Ai đã sát hại cô gái Mỹ kiểu mẫu?
Đó là câu hỏi ám ảnh đã lơ lửng trên thị trấn nhỏ Wood River, bang Illinois, suốt bốn năm. Trong số nhiều người, câu hỏi này ám ảnh Thanh tra Alva Busch của lực lượng cảnh sát tiểu bang và cả Don Weber, ủy viên công tố bang ở quận Madison.
Buổi chiều ngày thứ Ba, 20 tháng Sáu năm 1978, Karla Brown và hôn phu là Mark Fair tổ chức một buổi tiệc với rất nhiều bia và âm nhạc cho bạn bè đã giúp họ chuyển vào tổ ấm mới tại số 979 Đại lộ Acton ở Wood River. Đó là một căn nhà một tầng, màu trắng, tường gỗ, nằm trên con đường có hai hàng cây, với những cây cột tròn nhỏ hai bên cửa trước. Họ đã dành hai tuần vừa qua để trang hoàng căn nhà và sẵn sàng dọn vào. Căn nhà tượng trưng cho một khởi đầu mới thú vị của cặp đôi Karla hai mươi ba tuổi và Mark hai mươi bảy tuổi. Họ đã yêu nhau năm năm, cuối cùng Mark cũng vượt qua giai đoạn do dự và sẵn sàng cho một gia đình. Karla sắp tốt nghiệp tại một trường đại học ở địa phương và Mark đang làm thợ điện tập sự, tương lai của họ thật tươi sáng.
Tuy đã nhiều năm trì hoãn việc cầu hôn nhưng Mark Fair biết mình rất may mắn khi sắp cưới Karla. Karla Lou Brown là một cô gái Mỹ điển hình. Cao chưa tới 1m52, cô ấy có mái tóc vàng dợn sóng, gương mặt xinh xắn và nụ cười chuẩn hoa hậu. Karla luôn là hình mẫu lý tưởng với bọn con trai và đáng ghen tị với bọn con gái ở trường Trung học Roxana, nơi mọi người nhớ cô ấy từng là một cổ động viên hoạt bát, hãng hái. Bạn bè thân thiết biết rằng bên trong vẻ hấp dẫn, đa tình của cô ấy là nội tâm nhạy cảm hay tự chiêm nghiệm. Họ biết cô ấy chung thủy với Mark, một anh chàng khỏe khoắn, vóc dáng thể thao và cao hơn nàng chừng 30cm. Họ là một cặp đôi tuyệt vời.
Sau bữa tiệc vào tối thứ Ba, họ trở lại căn hộ ở Đông Alton để đóng gói những thùng đồ còn lại. Cả hai hy vọng tối hôm sau có thể sẵn sàng dọn vào và ngủ trong nhà mới.
Sáng thứ Tư, sau khi Mark rời nhà để đến làm ở công ty Điện và Sưởi ấm Camp, Karla đến Đại lộ Acton để dọn dẹp ngăn nắp và sắp xếp mọi thứ chờ Mark tan ca vào khoảng 16:30. Họ rất hào hứng về việc ngủ qua đêm ở đó.
Khi Mark xong việc, anh đến nhà bạn mình là Tom Fiegenbaum, sống ở cùng khu với bố mẹ Mark và đã đồng ý giúp anh chuyển một căn nhà cho chó có dạng chữ A đặc biệt từ sân sau nhà bố mẹ anh.
Họ đến Đại lộ Acton vào khoảng 17:30, trong khi Tom đánh xe vào nhà thì Mark đi tìm Karla. Anh không tìm được cô, có thể cô ấy ra ngoài lấy thứ gì đó cần cho căn nhà, nhưng anh thấy cửa sau không khóa. Việc này khiến anh không vui. Cô ấy phải cẩn thận hơn về chuyện này.
Mark mời Tom vào để xem căn nhà. Sau khi giới thiệu cho bạn gian nhà chính, Mark dẫn anh ấy vào bếp và theo cầu thang xuống tầng hầm. Khi đến bậc thang cuối, anh không thích những gì mình nhìn thấy. Vài cái bàn nhỏ bị lật úp. Mọi thứ có vẻ lộn xộn dù đêm trước anh và Karla đã sắp xếp đâu ra đấy. Có thứ gì đó đổ tràn trên ghế bánh và sàn hầm.
“Chuyện gì thế này?” Mark hỏi. Khi lên trên nhà tìm Karla, anh nhìn thấy qua cửa phòng giặt ủi.
Karla ở đó, quỳ gối, người gập về phía trước, thân trên mặc một chiếc áo nỉ nhưng từ thắt lưng trở xuống không mặc gì, hai tay bị trói ngoặt ra sau lưng bằng dây điện, đầu bị nhấn chìm trong một cái thùng thể tích mười galon chứa đầy nước. Đó là một trong những cái thùng họ dùng để chuyển quần áo. Còn chiếc áo nỉ, vốn được xếp vào một trong các thùng quần áo, thì cô ấy thường chỉ mặc vào mùa đông.
“Chúa ơi! Karla!” Mark hét lên, cùng Tom bổ nhào đến. Mark nhấc đầu cô ấy khỏi thùng nước, đặt nằm ngửa trên sàn. Mặt cô ấy đã tím tái, có một vết cắt sâu trên trán và một vết khác trên hàm. Hai mắt Karla mở trừng, nhưng rõ ràng cô ấy đã chết.
Mark gục xuống vì đau khổ. Anh bảo Tom tìm thứ gì đó để phủ lên người cô ấy, sau khi Tom mang một tấm chăn đỏ trở lại, họ báo cảnh sát.
Khi sĩ quan David George của Phòng Cảnh sát Wood River đến sau đó vài phút, Mark và Tom đang ở trước cửa đợi. Họ dẫn viên cảnh sát xuống tầng hầm và chỉ anh ta xem hiện trường. Suốt khoảng thời gian đó, Mark hầu như không thể giữ bình tĩnh. Anh ta liên tục gọi, “Ôi Chúa ơi, Karla.”
Chuyện khủng khiếp như vậy vốn không nên xảy ra ở Wood River, một cộng đồng yên tĩnh cách thành phố St. Louis chừng mười lăm phút đi xe. Chẳng bao lâu sau, tất cả cảnh sát giỏi nhất đều có mặt để xem chuyện gì đang xảy ra, kể cả cảnh sát trưởng ba mươi chín tuổi Ralph Skinner.
Thi thể Karla cho thấy dấu hiệu bị chấn thương nặng ở đầu, có lẽ là từ chiếc bàn xếp bị xô đổ trong phòng. Quanh cổ nạn nhân bị buộc hai chiếc vớ, khám nghiệm tử thi kết luận cô ấy tử vong do bị siết cổ, chết trước khi bị nhấn đầu vào thùng nước.
Tuy hiện trường án mạng là trọng tâm, nhưng ngay từ đầu cảnh sát đã vấp phải nhiều vấn đề. Thanh tra Alva Busch của Phòng Cảnh sát bang Illinois, một kỹ thuật viên khám nghiệm hiện trường dày dạn kinh nghiệm, không thể khởi động đèn nháy của máy ảnh. May mắn là Bill Redfern, người nhận cuộc gọi của Tom Fiegenbaum tại đồn cảnh sát, có mang theo một máy ảnh và đã chụp lại hiện trường nhưng lại chỉ có phim trắng đen trong máy. Một vấn đề khác là tất cả những người từng có mặt ở căn nhà đó để giúp cặp đôi chuyển đồ đạc. Sẽ có rất nhiều dấu vân tay tại hiện trường. Lọc ra những dấu vân tay khác sẽ rất khó nếu không muốn nói là bất khả thi.
Có một số yếu tố có vẻ là manh mối nhưng lại không hợp lý. Trong số đó, đáng chú ý nhất là một cái bình giữ nhiệt cà phê bị mắc trên xà nhà của tầng hầm. Ngay trước khi trông thấy nó, cảnh sát đã để ý việc thiếu bình giữ nhiệt cà phê ở máy pha trong bếp. Không ai, kể cả Mark, có lời giải thích hợp lý cho việc nó bị mắc trên xà nhà và vai trò của nó trong vụ án, nếu có, cũng không rõ ràng. Alva Busch xoay sở tìm được một vài dấu vân tay từ mặt kính của bình, nhưng lại không hoàn chỉnh để có thể sử dụng.
Trong những ngày sau đó, cảnh sát khám xét cả khu phố, nói chuyện với bất kỳ ai có thể đã nhìn thấy bất kỳ kẻ khả nghi nào. Hàng xóm nhà bên, Paul Main, nói rằng vào ngày xảy ra án mạng, anh ta ở hiện trước nhà gần như suốt buổi trưa với bạn mình là John Prante. Prante nhớ là có đến nhà Main một lúc vào buổi sáng đó, ngay sau khi nộp đơn xin việc ở một nhà máy tinh chế dầu trong địa phương, nhưng cũng nói là anh ta rời đi sớm để nộp đơn cho những chỗ khác. Buổi tối trước ngày xảy ra vụ án, Main, Pranter và một người bạn khác có quan sát Karla, Mark và những người giúp họ chuyển đồ. Cả ba nói rằng họ đã hy vọng được mời dự bữa tiệc chuyển nhà vì Main là hàng xóm còn người bạn kia của họ đã biết Karla hồi trung học. Nhưng họ không được mời. Tiếp xúc gần nhất giữa họ với nhà bên là khi người bạn kia gọi Karla từ bên kia lối xe chạy vào nhà.
Người hàng xóm ở bên kia đường, một phụ nữ lớn tuổi tên Edna Vancil, nhớ là có thấy một chiếc xe hơi màu đỏ mui trắng đậu trước nhà số 979 vào ngày xảy ra sự việc. Bob Lewis, một trong những người tham gia bữa tiệc, nói anh ta thấy Karla đứng ở lối xe chạy nói chuyện với một người đàn ông dáng vẻ “dữ tợn, tóc dài ở nhà bên, người đã chỉ tay vào Karla và gọi tên cô ấy. Đó hẳn là anh bạn của Paul Main.
“Trí nhớ của anh tốt thật. Đã lâu vậy rồi. Lewis nghe Karla trả lời. Anh ta nói sau đó anh ta đã kể với Mark Fair về cuộc gặp gỡ của hai người kia, rằng nếu hàng xóm sống gần nhà là kiểu người như vậy thì Mark nên cẩn thận trước khi chưa biết rõ về họ. Có vẻ Mark không bận tâm, nói rằng Karla biết người đàn ông tóc dài từ hồi trung học và anh chàng chỉ đến chơi nhà Paul Main.
Khi ấy, có một phụ nữ khác đang lái xe trên đường, đưa cháu trai đi nha sĩ. Bà này và đứa cháu thấy một người đàn ông và một phụ nữ nói chuyện ở lối chạy xe, nhưng kể cả khi được hỏi trong tình trạng bị thôi miên, mô tả của bà cụ cũng không rõ ràng.
Cảnh sát nói chuyện với nhiều người bạn gái của Karla, cố gắng tìm hiểu xem có ai hận thù nạn nhân không, một tên bạn trai cũ bị Karla đá chẳng hạn. Nhưng tất cả đều nói Karla rất được yêu mến và không có kẻ thù nào mà họ biết.
Nhưng có một cô gái, bạn cùng phòng cũ của Karla, nghĩ đến một người. Bố Karla mất khi cô ấy còn nhỏ, mẹ cô ấy là Jo Ellen đã cưới Joe Sheppard Cha nhưng hiện đã ly dị. Cô bạn cho biết Karla không hòa thuận với Sheppard, ông ta từng đánh cô ấy và luôn ve vãn bạn cô ấy. Phải đưa ông ta vào vòng nghi vấn. Ông ta có đến vào cái đêm xảy ra án mạng và hỏi chuyện cảnh sát dồn dập. Như tôi đã nói, việc kẻ giết người tiếp cận cảnh sát hoặc tìm cách tham gia cuộc điều tra cũng là lẽ thường. Nhưng lại không có bằng chứng liên kết Sheppard với vụ án.
Người còn lại cần được điều tra cẩn thận là Mark Fair. Cùng với Tom Fiegenbaum, anh đã phát hiện thi thể nạn nhân, có thể vào nhà họ, là người gần gũi với nạn nhân nhất. Như tôi đã nói trong vụ án George Russell, luôn phải đặt nghi vấn với vợchồng hoặc người yêu của nạn nhân. Nhưng Mark lại đi làm cho nhà thầu điện vào thời điểm xảy ra án mạng; có nhiều người thấy và nói chuyện với anh. Và mọi người - cảnh sát, bạn Karla, gia đình cô ấy - đều chắc chắn nỗi đau buồn của anh là thật và rất sâu sắc.
Trong quá trình điều tra, cảnh sát đã làm kiểm tra phát hiện nói dối với nhiều người mà họ thẩm vấn, những đối tượng có thể tiếp xúc với Karla không lâu trước khi cô ấy chết. Mark, Tom và Joe Sheppard vượt qua mà không có nghi vấn gì. Không có ai thực sự không vượt qua. Người có kết quả khả nghi nhất là Paul Main, một người ở khoảng giữa mức bình thường và mức thiểu năng, đã ở nhà bên cạnh nhà nạn nhân vào trưa hôm đó. Tuy anh ta nói John Prante đã ở cùng anh ta trên hiên nhà và có thể bảo đảm anh ta không hề rời khỏi đó nhưng chính Prante - cũng vượt qua bài kiểm tra phát hiện nói dối - thừa nhận mình đã rời khỏi đó vào buổi sáng để tìm việc, vì vậy không thể biết Main đã ở đâu suốt khoảng thời gian đó. Nhưng kể cả bài kiểm tra của Main có nghi vấn và anh ta vẫn là một nghi phạm thì cũng như mọi người khác, không có gì liên kết anh ta với vụ án mạng.
Vụ sát hại Karla Brown ảnh hưởng sâu sắc đến khu vực Wood River. Đó là một vết thương mãi không lành. Cả cảnh sát địa phương và cảnh sát tiểu bang đã thẩm vấn mọi người họ có thể tìm được và theo dõi từng manh mối khả dĩ. Nhưng thật nản lòng khi họ không đến gần kết quả chút nào. Nhiều tháng trôi qua. Rồi một năm. Hai năm. Vụ việc thực sự khó khăn cho chị gái của Karla là Donna Judson. Cô và chồng mình là Terry tham gia gần như mỗi ngày. Mẹ và một chị gái khác của Karla là Connie Dykstra không thể đối diện với sự căng thẳng này và ít liên hệ với những người điều tra vụ án.
Vụ việc cũng khó khăn với Don Weber, ủy viên công tố của tiểu bang chịu trách nhiệm về quận Madison, bao gồm khu Wood River. Ở thời điểm xảy ra án mạng, anh ấy đang làm trợ lý công tố. Tổ hợp của một công tố viên cứng rắn và một người đàn ông nhạy cảm, Weber rất muốn cho công chúng thấy sự tàn bạo xảy ra với Karla sẽ không được dung thứ trong khu vực của anh ấy. Anh ấy bị ám ảnh với việc đưa kẻ sát hại cô gái ra trước công lý. Sau đợt bầu chọn trở thành người đứng đầu ủy viên công tố tiểu bang của anh ấy vào tháng Mười một năm 1980, anh ấy lập tức mở lại vụ án.
Một người khác không thể bỏ qua vụ án, dù có kéo dài bao lâu mà không có tiến triển, chính là điều tra viên hiện trường vụ án của bang, Alva Busch. Trong sự nghiệp của một cảnh sát, luôn có vài vụ án mà người ta không chịu buông bỏ. Và hóa ra nhờ Busch mà vụ này cuối cùng cũng có tiến triển quan trọng.
Tháng Sáu năm 1980, tròn hai năm sau vụ sát hại Karla, Busch đến Albuquerque, New Mexico, để làm chứng trong phiên tòa xử một vụ giết người, trong đó anh ấy đã xử lý một chiếc xe bị đánh cắp ở Illinois. Trong lúc chờ hoàn tất các kiến nghị trước phiên tòa, anh ấy tham dự một buổi nói chuyện tại văn phòng quận trưởng của tiến sĩ Homer Campbell, một chuyên gia về công nghệ nâng cao chất lượng ảnh chụp bằng máy tính từ Đại học Arizona.
“Chào tiến sĩ”, Busch nói với ông ở cuối buổi nói chuyện, “tôi có một vụ án cho ông đây”. Tiến sĩ Campbell đồng ý kiểm tra ảnh chụp hiện trường và ảnh chụp khi khám nghiệm tử thi để xem ông có thể giúp xác định chính xác loại công cụ hay vũ khí đã được dùng để tấn công Karla không. Busch sao chép và gửi tất cả ảnh có liên quan cho Campbell. Ảnh đen trắng không làm công việc của Campbell dễ dàng hơn nhưng ông đã có thể tiến hành một phân tích tỉ mỉ với các dụng cụ tinh vi. Bằng cách nâng cao chất lượng bằng máy vi tính, ông có thể bóc tách những bức ảnh và báo cáo về một số điều. Những vết cắt dài và sâu do một cây búa đóng đinh, những vết rách trên cằm và trán là do bánh xe của chiếc bàn xếp bị đổ. Nhưng điều tiếp theo ông ấy nói với Busch khiến vụ án xoay chuyển hoàn toàn và đi theo một hướng mới.
“Những dấu răng thì sao? Các anh có nghi phạm nào liên hệ với những vết cắn trên cổ cô ấy không?”
“Dấu răng nào?” là tất cả những gì Busch có thể nghĩ ra để hỏi qua điện thoại.
Campbell nói với anh ấy tuy những hình ảnh mà ông nâng cấp không đạt chất lượng tốt nhất nhưng chắc chắn cho thấy có dấu răng trên cổ Karla, đủ rõ để họ có thể dễ dàng so sánh nếu nhận diện được một nghi phạm. Có một dấu răng không đè lên bất kỳ vết thương hay dấu nào trên da. Không như những thứ khác họ thu thập được đến nay, dấu răng là bằng chứng thuyết phục, trên thực tế chúng cũng như dấu vân tay. Việc so sánh răng của Ted Bundy với những vết cắn tìm thấy trên mông của một nạn nhân bị sát hại ở nhà tập thể hội nữ sinh Chi Omega tại Đại học Bang Florida đã giúp buộc tội kẻ sát nhân hàng loạt khét tiếng này. Campbell từng là nhân chứng truy tố tại phiên xử Bundy. (Vào sáng ngày 24 tháng Một năm 1989, sau những buổi thẩm vấn trên diện rộng và trò chuyện với Bill Hagmaier ở đơn vị chúng tôi, Bundy đã bị tử hình trên ghế điện ở Florida. Không ai biết chắc hắn đã tước đoạt bao nhiêu sinh mạng trẻ trung.)
Khi cảnh sát Illinois nhận được hình ảnh dấu răng từ tiến sĩ Campbell, họ bắt đầu tập trung chú ý trở về một số khả năng ban đầu, đáng chú ý nhất là người hàng xóm Paul Main. Nhưng sau khi cảnh sát lấy dấu răng từ Main, Campbell không thể xác định nó có khớp với ảnh chụp hiện trường và khám nghiệm tử thi không. Họ thử tìm bạn của Main là John Prante để xem anh ta có chịu chỉ chứng Main với thông tin mới này không, nhưng không tìm được anh ta.
Có nhiều nỗ lực phá án, trong đó có việc mời một nhà ngoại cảm nổi tiếng ở Illinois đến, người này không biết bất cứ chi tiết nào về vụ án, đã nói “Tôi nghe tiếng nước nhỏ giọt”. Với cảnh sát, đây rõ ràng là ám chỉ tình cảnh phát hiện thi thể Karla. Nhưng ngoài một thực tế là kẻ sát nhân sống gần đường ray tàu hỏa (đa số người ở quận Madison đều sống gần đường ray tàu hỏa), nhà ngoại cảm không giúp được gì thêm.
Kể cả với thông tin về dấu răng, vụ án cũng không tiến triển gì nhiều. Tháng Bảy năm 1981, Don Weber cùng bốn nhân viên tham dự một hội nghị chuyên đề ở New York về khoa học pháp y trong điều tra tội phạm, một phần trong chương trình quản trị mới của anh ấy với tư cách ủy viên công tố tiểu bang. Biết Weber sẽ có mặt, tiến sĩ Campbell đề nghị anh ấy mang ảnh chụp vụ án của Karla Brown cho tiến sĩ Lowell Levine xem, ông này là bác sĩ nha khoa pháp y đến từ Đại học New York, người sẽ diễn thuyết tại hội nghị. Levine nghiên cứu đống ảnh nhưng sau khi đồng ý với Campbell rằng có những vết thương đúng là dấu răng cắn, lại nói ông ấy không thể so sánh chính xác. Ông ấy đề nghị họ khai quật thi thể Karla, nhận xét rằng “một cái hòm tốt là kho trữ đông lưu giữ bằng chứng”. Tôi không quen Levine nhưng chắc chắn có biết danh tiếng ông ấy. Ông ấy là người đã tiến hành phân tích trong vụ án Francine Elveson ở New York. (Ông ấy hẳn cũng đã làm rất tốt vì khi Bill Hagmaier và Roseanne Russo thẩm vấn Carmine Calabro ở Trại Cải tạo Clinton, hắn đã nhổ hết răng mình để tránh tự tố cáo trong phiên kháng cáo. Tiến sĩ Levine tiếp tục trở thành trưởng đơn vị khoa học pháp y bang New York.)
Tháng Ba năm 1982, Weber và hai điều tra viên thuộc Sở Cảnh sát tiểu bang tham dự buổi đào tạo thường niên cho Đơn vị điều tra án lớn ở đô thị của thành phố St. Louis. Tôi có tham dự, trình bày khái quát về công việc mô tả tính cách và phân tích hiện trường vụ án trước nhiều người. Tuy bản thân tôi không nhớ về cuộc gặp mặt nhưng Weber miêu tả trong tài liệu nghiên cứu rất hấp dẫn của mình về vụ án này, Nhân chứng thầm lặng (hợp tác cùng Charles Bosworth Con), rằng anh ấy và các đồng nghiệp đã đến gặp tôi sau buổi trình bày và hỏi liệu những gì tôi vừa miêu tả có thể sử dụng cho vụ án của họ không. Hình như tôi đã bảo họ gọi đến văn phòng tôi khi tôi trở lại Quantico và nói tôi rất sẵn lòng giúp họ.
Khi trở về, Weber biết được Rick White của đồn cảnh sát Wood River cũng có mặt ở buổi huấn luyện và đã tự kết luận rằng đây là cách tiếp cận hay họ cho cuộc điều tra vụ án của Brown. White liên lạc với tôi và chúng tôi sắp xếp cho anh ấy đến Quantico, mang theo những bức ảnh chụp hiện trường, để tôi phân tích chúng ngay và cho họ biết suy nghĩ của tôi. Weber bận rộn với những vụ án chuẩn bị xét xử nên không thể đến nhưng đã chỉ định trợ lý ủy viên công tổ tiểu bang là Keith Jensen đi thay, cùng White, Alva Busch và Randy Rushing, một trong các sĩ quan thuộc Sở Cảnh sát tiểu bang cũng có mặt tại St. Louis. Bốn người họ đi hơn 1.200 cây số đến Quantico trên một chiếc xe không có ký hiệu xe cảnh sát. Cảnh sát trưởng của Wood River khi đó, Don Geer, đang nghỉ phép ở Florida, nhưng cũng bay đến Washington để tham dự cuộc họp mặt.
Chúng tôi gặp nhau trong phòng họp. Bốn điều tra viên đã dành phần lớn thời gian di chuyển sắp xếp tư duy và giả thiết của mình để trình bày với tôi; họ không biết tôi thích tự đưa ra kết luận trước khi bị tác động bởi ý kiến của người khác. Nhưng chúng tôi lại hợp nhau.
Không như nhiều tình huống chúng tôi được gọi vì lý do chính trị hay bảo vệ ai đó, họ đến đây đơn giản vì không chịu từ bỏ. Họ thực sự muốn ở đây và thật lòng lo lắng về những gì tôi có thể làm để định hướng đúng đắn cho họ.
Tôi đặc biệt thích Alva Busch, người cũng gặp khó khăn về quyền lực. Cũng như tôi, anh ấy nổi tiếng hay làm nhiều người phát cáu vì cái tính hay nói thẳng. Thực ra, Don Weber đã phải dọa rằng sẽ nhờ cậy tất cả những người bạn chính khách của mình để Busch được phép đến Quantico.
Tôi yêu cầu xem ảnh chụp hiện trường và dành vài phút tỉ mỉ quan sát. Tôi hỏi vài câu để định hướng cho bản thân rồi nói, “Các anh sẵn sàng chưa? Có lẽ các anh nên ghi âm”
Điều đầu tiên tôi nói với họ là kinh nghiệm của tôi mách bảo khi thi thể bị bỏ vào nước ở trong nhà - bồn tắm, vòi sen hoặc thùng nước - thì mục đích không phải là rửa trôi manh mối hay chứng cứ, như chúng ta đã thấy trong vụ ở Atlanta, mà nhằm “sắp đặt” vụ án để trông khác với tình huống đã thực sự xảy ra. Sau đó tôi nói chắc chắn họ đã thẩm vấn tên sát nhân. Nhà hắn ở khu phố đó hoặc có thể là ngay bên cạnh. Loại án mạng này hầu như luôn do hàng xóm hoặc người trong nhà làm. Người ta không đi xa đến vậy để thực hiện loại tội ác này. Nếu người hắn dính máu, điều đó là chắc chắn, hắn phải đến chỗ nào đó gần để rửa sạch và vứt bỏ quần áo dính máu. Khi sự việc diễn ra, gã này cảm thấy thoải mái vì biết mình sẽ không bị làm phiền, hắn biết rõ Karla hoặc đã quan sát cô ấy đủ để nắm được thói quen của cô ấy và Mark. Từ lúc các anh nói chuyện với hắn, hắn đã rất hợp tác với cuộc điều tra. Bằng cách đó, hắn cảm thấy có thể kiểm soát tình hình.
Trưa hôm đó, hắn đến nhà Karla không phải để giết cô ấy. Giết người chỉ là hành động phát sinh. Nếu hắn lên kế hoạch sát hại cô gái, hẳn là hắn đã mang theo vũ khí và dụng cụ (“bộ dụng cụ dùng để cưỡng hiếp” của hắn). Thay vào đó, cái chúng ta có là siết cổ và chấn thương kín, cho thấy một hành động bộc phát vì giận dữ hoặc phản ứng tuyệt vọng vì cô ấy từ chối hắn. Thao túng, chi phối và kiểm soát là khẩu lệnh của kẻ cưỡng hiếp. Có lẽ hắn đến nhà để đề nghị giúp đỡ cô ấy chuyển đồ. Karla nổi tiếng là thân thiện, và vì quen biết gã này theo cách nào đó, có lẽ cô ấy đã cho hắn vào nhà. Cái hắn muốn ở cô ấy là tình dục, một mối quan hệ nào đó. Khi cô ấy phản đối hoặc hắn nhận ra mình đã vướng vào rắc rối không thể tháo lui, thì hắn - giống như kẻ sát hại Mary Frances Stoner ở Nam Carolina - quyết định cách duy nhất để cứu mình là giết cô ấy. Và kể cả lúc đó, có lẽ hắn vẫn hoảng loạn muốn suy nghĩ lại. Có nước trên sàn và ghế bành. Sau khi siết cổ, có lẽ hắn đã vốc nước lên mặt Karla để cố cứu sống cô ấy. Khi cách đó không hiệu quả, hắn phải làm sao đó để lấp liếm việc mặt cô ấy bị ướt, thế là hắn lôi cô ấy đi và nhấn đầu cô ấy vào thùng nước để sự việc trông như một nghi thức kỳ lạ hay lập dị nào đó; nói cách khác, là hướng sự chú ý ra khỏi chuyện đã thực sự xảy ra. Việc nhấn đầu nạn nhân vào nước có thể có một ý nghĩa khác. Cô ấy đã từ chối hắn. Bây giờ hắn có thể hạ nhục cô. Tương tự nhiều trường hợp khác, tội phạm có càng nhiều hành động ở hiện trường, dù để đánh lạc hướng cảnh sát, hắn càng cung cấp cho chúng ta nhiều manh mối và bằng chứng về hành vi để điều tra.
Gã này ở vào độ tuổi hơn hai mươi đến gần ba mươi, tôi nói, và đây không phải hành động của một kẻ có kinh nghiệm giết người. Sự sắp đặt hiện trường của hắn rất nghèo nàn và cho thấy hắn chưa từng thử làm việc đó. Tuy nhiên, đúng là hắn thuộc kiểu người dễ nóng giận, hay tấn công người khác nên có lẽ hắn từng phạm những tội khác ít nghiêm trọng hơn. Nếu hắn từng kết hôn thì gần đây đã ly thân hoặc ly hôn, hoặc đang bất hòa với vợ. Giống nhiều kẻ khác, gã này thất bại thực sự, nhận thức về bản thân kém. Có thể bề ngoài trông hắn tự tin, nhưng sâu thẳm trong tâm hồn, hắn vô cùng tự ti.
Hắn có trí thông minh và chỉ số IQ trung bình, chỉ học tới cấp III, và việc dùng dây điện để trói nạn nhân cho thấy hắn được đào tạo tại một cửa hàng hoặc làm một trong các nghề được đào tạo kỹ năng. Khi cuộc điều tra bắt đầu, các anh sẽ thấy hắn thay đổi chỗ ở vàhoặc công việc, khi sự việc lắng xuống và hắn không bị nghi ngờ gì, có thể hắn sẽ rời khỏi nơi đó. Cũng có thể hắn bắt đầu nghiện thuốc hoặc rượu nặng hoặc chơi ma túy để xoa dịu sự căng thẳng của mình. Thực ra, có thể rượu cũng đóng vai trò gì đó trong vụ án. Đây là một hành động táo bạo đối với hắn. Có thể trước đó hắn đã uống rượu, việc này làm giảm khả năng kiềm chế của hắn, nhưng sẽ không say, vì nếu say thì hắn sẽ không thể làm nhiều việc như vậy ở hiện trường sau khi gây án.
Hắn đang gặp tình trạng khó ngủ, đời sống tình dục của hắn có trục trặc, và các anh sẽ thấy hắn dần trở thành kẻ sống về đêm. Nếu có công việc dài hạn, hắn sẽ nghỉ làm nhiều khi cuộc điều tra tăng tốc. Hắn cũng sẽ thay đổi ngoại hình. Nếu lúc giết người, hắn có để râu và tóc dài, hắn sẽ cạo râu cắt tóc. Nếu lúc đó hắn mày râu nhẵn nhụi, hắn sẽ nuôi râu. Nhưng kẻ các anh đang tìm không phải kiểu người gọn gàng. Bản chất của hắn là lôi thôi và nếu hắn cố gắng để bản thân trở nên ngăn nắp, đó là biểu hiện rõ ràng của việc kiểm soát thái quá. Điều này sẽ khiến hắn mệt mỏi cả về thể chất lẫn tinh thần.
Với phương tiện đi lại, trong vụ này tôi dựa vào thực tế trước đây về những kẻ sát nhân - một chiếc Volkswagen Bọ rùa. Có thể chiếc xe đã cũ và không được chăm sóc kỹ càng; màu đỏ hoặc cam.
Đây là kiểu người sẽ theo dõi sát sao việc điều tra của cảnh sát trên truyền thông và sẽ thu thập manh mối từ đó. Nếu cảnh sát trưởng ra thông cáo rằng không có manh mối nào mới, điều đó sẽ tạo cho hắn một cơ chế để ứng phó. Hắn có thể dễ dàng vượt qua bài kiểm tra phát hiện nói dối; rất nhiều kẻ sát nhân làm được điều đó. Mục tiêu của giai đoạn tiếp theo của cuộc điều tra là bắt đầu làm hắn lo sợ.
Có thể có rất nhiều yếu tố gây căng thẳng cho hắn. Tháng Sáu hàng năm, hắn sẽ cảm thấy lo lắng hơn bình thường. Việc đó cũng có thể xảy ra gần sinh nhật Karla. Có lẽ hắn sẽ đến thăm mộ Karla ở Nghĩa trang đói Calvary. Có thể hắn sẽ gửi hoa cúng hoặc trực tiếp cầu xin nạn nhân tha thứ.
Vì vậy, việc tiếp theo các anh cần làm, là thông báo đã có một manh mối mới và đầy hứa hẹn, một thứ gì đó có khả năng thu hút sự chú ý về vụ án lần nữa. Hãy liên tục tuyên truyền về manh mối này, khiến “yếu tố gây sợ hãi” đó càng dữ dội càng tốt. Hãy nói rằng các anh đã mời một chuyên viên mô tả nhân dạng của FBI tham gia vụ án và điều người này nói cho các anh hoàn toàn phù hợp với bằng chứng mới mà các anh vừa tìm được.
Lúc đó, họ kể với tôi về đề nghị khai quật thi thể của tiến sĩ Levine và muốn biết tôi nghĩ thế nào. Tôi nói với họ ý tưởng đó rất hay, và càng khiến truyền thông chú ý nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Weber nên lên truyền hình trước và thông báo nếu thi thể vẫn ở tình trạng tốt và cuộc khám nghiệm mới này tìm được bằng chứng mà họ mong đợi, họ sắp phá được vụ án. Theo kiểu nào đó, điều họ muốn truyền đạt tới kẻ giết người là họ đang làm cho Karla “sống dậy”, mang cô ấy từ dưới mộ trở về, làm nhân chứng trong chính vụ án sát hại mình.
Việc khai quật thi thể sẽ gây căng thẳng khủng khiếp cho hắn. Tôi muốn Weber công khai nói rằng dù phải mất thêm hai mươi năm, anh ấy cũng sẽ phá được vụ án này. Tên tội phạm sẽ rất quan tâm và tò mò. Hắn sẽ đặt rất nhiều câu hỏi. Có thể hắn còn trực tiếp gọi cho cảnh sát! Nhớ quay phim hoặc chụp hình những người xuất hiện ở nghĩa trang; hắn có thể đến đó. Hắn sẽ hồi hộp chờ xem thi thể ở trong tình trạng nào. Và khi các anh thông báo rằng mình hài lòng với tình trạng thi thể, điều đó sẽ khiến hắn càng áp lực hơn. Cùng lúc đó, hắn sẽ cô độc hơn, tự tách biệt bản thân khỏi những người bạn mà hắn có. Đây sẽ là lúc bắt đầu nghe ngóng mọi người ở quán rượu hoặc những nơi tương tự xem có bất kỳ vị khách quen nào thay đổi hành vi một cách đáng chú ý không. Có thể gần đây hắn tham gia một giáo hội hoặc theo một tín ngưỡng nào đó như một cách thức để ứng phó. Và trong khi các anh dồn tất cả áp lực này lên hắn, trong báo cáo của một viên cảnh sát nào đó - có thể là của chính tôi - nên có một bình luận gần như thể hiện sự cảm thông. Chúng ta nên nói chúng ta biết hắn đang trải qua những gì, rằng hắn không định giết cô ấy và đã mang gánh nặng này suốt những năm qua.
Tôi tiếp tục bày ra một chiến thuật thương thuyết tương tự như cuộc nói chuyện đầy hiệu quả trong vụ án của Stoner. Điều quan trọng là sau khi nhận diện được nghi phạm, không nên bắt hắn ngay mà hãy kéo dài cỡ một tuần, sau đó hãy khiến hắn phải thú tội trước khi bắt hắn. Các anh càng biết nhiều chi tiết, càng có nhiều cái để nói, ví dụ như “Chúng tôi biết anh đã lôi cô ấy từ đây tới đây” hay “Chúng tôi biết vì sao có nước ở hiện trường”, các anh càng có nhiều cơ hội thành công. Tốt nhất nên đặt ở phòng thương thuyết một vật gì đó có vai trò quan trọng trong vụ sát hại (chẳng hạn như hòn đá trong vụ giết Stoner).
Sau khi nghe ý kiến của tôi, năm vị khách dường như ghi nhớ kỹ những gì tôi nói. Họ hỏi tôi làm sao chỉ nghe những chi tiết thông thường của vụ án và nhìn những tấm ảnh mà biết được mọi điều đó. Tôi không có câu trả lời chính xác nhưng Ann Burgess đã nói tôi là một người có khả năng trực quan hóa nhiều việc và thích bắt đầu công việc với những gì tôi quan sát được. Bà ấy bảo, và lời này có lẽ đúng, là tôi có xu hướng nói “Tôi thấy” thay vì nói “Tôi nghĩ” trong những buổi cố vấn vụ án. Có lẽ một phần nguyên nhân là hầu hết thời gian tôi không thể có mặt ở hiện trường nên tôi phải tái tạo mọi thứ trong đầu. Thường thì vài năm sau khi tôi đã phân tích một vụ án cho cảnh sát, khi họ gọi tôi lần nữa, tôi có thể hồi tưởng vụ án và những gì tôi từng nói về Đối tượng vô danh nếu họ mô tả hiện trường vụ án cho tôi nghe.
Các điều tra viên từ Illinois nói rằng: Từ những gì tôi đã nói với họ, hai trong số nhiều người họ đã thẩm vấn vẫn là những kẻ đáng nghi nhất - Paul Main và bạn anh ta John Prante. Cả hai đều ở nhà bên cạnh vào hôm đó, và ít nhất một trong hai người, Prante, đã uống bia. Lời khai của hai người không khớp nhau, có thể là do trí thông minh hạn chế và rượu bia, cũng có thể là một hoặc cả hai người đã nói dối. Prante thể hiện tốt hơn Main trong bài kiểm tra phát hiện nói dối, nhưng cả hai gã đều khớp với bản mô tả. Trên thực tế, Prante là đối tượng phù hợp hơn ở nhiều khía cạnh. Hắn hợp tác với cảnh sát hơn và sau khi vụ việc lắng xuống, hắn đã rời khỏi khu đó như tôi dự đoán tên giết người sẽ làm, nhưng sau đó trở lại.
Tôi nói rằng chiến lược mà tôi bày ra có thể áp dụng cho cả hai. Thực ra, vì tôi nghĩ kẻ thủ ác sẽ có lúc cảm thấy tội lỗi và hối hận nên có thể cho một phụ nữ giả làm Karla, gọi cho chúng vào nửa đêm, khóc lóc và hỏi “Tại sao? Tại sao? Tại sao?” Nên kết hợp chiêu này với các bài báo nói về việc Karla là một cô gái Mỹ đúng chuẩn và thật bi thảm khi cô ấy bị tước đoạt mạng sống ở thời kỳ đỉnh cao của cuộc đời. Tôi luôn thích cách nói cường điệu một chút.
Khi đã tiến hành chiến lược này trong khoảng một tuần hoặc mười ngày, cảnh sát có thể thấy liệu Main hoặc Prante có phản ứng như tôi đã nói không Nếu một trong hai tên có phản ứng như vậy, bước tiếp theo sẽ là sử dụng những người truyền tin - bạn bè, người quen, đồng nghiệp - để cố gắng khơi gợi hắn đưa ra những nhận xét hoặc một lời thú tội.
Cuộc khai quật thi thể diễn ra vào ngày 1 tháng Sáu năm 1982, được thực hiện đúng như tôi hy vọng, Lowell Levine có mặt, báo chí và truyền hình đưa tin rầm rộ, cùng những tuyên bố long trọng và khả quan của Weber. Tôi phát hiện ra ở những thị trấn nhỏ, cảnh sát dễ dàng có được sự hợp tác như thế này từ phóng viên hơn so với ở thành phố lớn, nơi họ có xu hướng cảm thấy cảnh sát đang cố thao túng họ hoặc bảo họ phải đưa những tin gì. Tôi thấy đây giống như nỗ lực hợp tác giữa báo chí và lực lượng thi hành luật mà không làm tổn hại đến tính chính trực của đôi bên. Tôi chưa từng đề nghị một phóng viên báo chí hay truyền hình nào nói dối hoặc dựng lên một câu chuyện saikhông hoàn chỉnh. Nhưng có nhiều dịp, tôi đưa ra những thông tin mà tôi cần một Đối tượng vô danh đọc và phản ứng với nó. Khi các phóng viên hợp tác với tôi, tôi hợp tác với họ. Và trong một số vụ án nhất định, tôi cho họ những bài phỏng vấn độc quyền khi được phép tiết lộ nội tình.
May mắn là thi thể Karla vẫn trong tình trạng được bảo quản tốt. Việc khám nghiệm lần này được thực hiện bởi tiến sĩ Mary Case, một trợ lý chuyên viên pháp y cho thành phố St. Louis. Không như cuộc khám nghiệm đầu, tiến sĩ Case xác định nguyên nhân tử vong là đuối nước. Cô ấy cũng phát hiện một vết nứt ở sọ. Quan trọng nhất, họ đã tìm được bằng chứng dấu răng mà họ cần.
Chiến thuật công khai thông tin như sắp đặt vẫn diễn ra đúng kế hoạch. Tom O’Connor thuộc lực lượng cảnh sát tiểu bang và Wayne Watson thuộc Đơn vị giả mạo giấy tờ và gian lận tài chính thẩm vấn Main ở nhà hắn, giả vờ thảo luận về những khoản tiền trợ cấp hắn đang nhận mà có thể hắn không đủ tiêu chuẩn để nhận. Họ hướng hắn vào việc thảo luận về vụ sát hại Karla Brown. Tuy hắn không thú tội và nói mình không dính líu gì đến vụ án, nhưng rõ ràng hắn đã theo dõi sát sao truyền thông và có một vài thông tin nội bộ. Ví dụ, Watson nói rằng Main đã không liệt kê địa chỉ ở Đại lộ Acton trong số các địa chỉ trước đó của hắn. Hắn nói hắn đã cố quên đi vì những ký ức không tốt đẹp khi cảnh sát làm phiền hắn về việc cô gái hàng xóm bị giết ở đó.
Watson nói: “Cô ấy là người bị bắn, bị siết cổ và nhấn đầu vào thùng nước.”
“Không, không! Không bị bắn!” Main trả lời rõ ràng.
Gần thời điểm khai quật thi thể, một người đàn ông tên Martin Higdon đã đến gặp cảnh sát Wood River, nói rằng anh ta học chung với Karla Brown hồi cấp III và chuyện công khai cuộc điều tra gần đây đã khiến mọi người ở công ty bàn tán. Anh ta nghĩ mình nên cho cảnh sát biết rằng một nữ đồng nghiệp đã nói, tại một bữa tiệc diễn ra không lâu sau vụ giết người, một người có kể anh ta đã ở nhà Karla vào ngày cô ấy bị giết.
O’Connor và Rick White thẩm vấn người phụ nữ tên là Vicki White (không có quan hệ gì với Martin). Cô ta xác nhận câu chuyện trên là đúng, nói rằng cô ta và chồng là Mark đã tham dự bữa tiệc tại nhà Spencer và Roxanne Bond, tại đó cô ta nói chuyện với một người cô ta biết hồi ở trường Cao đẳng Cộng đồng Lewis và Clark. Gã đàn ông đó nói hắn có mặt ở nhà Karla ngày cô ấy bị giết. Hắn nhắc đến nơi cô ấy được phát hiện và rằng cô ấy đã bị cắn vào vai. Hắn nói sẽ phải rời khỏi khu đó vì nghĩ hắn có thể bị xem là một nghi phạm chính. Lúc đó, cô ta chỉ cảm thấy đây là câu chuyện tầm phào.
Tên kẻ đó là John Prante.
Làm sao hắn biết về những vết cắn sớm đến thế sau vụ án, trong khi hai năm sau cảnh sát mới biết? Ơ’Connor và White hỏi nhau. Rồi họ đến hỏi chuyện chủ nhân bữa tiệc, Spencer Bond, người này cũng nhớ câu chuyện mà Vicki và Mark White kể. Bond còn nói Main đã cho anh ta biết các chi tiết về việc phát hiện thi thể Karla. Câu hỏi là liệu Main có được thông tin này từ Prante, hay ngược lại. Tuy Prante thực hiện bài kiểm tra phát hiện nói dối suôn sẻ hơn, nhưng Weber và cảnh sát không nghĩ Main đủ táo bạo để thực hiện một tội ác như vậy hay đủ thông minh để gài bẫy Prante.
Gần đây Bond có gặp Prante, hắn vẫn đi chiếc minibus hiệu Volkswagen màu đỏ cũ. Tuy tôi đã đoán đúng màu và thương hiệu, nhưng không đúng về mẫu xe. Dù vậy, điều này cũng có ý nghĩa quan trọng. Trong khoảng thời gian này, chúng tôi bắt đầu thấy phương tiện đi lại ưa thích của bọn tội phạm đã chuyển sang xe tải. Bittaker và Norris lái xe tải. Steven Pennell lái xe tải. Không như xe hơi, trong thùng xe tải, chúng có thể làm bất cứ chuyện gì chúng muốn mà không bị ai nhìn thấy. Trên thực tế, chúng có một địa điểm giết người di động.
Tôi không ngạc nhiên khi nghe John Prante đã để râu từ sau vụ án. Bond đồng ý đeo máy ghi âm khi nói chuyện với Prante về vụ án. Tuy Prante không thừa nhận giết người nhưng hắn cho thấy hắn vô cùng phù hợp với bản mô tả nhân dạng. Hắn học nghề hàn kim loại ở Trường Lewis và Clark. Hắn rời khỏi khu vực sinh sống sau vụ án. Hắn đã ly hôn và gặp rắc rối với phụ nữ. Hắn vô cùng tò mò về cuộc điều tra.
Thứ năm, ngày 3 tháng Sáu, văn phòng của Weber xin được lệnh của tòa buộc Prante phải thực hiện lấy dấu răng vào hôm sau. Cảnh sát trưởng Don Geer bảo hắn rằng họ đang cố gắng hoàn tất những việc còn dang dở, và nếu dấu răng hắn không trùng khớp, họ có thể loại hắn khỏi danh sách nghi phạm.
Sau khi rời phòng nha sĩ, Prante gọi cho Weber, như tôi đã dự đoán. Hắn muốn biết cuộc điều tra đang diễn ra như thế nào. Weber bình tĩnh bảo trợ lý Keith Jensen cùng nghe điện thoại, để bảo đảm về sau Weber không bị loại khỏi vụ án với tư cách nhân chứng tiềm năng. Khi nói chuyện với Weber, những điều Prante nói mâu thuẫn với câu chuyện trước đó về thời điểm hắn rời khỏi nhà Paul Main. Như tôi dự đoán, hắn có vẻ hợp tác.
Cảnh sát thu thập thêm thông tin từ cuộc trao đổi thứ hai, có cài máy ghi âm, giữa Bon và Prante, sau đó còn biết thêm nhiều điều khác từ cuộc nói chuyện được ghi âm giữa Bond và Main. Prante nói với Bond hắn đang hút đến vài gói thuốc một ngày. Main thậm chí còn nói có lẽ Karla đã kích động Prante khi từ chối đề nghị quan hệ của hắn. Điều này dẫn đến một cuộc thẩm vấn khác với Main, trong đó hắn nói hắn tin rằng Prante gây ra vụ sát hại, nhưng hắn lại rút lời khai sau một cuộc nói chuyện riêng với Prante.
Thứ Ba tuần kế tiếp, Weber, Rushing và Geer bay đến Long Island để gặp tiến sĩ Levine. Họ cho ông ấy xem ảnh chụp trong buổi khám nghiệm tử thi mới và ba bộ dấu răng - của Main, của một nghi phạm khác có từ lâu, và của Prante. Levine lập tức loại trừ hai bộ dấu răng đầu. Ông ấy không bảo đảm về mặt khoa học rằng trên đời chỉ có răng Prante khớp với vết cắn, nhưng quả thực chúng đã trùng khớp hoàn toàn.
Paul Main bị bắt và truy tố vì tội cản trở điều tra. Prante bị truy tố tội giết người và ăn trộm với ý định cưỡng hiếp. Hắn ra tòa vào tháng Sáu năm 1983. Tháng Bảy, hắn bị phán có tội và bị xử bảy mươi lăm năm tù giam.
Phải mất đến bốn năm, nhưng nhờ những nỗ lực của nhiều người tận tâm, kẻ giết người cuối cùng đã bị đưa ra trước công lý. Tôi đặc biệt vui và hài lòng khi nhận được bản sao lá thư mà trợ lý ủy viên công tố tiểu bang Keith Jensen gửi cho Giám đốc FBI William Webster. Trong lá thư, anh ấy viết “Cộng đồng nơi đó cuối cùng cũng cảm thấy an toàn và gia đình nạn nhân cảm thấy đã tìm được công lý, những điều này không thể xảy ra nếu không có John Douglas. Tuy anh ấy vô cùng bận rộn, nhưng tôi nghĩ những nỗ lực của anh ấy phải được chú ý. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và mong rằng sẽ có nhiều John Douglas hơn nữa với trí tuệ, năng lực và khả năng hỗ trợ điều tra như anh ấy”
Những lời này quả thực tử tế. Nhưng may mắn là tháng Một năm ngoái, tôi đã có thể kiến nghị lên Jim McKenzie, trợ lý giám đốc Học viện, rằng chúng tôi thật sự cần “nhiều John Douglas hơn nữa”. Đến lượt mình, anh ấy thuyết phục được tổng bộ, dù điều đó có nghĩa là chúng tôi sẽ cướp người từ các chương trình khác. Nhờ đó mà tôi có được Bill Hagmaier, Jim Horn, Blaine McIlwaine và Ron Walker trong đợt đầu, sau đó là Jim Wright và Jud Ray trong đợt thứ hai. Thời gian đã chứng minh họ đều có những đóng góp to lớn.
Dù mọi người nỗ lực hết sức nhưng một số vụ án, như vụ Karla Brown, phải mất nhiều năm mới khép lại. Những vụ khác cũng phức tạp như vậy lại có thể được phá chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần nếu mọi thứ đi đúng hướng.
Khi một nhân viên tốc ký tên là Donna Lynn Vetter ở một trong các văn phòng thực địa khu vực tây nam của FBI bị cưỡng hiếp và sát hại tại căn hộ tầng trệt của cô vào một buổi tối, Roy Hazelwood và Jim Wright nhận lệnh rất rõ ràng từ Văn phòng Giám đốc: lập tức đến đó và phá vụ án này. Lúc đó, chúng tôi đã chia cả nước ra thành nhiều vùng. Vụ này nằm trong vùng do Jim phụ trách.
Thông điệp phải rõ ràng và đanh thép: ngươi không thể thoát khi sát hại nhân viên FBI và bọn ta sẽ làm bất cứ việc gì để bảo đảm điều đó. Hai giờ trưa hôm sau, một chiếc trực thăng của Nhóm giải cứu con tin đưa hai đặc vụ và những túi hành lý đóng vội của họ từ Quantico đến Căn cứ Không quân Andrews ở Maryland, tại đó họ tiếp tục lên một chiếc phi cơ của Cục. Khi hạ cánh, hai người lập tức đến hiện trường đã được cảnh sát địa phương bảo vệ nguyên vẹn.
Vetter là một phụ nữ da trắng hai mươi hai tuổi, lớn lên ở một nông trại. Dù cô ấy đã làm việc cho Cục hơn hai năm, cô ấy chỉ mới chuyển đến thành phố tám tháng trước. Hoàn toàn không biết đến những nguy hiểm của cuộc sống đô thị, cô ấy thuê một căn hộ ở khu vực công nghiệp, chủ yếu là người da màu và người vùng Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha sinh sống. Quản lý khu nhà hiểu rõ các vấn đề an ninh. Bà đã cho lắp đặt một bóng đèn trắng kiểu ngọn đuốc - thay vì đèn vàng thông thường - trên cửa những căn hộ mà người thuê là phụ nữ độc thân để nhân viên của bà ấy và bảo vệ có thể đặc biệt chú ý đến họ. Hệ thống an ninh này không được công khai. Nhưng bất chấp ý tốt của họ, ngay cả một kẻ rình mò bình thường nhất cũng nhanh chóng hiểu được ý nghĩa của kiểu mật mã này.
Cảnh sát được triệu tập sau mười một giờ đêm khi một trong những người thuê nhà thấy rèm cửa sổ của căn hộ đó bị xé toang và báo bảo vệ của khu nhà. Thi thể nạn nhân ở trong tình trạng khỏa thân, bị đánh vào mặt và có nhiều vết đâm, dính đầy máu. Kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy cô ấy đã bị cưỡng hiếp.
Kẻ tấn công đã đột nhập qua cửa sổ trước, làm đổ một chậu cây lớn trên đường vào nhà. Dây điện thoại đã bị rút khỏi ổ cắm trên tường. Có nhiều vết máu lớn, nhem nhuốc trên thảm phòng ăn và sàn nhà bếp, nơi dường như đã xảy ra vụ tấn công chính. Có một vết máu nơi thi thể từng nằm ở đó trông như một thiên thần với kích thước người thật, đôi cánh dang ra như đang bay. Vết máu cho thấy sau đó nạn nhân bị lôi vào phòng khách. Từ vết thương do tự vệ trên thi thể thì dường như nạn nhân đã cố với con dao làm bếp, nhưng hắn đã chộp lấy nó và dùng nó tấn công cô ấy.
Quần áo dính máu của Vetter được nhóm y bác sĩ cấp cứu tìm thấy ở mép sàn nhà bếp gần mấy cái tủ. Quần đùi và quần lót cô ấy bị cuộn lại, cho thấy chúng bị kẻ tấn công lột ra khi cô ấy nằm trên sàn. Khi cảnh sát đến hiện trường, đèn đóm trong căn hộ đều tắt. Họ suy đoán kẻ gây án đã tắt đèn để kéo dài thời gian phát hiện vụ việc sau khi hắn rời đi.
Theo những gì họ thu thập được từ đồng nghiệp, người thân và hàng xóm, nạn nhân là người rụt rè, thành thật và mộ đạo. Cô ấy lớn lên trong một môi trường tôn giáo nghiêm khắc và cứng nhắc, cô ấy rất nghiêm túc với tín ngưỡng của mình. Cô ấy không hề hào nhoáng và dường như rất ít giao thiệp với đàn ông hay đồng nghiệp, họ miêu tả cô là người tỉ mỉ và chăm chỉ nhưng “khác biệt”. Có lẽ đa phần là do cô ấy chưa trải sự đời và được bảo bọc từ nhỏ. Bố mẹ cô ấy hoàn toàn tin vào sự trong sáng của cô ấy và nói rằng họ nghĩ con gái mình sẽ làm bất cứ điều gì để bảo vệ trinh tiết.
Sau khi nghiên cứu hiện trường, đó là kết luận của Roy và Jim về những chuyện đã xảy ra. Tuy khắp nơi đều có máu, nhưng có một vết máu đặc biệt khiến họ lưu ý. Nó nằm ngay bên ngoài cửa phòng tắm. Bên trong phòng tắm, họ thấy có nước tiểu nhưng không có giấy vệ sinh trong lòng bồn cầu chưa dội.
Điểm này lập tức giúp họ liên tưởng đến tình huống đã xảy ra giữa kẻ đột nhập và nạn nhân. Có lẽ cô ấy đang ở trong phòng tắm thì nghe tiếng người đột nhập. Cô ấy đứng dậy mà không kịp dội cầu và ra ngoài xem có chuyện gì. Khi cô ấy vừa bước qua khỏi khung cửa phòng tắm, hắn đánh mạnh vào mặt cô ấy, nhằm vô hiệu hóa nạn nhân. Jim và Roy tìm được vũ khí giết người, một con dao làm bếp, giấu dưới đệm ngồi của một chiếc ghế trong phòng khách.
Bản thân vũ khí giết người cũng cho họ biết đôi điều - rằng Đối tượng vô danh đột nhập vào căn hộ không nhằm mục đích giết người. Việc không có món đồ giá trị nào bị lấy đi cho thấy hắn đến đây với mục đích khác, không phải để trộm đồ. Chứng cứ cho thấy hắn đến đó để cưỡng hiếp. Nếu hắn đến đó để giết người, thay vì dành thời gian ở với nạn nhân thì không có lý do gì để rút dây điện thoại. Việc căn hộ dễ dàng bị đột nhập, tình trạng khỏa thân của nạn nhân, việc hắn tấn công nạn nhân chớp nhoáng trước khi nói lời nào, tất cả đều cho thấy kiểu người cuồng nộ, vai u thịt bắp, trí tuệ kém và không có kỹ năng xã hội hay tự tin vào khả năng kiểm soát người khác bằng ngôn từ. Trừ phi hắn hoàn toàn kiểm soát được nạn nhân không có gì nguy hiểm này ngay từ đầu, nếu không hắn biết hắn sẽ không đạt được mục đích.
Điều hắn không tính đến là cô gái rụt rè, lặng lẽ này lại kháng cự mãnh liệt đến vậy. Mọi thông tin về cuộc sống của cô ấy cho hai chuyên viên mô tả nhân dạng biết cô ấy chắc chắn sẽ làm điều đó để bảo vệ danh dự. Nhưng kẻ tấn công lại không biết. Cô ấy càng chống cự, hắn càng có nguy cơ mất kiểm soát và cơn giận của hắn càng tăng. Với vụ án Karla Brown, từ cưỡng hiếp biến thành giết người, tôi cảm thấy cơn giận của kẻ tấn công chỉ là thứ yếu khi so với nhu cầu “xử lý” tình cảnh lộn xộn mà hắn gây ra. Trong vụ giết người này, có vẻ cơn giận và nhu cầu xử lý nạn nhân có tầm quan trọng tương đương nhau. Cơn giận của hung thủ trong vụ này đã có từ trước chứ không phải thoáng qua. Dấu vết kéo lê cho thấy sau khi tấn công nạn nhân trong bếp, hắn lôi cô ấy vào một phòng khác để cưỡng hiếp khi cô ấy chảy máu và chết dần.
Roy và Jim bắt đầu chuẩn bị bản mô tả nhân dạng của mình ngay buổi tối họ đến nơi. Họ tìm kiếm một người đàn ông từ hai mươi đến hai mươi bảy tuổi. Thường thì trong một vụ giết người vì tình dục hoặc dục vọng, nếu nạn nhân là người da trắng, chúng tôi đoán hung thủ cũng là người da trắng. Nhưng các đặc vụ tin chắc vụ này khởi đầu là một vụ cưỡng hiếp nên sẽ tuân theo các “quy luật” của việc cưỡng hiếp. Đây là một khu trọ và chủ yếu là người da màu và người vùng Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha sinh sống, với tỷ lệ cao phụ nữ da trắng bị đàn ông da màu cưỡng hiếp nên nhiều khả năng kẻ sát nhân là người da màu.
Họ không nghĩ Đối tượng vô danh đã kết hôn, nhưng có thể hắn đang trong một mối quan hệ với ai đó mà hắn phụ thuộc về tài chính hoặc lợi dụng người này. Bất cứ phụ nữ nào có mối quan hệ với hắn đều trẻ hơn, ít kinh nghiệm hơn hắn hoặc dễ bị ảnh hưởng ở mức nào đó. Hắn sẽ không dính líu đến bất cứ ai khiến hắn cảm thấy khó xử lý hoặc đáng sợ. Tuy hắn hơi kém thông minh và có thành tích học tập không nổi bật ở trường (nơi hắn có thể có vấn đề về hành vi), nhưng hắn lại sành đời và có thể tự vệ tốt khi đánh nhau. Hắn muốn tỏ ra nam tính và gan lì với mọi người xung quanh và mặc những trang phục tốt nhất mà hắn kham được. Tương tự, hắn sẽ rất linh hoạt và cố gắng duy trì thể chất tốt.
Nơi hắn sống sẽ không cách hiện trường quá xa, có thể đi bộ đến, ở một khu dành cho người thu nhập thấp. Hắn đã và đang làm công việc thông thường nào đó và hay có mâu thuẫn với đồng nghiệp hoặc người có chức quyền. Vì tính khí nóng nảy, hắn sẽ không nhập ngũ hoặc nếu có thì cũng đã bị cho xuất ngũ. Hai đặc vụ không nghĩ hắn từng giết người, nhưng có lẽ từng trộm cắp và đánh người. Roy Hazelwood, một trong những chuyên gia hàng đầu về tội phạm cưỡng hiếp và chống lại phụ nữ, tin chắc hắn có tiền sử cưỡng hiếp hoặc tấn công tình dục.
Họ dự đoán hành vi của hắn sau khi gây án, giống kẻ giết Karla Brown ở nhiều mặt, gồm nghỉ làm, nghiện rượu, sụt cân và thay đổi ngoại hình. Quan trọng nhất, họ cảm thấy đây là loại người sẽ kể cho người nhà hoặc người qua thân thiết về tội ác hoặc bí mật của mình. Và đó có thể là chìa khóa cho một chiến thuật chủ động nhằm bắt giữ hắn.
Vì biết Đối tượng vô danh sẽ theo dõi tin tức nên Roy và Jim quyết định công khai bản mô tả nhân dạng, đồng ý nhận phỏng vấn của báo chí địa phương. Chi tiết quan trọng duy nhất họ giữ lại là yếu tố chủng tộc. Trong trường hợp họ đoán sai, họ không muốn cuộc điều tra đi chệch hướng và sử dụng sai những manh mối tiềm năng.
Nhưng họ cố gắng công khai càng rộng rãi càng tốt niềm tin rằng người được nghe Đối tượng vô danh kể cho chuyện hắn giết người đang gặp nguy hiểm khôn lường, bây giờ người này đã biết được thông tin có thể buộc tội hắn. Họ thúc giục nếu quý vị nhận ra mình đang rơi vào tình huống này, hãy liên hệ với cơ quan chức năng trước khi quá muộn. Trong vòng hai tuần rưỡi, tên đồng phạm trộm cướp có vũ khí của hung thủ đã gọi cho cảnh sát. Đối tượng bị bắt, và dựa trên dấu vân lòng bàn tay của hắn trùng khớp với dấu vết tìm thấy tại hiện trường, hắn đã bị truy tố.
Sau đó, khi xem lại bản mô tả nhân dạng, chúng tôi nhận thấy Jim và Roy đã hoàn toàn đúng. Hung thủ là một thanh niên da màu hai mươi hai tuổi, sống cách hiện trường vụ án bốn khối nhà. Hắn độc thân, sống chung và phụ thuộc tài chính vào chị gái mình. Khi xảy ra vụ sát hại, hắn đang trong thời gian thử thách vì tội cưỡng hiếp. Hắn bị xét xử, bị phán có tội và lãnh án tử. Việc tử hình hắn vừa diễn ra gần đây.
Tôi thường nói với đồng nghiệp của mình rằng chúng ta nên giống như Lone Ranger, lái xe đến nơi, hỗ trợ thực thi công lý, sau đó lặng lẽ rời đi.
Những người mang mặt nạ đó là ai? Họ để lại viên đạn bạc này.
Họ ư? Họ đến từ Quantico.
Trong vụ án này, Jim và Roy cũng lặng lẽ rời đi. Họ được đưa gấp đến nơi bằng một chiếc phi cơ riêng của Cục. Khi công việc đã xong, họ bay về nhà bằng hạng ghế du lịch, cùng những người đang vui vẻ đi nghỉ và lũ trẻ la hét ỏm tỏi ở băng ghế cuối của một chuyến bay thương mại. Nhưng chúng tôi biết những gì họ đã làm, cũng như mọi người nhận được “những viên đạn bạc” mà họ để lại đều biết.