xử án hình sự ở Georgia cho phép tiểu bang đưa vào các vụ án khác có liên hệ, điều không thể thực hiện ở Mississippi và bị cáo dường như không chuẩn bị trước để đối phó. Vấn đề trong việc khởi tố là Williams có phong thái nhẹ nhàng, điềm tĩnh, nói chuyện lịch thiệp và thân thiện. Với cặp kính dày, đường nét gương mặt hiền hòa, hai bàn tay mảnh dẻ, trông hắn giống linh vật Pillsbury Doughboy hơn là một kẻ sát hại hàng loạt trẻ em. Hắn đã bắt đầu trả lời báo chí rằng hắn vô tội và việc bắt giữ hắn hoàn toàn do phân biệt chủng tộc. Ngay trước khi phiên tòa bắt đầu, hắn đã nói trong một bài phỏng vấn, “Tôi thấy FBI như những cảnh sát vô năng Keystone Kops[5] và cảnh sát Atlanta thì giống trong bộ phim Xe 54, các anh đang ở đâu?[6]”

Không ai ở bên khởi tố hy vọng Williams sẽ đứng ra làm chứng, nhưng tôi nghĩ hắn có thể. Từ hành vi của hắn trong các vụ án và kiểu tuyên bố công khai này, tôi nghĩ hắn rất ngạo mạn và đủ tự tin để nghĩ hắn có thể thao túng phiên tòa như cách hắn đã thao túng công chúng, báo chí và cảnh sát.

Trong cuộc họp kín giữa hai bên diễn ra ở phòng của Thẩm phán Clarence Cooper, Al Binder nói rằng họ mang đến một chuyên gia tâm lý pháp y nổi tiếng từ Phoenix tên là Michael Brad Bayless để làm chứng Williams không khớp với bản mô tả nhân dạng và không có khả năng giết người. Tiến sĩ Bayless đã tiến hành ba cuộc kiểm tra thẩm vấn riêng với Williams.

“Được thôi”, Gordon Miller nói. “Anh mời ông ấy đến thì chúng tôi sẽ mời nhân chứng bác bỏ là một đặc vụ FBI, người đã dự đoán được mọi chuyện diễn ra trong vụ này cho đến hiện nay”

“Chết tiệt, chúng tôi muốn gặp anh ta”, Binder nói. Miller bảo rằng tôi đã ngồi sau bàn bên khởi tố suốt phiên tòa.

Nhưng tôi đã gặp cả hai bên. Chúng tôi sử dụng phòng của ban bồi thẩm. Tôi giải thích công việc của mình cho bên biện hộ và nói rằng nếu họ không hài lòng việc tôi là đặc vụ FBI hay không phải một tiến sĩ, tôi có thể mời đến một chuyên gia tâm thần học đã làm việc với chúng tôi, Park Dietz, để nghiên cứu vụ án, và tôi tin ông ấy cũng sẽ làm chứng cho những điều tương tự.

Binder và cộng sự có vẻ rất hứng thú với những gì tôi cần nói. Họ thân thiện và bày tỏ sự tôn trọng, Binder còn bảo tôi rằng con trai anh ta muốn trở thành đặc vụ FBI.

Nhưng cuối cùng, Bayless không ra làm chứng. Trong tuần đầu sau khi phiên tòa kết thúc, ông ấy nói với các phóng viên của Atlanta Journal và Atlanta Constitution rằng ông ấy tin Williams có khả năng giết người, rằng hắn là một “người tự ti” và theo ông ấy, động cơ của các vụ giết người là “quyền lực và nhu cầu kiểm soát đến mức ám ảnh”. Ông ấy cho rằng Williams “muốn tôi làm một vài điều, là thay đổi báo cáo của tôi, đừng nói một số điều, hoặc đừng ra làm chứng”. Ông ấy quả quyết một trong những khó khăn chính đối với bên biện hộ là thái độ khăng khăng muốn tự mình kiểm soát mọi thứ của Williams.

Tôi thấy việc này vô cùng thú vị, chủ yếu vì nó trùng khớp hoàn toàn với bản mô tả mà Roy Hazelwood và tôi đã đưa ra. Nhưng trong phiên tòa, tôi phát hiện một sự việc bất thường khác cũng thú vị không kém.

Giống như đa số người tham dự phiên tòa đến từ nơi khác, tôi ở tại Khách sạn Marriot ở trung tâm, gần tòa án. Một tối nọ, tôi đang dùng bữa một mình ở phòng ăn thì một người đàn ông da màu lịch lãm khoảng hơn bốn mươi đến bàn tôi và tự giới thiệu mình là tiến sĩ Brad Bayless. Tôi bảo tôi biết ông ấy là ai và tại sao ông ấy ở đây. Ông ấy liền hỏi liệu mình có thể ngồi đây không.

Tôi nói hai chúng tôi bị nhìn thấy ngồi cùng nhau thì không hay lắm nếu ngày mai ông ấy ra làm chứng cho bị cáo. Nhưng Bayless bảo ông ấy không lo chuyện đó, rồi ngồi xuống và hỏi tôi biết gì về ông ấy cũng như nghề nghiệp của ông, hóa ra là tôi biết khá nhiều. Tôi cho ông ấy một bài giảng vắn tắt về tâm lý học tội phạm và nhận xét nếu ông ấy làm chứng theo kiểu bị cáo muốn, ông ấy sẽ tự bêu xấu bản thân và chuyên ngành của mình. Khi rời đi, ông ấy bắt tay tôi và nói rất muốn đến Quantico để học. Tôi nheo mắt và nói để xem ngày mai ông biểu hiện ra sao ở tòa.

Hôm sau ở tòa, tôi ngạc nhiên khi nghe nói tiến sĩ Bayless đã trở về Arizona mà không làm chứng. Trên băng ghế, Binder đang than vãn về “quyền lực của ban truy tố” và việc họ hù dọa các chuyên gia đến làm nhân chứng của ông ta chạy mất dép. Thực ra tôi vẫn chưa ra tay dọa nạt, nếu quả thực họ đã bỏ về hết, nhưng chắc chắn tôi sẽ không lãng phí cơ hội. Tuy nhiên, tôi nghĩ sự thật là tiến sĩ Bayless quá chính trực nên phải nói đúng những gì ông ấy thấy và không để mình bị bên nào lợi dụng cho mục đích riêng.

Trong phiên của bên truy tố, Hal Deadman và Larry Peterson đã làm rất tốt việc phân tích bằng chứng gồm các sợi lông và sợi tổng hợp, nhưng đó là vấn đề cực kỳ phức tạp và về bản chất thì không hoa mỹ cho lắm; cái gì mà sợi này xoắn theo hướng này còn sợi kia xoắn theo hướng kia. Cuối cùng, họ chứng minh những sợi từ trên người mười hai nạn nhân trùng khớp với drap trải giường màu tím và xanh lá của Williams, liên hệ đa số sợi này với tấm thảm trong phòng ngủ, khoảng nửa số sợi với tấm thảm trong phòng khách và cũng chừng đó sợi với chiếc Chevrolet năm 1970 của hắn, và trong tất cả trường hợp, trừ một trường hợp duy nhất, đều có liên hệ với lông con chó chăn cừu Đức tên Sheba của bị cáo.

Đến phiên bên biện hộ, họ đưa ra một người đến từ Texas đẹp trai và thu hút giống Kennedy, cứ cười nhe răng với bồi thẩm đoàn, để bác bỏ lời chứng của Deadman. Cuối phiên xử, khi nhóm truy tố họp bàn để tổng kết diễn biến hôm đó, mọi người đều cười cợt rằng anh chàng điển trai đến từ Kansas nói chuyện chẳng thuyết phục chút nào.

Họ đến tìm tôi. “Anh nghĩ thế nào, John?” Tôi đã quan sát bồi thẩm đoàn. Tôi nói: “Tôi bảo các anh biết điều này: các anh sắp thua rồi”. Bọn họ đều bị sốc, đó là điều cuối cùng họ muốn nghe.

“Có thể các anh thấy anh ta nói không thuyết phục”, tôi giải thích, “nhưng bồi thẩm đoàn tin anh ta”. Tôi hiểu điều mà Hal Deadman nói và tôi vẫn cảm thấy khó có tiến triển. Các nhân chứng bên biện hộ có thể đã quá xuề xòa, nhưng lời họ vẫn dễ hiểu hơn nhiều.

Họ tử tế nên không bảo tôi nói nhảm nhưng với tư cách một chuyên viên mô tả nhân dạng sắc sảo, tôi nhận ra mình không được chào đón ở đây. Tôi có hằng hà sa số vụ án lớn đang chờ và tôi đang chuẩn bị cho phiên tòa vụ sát hại Mary Frances Stoner. Ngần ấy thời gian đi lại cũng bắt đầu ảnh hưởng đến tôi. Cuộc hôn nhân của tôi đang gặp rắc rối vì tôi không ở bên gia đình mình, không thu được thành quả luyện tập mà mình cần và lúc nào cũng căng thẳng. Tôi gọi cho Larry Monroe ở Quantico và báo rằng tôi sẽ trở về nhà.

Ngay khi tôi trở lại Sân bay Quốc gia và lái xe về nhà thì nhận được tin nhắn nói rằng ban truy tố đã suy nghĩ lại. Họ bắt đầu nghi một số điều mà tôi nói có thể đang xảy ra. Họ muốn tôi trở lại Atlanta để giúp họ thẩm vấn các nhân chứng của bị cáo.

Thế nên hai ngày sau, tôi bay về đó. Bây giờ họ đã cởi mở hơn nhiều, nhờ tôi tư vấn cho. Và ngạc nhiên lớn nhất với họ là Wayne Williams quyết định ra làm chứng, như tôi đã dự đoán. Hắn được thẩm vấn bởi luật sư của mình, Al Binder, một người có giọng nói trầm, rền vang. Cách anh ta cúi người khi đặt câu hỏi khiến anh ta trông như một con cá mập, đó là lý do anh ta có biệt danh Hàm cá mập.

Anh ta liên tục lặp đi lặp lại cùng một điều với bồi thẩm đoàn. “Nhìn anh ta đi! Trông anh ta có giống một kẻ sát nhân hàng loạt không? Nhìn đi. Đứng dậy nào, Wayne”, anh ta bảo hắn giơ hai bàn tay ra. “Nhìn xem tay anh ta mềm mại chưa này. Quý vị nghĩ anh ta có sức mạnh để giết ai đó, siết cổ người ta với hai bàn tay này sao?”

Binder đưa Williams lên bục nhân chứng vào giữa ngày và tiếp tục cho hắn đứng đó suốt hôm sau. Bản thân Williams cũng diễn rất tròn vai, như hắn đã dự đoán. Mọi người hoàn toàn tin hắn là nạn nhân vô tội của một hệ thống phân biệt chủng tộc cần nhanh chóng tìm ra nghi phạm và đã tìm ra một tên là hắn.

Vì vậy, câu hỏi tiếp theo đặt ra cho bên truy tố là làm sao để thẩm vấn chéo hắn đây? Trợ lý công tố Jack Mallard được chọn. Anh ta sẽ thẩm vấn hắn. Anh ta có lối nói chuyện từ tốn và ngữ điệu miền Nam nhẹ nhàng.

Tôi không được đào tạo chính thức về quy trình trong phòng xử án hay thẩm vấn nhân chứng, nhưng tôi có bản năng cần thiết cho trường hợp này. Thực ra tất cả đều quy về vấn đề “đặt mình vào vị trí” của người khác. Tôi tự hỏi điều gì sẽ làm mình nổi giận? Và câu trả lời là bị thẩm vấn bởi người biết tôi có tội, dù tôi có cố thuyết phục anh ta nghĩ khác đi.

Tôi bảo Mallard, “Còn nhớ chương trình truyền hình Đây là cuộc đời của bạn? chứ? Anh phải làm như thế với hắn. Anh phải giữ hắn đứng trên bục đó càng lâu càng tốt, anh phải khiến hắn đầu hàng. Vì hắn là một kẻ cứng rắn, tự chủ thái quá, hắn bị ám ảnh cưỡng chế. Để bẻ gãy sự cứng rắn đó, anh phải gây áp lực cho hắn, duy trì áp lực đó bằng cách xoáy vào mọi khía cạnh trong cuộc sống của hắn, kể cả những điều tưởng chừng như vô nghĩa, ví dụ như hắn học trường nào. Cứ ép hắn như thế. Sau đó, khi hắn đã kiệt sức, anh phải chạm vào người hắn, như cách Al Binder làm. Điều có lợi cho bên biện hộ cũng sẽ có lợi cho bên truy tố. Lại gần, xâm nhập vào không gian của hắn và khiến hắn không kịp trở tay. Trước khi luật sư biện hộ có cơ hội phản đối, hãy hỏi hắn bằng giọng thật thấp: Anh có hoảng sợ không, Wayne, khi giết mấy đứa trẻ đó?”

Khi đến phiên mình, Mallard đã làm đúng như thế. Trong mấy giờ đầu của phiên thẩm vấn chéo, anh ta không thể khiến Williams lo lắng. Anh ta làm lộ ra một số điểm mâu thuẫn rành rành, nhưng hắn vẫn cứ là gã Williams đầy bình tĩnh “Sao có thể là tôi được?” Công tố viên Mallard tóc xám, vest xám cẩn thận điểm qua các sự kiện trong đời hắn, rồi đến thời điểm thích hợp, anh ta tiến lại gần, đặt bàn tay lên cánh tay Williams, và hỏi bằng chất giọng thấp, kéo dài của vùng nam Georgia, “Cảm giác đó như thế nào, Wayne? Cảm giác khi anh siết các ngón tay quanh cổ họng nạn nhân? Anh có sợ không? Anh có sợ không?”

Và bằng giọng nói yếu ớt, Williams đáp: “Không”. Sau đó, hắn nhận ra mình vừa phạm sai lầm. Hắn nổi cơn tam bành. Hắn chỉ ngón tay vào tôi và hét lên: “Anh đang cố làm cho tôi khớp với bản mô tả đó của FBI, tôi sẽ không giúp anh đâu!”

Đoàn luật sư biện hộ nổi giận. Williams thì phát rồ, chửi rủa “những tên FBI ngu ngốc” và gọi nhóm truy tố là “lũ đần”. Nhưng đó chính là bước ngoặt của phiên tòa. Sau này chính các thành viên bồi thẩm đoàn đã nói thế. Họ há hốc miệng nhìn. Lần đầu tiên họ thấy được mặt khác của Wayne Williams. Họ tận mắt chứng kiến sự biến hóa. Họ đã hiểu hắn có thể sử dụng bạo lực như thế nào. Mallard nháy mắt với tối, rồi trở lại với việc tấn công Williams trên bục.

Sau sự bùng nổ đó của hắn ở phiên tòa, tôi biết hắn biết cơ hội duy nhất của hắn là giành lại chút đồng cảm mà hắn đã gây dựng suốt phiên tòa. Tôi vỗ vai Mallard và nói, “Jack, anh để ý mà xem. Một tuần sau, Wayne sẽ đổ bệnh. Tôi không biết tại sao tôi lại chọn khung thời gian là một tuần nhưng đúng một tuần sau, phiên tòa bị gián đoạn, Williams được đưa vào bệnh viện vì đau dạ dày. Các bác sĩ không phát hiện ra điểm bất thường nào và cho hắn xuất viện.

Trong phần trình bày trước bồi thẩm đoàn, luật sư của Williams là Mary Welcome đưa ra một cái đê, dùng để bảo vệ ngón tay khi đẩy kim trong lúc may, và hỏi họ “Các vị sẽ để một mẩu bằng chứng cỏn con như vậy buộc tội người đàn ông này sao?” Cô ta giơ lên một miếng thảm màu xanh lá lấy từ văn phòng mình, nói rằng nó là món đồ vô cùng phổ biến. Làm sao có thể buộc tội một người đàn ông vì nhà anh ta có chiếc thảm màu xanh lá?

Thế nên, hôm đó, tôi cùng vài đặc vụ đến văn phòng luật của cô ta. Chúng tôi vào văn phòng của cô ta khi cô ta không ở đó và lấy một vài sợi thảm. Chúng tôi mang những sợi này về, nhờ các chuyên gia soi chúng dưới kính hiển vi và đưa bằng chứng cho nhóm truy tố, chứng minh những sợi lấy từ chiếc thảm của cô ta hoàn toàn khác với những sợi lấy từ chiếc thảm trong nhà Williams.

Ngày 27 tháng Hai năm 1982, sau mười hai giờ đồng hồ thận trọng cân nhắc, bồi thẩm đoàn tuyên bố hắn có tội trong cả hai vụ giết người. Wayne B. Williams bị tuyên hai án chung thân liên tiếp, mà hắn đang thi hành tại Trại Cải tạo Valdosta ở miền nam Georgia. Hắn vẫn duy trì vẻ vô tội ấy và những tranh cãi xung quanh hắn chưa bao giờ lắng xuống hay biến mất. Nếu hắn có thể kháng cáo thành công, tôi tin kết quả cũng vẫn như vậy.

Bất chấp những gì mà người ủng hộ hắn nói, tôi tin bằng chứng pháp y và hành vi đã chỉ ra Wayne Williams là kẻ sát hại mười một cậu bé ở Atlanta. Bất chấp những gì mà người phỉ báng và buộc tội hắn nói, tôi tin không có bằng chứng thuyết phục nào liên hệ hắn với tất cả hay thậm chí là phần lớn những vụ tử vong và mất tích của trẻ em ở thành phố đó từ năm 1979 đến năm 1981. Bất chấp những điều mà một số người muốn tin, trẻ em cả da trắng lẫn da màu vẫn tiếp tục chết một cách bí ẩn ở Atlanta và những thành phố khác. Chúng tôi biết ai chịu trách nhiệm cho một số vụ án khác. Không chỉ có một tên tội phạm, sự thật quả là không dễ chịu. Nhưng cho đến nay, không có chứng cứ cũng không có sự quyết tâm công khai nhằm truy tố các vụ việc.

Tôi nhận được một số thư khen ngợi và biểu dương cho kết quả công việc của mình trong vụ Wayne Williams, trong đó có thư từ Văn phòng Ủy viên công tố quận Fulton nói rằng tôi đã đưa ra chiến thuật thẩm vấn chéo rất hiệu quả, và một lá thư từ John Glover, SAC của Văn phòng thực địa Atlanta, tóm tắt toàn bộ cuộc điều tra ATKID. Một trong những lá thư làm tôi thấy cảm động và được trân trọng nhất là thư của Al Binder, trưởng đoàn luật sư biện hộ, nói rằng anh ta rất ấn tượng với những gì chúng tôi đã làm.

Những lá thư này đến cùng lúc với thư khiển trách. Jim McKenzie, rất không hài lòng với chuyện này, đã ghi tên tôi vào để nhận một phần thưởng khích lệ, không chỉ cho vụ Williams mà còn cho năm vụ án khác mà tôi đã góp công.

Phần thưởng đến vào tháng Năm. Thế là bây giờ tôi có một lá thư khen ngợi từ ngài giám đốc bên cạnh lá thư khiển trách cho cùng một án. Lá thư có một phần nội dung rằng “bằng tài năng, sự tận tụy và chuyên nghiệp của mình, đồng chí quả thực đã nâng cao danh tiếng của Cục trên toàn quốc, chắc chắn những đóng góp giá trị của đồng chí thực sự đáng trân trọng”. Kèm theo thư khen ngợi là một phần thưởng “trị giá” 250 đô la tiền mặt, theo tôi tính là tương đương khoảng 5 xu một giờ. Tôi lập tức quyên góp số tiền cho Quỹ viện trợ của Hải quân để trợ cấp gia đình của những người lính đã hy sinh khi phục vụ cho tổ quốc.

Nếu bây giờ chúng tôi gặp một vụ án như vụ sát hại trẻ em ở Atlanta, tôi cho rằng chúng tôi có thể bắt kẻ sát nhân sớm hơn nhiều, trước khi chuỗi những cái chết và nỗi đau khổ kéo dài đến đáng sợ. Tất cả chúng tôi sẽ điều phối công việc của mình hiệu quả hơn nhiều. Các kỹ thuật chủ động trong điều tra của chúng tôi sẽ tinh vi và dựa vào kinh nghiệm thực tế hơn nhiều. Chúng tôi sẽ biết cách dàn dựng cuộc thương thuyết để đạt được hiệu quả tối đa. Chúng tôi sẽ lên kế hoạch xin lệnh lục soát tốt hơn và lấy được lệnh trước khi các bằng chứng quan trọng bị tiêu hủy.

Nhưng dù đã phạm những sai lầm gì, vụ án ATKID vẫn là bước ngoặt mang tính quyết định cho đơn vị chúng tôi. Chúng tôi đã ghi tên mình lên bản đồ kỹ thuật điều tra, chứng minh giá trị của công việc mình làm và trong quá trình đó, đã giành được sự tín nhiệm tức thời trong cộng đồng thi hành luật khắp thế giới, giúp bắt giữ thêm một kẻ sát nhân khác.

Nguy cơ cao, lợi ích lớn.

❀ ❀ ❀

[1] Tên thường gọi là KKK hoặc the Klan, là một nhóm người thù ghét ở Mỹ, cho rằng người da trắng là thượng đẳng (white supremacist). Mục tiêu chính của chúng là những người Mỹ gốc Phi, người Do Thái, dân di cư, người theo phe cánh tả, người đồng tính, và gần đây là cả những người theo Công giáo. Chúng luôn mặc áo thụng trắng, đội mũ trùm che kín mặt.

[2] Thời kỳ Victoria ở Anh thuộc giai đoạn trị vì của nữ hoàng Victoria, từ năm 1837 đến năm 1901.

[3] Vận động viên bóng bầu dục chuyên nghiệp của Mỹ.

[4] Cựu Đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ, vợ của Tổng thống John F. Kennedy, được xem là biểu tượng phong cách và văn hóa của quốc tế.

[5] Những cảnh sát hư cấu, vô năng, hài hước, trong bộ phim hài câm do Mack Sennett sản xuất cho phim Keystone của ông từ năm 1912 đến năm 1917.

[6] Car 54, Where Are You?: bộ phim hài của Mỹ được phát trên đài NBC về hai cảnh sát ở thành phố New York được phân cho chiếc xe tuần tra số 54.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.