Kẻ Săn Suy Nghĩ

Lượt đọc: 132 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
Làm hại những người ta yêu thương

❊ ❊ ❊

Một ngày nọ, khi đang xem xét các hồ sơ vụ án trong văn phòng không có cửa sổ của mình tại Quantico, Gregg McCrary nhận được cuộc gọi từ một trong các phòng cảnh sát thuộc vùng anh ấy phụ trách. Đó là một trong những vụ án đau đớn mà quý vị thường nghe thấy.

Một người mẹ đơn thân còn trẻ định ra khỏi khu chung cư để đi mua sắm với đứa con trai hai tuổi. Ngay trước khi lên xe, cô ta đột nhiên bị đau bụng dữ dội nên quay lại, băng nhanh qua bãi đậu xe, vào một nhà vệ sinh ngay bên trong cửa sau của khu chung cư. Đó là một khu dân cư an toàn, thân thiện, mọi người đều biết nhau, và cô ta đã dặn dò đứa bé rất kỹ rằng phải ở trong tòa nhà và chơi ngoan cho đến khi cô ta ra.

Tôi chắc quý vị đã đoán được sự việc tiếp theo. Khoảng bốn mươi lăm phút sau cô ta mới giải quyết xong vấn đề trong nhà vệ sinh. Cô ta đi ra và đứa bé không còn trong sảnh. Chưa lo lắng gì, cô ta bắt đầu tìm kiếm, cho rằng thằng bé chỉ đi đâu đó một chút, dù thời tiết bên ngoài đang lạnh và có gió. Nhưng rồi cô ta trông thấy nó: một trong hai chiếc găng tay đan của thằng bé đang nằm trên nền gạch bãi đậu xe còn thẳng bé thì chẳng thấy đâu. Lúc này cô ta bắt đầu hoảng sợ.

Cô ta chạy trở vào căn hộ của mình và lập tức gọi 911. Cô ta cuống cuồng nói với nhân viên tổng đài rằng con mình đã bị bắt cóc. Cảnh sát nhanh chóng đến nơi, lục soát cả khu vực để tìm manh mối. Lúc này người phụ nữ trẻ đang phát điên lên.

Truyền thông đăng tin về câu chuyện này. Người mẹ trẻ đứng trước micro và cầu xin kẻ đã bắt con trai cô ta hãy trả thằng bé lại. Tuy cảnh sát rất thông cảm, nhưng họ muốn làm mọi thứ để bảo đảm không có sai sót nên họ lặng lẽ thực hiện một cuộc kiểm tra phát hiện nói dối, người mẹ trẻ vượt qua thử thách này. Họ biết trong các trường hợp bắt cóc trẻ em, thời gian là mấu chốt nên họ gọi cho Gregg.

Anh ta nghe mô tả hiện trường và bản thu âm cuộc gọi 911. Có điều gì đó anh ta không thích trong cuộc gọi này. Sau đó, sự việc có tiến triển mới. Người mẹ đang đau khổ nhận được một bưu kiện nhỏ trong hòm thư. Bưu kiện không có địa chỉ gửi, ghi chú hoặc liên hệ nào đi kèm - chỉ có chiếc găng tay cùng bộ với chiếc cô ta tìm thấy trong bãi đậu xe. Người phụ nữ lòng đau như cắt. Nhưng bây giờ Gregg đã biết. Anh ta nói với cảnh sát thằng bé đã chết và người mẹ đã giết nó.

Làm sao anh biết? Cảnh sát gặng hỏi. Trẻ em bị bọn biến thái bắt đi là chuyện thường thấy. Làm sao anh biết vụ này không tương tự?

Gregg giải thích cho họ. Đầu tiên là hiện trường. Không ai lo con trai mình bị bọn xấu bắt đi hơn mẹ nó. Việc cô ta để con một mình không ai trông trong thời gian dài như vậy có hợp lý không? Nếu cô ta cần vào nhà vệ sinh lâu, chẳng phải cô ta nên mang thằng bé theo hoặc thu xếp thế nào đó? Có khả năng chuyện đã xảy ra như cô ta nói, nhưng rồi chúng ta bắt đầu kết hợp các yếu tố với nhau xem.

Trong đoạn băng ghi âm cuộc gọi 911, cô ta theo bản năng nói rằng ai đó đã “bắt cóc” con mình. Theo kinh nghiệm của Gregg, các ông bố bà mẹ sẽ làm mọi thứ để chối bỏ tình huống khủng khiếp đó. Trong cơn hoảng loạn, cô ta có thể nói là thằng bé đã mất tích, nó đã chạy đi đâu đó, cô ta không biết nó ở đâu hay đại loại vậy. Việc cô ta dùng từ bắt cóc ở giai đoạn này cho thấy cô ta đã nghĩ đến cảnh tượng sẽ xảy ra trước.

Lời khẩn cầu đẫm nước mắt trước giới truyền thông không mang tính buộc tội nhưng bây giờ tất cả chúng ta đều bị ám ảnh bởi hình ảnh Susan Smith ở Nam Carolina cầu xin cho hai đứa con trai mình trở về nhà an toàn[1]. Nhìn chung, chúng ta thấy những bậc phụ huynh làm việc này hoàn toàn thành khẩn. Vấn đề là kiểu phô trương này có xu hướng bị những người không thành khẩn lợi dụng để hợp pháp hóa.

Nhưng điểm mấu chốt cuối cùng với Gregg là việc gửi lại chiếc găng tay. Về cơ bản, trẻ em bị bắt cóc vì một trong ba lý do: bọn bắt cóc đòi lợi ích; những kẻ ấu dâm bắt cóc để thỏa mãn sở thích tình dục; những người đáng thương, cô đơn, thần kinh bất ổn - những người muốn có con. Kẻ bắt cóc phải liên hệ với gia đình, qua điện thoại hoặc thư, để đưa ra yêu sách. Hai loại kia sẽ không muốn dính dáng đến gia đình bọn trẻ. Không ai trong ba loại này chỉ gửi lại một món đồ để gia đình biết đứa trẻ đã bị bắt. Gia đình đã sớm biết điều đó. Nếu có bằng chứng cho sự hợp lý của tội ác này, nó phải kèm theo một yêu sách gì đó; nếu không, nó hoàn toàn vô nghĩa.

Theo nhận định của Gregg, người mẹ đã sắp đặt một vụ bắt cóc theo tưởng tượng của cô ta về một vụ bắt cóc thật. Đáng tiếc cô ta không biết được những động cơ thực sự của loại tội phạm này nên đã làm sai.

Rõ ràng cô ta có lý do cho việc mình làm và vì vậy có thể tự thuyết phục rằng mình không làm gì sai. Đó là lý do cô ta vượt qua bài kiểm tra phát hiện nói dối. Nhưng Gregg không hài lòng với kết quả đó. Anh ta mời một chuyên gia kiểm tra phát hiện nói dối có kinh nghiệm của FBI và cho cô ta làm kiểm tra lại, lần này đã biết cô ta là nghi phạm. Và lần này kết quả hoàn toàn khác. Sau buổi thẩm vấn trực tiếp, cô ta thừa nhận đã giết con mình và dẫn cảnh sát đến nơi chôn xác.

Cô ta có động cơ thường thấy, mà Gregg đã nghi ngờ từ lâu. Cô ta là một người mẹ đơn thân còn trẻ, phải gác lại những cuộc vui của lứa tuổi trạc đôi mươi vì con cái. Cô ta đã gặp một người đàn ông, anh ta muốn tiến một bước trong mối quan hệ của họ và bắt đầu một gia đình mới của riêng họ. Nhưng anh ta nói rõ rằng không có chỗ cho đứa trẻ này trong cuộc sống của họ.

Điều quan trọng ở loại vụ án này là nếu cảnh sát tình cờ phát hiện thi thể nhưng đứa bé không được báo mất tích thì Gregg vẫn sẽ đưa ra kết luận tương tự. Đứa trẻ được tìm thấy trong rừng, mặc một bộ quần áo ấm, quấn trong một tấm chắn, sau đó được che kín hoàn toàn bằng túi ni lông dày. Một kẻ bắt cóc hay sàm sỡ trẻ em không dành nhiều tâm tư để cậu bé được ấm áp và “thoải mái” hay cố gắng che chắn thi thể khỏi những thứ xung quanh. Trong khi nhiều hiện trường án mạng cho thấy cơn thịnh nộ rõ rệt và tích tụ trong thời gian dài, còn các địa điểm vứt xác thể hiện sự khinh bỉ và thái độ thù địch thì những đặc điểm của việc chôn cất trong vụ này chỉ ra tình yêu và tội lỗi.

Nhân loại có lịch sử dài dằng dặc trong việc làm hại những người mà chúng ta yêu thương hoặc nên yêu thương. Thực ra, trong buổi phỏng vấn trên truyền hình đầu tiên của Alan Burgess sau khi trở thành trưởng Đơn vị Khoa học hành vi, anh ấy đã nói “Con người sử dụng bạo lực suốt nhiều thế hệ, từ tận thời Kinh Thánh khi Cain bắn Abel.” May mắn là các phóng viên dường như không chú ý đến cách diễn giải của anh ấy về món vũ khí giết người đầu tiên trên thế giới.

Một trong những vụ án lớn ở Anh hồi thế kỷ XIX liên quan đến những cáo buộc bạo lực trong gia đình. Năm 1860, thanh tra Jonathan Whicher thuộc Sở Cảnh sát Scotland Yard đến thị trấn Frome ở vùng Somerset điều tra vụ sát hại một em bé tên Francis Kent thuộc một gia đình nổi tiếng trong vùng. Cảnh sát địa phương tin rằng đứa bé bị những người gypsy giết hại, nhưng sau khi điều tra, Whicher bắt đầu tin rằng hung thủ thực sự là chị gái mười sáu tuổi của Francis tên Constance. Vì danh tiếng của gia đình và bản thân ý tưởng rằng một cô gái vị thành niên lại có thể giết em trai nhỏ của mình rất không thích hợp nên bằng chứng của Whicher bị bác bỏ tại tòa và Constance được tuyên bố trắng án trước những cáo buộc của ông dành cho cô ta.

Công chúng phản ứng với Whicher quá mạnh mẽ, buộc ông ấy phải từ chức ở Scotland Yard. Suốt nhiều năm, ông ấy tự mình điều tra để chứng minh mình đã đúng và cô gái này là một kẻ sát nhân. Cuối cùng, bị phá sản và sức khỏe kém nên ông ấy phải từ bỏ công cuộc truy tìm sự thật - một năm trước khi Constance Kent thú tội. Cô ta bị xét xử lại và nhận án chung thân. Ba năm sau, Wilkie Collins viết quyển tiểu thuyết trinh thám mang tính đột phá của mình, Đá mặt trăng, dựa trên vụ án của Kent.

Chìa khóa để phá những vụ sát hại người yêu hoặc người thân hay bị người yêu hoặc người thân sát hại chính là việc sắp đặt. Bất cứ ai gần gũi với nạn nhân đều phải làm gì đó để hướng sự nghi ngờ ra xa bản thân. Một trong những vụ án sớm nhất thuộc loại này mà tôi tham gia là vụ sát hại Linda Haney Dover ở Cartersville, bang Georgia, một ngày sau Giáng sinh năm 1980.

Tuy cô ấy và chồng là Larry đã ly hôn nhưng họ vẫn thân thiết vì lý do nào đó. Linda, hai mươi bảy tuổi, cao 1m57, nặng 54kg, thường đến ngôi nhà mà họ từng sống chung để dọn dẹp hộ Larry. Thực ra, cô ấy cũng đến đó dọn dẹp vào ngày thứ Sáu đó, 26 tháng Mười hai. Trong khi đó, Larry dẫn con trai của họ ra công viên chơi.

Khi hai bố con trở về sau chuyến đi chơi vào buổi chiều, Linda không còn ở đó. Nhưng thay vì một ngôi nhà sạch sẽ, ngăn nắp, Larry lại thấy phòng ngủ rất bừa bộn. Khăn trải giường và gối bị lôi xuống sàn, các hộc tủ bị kéo ra, quần áo vương vãi khắp nơi và trên thảm có những vết bẩn màu đỏ trông như máu. Larry lập tức báo cảnh sát, họ nhanh chóng có mặt và lục soát căn nhà từ trong ra ngoài.

Họ tìm thấy thi thể Linda được quấn trong tấm chăn ở phòng ngủ, chỉ lộ ra cái đầu, trong khoảng trống hẹp bên dưới căn nhà, nơi có thể tiếp cận các đường ống vào nhà. Khi giở tấm chăn ra, họ thấy áo và áo lót của cô ấy bị đẩy lên qua ngực, quần jean ở lưng chừng gối và quần lót bị kéo vừa qua khu vực nhạy cảm. Đầu và mặt nạn nhân có vết thương kín và nhiều vết đâm, mà theo cảnh sát là xảy ra sau khi áo lót bị đẩy lên. Họ tin vũ khí là một con dao trong một ngăn tủ bếp, nhưng họ không tìm được (và chưa bao giờ tìm được). Hiện trường án mạng cho thấy ban đầu cô ấy bị tấn công ở một phòng ngủ, sau đó thi thể cô ấy bị chuyển ra bên ngoài, vào trong khoảng trống dưới nhà. Những giọt máu trên đùi nạn nhân cho biết kẻ giết hại cô đã di chuyển và sắp đặt tư thế của cô.

Không có điều gì từ cuộc sống của Linda Dover khiến cô ấy trở thành nạn nhân có nguy cơ bị tấn công cao. Tuy cô ấy đã ly hôn với Larry nhưng không có mối quan hệ nào khác. Những yếu tố gây căng thẳng bất thường duy nhất là khoảng thời gian lễ lạt trong năm và điều gì đó đã phá vỡ cuộc hôn nhân của cô ấy.

Dựa trên ảnh chụp hiện trường và thông tin mà cảnh sát Cartersville gửi đến, tôi nói với họ Đối tượng vô danh sẽ thuộc một trong hai loại. Khả năng cao hắn là một kẻ cô độc tự ti, trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm, sống gần đó và tình cờ nhìn thấy cơ hội phạm tội này. Sau khi tôi nói điều này, cảnh sát có lưu ý rằng họ đang gặp vấn đề với một tên côn đồ trong khu này mà rất nhiều cư dân e sợ.

Nhưng vụ án có quá nhiều yếu tố sắp đặt, làm tôi thiên về loại thứ hai hơn: một người quen biết nạn nhân và vì vậy mà muốn hướng sự chú ý đi nơi khác. Lý do duy nhất khiến một kẻ sát nhân cảm thấy cần giấu thi thể ở khu vực lân cận thuộc nhóm mà chúng tôi phân loại là “giết người vì lý do cá nhân”. Vết thương ở mặt và cổ cũng mang tính cá nhân cao.

Tôi bảo họ là tôi cảm thấy Đối tượng vô danh thông minh nhưng chỉ học tới trung học và làm công việc đòi hỏi sức lực. Hắn sẽ có tiền sử có hành vi tấn công và khả năng chịu đựng những cảm xúc tiêu cực kém. Hắn ủ rũ, không thể chấp nhận thất bại và có lẽ bị trầm cảm vì lý do nào đó tại thời điểm giết người, khả năng cao nhất là do vấn đề tiền nong.

Việc sắp đặt hiện trường có logic và lý do căn bản của nó. Kẻ đã đối xử tàn bạo với Linda không muốn để thi thể cô ấy ở nơi lộ thiên để một thành viên gia đình khác - đặc biệt là con trai cô ấy - có thể tìm thấy. Đó là lý do hắn dành thời gian quấn cô ấy trong tấm chăn và chuyển cô ấy đến khoảng trống dưới sàn nhà. Hắn muốn làm vụ này trông như một vụ án vì tình dục - thế nên mới có việc đẩy áo ngực lên và để lộ bộ phận nhạy cảm bên dưới - nhưng lại không có bằng chứng cho thấy cô ấy bị cưỡng hiếp hay tấn công tình dục. Hắn nghĩ hắn phải làm điều này, nhưng vẫn cảm thấy không thoải mái khi cảnh sát thấy bộ phận nhạy cảm và ngực cô ấy lộ ra nên hắn quấn cô ấy lại bằng tấm chăn.

Tôi nói ban đầu hung thủ sẽ hợp tác và tỏ ra quan tâm thái quá nhưng sẽ trở nên kiêu ngạo và có thái độ thù địch khi bị nghi ngờ chứng cứ ngoại phạm. Hành vi sau gây án của hắn có thể là uống rượu, dùng ma túy nhiều hơn hoặc chuyển hướng sang tôn giáo. Có thể hắn đã thay đổi ngoại hình, thậm chí đổi việc và chuyển đi nơi khác. Tôi nói với cảnh sát hãy tìm kiếm manh mối cho thấy sự đảo ngược về hành vi và tính cách ở hắn.

“Hắn của hôm nay không hề giống với hắn trước vụ giết người”, tôi nói.

Điều tôi không biết là, lúc cảnh sát Cartersville đề nghị tôi mô tả nhân dạng, họ đã truy tố Larry Bruce Dover với tội giết vợ và muốn bảo đảm họ đi đúng đường. Điều này thực sự làm tôi nổi cáu vì nhiều lý do. Ví dụ, tôi có quá nhiều vụ án dang dở, không xử lý kịp. Nhưng quan trọng nhất, điều này đặt Cục vào tình thể không mấy dễ chịu. May mắn cho mọi người có liên quan là bản mô tả hoàn toàn trùng khớp. Như tôi giải thích với Giám đốc và SAC ở Atlanta, nếu bản mô tả không chính xác đến thế, một luật sư tài ba có thể gửi trát đòi tôi ra tòa làm nhân chứng biện hộ và buộc tôi phải nói rằng bản mô tả “chuyên nghiệp” của tôi khác với bị cáo ở nhiều điểm nhất định. Từ đó trở đi, tôi rút kinh nghiệm là phải luôn hỏi cảnh sát xem họ đã có nghi phạm chưa, dù tôi không muốn biết trước kẻ đó là ai.

Nhưng ít nhất công lý đã được thực thi trong vụ này. Ngày 3 tháng Chín năm 1981, Larry Bruce Dover bị buộc tội giết Linda Haney Dover và bị xử chung thân.

Một biến tấu khác trong chủ đề sắp đặt các vụ bạo lực gia đình là vụ sát hại Elizabeth Jayne Wolsieffer, còn gọi là Betty, vào năm 1986.

Sau bảy giờ sáng thứ Bảy, ngày 30 tháng Tám, cảnh sát ở Wilkes-Barre, Pennsylvania, được gọi đến số 75 đường Birch, nhà của một nha sĩ có tiếng và gia đình mình. Khi đến đó khoảng năm phút sau, các cảnh sát Dale Minnick và Anthony George gặp bác sĩ Edward Glen Wolsieffer ba mươi ba tuổi, đang nằm trên sàn, nạn nhân của một vụ siết cổ không thành và một cú đánh vào đầu. Em trai anh ta là Neil đang ở đó với anh ta. Neil giải thích là anh ta sống ở bên kia đường, được anh mình gọi và đã chạy ào đến. Glen đã bị choáng, mất định hướng và bảo rằng số điện thoại của Neil là số duy nhất anh ta nhớ được. Ngay khi Neil đến nơi, anh ta đã báo cảnh sát.

Hai người nói vợ của Glen, Betty, ba mươi hai tuổi, và con gái năm tuổi Danielle ở trên lầu. Mỗi lần Neil định lên xem họ thế nào, Glen lại ngất xỉu hoặc bắt đầu rên rỉ nên hai người họ chưa ai lên lầu. Glen bảo với Neil rằng anh ta sợ kẻ đột nhập vẫn còn trong nhà.

Minnick và George lục soát ngôi nhà. Họ không tìm thấy kẻ đột nhập nào nhưng phát hiện Betty chết trong phòng ngủ lớn. Nạn nhân nằm nghiêng trên sàn cạnh giường, đầu ở phía chân giường. Từ những vết bầm trên cổ, lượng bọt đang khô dần quanh mép và gương mặt bầm dập tím tái, có vẻ cô ấy đã bị siết cổ bằng tay. Tấm trải giường dính máu nhưng có vẻ mặt nạn nhân đã được lau sạch. Cô ấy chỉ mặc đầm ngủ, chiếc đầm bị đẩy lên tới thắt lưng.

Danielle vẫn an toàn và đang ngủ ở phòng ngủ bên cạnh. Khi thức dậy, cô bé nói với cảnh sát là mình không nghe thấy gì cả - không có âm thanh đột nhập, xô xát hay tiếng động nào.

Minnick và George trở xuống, không miêu tả cảnh tượng trên lầu mà hỏi bác sĩ Wolsieffer chuyện gì đã xảy ra. Anh ta nói anh ta bị đánh thức khi trời vừa sáng bởi tiếng động giống như có ai đó đột nhập vào nhà. Anh ta lấy khẩu súng ở bàn cạnh giường và đi xem xét mà không đánh thức Betty.

Khi đến gần cửa phòng ngủ, anh ta thấy một người đàn ông cao lớn ở đầu cầu thang. Dường như gã này không thấy anh ta, và anh ta theo hắn đi xuống lầu, nhưng rồi mất dấu và bắt đầu tìm hắn ở tầng trệt.

Anh ta đột ngột bị tấn công từ phía sau bằng một sợi dây thừng hay dây gì đó, nhưng anh ta đã kịp thả súng xuống và luồn bàn tay vào trước khi sợi dây siết chặt quanh cổ. Sau đó Glen đá ngược ra sau, trúng vào háng gã đàn ông, khiến hắn nới lỏng tay. Nhưng trước khi Glen kịp quay lại thì đã bị đánh vào đầu từ phía sau và bất tỉnh. Sau đó một lúc, khi tỉnh dậy, anh ta gọi cho em trai mình.

Cảnh sát hay nhân viên cấp cứu thấy những vết thương có thể nhận diện trên người bác sĩ Wolsieffer có vẻ không nguy hiểm - một vết thâm tím sau đầu, mấy vết đỏ trên gáy, vài vết xước nhỏ trên mạn sườn trái và ngực. Nhưng họ không muốn liều lĩnh đã đưa anh ta đến phòng cấp cứu. Vị bác sĩ ở đó cũng thấy anh ta không bị thương nặng, nhưng vẫn cho anh ta nhập viện vì nha sĩ báo lại rằng đã có anh ta lúc bất tỉnh.

Từ đầu, cảnh sát đã nghi ngờ câu chuyện của Wolsieffer. Có vẻ không hợp lý khi kẻ nào đó lại đột nhập vào ngôi nhà từ cửa sổ tầng một giữa ban ngày. Bên ngoài căn nhà, họ tìm thấy một cây thang dựa vào khung cửa sổ mở cửa phòng ngủ phía sau mà dường như gã đột nhập đã dùng để vào nhà. Nhưng chiếc thang quá yếu ớt, trông không giống như có thể đỡ được sức nặng của một người tầm vóc trung bình. Thang dựa vào tường nhà, các bậc thang hướng về phía không thuận. Chiếc thang không để lại vết lún trên đất mềm cho thấy một khối trọng lượng nào đó đã ở trên thang, cũng không có dấu vết gì trên đường ống máng xối mà nó dựa vào. Và không có sương hay cỏ gì trên các bậc thang hay mái nhà gần cửa sổ như thể có người đã dùng nó vào sáng hôm đó.

Có rất nhiều chỉ báo mâu thuẫn trong nhà. Dường như không có gì đáng giá bị lấy đi, thậm chí là những món nữ trang để lồ lộ trong phòng ngủ. Và nếu kẻ đột nhập có ý định giết người, sao hắn lại bỏ quên một người đàn ông đang bất tỉnh với một cây súng gần đó dưới nhà và trở lên tầng trên để giết, nhưng không tấn công tình dục, vợ của anh ta?

Có hai điểm đặc biệt khó chịu. Nếu Glen bị siết cổ đến mức bất tỉnh, tại sao không có dấu vết gì ở phía trước cổ anh ta? Và điểm lạ lùng nhất chính là: cả Glen và em trai anh ta, Neil, đều chưa lên lầu để xem xét tình trạng của Betty và Danielle.

Để khiến mọi chuyện rối thêm, câu chuyện của bác sĩ Wolsieffer tiến triển theo thời gian. Phần mô tả về kẻ đột nhập ngày càng rõ ràng khi anh ta nhớ được nhiều chi tiết hơn. Gã đó mặc áo nỉ đen, đeo mặt nạ vớ da và có một hàng ria mép, Wolsieffer nói. Anh ta tự mâu thuẫn với chính mình ở nhiều điểm. Anh ta nói với người nhà là mình ra ngoài vào tối thứ Sáu nhưng có nói chuyện với vợ trước khi ngủ. Anh ta đã khai với cảnh sát rằng chưa từng đánh thức cô ấy. Ban đầu, anh ta khai có khoảng 1.300 đô la trong ngăn bàn bị lấy mất, nhưng sau đó rút lại lời khi cảnh sát tìm thấy một tờ biên lai tiền gửi cho số tiền này. Khi cảnh sát đến sau cuộc gọi khẩn và định hỏi chuyện anh ta, dường như anh ta không đủ tỉnh táo và nói năng không mạch lạc, nhưng khi được báo về cái chết của vợ mình ở bệnh viện, anh ta nói có nghe cảnh sát gọi cho chuyên viên điều tra những cái chết bất thường.

Khi cuộc điều tra tiếp diễn, Glen Wolsieffer bịa ra những tình tiết mới và phức tạp hơn để giải thích cho vụ tấn công. Cuối cùng, số người đột nhập tăng lên thành hai. Anh ta thừa nhận có ngoại tình với một trợ lý nha khoa cũ nhưng trả lời cảnh sát rằng anh ta đã chấm dứt chuyện đó một năm trước. Tuy nhiên, sau đó anh ta lại thừa nhận vừa gặp - và ngủ - với cô gái này vài ngày trước vụ án mạng. Anh ta hờ hững khai với cảnh sát về một vụ vụng trộm khác với một phụ nữ đã kết hôn ở cùng thời điểm.

Bạn của Betty Wolsieffer kể với cảnh sát rằng tuy cô ấy rất yêu chồng và cố gắng hàn gắn, nhưng cô ấy rất mệt mỏi với hành vi của anh ta, đặc biệt là những buổi tối thứ Sáu muộn vốn đã trở thành chuyện cơm bữa. Nhiều ngày trước khi bị giết, cô ấy đã nói với một người bạn rằng mình sẽ “tỏ thái độ cương quyết” nếu Glen lại về muộn vào tối thứ Sáu tới.

Sau những buổi thẩm vấn ở nhà và bệnh viện, Glen từ chối nói chuyện với cảnh sát theo lời khuyên của luật sư. Thế nên cảnh sát tập trung vào Neil, em trai anh ta. Lời khai của cậu ta về buổi sáng hôm đó cũng lạ không kém lời khai của Glen. Cậu ta từ chối kiểm tra phát hiện nói dối, rằng nghe nói các bài kiểm tra này thường không chính xác và sợ bài kiểm tra của mình sẽ có kết quả không tốt. Sau nhiều lần cảnh sát cũng như gia đình Betty yêu cầu, với áp lực từ truyền thông về việc hợp tác điều tra, Neil đã lên lịch thẩm vấn với cảnh sát ở tòa án vào tháng Mười.

Khoảng 10:15 sáng, sau thời gian thẩm vấn ấn định mười lăm phút, Neil chết trong một vụ va chạm trực diện giữa chiếc xe hơi Honda nhỏ của mình và một chiếc xe tải Mack. Thực ra khi bị đụng, cậu ta đang lái xe rời khỏi tòa án. Kết quả điều tra của chuyên viên điều tra những cái chết bất thường xác định cậu ta tự sát, nhưng sau đó lại phát hiện có vẻ cậu ta đã cua xe hơi lố khỏi chỗ rẽ và đang muốn lùi xe lại. Chúng ta không bao giờ biết chắc.

Hơn một năm sau vụ giết người, cảnh sát Wilkes-Barre đã thu thập được rất nhiều bằng chứng gián tiếp chỉ chứng Glen Wolsieffer là kẻ giết vợ mình, nhưng họ không có bằng chứng xác thực nên không thể truy tố anh ta. Tìm thấy dấu vân tay và tóc hắn tại hiện trường nhưng đó là phòng ngủ của anh ta nên cũng không nói lên được gì. Cảnh sát giả thiết dây hoặc quần áo dính máu mà có thể Glen mặc lúc đó đã bị vứt xuống một con sông gần đó trước khi anh ta gọi cho em trai. Hy vọng duy nhất để bắt và buộc tội anh ta là tham khảo ý kiến của chuyên gia rằng tội ác do một người quen biết với nạn nhân gây ra và kẻ đó đã sắp đặt hiện trường gây án.

Tháng Một năm 1988, cảnh sát Wilkes-Barre đề nghị tôi cho họ một bản phân tích vụ án. Sau khi xem xét số lượng tài liệu khổng lồ ở thời điểm đó, tôi nhanh chóng kết luận vụ sát hại quả thực do một người thân thiết với nạn nhân gây ra và sắp đặt hiện trường để che đậy điều đó. Vì cảnh sát đã có nghi phạm nên tôi không muốn đưa ra bản mô tả theo cách thông thường, hoặc chỉ đích danh người chồng, mà cố gắng cung cấp cho họ những lý lẽ để giúp họ tiến hành bắt giữ.

Một vụ đột nhập vào sáng sớm ngày cuối tuần ở khu vực đó, xảy ra tại một căn nhà có hai chiếc xe hơi đậu ở lối vào, là một tội ác nguy cơ cao với những nạn nhân có nguy cơ thấp. Một vụ cướp rất không khả thi.

Vụ này hoàn toàn mâu thuẫn với mọi thứ chúng tôi đã gặp suốt nhiều năm nghiên cứu và cố vấn cho các vụ án trên khắp thế giới, rằng một kẻ đột nhập lại vào nhà từ cửa sổ tầng một rồi ngay lập tức xuống lầu dưới mà không kiểm tra các phòng trên lầu.

Không có chứng cứ cho thấy kẻ đột nhập mang theo bất kỳ vũ khí gì nên kịch bản đột nhập để giết người không khả thi. Cô Wolsieffer không bị tấn công tình dục nên kịch bản đột nhập để cưỡng hiếp nhưng tình thế chuyển biến xấu cũng không khả thi. Và không có bằng chứng nào cho thấy kẻ này có ý định lấy bất kỳ thứ gì, đây là một lý do khác khiến kịch bản đột nhập để ăn trộm không khả thi. Điểm này đã thu hẹp đáng kể những động cơ có thể có.

Cách giết người - siết cổ bằng tay - là một tội ác mang tính cá nhân. Đó không phải kiểu sát hại mà một người lạ sẽ chọn, đặc biệt là người đã lên kế hoạch đầy đủ và đột nhập vào nhà.

Cảnh sát tiếp tục thu thập bằng chứng một cách tỉ mỉ, kỹ càng. Tuy họ biết rõ kẻ giết người là ai nhưng bằng chứng của họ vẫn chỉ là gián tiếp và cần củng cố cho vững chắc trước tòa. Trong khi đó, Glen Wolsieffer đã chuyển đến khu Falls Church, Virginia, bên ngoài Washington và mở một phòng khám răng tại đó. Cuối năm 1989, cảnh sát chuẩn bị một lệnh bắt giữ và báo cáo về các bằng chứng, có tham khảo báo cáo của tôi. Ngày 3 tháng Mười một năm 1989, ba mươi tám tháng sau vụ sát hại, một nhóm cảnh sát của tiểu bang, quận và địa phương đến Virginia và bắt giữ Wolsieffer trong văn phòng của anh ta.

Anh ta nói với những người bắt giữ mình: “Chuyện xảy ra quá nhanh. Chúng tôi đánh nhau. Mọi thứ không rõ ràng lắm” Sau đó, hắn lại bảo là hắn đang nói đến việc (những) kẻ đột nhập tấn công hắn, chứ không phải việc giết vợ hắn.

Tuy lúc đó tôi đã được công nhận là chuyên gia phân tích hiện trường vụ án ở một số bang nhưng luật sư biện hộ gọi tôi là một “phù thủy” vì cách tôi đưa ra những lời diễn giải của mình, cuối cùng thẩm phán quyết định là tôi không thể làm chứng. Nhưng bên công tố cũng đã liên kết chặt chẽ những gì tôi nói với họ. Kết hợp với cuộc điều tra triệt để của cảnh sát, họ đã buộc được hắn tội giết người cấp độ III.

Có quá nhiều điều tiềm ẩn trong vụ án của Wolsieffer - chiếc thang lung lay và bị đặt sai hướng, sắp đặt một vụ án vì tình dục nhưng không có bằng chứng cho thấy nạn nhân bị tấn công tình dục, những vết thương do siết cổ không nhất quán với lời khai, thái độ thờ ơ khi không kiểm tra vợ con, thực tế rằng đứa con không bị đánh thức bởi bất kỳ tiếng động nào. Nhưng vấn đề đáng chú ý nhất chính là hành động và hành vi cực kỳ phi lý của kẻ đột nhập tưởng tượng. Bất cứ ai đột nhập một ngôi nhà để thực hiện một tội nào đó, bất kỳ, đầu tiên sẽ phải để tâm đến nguy cơ lớn nhất - trong trường hợp này là người đàn ông cao 1m88, nặng 90kg và có vũ khí, trong nhà - sau đó mới để tâm đến nguy cơ thấp hơn là người phụ nữ không có vũ khí.

Điều tra viên luôn phải thấy những điểm không thống nhất này. Có lẽ chúng tôi đã thấy quá nhiều vụ án loại này nên luôn nhận thức sâu sắc rằng phải nhìn xa hơn những gì mọi người nói để phán đoán về hành vi. Ở nhiều khía cạnh, chúng tôi giống các diễn viên đang chuẩn bị nhập vai. Diễn viên đọc kịch bản nhưng cái họ muốn diễn là “ý nghĩa tiềm ẩn” - điều cảnh phim thật sự truyền tải.

Một trong những ví dụ rõ ràng nhất về loại này là vụ giết hại Carol Stuart và gây thương tích nghiêm trọng cho chồng của cô này, Charles, ở Boston năm 1989. Trước khi kết thúc, vụ án thu hút sự quan tâm lớn và đe dọa làm xáo trộn cộng đồng ở đó. Một buổi tối nọ, khi hai vợ chồng đang lái xe qua khu Roxbury để về nhà sau lớp học sinh con theo phương pháp tự nhiên, dường như họ bị một gã đàn ông da màu to lớn tấn công khi đang dừng đèn đỏ. Hắn bắn Carol, ba mươi tuổi, sau đó tấn công Charles, hai mươi chín tuổi, người bị những vết thương nghiêm trọng ở bụng phải phẫu thuật suốt mười sáu tiếng đồng hồ. Tuy các bác sĩ ở Bệnh viện Brigham và Phụ nữ đã làm việc cật lực để cứu Carol, nhưng cô ấy chết trong vòng vài giờ sau khi đến bệnh viện. Đứa con trai của họ, Christopher, được lấy ra cùng lúc đó bằng phương pháp mổ bắt con, nhưng đã chết sau vài tuần. Charles vẫn đang dưỡng thương trong bệnh viện trong khi đám tang lớn và công khai của Carol diễn ra.

Cảnh sát Boston lập tức vào cuộc, truy tìm và bắt giữ mọi người đàn ông da màu khớp với mô tả của Charles về kẻ tấn công. Cuối cùng, anh ta chọn một người trong một nhóm nghi phạm được yêu cầu xếp hàng để nhận diện. Nhưng không lâu sau đó, câu chuyện của anh bắt đầu trở nên rõ ràng hơn. Em trai anh ta là Matthew nghi ngờ không hề có vụ trộm nào khi được gọi đến để giúp Charles vứt bỏ một cái túi đựng những món đồ được cho là đã bị lấy cắp. Sau ngày ủy viên công tố quận thông báo truy tố Charles Stuart tội giết người, Charles đã tự sát bằng cách nhảy cầu.

Cộng đồng người da màu nổi cơn thịnh nộ vì lời buộc tội của hắn, điều này hoàn toàn dễ hiểu, như sáu năm trước họ từng phẫn nộ khi Susan Smith tuyên bố một người đàn ông da màu đã bắt cóc hai con của ả. Nhưng trong vụ của Smith, cảnh sát trưởng ở Nam Carolina đã làm hết sức để loan truyền vấn đề. Hợp tác với truyền thông và các quan chức liên bang (chẳng hạn như đặc vụ Jim Wright của đơn vị chúng tôi), ông ấy đã phanh phui sự thật chỉ trong vài ngày.

Mọi việc không hiệu quả lắm trong vụ án của Stuart, nhưng tôi cảm thấy có thể tình hình đã khả quan hơn nếu cảnh sát phân tích rõ lời khai của Stuart và so sánh với tình huống có vẻ như đã xảy ra tại hiện trường. Không phải ai cũng làm đến mức đó để sắp đặt một vụ án - tức là tự bắn mình nghiêm trọng như vậy. Nhưng như vụ án của Wolsieffer, nếu một kẻ được cho là hung thủ tấn công một người ít gây nguy hiểm trước - trong đa số trường hợp là phụ nữ - thì phải có lý do. Trong bất kỳ vụ trộm nào, kẻ trộm sẽ luôn cố gắng chế ngự kẻ thù mạnh nhất trước tiên. Nếu không chế ngự nguy cơ lớn trước thì phải có lý do khác. Với “Con trai của Sam” David Berkowitz, hắn bắn những phụ nữ trước và trong đa số trường hợp, gây thương tích nghiêm trọng hơn cho họ vì họ là mục tiêu của hắn. Những người đàn ông chỉ có mặt sai chỗ, sai thời điểm.

Đối với bất kỳ ai trong ngành thi hành luật, vấn đề của những vụ án sắp đặt là điều tra viên có thể dễ dàng cảm thông cho những nạn nhân và người sống sót. Nếu ai đó đang ở trong tình cảnh đau buồn hiển nhiên như thế, rõ ràng chúng ta muốn tin họ. Nếu kẻ đó có khả năng diễn xuất tầm trung và vụ án có vẻ hợp lý trên bề mặt, điều tra viên có xu hướng không đào sâu. Như các bác sĩ, chúng tôi có thể đồng cảm với nạn nhân nhưng sẽ không để ai lợi dụng nếu đánh mất tính khách quan.

Loại người nào có thể làm ra chuyện như vậy?

Đôi khi câu trả lời có thể gây đau lòng nhưng chúng tôi ở đây để tìm ra nó.

❀ ❀ ❀

[1] Susan Leigh Smith (1971): một phạm nhân người Mỹ bị kết án chung thân vì giết hai con trai nhỏ của mình, một đứa ba tuổi, một đứa mười bốn tháng tuổi. Cô ta đã cố tình để xe hơi của mình, với hai đứa con nhỏ trên xe, chạy xuống hồ. Trước khi thú tội, cô ta tuyên bố một người đàn ông da màu đã cướp xe của cô ta trên một đoạn đường vắng.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.