Họ của mẹ tôi trước khi kết hôn là Holmes, bố mẹ tôi suýt chọn tên đó làm tên lót của tôi thay vì cái tên Edward phổ biến.
Khi nhìn lại, ngoài chuyện đó ra thì không có gì nhiều trong những năm tuổi trẻ của tôi cho thấy một tương lai cụ thể với tư cách một kẻ săn suy nghĩ hay chuyên viên mô tả nhân dạng tội phạm.
Tôi sinh ra ở Brooklyn, New York, gần biên giới với khu Queens. Bố tôi, Jack, là thợ in làm cho tờ Brooklyn Eagle. Khi tôi tám tuổi, vì lo lắng về tỷ lệ tội phạm đang tăng cao, bố đã đưa cả nhà đến Hempstead, Long Island, nơi ông trở thành Chủ tịch Công đoàn In Long Island. Tôi có một chị gái lớn hơn tôi bốn tuổi, Arlene, chị ấy đã sớm là ngôi sao sáng của gia đình, cả về mảng học vấn và thể thao.
Sự học của tôi không có gì nổi bật - thường được điểm B-/C+ - nhưng tôi lịch sự, dễ tính và luôn được các thầy cô ở trường Tiểu học Ludlum yêu quý dù điểm số chỉ thường thường. Tôi chủ yếu thích động vật và nhiều lần nuôi chó, mèo, thỏ, hamster và rắn - mẹ tôi vô cùng bao dung vì tôi nói tôi muốn trở thành bác sĩ thú y. Vì nỗ lực này của tôi hứa hẹn một nghề nghiệp chính đáng nên mẹ đã khích lệ tôi.
Ở trường, có một hoạt động mà tôi thể hiện được năng khiếu, chính là kể chuyện và bằng cách nào đó, nó có thể đã góp phần biến tôi trở thành một điều tra viên tội phạm. Các thanh tra và chuyên viên phân tích hiện trường phạm tội phải thu thập nhiều manh mối lộn xộn và có vẻ không liên quan đến nhau, rồi biến chúng thành một câu chuyện mạch lạc, nên kể chuyện là một tài năng quan trọng, đặc biệt trong các vụ điều tra giết người mà nạn nhân không thể tự kể lại câu chuyện của mình.
Dù sao thì tôi cũng thường dùng tài năng của mình để trốn làm một số việc. Tôi nhớ có một lần vào năm lớp Chín, tôi quá lười, không thèm đọc một cuốn tiểu thuyết để trình bày bản thu hoạch về sách trước cả lớp. Vì vậy, khi tới lượt mình (bây giờ tôi vẫn không dám tin tôi có gan làm chuyện đó), tôi đã bịa ra tiêu đề của một cuốn sách không có thật, bịa ra một tác giả không có thật, và bắt đầu kể câu chuyện về một nhóm người đi cắm trại quanh ngọn lửa trại trong đêm.
Tôi vừa kể vừa bịa và thầm nhủ Mình có thể kéo dài đến chừng nào đây? Tôi kể rằng có một con gấu lén lút theo dõi nhóm người cắm trại, chuẩn bị tấn công bất ngờ, rồi ý tưởng tắt ngóm ở đoạn này. Tôi phát hoảng và không còn lựa chọn nào ngoài thú nhận với giáo viên rằng tôi đã bịa ra toàn bộ câu chuyện. Đó hẳn là cảm giác tội lỗi, chứng tỏ tôi không hoàn toàn có xu hướng phạm tội. Tôi đứng đó, bị vạch trần là kẻ nói xạo, biết mình sắp rớt môn, sắp xấu mặt trước cả lớp và có thể mường tượng ra mẹ tôi sẽ nói gì khi biết chuyện.
Nhưng điều làm tôi cảm thấy ngạc nhiên và thú vị là giáo viên và các bạn trong lớp đều thích câu chuyện! Và khi tôi nói tôi đã bịa ra câu chuyện, tất cả hô hào: “Kể nốt đi. Cho tụi này biết chuyện gì xảy ra tiếp theo đi” Vậy nên tôi tiếp tục và nhận được điểm A. Tôi không kể chuyện này với các con mình suốt một thời gian dài vì tôi không muốn chúng nghĩ rằng những việc sai trái cũng có lợi, nhưng từ sự việc đó, tôi đã học được rằng nếu có thể khiến mọi người tin vào ý tưởng của bạn và khiến họ hứng thú, bạn thường có thể thuyết phục họ. Bài học này đã giúp tôi vô số lần trong công việc nhân viên thi hành luật khi tôi phải thuyết phục cấp trên hoặc Sở Cảnh sát địa phương về giá trị của dịch vụ mà chúng tôi cung cấp. Nhưng phải thừa nhận rằng ở mức độ nào đó, tài năng này chính là thứ mà những tên lừa đảo và tội phạm săn người dùng để sinh tồn.
Nhân tiện, nhóm người cắm trại hư cấu của tôi cuối cùng cũng thoát khỏi con gấu, điều này khác xa kết luận mà mọi người đoán trước vì tình yêu thực sự của tôi là động vật. Bởi vậy, để chuẩn bị trở thành bác sĩ thú y, tôi đã trải qua ba mùa hè ở các nông trại sản xuất sữa tại phía bắc New York, trong chương trình Nông trại Cornell do trường thú y trực thuộc đại học tài trợ. Đây là cơ hội tuyệt vời cho bọn trẻ con thành phố hòa mình với thiên nhiên và để có được đặc quyền này, tôi đã làm việc 70-80 giờtuần với giá 15 đô lagiờ, trong khi các bạn học của tôi đang tắm nắng ở bãi biển Jones. Nếu tôi không bao giờ vắt sữa một con bò nào khác, tôi sẽ không cảm thấy khoảng trống to tướng trong cuộc đời mình.
Công việc thể chất này đã giúp tôi có thể hình lý tưởng để chơi thể thao, vốn là một đam mê mãnh liệt khác của tôi. Ở trường Trung học Hempstead, tôi ném bóng cho đội bóng chày và chơi vị trí tiền vệ phòng ngự chặn trong môn bóng bầu dục. Khi nhìn lại, hoạt động thể thao này có lẽ là lần đầu tiên tôi bộc lộ hứng thú với việc mô tả tính cách.
Trên mô đất mà tay ném đứng, tôi nhanh chóng nhận ra ném được những cú mạnh và chính xác mới là một nửa cuộc chơi. Tôi có cú bóng nhanh rất tốt, và một cú slider khá ổn, nhưng rất nhiều tay ném trung học làm được điều đó, hoặc tương tự. Cái chính là có thể làm tay đập của đối phương rối trí, và tôi nhận thấy để làm được việc đó, chủ yếu phải ra vẻ tự tin và khiến cho anh chàng đứng ở ô đập bóng càng bất an càng tốt. Nhiều năm sau, mẹo này trở nên hữu ích theo cách tương tự khi tôi bắt đầu phát triển các kỹ thuật thẩm vấn.
Hồi trung học tôi đã cao 1m88, tôi tận dụng chiều cao làm lợi thế cho mình. Về tài năng, chúng tôi là một đội thường thường trong một đoàn gồm toàn đội giỏi, và tôi biết tất cả phụ thuộc vào tay ném, phải cố gắng trở thành người dẫn dắt trận đấu và tạo đà chiến thắng. Với một học sinh trung học mà nói thì tôi kiểm soát bóng khá tốt, nhưng tôi quyết định không để các tay đập đối thủ biết điều này. Tôi muốn ra vẻ thờ ơ, không quá dễ đoán để họ không xỉa mũi chân vào đất và bám chặt gôn. Tôi muốn họ nghĩ rằng nếu làm vậy, họ có nguy cơ bị ném trúng, và tệ hơn là do thằng khùng đứng cách đó 18m.
Quả thực Hempstead có một đội bóng bầu dục giỏi, tôi là một tiền vệ nặng 85kg trong đội. Và một lần nữa, tôi nhận ra khía cạnh tâm lý của trò chơi mang lại lợi thế cho mình. Tôi đoán mình có thể đối đầu với mấy người to con hơn nếu tôi hầm hè, lầm bầm và cư xử như một thằng điên. Không lâu sau, cả đám tiền vệ trong đội cũng hành xử y hệt. Sau này, khi tôi thường xuyên làm việc trong các phiên tòa xử án sát nhân mà bệnh tâm thần được dùng làm lý do biện hộ, nhờ kinh nghiệm của bản thân mà tôi biết cư xử như điên không có nghĩa là không biết bản thân đang làm gì.
Năm 1962, chúng tôi đấu với Trung học Wantagh trong giải Thorpe, giành cúp đội bóng bầu dục trung học phổ thông giỏi nhất ở Long Island. Mỗi đứa trong đội đối thủ nặng hơn chúng tôi gần hai mươi ký, có vẻ chắc chắn đội tôi sẽ bị dập tơi tả trước khi đến lượt tấn công. Vì vậy, trước trận đấu, chúng tôi luyện tập một loạt kỹ thuật với mục đích chính là làm rối trí và hù dọa đối thủ. Chúng tôi dàn thành hai hàng, người đầu tiên đứng trong một hàng để chặn - chính xác là để đẩy - người đầu tiên ở hàng kia. Chiến thuật này kết hợp với những tiếng lầm bầm, gầm gừ và la hét đau đớn. Từ vẻ mặt của cầu thủ Wantagh có thể thấy chúng tôi đã đạt được mục đích. Chắc hẳn họ đang nghĩ: “Nếu mấy thằng hâm này ngu tới mức làm như vậy với đồng đội, có trời mới biết tụi nó sẽ làm gì với tụi mình”
Thực ra, toàn bộ chuyện này đã được sắp xếp tỉ mỉ. Chúng tôi luyện tập những cú ném người trong môn đấu vật để trông như bị nện xuống đất rất mạnh, nhưng lại không đau. Khi bước vào trận đấu thực, chúng tôi cứ giữ mức độ điên khùng như bình thường để tỏ vẻ chúng tôi vừa được thả khỏi nhà thương điên để chơi trong buổi chiều này và sẽ quay lại ngay lập tức khi trận đấu kết thúc. Suốt trận, điểm số hai đội đuổi nhau sát nút, nhưng khi kết thúc, chúng tôi đã thắng với tỉ số 14-13, và giành giải Thorpe năm 1962.
Lần đầu tiên đảm nhiệm vai trò “thực thi pháp luật” của tôi, thực ra là trải nghiệm đầu tiên trong việc mô tả nhân dạng “thực sự” của tôi, xảy ra năm tôi mười tám tuổi, khi làm vệ sĩ gác cửa cho một quán rượu và hộp đêm ở Hempstead có tên Gaslight East. Tôi làm tốt đến mức sau đó cũng được giao cho vị trí này tại Câu lạc bộ Lướt ván ở Long Beach. Ở cả hai nơi, tôi có hai nhiệm vụ chính là không cho những người dưới độ tuổi được phép uống rượu - nghĩa là nhỏ tuổi hơn tôi - vào cửa và ngăn chặn ẩu đả xảy ra ở khu vực uống rượu.
Tôi đứng ở cửa, yêu cầu bất kỳ ai mà tôi cảm thấy tuổi tác đáng nghi trình chứng minh thư, sau đó hỏi ngày tháng năm sinh xem có khớp không. Đây là thủ tục khá phổ biến nên tất cả đều có sự chuẩn bị. Hiếm có đứa nào đã chịu khó làm chứng minh thư giả lại bất cẩn đến mức không nhớ ngày tháng năm sinh ghi trên đó. Nhìn thẳng vào mắt trong khi hỏi là một kỹ thuật hiệu quả với nhiều người, đặc biệt là con gái vì họ thường có trách nhiệm xã hội hơn ở tuổi đó. Nhưng ai muốn vào vẫn có thể vượt qua bước kiểm tra nếu tập trung diễn xuất một chút.
Trong khi đặt câu hỏi cho từng nhóm nhóc con đứng đầu hàng, điều tôi thực sự làm lại là kín đáo quan sát thật kỹ những người đứng hàng thứ ba hay bốn - tôi nhìn họ khi họ đang chuẩn bị trả lời, xem xét ngôn ngữ cơ thể của họ, chú ý phát hiện họ có vẻ lo lắng hay ngập ngừng không.
Ngăn chặn ẩu đả thì khó khăn hơn, và để làm việc này, tôi lại dựa vào kinh nghiệm chơi thể thao của mình. Nếu họ thấy ánh mắt bạn cho biết bạn không dễ chơi và công khai cư xử như một kẻ gàn dở, đôi khi cả những gã to con cũng sẽ dè chừng việc đánh nhau với bạn. Nếu họ nghĩ bạn đủ gai góc nên không lo lắng về an toàn bản thân, bạn sẽ trở thành một đối thủ đáng gờm hơn rất nhiều. Ví dụ, gần hai mươi năm sau, khi chúng tôi đang tiến hành thẩm vấn trong tù để phục vụ cho nghiên cứu quan trọng về những kẻ sát nhân hàng loạt, chúng tôi ngộ ra kẻ ám sát điển hình nguy hiểm hơn nhiều, ở những khía cạnh trọng yếu cụ thể, so với kẻ sát nhân hàng loạt. Vì không giống như sát nhân hàng loạt chỉ chọn nạn nhân mà hắn nghĩ mình có thể xử lý, rồi làm mọi cách để không bị bắt, kẻ chuyên ám sát lại quan tâm đến “nhiệm vụ” của mình và thường sẵn sàng chết để hoàn thành nhiệm vụ.
Điều thứ hai nên làm để tạo ấn tượng nhất định với mọi người - chẳng hạn như bạn vô lý và điên rồ tới mức có thể làm chuyện không lường trước được - là phải duy trì kiểu tính cách đó trong suốt thời gian làm việc, chứ không chỉ khi bạn nghĩ có người đang nhìn mình. Khi tôi thẩm vấn Gary Trapnell, tên cướp có vũ khí và không tặc khét tiếng, tại nhà tù liên bang ở Marion, Illinois, hắn tuyên bố rằng có thể lừa bất kỳ nhà tâm thần học nào trong tù tin hắn mắc bất cứ hội chứng tâm lý nào mà tôi chỉ ra. Mấu chốt để làm được việc đó, hắn nói với tôi, là luôn hành xử như thể mình bị tâm thần, kể cả khi ở một mình trong phòng giam, để nếu bị thẩm vấn, hắn không cần “nghỉ” cách giả bệnh, điều vốn sẽ khiến hắn bị bại lộ. Vì vậy, thật lâu trước khi nhận được lời khuyên của “chuyên gia” này, dường như tôi có bản năng suy nghĩ như tội phạm.
Khi không thể dọa người ta đừng đánh nhau trong quán rượu, tôi cố gắng dùng những kỹ thuật mô tả nhân dạng nghiệp dư của mình để làm điều tốt nhất có thể và ngăn cuộc ẩu đả trở nên nghiêm trọng. Với một chút kinh nghiệm, tôi nhận ra thông qua quan sát tỉ mỉ hành vi và ngôn ngữ cơ thể, tôi có thể liên hệ chúng với hành động sẽ dẫn đến ẩu đả nên có thể dự đoán cá nhân nào sắp gây chuyện hay không. Trong trường hợp đó, hoặc khi có nghi ngờ, tôi luôn hành động trước, dùng yếu tố bất ngờ và nỗ lực để đưa người muốn gây hấn rời quán trước khi hắn biết chính xác chuyện gì đang xảy ra với mình. Tôi luôn nói rằng đa số những kẻ giết người vì tình dục và cưỡng hiếp hàng loạt trở nên điêu luyện trong việc chi phối, thao túng và kiểm soát - những kỹ năng mà tôi đang cố gắng thành thạo trong một ngữ cảnh khác. Nhưng ít nhất là tôi đang học hỏi.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi vẫn muốn làm bác sĩ thú y, nhưng không đủ điểm vào Cornell. Nơi tốt nhất mà tôi có thể theo học chương trình tương tự là bang Montana. Vì vậy, tháng Chín năm 1963, anh chàng xuất thân Brooklyn và Long Island là tôi đây đến trung tâm của Big Sky country![1] Cú sốc văn hóa khi đến thành phố Bozeman quả thực quá lớn.
“Con gửi lời chào từ Montana”, tôi viết trong một bức thư gửi về nhà vào thời gian đầu, “ở đây đám đàn ông rất thô bạo còn mấy con cừu thì rất nhát”[2]. Cũng như nhận định của tôi về Montana, là hiện thân của đủ mọi định kiến và những lời sáo rỗng về cuộc sống ở miền tây và vùng biên giới, tôi, một kẻ đến từ miền đông, trong mắt những người tôi gặp ở đó cũng hệt như vậy. Tôi tham gia chi nhánh của Sigma Phi Epsilon[3] tại đây, trong đó hầu như chỉ có bọn con trai địa phương, nên tôi nổi bần bật. Tôi bắt đầu đội nón đen, mặc đồ đen, mang bốt đen và để tóc mai dài giống một nhân vật bước ra từ Câu chuyện phía Tây[4], đó cũng là vẻ ngoài mà dân bản địa hình dung về người New York giống tôi thời đó.
Vì vậy, tôi tận dụng tối đa chuyện này. Ở những buổi họp mặt, người dân địa phương sẽ mặc trang phục miền tây và nhảy điệu two-step, trong khi tôi dành những năm gần đây để xem Chubby Checker trên ti vi và biết hết mọi biến thể của điệu twist. Vì chị gái Arlene của tôi hơn tôi bốn tuổi nên từ lâu chị ấy đã chọn tôi làm bạn tập nhảy và tôi nhanh chóng trở thành người hướng dẫn trong trường khiêu vũ. Tôi cảm thấy mình như một nhà truyền giáo đến vùng sâu vùng xa, nơi chưa từng biết tiếng Anh.
Tôi vốn không giỏi giang gì nhưng lúc này điểm của tôi thấp toàn tập vì tôi không hề tập trung vào việc học. Tôi đã làm vệ sĩ gác cổng ở một quán rượu tại New York, nhưng ở Montana, tuổi được phép uống rượu là hai mươi mốt, một điều bất lợi với tôi. Tiếc thay, tôi không để điều đó cản trở mình.
Lần phạm luật đầu tiên của tôi xảy ra khi một người bạn trong hội sinh viên và tôi đi chơi cùng hai cô nàng xinh đẹp gặp nhau ở trung tâm dành cho những bà mẹ chưa kết hôn. Trông họ có vẻ trưởng thành so với tuổi. Chúng tôi dừng ở một quán rượu, tôi đi vào mua một lốc sáu chai bia.
Người pha chế bảo tôi “Cho tôi xem chứng minh thư của cậu” nên tôi đưa cho anh ta cái thẻ Nghĩa vụ quân sự[5] được làm giả rất tỉ mỉ. Từ kinh nghiệm làm vệ sĩ gác cửa, tôi biết một số nguy cơ và sai lầm khi dùng danh tính giả.
Người pha chế nhìn tấm thẻ và nói “Brooklyn hả? Mấy đứa ở miền đông tụi mày toàn bọn xạo sự đúng không?” Tôi bật cười, trong dạ bồn chồn, nhưng mọi người trong quán đều xoay lại nhìn nên tôi biết đã có nhân chứng. Tôi quay lại chỗ đậu xe và chúng tôi vừa lái xe vừa uống bia, nhưng tôi không hề biết một trong hai cô nàng đã đặt mấy lon bia trên cốp xe.
Đột nhiên, tôi nghe tiếng còi cảnh sát. Một viên cảnh sát chặn xe chúng tôi lại. “Xuống xe ngay”
Thế là chúng tôi bước xuống xe. Ông ta bắt đầu soát người chúng tôi, và dù lúc đó tôi biết việc soát người này là bất hợp pháp nhưng tôi chắc chắn sẽ không càm ràm gì với ông ta. Khi viên cảnh sát cúi người, súng và dùi cui lộ ra trước mắt tôi, và trong đầu tôi nhoáng lên một suy nghĩ điên rồ rằng trong một tích tắc, tôi có thể chộp lấy cái dùi cui, đập lên đầu ông ta, lấy khẩu súng và bỏ trốn. May mắn cho tương lai của mình là tôi đã không làm thế. Nhưng biết ông ta sắp soát đến mình, tôi lấy cái chứng minh thư ra khỏi ví, nhét nó vào quần trong.
Viên cảnh sát đưa cả bốn đứa tôi về đồn, chia ra mỗi đứa một nơi và người tôi túa mồ hôi đầm đìa vì tôi biết họ đang làm gì, tôi sợ thằng bạn sẽ khai ra tôi. Một viên cảnh sát bảo tôi: “Nhóc, giờ thì nói đi. Nếu tên pha chế ở quán không hỏi chứng minh thư của cậu, chúng tôi sẽ quay lại đó. Trước đây chúng tôi đã gặp phiền phức với hắn rồi.
Tôi đáp: “Ở chỗ tôi, người ta không phản bội người khác. Chúng tôi không làm chuyện như vậy. Tôi giả vờ nói chuyện như George Raft[6], nhưng trong lòng thì đang nghĩ Dĩ nhiên anh ta có đòi tôi cho xem chứng minh thư và tôi đã giơ ra chứng minh thư giả chứ sao! Trong lúc đó, cái thẻ chầm chậm trượt xuống trong quần, đâm vào da tôi. Không biết họ có cởi đồ chúng tôi để lục soát không. Ý tôi là, đây là khu vực biên giới, có Chúa mới biết họ sẽ làm gì. Vì vậy, tôi nhanh chóng đánh giá tình hình và giả vờ ốm. Tôi nói với họ tôi cảm thấy không khỏe, phải vào nhà vệ sinh.
Họ để tôi đi một mình, không ai giám sát, nhưng tôi đã xem quá nhiều phim ảnh nên khi vào nhà vệ sinh, nhìn vào gương, tôi e là họ đang quan sát mình từ phía bên kia. Tôi nép sang một bên, thọc tay vào quần lôi ra cái chứng minh thư, rồi đến chỗ bồn rửa tay và giả vờ nôn mửa để phòng trường hợp họ đang theo dõi. Tôi đi sang bồn cầu và nhấn nước xả cái thẻ Nghĩa vụ quân sự xuống cống, rồi trở ra, tự tin hơn hẳn. Cuối cùng tôi bị phạt bốn mươi đô la và hưởng án treo.
Lần thứ hai tôi chạm mặt với cảnh sát Bozeman là vào năm hai đại học, và lần này còn tệ hơn.
Tôi đến xem một cuộc thi cưỡi ngựa chung với hai đứa khác đến từ miền đông và một đứa ở Montana. Cuối trận, chúng tôi ra về trên một chiếc Studebaker năm 1962, trong xe có bia, và thế là lại xảy ra chuyện. Khi đó tuyết rơi nặng hạt. Thằng bạn cầm vô lăng đến từ Boston, tôi ngồi ở ghế phụ phía trước, và thằng Montana ngồi giữa. Tóm lại, thằng lái xe đã chạy qua một biển báo dừng và - có gì lạ đâu - ở ngay đó có một viên cảnh sát. Người ta hay nói cảnh sát chẳng bao giờ có mặt khi bạn cần - nhưng điều đó không đúng ở Bozeman năm 1965.
Thằng bạn trong hội sinh viên của tôi - thật không tin nổi - không chịu dừng xe! Nó chạy luôn trong khi viên cảnh sát bám sát sau lưng.
Mỗi lần chúng tôi rẽ và rời khỏi tầm nhìn của viên cảnh sát trong chốc lát, tôi liền ném mấy lon bia ra ngoài xe. Chúng tôi chạy tiếp, đến một khu dân cư, xe nhảy chồm chồm trên mấy vạch giảm tốc. Chúng tôi gặp hàng rào chắn đường; viên cảnh sát hẳn đã điện đàm cho trạm gác phía trước. Chúng tôi chạy vòng qua rào chắn, leo lên bãi cỏ của một ngôi nhà. Suốt quãng đường tôi liên tục la hét “Dừng xe lại ngay! Cho tôi xuống xe!” nhưng thằng ngốc đó cứ chạy miết. Chiếc xe xoay tròn, tuyết vẫn rơi trắng trời, tiếng còi hụ vang lên ngay sau lưng chúng tôi.
Xe chạy đến một ngã tư. Thằng lái xe đạp thắng, xe xoay tròn một vòng, cửa bung ra và tôi bị văng khỏi xe. Tôi bám vào cửa, mông tôi lết trong tuyết, rồi đột nhiên có người kêu lên “Chạy đi!”
Thế là chúng tôi chạy thục mạng mỗi đứa một hướng. Tôi chạy vào một ngõ hẻm, trông thấy một chiếc xe tải chở hàng, tôi liền leo lên. Tôi đã ném cái nón đen đi trong lúc chạy, tôi đang mặc một cái áo khoác hai mặt màu cam và vàng kim, thế là tôi cởi áo, xoay mặt màu vàng kim ra ngoài để ngụy trang. Nhưng người tôi đầy mồ hôi và hơi thở làm mờ hết kính cửa sổ xe. Tôi nghĩ Khỉ thật, họ sẽ thấy mình mất. Tôi cũng sợ chủ xe có thể trở lại bất kỳ lúc nào, mà ngoài này họ có thể có súng. Vì thế, tôi lau một mảng nhỏ trên kính để nhìn ra, xung quanh chiếc xe chúng tôi bỏ lại đang diễn ra đủ chuyện: xe cảnh sát, chó đánh hơi, cái gì cũng có. Họ đang vào ngõ hẻm, mấy ngọn đèn pin chiếu lên chiếc xe tải, còn tôi thì sắp ị ra quần luôn rồi. Nhưng không thể tin được là họ lái xe lướt qua và để tôi lại đó!
Tôi trở về trường thì mọi người đã nghe về vụ việc, hóa ra hai thằng ở miền đông và tôi thoát được, nhưng họ bắt được thằng ở Montana và nó đã khai hết ra. Nó khai tên cả bọn, và cảnh sát tìm đến từng đứa. Khi họ tìm tới tôi, tôi nài nỉ rằng tôi không điều khiển chiếc xe, rằng tôi rất sợ và đã xin đứa lái xe dừng lại. Trong khi đó, thằng lái xe đến từ Boston bị tống vào phòng giam với chiếc giường cứng ngắc, bánh mì và nước lã, cùng những thứ khác có liên quan, còn phần tôi, vận may kỳ diệu của tôi tiếp tục mỉm cười và tôi chỉ bị phạt thêm bốn mươi đô la vì tội sở hữu rượu, và hưởng án treo.
Nhưng họ báo cho nhà trường và bố mẹ chúng tôi, bên nào cũng vô cùng tức giận, và việc học của tôi sẽ không khá lên chút nào. Điểm trung bình của tôi chỉ là D, tôi rớt môn diễn thuyết vì không bao giờ lên lớp - đây là môn tôi luôn bị điểm thấp vì tôi luôn cảm thấy khả năng nói chuyện là tài sản quý nhất của mình - và tôi không tìm được cách nào để thoát khỏi vũng lầy này. Cuối năm hai, rõ ràng cuộc phiêu lưu của tôi ở miền tây hoang dã đã chấm dứt.
Nếu quý độc giả thấy rằng ký ức của tôi về giai đoạn này toàn là những rủi ro và sai lầm thì đúng vậy, lúc đó tôi cũng cảm thấy thế. Tôi rời trường về nhà, sống trước ánh mắt thất vọng của bố mẹ. Mẹ tôi rất buồn khi biết tôi sẽ không bao giờ trở thành bác sĩ thú y. Như thường lệ, khi không biết làm gì, tôi lại dựa vào tài nghệ thể thao của mình và nhận công việc bảo vệ hồ bơi vào mùa hè năm 1965. Khi mùa hè kết thúc và tôi không trở lại trường, tôi tìm được công việc quản lý câu lạc bộ thể dục thể thao tại khách sạn Holiday Inn ở Patchogue.
Không lâu sau khi bắt đầu công việc ở đây, tôi gặp Sandy, một nữ phục vụ cocktail tại khách sạn. Cô ta trẻ đẹp, có một đứa con trai nhỏ, và tôi ngay lập tức mê mẩn. Khi mặc bộ đồng phục nữ phục vụ cocktail, trông cô ta vô cùng ấn tượng. Hình thể của tôi vẫn đẹp nhờ chăm tập thể dục và có vẻ cô ta cũng thích tôi. Khi đó tôi sống ở nhà và cô ta gọi cho tôi suốt. Bố tôi nói với tôi: “Đứa quỷ quái nào gọi cho con suốt ngày suốt đêm thế hả? Trong điện thoại lúc nào cũng nghe tiếng con nít la khóc”
Sống cùng bố mẹ không cho tôi nhiều cơ hội hành động, nhưng Sandy nói nếu làm việc tại khách sạn thì tôi có thể thuê một phòng trống với giá rất rẻ. Thế là một ngày kia, chúng tôi cùng thuê một phòng.
Sáng sớm hôm sau, điện thoại reo. Cô ta trả lời và tôi nghe được “Không! Không! Tôi không muốn nói chuyện với anh ta đâu!”
Khi thức dậy, tôi hỏi: “Ai gọi vậy?”
Cô ta trả lời: “Lễ tân. Họ nói chồng em đang ở đây và đang lên đây.”
Lúc này tôi tỉnh hẳn. Tôi nói to: “Chồng em? Ý là sao, chồng em hả? Em chưa bao giờ nói em vẫn đang có chồng!”
Cô ta phân trần rằng chưa từng nói là mình đã bỏ chồng, rồi lại giải thích là họ đang ly hôn.
Hay thật, tôi nghĩ khi tai bắt đầu nghe tiếng chân chạy điên cuồng trên hành lang.
Gã chồng bắt đầu đập cửa. “Sandy! Tôi biết cô đang ở trong đó, Sandy!”
Căn phòng có một cửa sổ chớp bằng kính mở ra hành lang và hắn đang kéo các thanh chắn, muốn giật chúng khỏi khung cửa. Tôi thì đang tìm chỗ để nhảy xuống - chúng tôi đang ở tầng hai - nhưng chẳng có cái cửa sổ nào.
Tôi hỏi: “Hắn có súng hay vũ khí gì không?”
“Đôi khi hắn thủ dao trong người”, cô ta nói.
“Mẹ kiếp! Hay thật đấy! Tôi phải ra khỏi đây. Mở cửa đi.”
Tôi lấy thế, giơ hai tay lên. Cô ta mở cửa. Gã chồng xộc vào. Hắn phóng thẳng đến chỗ tôi. Nhưng hắn thấy tôi đứng trong bóng tối, và chắc là nhìn tôi to và dữ tợn lắm, nên hắn đổi ý, dừng lại. Nhưng hắn vẫn la ó: “Thằng khốn! Mày biến khỏi đây ngay!”
Tôi đoán hôm nay mình đã ra vẻ đàn ông đủ rồi - mà trời vẫn còn sớm - nên tôi lịch sự nói “Vâng. Tôi cũng định biến đây” Tôi lại gặp may, thoát khỏi một rắc rối khác mà không trầy xước miếng nào. Nhưng không thể trốn tránh sự thật rằng mọi thứ trong đời tôi sắp tiêu tùng. Tôi cũng vô tình làm nứt trục bánh xe chiếc Saab của bố tôi khi đua với chiếc MGA màu đỏ của thằng Bill Turner bạn tôi.
Một sáng thứ Bảy nọ, mẹ vào phòng tôi, cầm theo lá thư từ cơ quan Nghĩa vụ quân sự, nói rằng họ muốn gặp tôi. Tôi xuống chỗ tòa nhà Whitehall ở khu Manhattan để kiểm tra thể lực quân sự với 300 người khác. Họ bảo tôi gập gối hết cỡ và có thể nghe tiếng răng rắc khi tôi ngồi xuống. Tôi đã phẫu thuật lấy sụn ở đầu gối ra do chơi bóng bầu dục, giống Joe Namath, nhưng hẳn anh ta có luật sư giỏi hơn. Họ tạm thời chưa có quyết định cho tôi, nhưng cuối cùng tôi được thông báo là quả thực Chính phủ cần tôi. Thay vì thử vận may trong Quân đội, tôi nhanh chóng đăng ký vào Không quân dù như vậy nghĩa là phải đi lính bốn năm, nhưng tôi tính toán ở đó sẽ có cơ hội học tập tốt hơn. Có lẽ đó chính là thứ tôi cần. Rõ ràng tôi đã không trân trọng các cơ hội học tập có được ở New York và Montana.
Bấy giờ, tôi còn một lý do khác để đăng ký vào Không quân. Đó là năm 1966 và Việt Nam đang mạnh lên. Tôi không quá quan tâm đến chính trị, tự nhận mình là một người theo chế độ dân chủ của Kennedy vì bố tôi là viên chức trong Công đoàn In ở Long Island. Nhưng ý tưởng bị bắn khi hỗ trợ cho một mục tiêu mà tôi chỉ hiểu một cách mơ hồ không hay ho cho lắm. Tôi nhớ một thợ cơ khí trong Không quân từng kể rằng họ là quân chủng duy nhất mà các quan chức - tức là các phi công - tham chiến còn các binh nhì ở hậu phương hỗ trợ. Không hề có ý định trở thành phi công nên tôi thấy chuyện đó rất ổn.
Tôi được đưa tới Amarillo, Texas, để tham gia huấn luyện cơ bản. Phi đội (tên gọi lớp huấn luyện Không quân) gồm năm mươi người của chúng tôi được chia đều thành nhóm người đến từ New York như tôi, và nhóm người đến từ Louisiana ở miền nam. Viên sĩ quan hướng dẫn luôn canh chừng nhóm người miền bắc và phần lớn thời gian tôi nghĩ việc đó cũng là hợp lý. Tôi thường đánh bạn với những người đến từ miền nam, tôi cảm thấy họ dễ thương và dễ chịu hơn những đồng hương New York.
Với nhiều thanh niên, huấn luyện cơ bản là một trải nghiệm rất căng thẳng. Với tinh thần kỷ luật mà tôi đã trải qua với các huấn luyện viên trong những môn thể thao đồng đội va chạm, và với tư cách một kẻ ngu ngốc mà tôi tự thừa nhận suốt mấy năm qua, tôi thấy cú đánh của sĩ quan hướng dẫn như một trò đùa. Tôi có thể nhìn ra hết những màn giễu võ dương oai và đòn tâm lý của ông ấy, và tôi vốn đã có thể lực tốt nên việc huấn luyện cơ bản đối với tôi tương đối dễ dàng. Tôi nhanh chóng được công nhận là một tay thiện xạ với súng M16, đây có thể là kết quả từ mục tiêu tôi đặt ra khi làm tay ném hồi trung học. Trước khi vào Không quân, kinh nghiệm bắn súng duy nhất của tôi là dùng súng hơi BB bắn vào những ngọn đèn đường hồi còn thiếu niên.
Trong thời gian huấn luyện cơ bản, tôi lại có thêm danh tiếng rất ngầu khác. Khí thế hừng hực nhờ cử tạ, lại thêm quả đầu cạo sát, tôi trở thành “Gấu Nga. Có một gã ở phi đội khác cũng nổi danh vì lý do tương tự, và có đứa nào đó nảy ra sáng kiến tuyệt vời là nếu chúng tôi đấu với nhau thì sẽ rất có lợi cho tinh thần của cả căn cứ.
Trận đấu đó là một sự kiện lớn ở căn cứ. Chúng tôi ngang tài ngang sức và không bên nào chịu rút lui. Cuối cùng chúng tôi đập nhau tơi tả và mũi tôi bị gãy lần thứ ba (hai lần đầu là do chơi bóng bầu dục hồi trung học).
Dù trận đấu có ích hay không thì tôi cũng kết thúc với vị trí thứ ba trong số năm mươi người ở phi đội. Sau đợt huấn luyện cơ bản, tôi phải làm một loạt bài kiểm tra và được báo là đạt yêu cầu vào trường đào tạo ngăn chặn tín hiệu vô tuyến. Nhưng trường này đã đủ học viên và tôi không muốn chờ lớp tiếp theo khai giảng nên họ cho tôi làm nhân viên đánh máy - dù tôi không biết đánh máy. Có một vị trí trống trong bộ phận Nhân sự tại Căn cứ Không quân Cannon, cách đó khoảng 160km, bên ngoài thành phố Clovis, New Mexico.
Thế là tôi đến đó, dành cả ngày dài để gõ những tờ quyết định xuất ngũ - DD214 - bằng hai ngón tay, làm việc cho một viên trung sĩ ngốc nghếch và tự nhủ Mình phải ra khỏi chỗ này.
Một lần nữa, đây là lúc vận may của tôi xuất hiện. Kế bên phòng Nhân sự là phòng Quân chủng đặc biệt. Khi tôi nói cụm từ này, đa số mọi người nghĩ đến các Lực lượng Đặc biệt như Mũ nói xanh. Nhưng đây là Quân chủng đặc biệt, cụ thể là Quân chủng đặc biệt - Thể thao. Với kinh nghiệm của tôi, bộ phận đó có vẻ là một cách hay để bảo hộ đất nước khi cần.
Tôi bắt đầu rình mò, đến cửa nghe lén và nghe một người trong đó nói “Chương trình này thất bại chắc rồi. Chúng ta không có người phù hợp.
Tôi tự nhủ, cơ hội đây rồi! Thế là tôi giả vờ đi loanh quanh, tình cờ gõ cửa phòng họ và nói “Xin chào, tôi là John Douglas, cho phép tôi giới thiệu một chút về kinh nghiệm của mình”
Trong khi nói, tôi họ để thăm dò phản ứng và “mô tả” mình theo kiểu người mà họ muốn. Và tôi đã thành công, vì họ cứ nhìn nhau như thể “Đúng là phép màu! Anh ta chính là người chúng ta muốn!” Bởi thế mà họ chuyển tôi khỏi bộ phận Nhân sự và từ đó về sau, tôi không bao giờ phải mặc đồng phục nữa, họ trả thêm lương cho tôi với tư cách một binh nhì quản lý tất cả chương trình thể thao, tôi đủ điều kiện tham gia chương trình Vận hành tự khởi[7], trong đó Chính phủ chi trả 75% học phí để tôi đi học vào buổi tối và cuối tuần - và tôi đã học, ở Đại học Đông New Mexico ở Portales, cách đó 40km. Vì phải làm tốt hơn xếp hạng trung bình loại D ở đại học, tôi phải đạt toàn điểm A trong chương trình này. Nhưng lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mình có mục tiêu để phấn đấu.
Tôi làm rất tốt công tác đại diện Không quân trong những môn thể thao có luật thi đấu nghiêm ngặt như quần vợt, bóng đá và cầu lông nên cuối cùng họ cho tôi quản lý sân gôn và cửa hàng dụng cụ thể thao của căn cứ dù tôi chưa từng đánh gôn lần nào trong đời. Nhưng thật sự trông tôi rất phong độ khi mặc những chiếc áo nỉ hiệu Arnold Palmer và quản lý tất cả các giải đấu.
Một ngày nọ, chỉ huy căn cứ vào sân và muốn biết ông ấy nên dùng quả bóng nén nào cho giải đấu này. Tôi không hiểu ông ấy nói gì và cũng giống như bài báo cáo sách hồi lớp Chín gần mười năm trước, tôi bị bại lộ.
“Anh quản lý chỗ này như thế nào hả?” Ông ta muốn biết. Ngay lập tức tôi bị đuổi khỏi sân gôn và chuyển sang bộ phận điêu khắc trang sức của phụ nữ, nghe có vẻ thú vị cho đến khi tôi phát hiện ra nó có nghĩa là gia công đá. Tôi cũng được yêu cầu quản lý bộ phận làm gốm của phụ nữ và hồ bơi của các sĩ quan. Tôi nghĩ, trong khi các sĩ quan bay sang Việt Nam để ăn đạn thì tôi ở đây lấy ghế ngồi và khăn tắm cho những người vợ thích tán tỉnh của họ và dạy con họ học bơi, họ còn trả thêm tiền cho việc này trong khi tôi lấy bằng đại học?
Một nhiệm vụ khác của tôi có vẻ liên quan đến những ngày làm vệ sĩ gác cửa trước đây. Hồ bơi nằm cạnh quầy rượu của các sĩ quan, ở đó thường có nhiều phi công trẻ đang huấn luyện với Bộ Tư lệnh Hàng không Chiến thuật. Nhiều lần tôi phải tách những gã phi công say rượu, điên cuồng ra khỏi nhau hoặc khỏi tôi.
Khoảng hai năm trong thời gian phục vụ ở Không quân, khi tôi đang lấy bằng đại học, tôi biết đến một hiệp hội chuyên giúp đỡ trẻ em khuyết tật ở địa phương. Họ cần người giúp đỡ trong các chương trình giải trí nên tôi đã tình nguyện tham gia. Mỗi tuần một lần, cùng với hai nhân viên, tôi đưa khoảng mười lăm em đi trượt pa tanh hoặc chơi gôn và bowling mini hoặc một hình thức thể thao nào đó mà các em có thể phát triển kỹ năng và tố chất cá nhân.
Đa số trẻ em ở đây gặp nhiều khó khăn như bị mù hoặc hội chứng Down, hay vấn đề nghiêm trọng trong việc kiểm soát vận động. Đây là dạng công việc rất mất sức, ví dụ như trượt pa tanh vòng quanh sân khi mỗi tay bế một đứa, cố gắng để các em không tự làm mình bị thương, nhưng tôi vô cùng yêu thích công việc này. Thực ra, hiếm có trải nghiệm nào khác trong đời khiến tôi thấy hứng thú như vậy.
Khi tôi dừng xe ở trường mỗi tuần, bọn trẻ đều chạy ra chào tôi, vây quanh chiếc xe, tôi sẽ xuống xe và ôm chúng. Cuối mỗi buổi, tất cả đều buồn khi thấy tôi đi và tôi cũng buồn khi phải đi. Tôi cảm thấy mình đang nhận được rất nhiều từ chương trình này, tình thương và tình bạn, trong thời điểm mà tôi không nhận được gì từ bất kỳ nơi nào khác nên tôi bắt đầu đến trường vào buổi chiều để đọc truyện cho bọn trẻ nghe.
Chúng hoàn toàn trái ngược với những đứa trẻ khỏe mạnh, bình thường mà tôi tiếp xúc ở căn cứ, những đứa đã quen là trung tâm của sự chú ý và được bố mẹ đáp ứng mọi thứ mà mình muốn. Bọn trẻ “đặc biệt” của tôi biết trân trọng bất cứ thứ gì mọi người làm cho các em, và dù khuyết tật nhưng các em luôn rất thân thiện và hào hứng khám phá.
Tôi không hề biết họ quan sát tôi phần lớn thời gian tôi ở cùng bọn trẻ. Công việc hẳn đã bộc lộ chút gì đó về khả năng quan sát của tôi mà tôi chưa từng phát hiện! Bất luận thế nào, khả năng của tôi đã được các thành viên của khoa Tâm lý học Đại học Đông New Mexico đánh giá, sau đó họ trao cho tôi một suất học bổng bốn năm chuyên ngành Giáo dục đặc biệt.
Tuy tôi cũng từng nghĩ đến ngành tâm lý học công nghiệp, nhưng tôi yêu quý bọn trẻ và cảm thấy đây có thể là một lựa chọn tốt. Thực ra, tôi có thể ở lại Không quân và trở thành một sĩ quan với sự nghiệp chuyên gia tâm lý học. Tôi nộp đề nghị của trường đại học lên ban nhân sự dân vận của căn cứ nhưng sau khi cân nhắc họ quyết định Không quân không cần người có bằng cấp về giáo dục đặc biệt. Tôi cho rằng việc này hơi lạ vì có rất nhiều người phụ thuộc ở căn cứ, nhưng họ đã quyết định như thế. Bởi vậy, tôi từ bỏ suy nghĩ gây dựng sự nghiệp với ngành giáo dục đặc biệt, nhưng vẫn tiếp tục công việc tình nguyện mà tôi rất thích.
Giáng sinh năm 1969, tôi về thăm gia đình. Tôi phải lái xe 160km trở về Amarillo để đáp chuyến bay đến New York, mà chiếc Volkswagen Beetle của tôi không thể kham nổi đoạn đường đó. Vì vậy, bạn thân tôi ở Không quân là Robert LaFond đổi cho tôi chiếc Karmann Ghia của cậu ấy để tôi đi. Tôi không muốn bỏ lỡ bữa tiệc Giáng sinh của đơn vị Quân chủng đặc biệt, nhưng đó là cách duy nhất tôi có thể về Amarillo đúng giờ để lên máy bay.
Khi đáp chuyến bay ở La Guardia, bố mẹ đón tôi. Vẻ mặt họ rất nghiêm trọng, gần như bàng hoàng, tôi không hiểu tại sao. Nói cho cùng thì tôi đang thay đổi cuộc đời mình một trăm tám mươi độ và cuối cùng cũng cho họ một lý do để không thất vọng về tôi. Nhưng chuyện là họ nhận được báo cáo về một tài xế chưa xác định danh tính chết gần căn cứ của tôi trong một chiếc VW trùng khớp với mô tả về chiếc xe của tôi. Cho đến khi bố mẹ thấy tôi xuống máy bay, họ không biết là tôi còn sống hay đã chết.
Hóa ra Robert LaFond, cũng như nhiều người khác, đã say và ngủ quên ở bữa tiệc Giáng sinh. Những người ở đó nói một vài sĩ quan và binh sĩ đã đưa cậu ấy vào xe của tôi với chìa khóa cắm trong ổ và khi tỉnh lại, cậu ấy định lái xe rời khỏi căn cứ. Khi đó có tuyết rơi, trời lạnh cóng; cậu ấy tông thẳng vào một chiếc xe trên đó có một nữ quân nhân và các con của cô ấy. May mắn là họ không bị thương, nhưng trong chiếc xe cà tàng của tôi, Robert va người vào vô lăng, văng qua kính chắn gió và chết.
Sự cố này đã ám ảnh tôi. Chúng tôi chơi rất thân, tôi đau đớn nghĩ rằng chuyện đó có lẽ đã không xảy ra nếu cậu ấy không cho tôi mượn chiếc xe xịn. Khi trở lại căn cứ, tôi phải nhận đồ dùng cá nhân của cậu ấy, đóng thùng tất cả tài sản và gửi về cho gia đình cậu ấy. Tôi cứ trở lại nhìn chiếc xe hỏng của mình, mơ thấy Robert và vụ tai nạn. Tôi đã đi cùng vào ngày cậu ấy mua quà Giáng sinh cho bố mẹ mình ở Pensacola, Florida, một món quà được gửi đến cùng ngày các sĩ quan Không quân đến nhà để thông báo rằng con trai họ đã chết.
Nhưng không chỉ đau buồn, tôi còn rất giận dữ. Giống như sau này khi trở thành điều tra viên, tôi cứ dò hỏi xung quanh đến khi thu hẹp số đối tượng xuống còn hai người mà tôi nghĩ có trách nhiệm trong chuyện này. Tôi tìm thấy họ trong văn phòng, tóm lấy, ấn họ vào tường. Tôi bắt đầu đánh họ, từng người một. Người ta phải lôi tôi ra khỏi họ. Tôi giận điên người, đến mức không thèm bận tâm nếu có phải ra tòa. Tôi chỉ quan tâm chuyện họ đã giết bạn thân của tôi.
Phiên tòa quân sự là một sự việc rối rắm, vì họ phải xử lý lời buộc tội chính thức của tôi với hai người kia. Đồng thời, sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam bắt đầu giảm dần và họ đang cho các binh nhì chỉ còn vài tháng nghĩa vụ được xuất ngũ sớm. Thế là để dẹp yên mọi chuyện theo cách tốt nhất có thể, ban nhân sự cho tôi xuất ngũ sớm vài tháng.
Khi còn tại ngũ, tôi đã lấy bằng đại học và bắt đầu học thạc sĩ ngành tâm lý học công nghiệp. Bấy giờ, tôi đang sống nhờ trợ cấp của Luật GI. trong một căn hộ không có cửa sổ dưới tầng hầm, giá bảy đô la một tuần ở Clovis, chiến đấu với những binh đoàn bọ nước dài gần 7cm cứ lập đội hình tấn công mỗi khi tôi vào phòng và mở đèn. Không thể sử dụng cơ sở vật chất của căn cứ nữa, tôi dọn vào một phòng tập rẻ tiền, xập xệ, không khí và bài trí cũng không hơn gì căn hộ của tôi.
Mùa thu năm 1970, tôi gặp một người ở phòng tập tên là Frank Haines, hóa ra là một đặc vụ FBI. Anh ta điều hành một cơ sở vệ tinh một người ở Clovis. Chúng tôi trở nên thân thiết trong thời gian tập luyện cùng nhau. Hóa ra anh ta đã nghe về tôi từ chỉ huy căn cứ đã nghỉ hưu và bắt đầu thuyết phục tôi nộp đơn vào Cục. Nói thật, tôi chưa từng suy nghĩ nghiêm túc về công việc thi hành luật. Tôi đang lên kế hoạch làm việc trong ngành tâm lý học công nghiệp sau khi tốt nghiệp. Làm việc cho một công ty lớn, xử lý những vấn đề như nhân sự, hỗ trợ nhân viên và kiểm soát căng thẳng, có vẻ đem lại một tương lai chắc chắn, có thể dự đoán trước. Lần duy nhất tôi có liên hệ trực tiếp với FBI cho đến lúc đó là ở Montana, khi một cái rương tôi vận chuyển về nhà bị trộm mất. Một đặc vụ thực địa ở đó đã thẩm vấn tôi vì nghĩ rằng có thể tôi đã dàn xếp vụ này để lấy tiền bảo hiểm nhưng không có kết quả gì. Nếu FBI chuyên xử lý những vụ việc như vậy thì tôi thấy công việc đó chẳng có gì nhiều để làm.
Nhưng Frank khăng khăng rằng tôi sẽ là một đặc vụ giỏi và liên tục khích lệ tôi. Anh ta mời tôi đến nhà ăn tối vài lần, giới thiệu tôi với vợ và con trai anh ta, cho tôi xem súng và séc lương của anh ta, chẳng cái nào tôi có thể sánh bằng. Phải công nhận, so với cuộc sống xoàng xĩnh của tôi thì Frank sống như một ông hoàng. Vì vậy, tôi quyết định thử xem thế nào.
Frank ở lại New Mexico, và nhiều năm sau, chúng tôi gặp nhau khi tôi ra mặt làm chứng trong một vụ án giết người mà anh ta điều tra, trong đó một phụ nữ bị giết hại dã man và đốt xác để tránh bị phát hiện. Nhưng vào mùa thu năm 1970, tôi không hề nghĩ tới loại hành động này.
Frank gửi đơn của tôi đến văn phòng thực địa ở Albuquerque. Họ cho tôi làm bài kiểm tra tiêu chuẩn dành cho những người không phải luật sư. Bất chấp điều kiện thể chất tốt và cơ hình cơ bắp của tôi, cân nặng 100kg của tôi vẫn thừa 11kg so với giới hạn của FBI dành cho chiều cao 1m88. Người duy nhất trong Cục có thể vượt qua tiêu chuẩn cân nặng chính là ngài giám đốc huyền thoại J. Edgar Hoover. Trong hai tuần, tôi không ăn gì ngoài gelatin Knox và trứng luộc để giảm xuống số cân cần thiết. Tôi cũng phải cắt tóc ba lần mới đạt chuẩn đề chụp hình thẻ nhân viên.
Nhưng cuối cùng, vào tháng Mười một, tôi được bổ nhiệm một chức vụ tập sự, với mức lương khởi điểm là 10.869 đô la. Cuối cùng, tôi cũng thoát khỏi căn phòng không cửa sổ, u ám dưới tầng hầm. Tôi tự hỏi liệu bấy giờ tôi sẽ nghĩ gì nếu biết mình sẽ dành phần lớn thời gian ở Cục trong một căn phòng không cửa sổ dưới tầng hầm khác, theo đuổi những câu chuyện còn u ám hơn nhiều.
❀ ❀ ❀
[1] Tên gọi khác của bang Montana.
[2] Nguyên văn: where men are men and sheep are nervous.
[3] Hội nam sinh ở Hoa Kỳ.
[4] West Side Story: một vở nhạc kịch và sách của Arthur Laurents, âm nhạc của Leonard Bernstein, lời của Stephen Sondheim.
[5] Nguyên văn: Selective Service System (SSS), cơ quan độc lập thuộc Chính phủ Hoa Kỳ, lưu trữ thông tin những người phải tham gia nghĩa vụ quân sự.
[6] Diễn viên và vũ công người Mỹ, nổi tiếng với vai xã hội đen trong các bộ phim tâm lý vào thập niên 1930, 1940.
[7] Nguyên văn: Operation Bootstrap.