Kẻ Săn Suy Nghĩ

Lượt đọc: 59 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
Cuộc chiến của các chuyên gia tâm lý

❊ ❊ ❊

Loại người nào có thể làm ra chuyện như vậy?

Trong khi nghiên cứu về sát nhân hàng loạt, Bob Ressler và tôi ở Joliet, Illinois, nơi chúng tôi vừa thẩm vấn Richard Speck. Chiều hôm đó, tôi đã trở lại phòng khách sạn và đang xem tin tức trên kênh CBS thì trông thấy Dan Rather thẩm vấn một kẻ giết người khác tên Thomas Vanda, kẻ dường như cũng đang thụ án tại Trại giam Joliet. Vanda đi tù vì giết một phụ nữ bằng cách đâm nhiều nhát. Phần lớn cuộc đời hắn ra vào các viện tâm thần và mỗi lần hắn được “trị khỏi” và thả ra, hắn lại phạm một tội ác khác. Trước vụ giết người mà hắn đang chịu phạt tù, hắn từng giết người một lần.

Tôi gọi cho Ressler, nói rằng chúng tôi phải trao đổi với hắn khi đang ở đây. Từ cuộc thẩm vấn được phát sóng, tôi biết hắn là loại người hoàn toàn tự ti. Hắn có thể phóng hỏa dễ dàng như giết người. Hoặc nếu có công cụ và kỹ thuật, hắn có thể đánh bom.

Chúng tôi trở lại nhà tù vào hôm sau và Vanda đồng ý gặp chúng tôi. Hắn tò mò về công việc chúng tôi đang làm tại đó và hắn cũng không có nhiều người đến thăm. Trước buổi thẩm vấn, chúng tôi xem qua hồ sơ về hắn.

Vanda là người da trắng, cao tầm 1m75, hơn hai mươi tuổi. Hắn có điệu bộ nhẹ nhàng, không thích hợp và rất hay cười. Kể cả khi cười, hắn vẫn có kiểu nhìn “đó” - cặp mắt láo liên, những cú co giật do lo lắng, hai tay chà xát vào nhau. Không ai cảm thấy thoải mái khi đưa lưng về phía hắn. Điều đầu tiên hắn muốn biết là tôi nghĩ hắn trông thế nào trên ti vi. Khi tôi bảo nhìn hắn rất ổn, hắn cười lớn và thả lỏng hơn. Trong số những điều hắn kể với chúng tôi có việc hắn đã tham gia một nhóm nghiên cứu Kinh Thánh trong tù và nghĩ nó rất có ích với hắn. Có thể nó có ích. Nhưng tôi đã thấy rất nhiều tù nhân gần đến ngày trình diện trước ủy ban xét duyệt phóng thích có điều kiện sẽ tham gia các nhóm tôn giáo để chứng tỏ chúng đang đi đúng con đường cần đi để được phóng thích.

Quý vị có thể tranh luận xem gã này nên bị nhốt trong một trại giam được bảo đảm an ninh tối đa hay một viện tâm thần an toàn, nhưng sau buổi thẩm vấn, tôi đến gặp chuyên gia tâm thần học chuyên trách trị liệu cho hắn và hỏi ông ấy là Vanda biểu hiện như thế nào.

Vị chuyên gia, khoảng năm mươi tuổi, cho tôi một câu trả lời khả quan, nói rằng Vanda “đang phản ứng rất tốt với thuốc và liệu pháp”. Vị này nhắc đến nhóm nghiên cứu Kinh Thánh để làm ví dụ và nói có thể Vanda sẽ đủ điều kiện được phóng thích nếu tiếp tục tiến bộ như vậy.

Tôi hỏi liệu ông ấy có biết chi tiết những gì Vanda đã làm không. “Không, tôi không muốn biết”, ông ấy trả lời. “Tôi không có thời gian, tôi có quá nhiều phạm nhân phải xử lý ở đây.” Ông ấy bổ sung rằng không muốn tác động một cách thiếu công bằng đến mối quan hệ giữa mình và bệnh nhân.

“Chà, ngài tiến sĩ, để tôi cho ông biết Thomas Vanda đã làm những gì”, tôi nhấn mạnh. Trước khi ông ấy có thể phản đối, tôi tiếp tục thuật lại việc kẻ căm ghét xã hội, thuộc tuýp đơn độc này tham gia một nhóm tôn giáo như thế nào. Sau một cuộc gặp mặt, khi những người khác đã ra về, hắn gạ gẫm người phụ nữ trẻ tổ chức cuộc gặp mặt đó. Cô ấy từ chối Vanda và hắn không chấp nhận. Những kẻ như thế thường không chấp nhận sự từ chối. Hắn đánh ngã cô ấy, vào nhà bếp của cô ấy, trở lại với một con dao và đâm cô ấy rất nhiều nhát. Sau đó, khi cô ấy hấp hối trên sàn nhà, hắn đưa dương vật của hắn vào một vết thương hở trên bụng cô ấy và xuất tinh. Tôi phải nói rằng, tôi thấy việc này thật đáng kinh ngạc. Khi đó, cô ấy như một con búp bê vải. Cơ thể cô ấy còn ấm, đang chảy máu, hẳn trên người hắn phải dính máu. Hắn thậm chí không thể loại bỏ nhân tính trong cô ấy. Thế nhưng hắn có thể cương lên và xuất tinh. Vì vậy, ông sẽ hiểu tại sao tôi khẳng định rằng đây là một tội ác vì giận dữ, không phải vì tình dục. Điều hiện diện trong đầu hắn không phải là là tình dục - mà là sự tức giận và phẫn nộ.

Nhân tiện, điều này lý giải tại sao chẳng ích gì khi thiến những kẻ liên tục phạm tội cưỡng hiếp - dù ý tưởng này có thể khiến chúng ta cảm thấy thỏa mãn và hài lòng. Vấn đề là việc đó không khiến chúng dừng lại, dù là về mặt thể xác hay cảm xúc. Cưỡng hiếp chắc chắn là một tội ác vì tức giận. Nếu ông thiến đi hai “quả trứng” của một kẻ nào đó, hắn sẽ trở thành một kẻ giận dữ.

Tôi kết thúc câu chuyện về Vanda. “Anh thật kinh tởm, Douglas!” Vị chuyên gia tâm thần học kêu lên. “Biến khỏi văn phòng tôi ngay!” “Tôi kinh tởm ư?” Tôi hỏi lại. “Chính ông nói rằng Thomas Vanda đang phản ứng tốt với việc trị liệu và có thể được phóng thích mà lại không biết mình đang nói chuyện với hạng người thế nào khi chữa trị cho anh ta. Làm sao ông hiểu được họ nếu không dành thời gian xem qua những tấm ảnh chụp hiện trường vụ án hay báo cáo, không đọc khám nghiệm pháp y? Ông có thấy cách hắn thực hiện tội ác đó không? Ông có biết tội ác đó được lên kế hoạch trước không? Ông có hiểu hành vi dẫn đến tội ác đó? Ông có biết hắn đã rời khỏi hiện trường vụ án như thế nào không? Ông có biết hắn cố thoát tội không? Hắn có cố ngụy tạo một bằng chứng ngoại phạm không? Làm thế quái nào ông biết được liệu hắn có nguy hiểm hay không?”

Ông ấy không có câu trả lời nào và tôi nghĩ mình không tạo ra sự thay đổi nào vào hôm đó, nhưng tôi có cảm giác mãnh liệt về nó. Đó là cơ sở của những điều chúng tôi làm trong đơn vị. Như tôi đã nói nhiều lần ở trên, tình trạng tiến thoái lưỡng nan trong đa số liệu pháp tâm thần dựa trên việc tự báo cáo về sự tiến bộ của bệnh nhân. Một bệnh nhân đến gặp một chuyên viên trị liệu trong những tình huống bình thường có mong muốn thổ lộ suy nghĩ và cảm xúc thật của mình. Mặt khác, một tên tội phạm khao khát được phóng thích sớm, lại có mong muốn nói cho chuyên viên trị liệu điều mà người này muốn nghe. Ở mức độ mà chuyên viên trị liệu chấp nhận báo cáo đó đúng như những gì họ nghe mà không liên hệ với những thông tin khác về đối tượng, đó có thể là lỗ hổng thực sự của hệ thống. Ed Kemper và Monte Rissell, hai trong số nhiều tội phạm, cũng tham gia trị liệu khi đang thực hiện các tội ác của mình, và cả hai đều xoay sở tốt nên không bị phát hiện. Trên thực tế, chúng cho chuyên viên trị liệu của mình thấy “sự tiến bộ”.

Theo tôi, vấn đề là chúng ta có các nhà tâm thần học và tâm lý học, cùng các nhân viên công tác xã hội trẻ - những người lý tưởng hóa mọi thứ, được dạy dỗ ở trường rằng họ thực sự có thể tạo ra thay đổi. Rồi sau đó họ gặp những gã này trong tù và họ muốn cảm thấy mình đã thay đổi chúng. Họ thường không hiểu khi họ cố gắng đánh giá những tên tội phạm này, thực ra họ đang múa rìu qua mắt thợ! Trong một thời gian ngắn, tên tội phạm sẽ biết liệu vị bác sĩ đã mắc bẫy chưa và nếu chưa, hắn sẽ có thể làm giảm tính nghiêm trọng của tội ác cũng như tác động lên những nạn nhân. Rất ít tội phạm sẵn sàng kể các chi tiết quan trọng cho ai đó chưa biết về chúng. Đó là lý do việc chuẩn bị đầy đủ là rất quan trọng trong những buổi thẩm vấn tại tù của chúng tôi.

Như với bác sĩ của Thomas Vanda, những người làm trong lĩnh vực trợ giúp người khác thường không muốn có thành kiến vì biết những chi tiết kinh tởm mà tội phạm đã thực hiện. Nhưng tôi luôn nói với các học viên của mình, muốn hiểu Picasso, các bạn phải nghiên cứu tranh của ông ấy. Muốn hiểu tính cách của tội phạm, các bạn phải nghiên cứu tội ác của chúng.

Điểm khác nhau là các chuyên gia sức khỏe tâm thần bắt đầu với tính cách và suy ra hành vi từ góc nhìn đó. Tôi và các cộng sự bắt đầu từ hành vi và suy ra tính cách từ góc nhìn đó.

Dĩ nhiên có nhiều góc nhìn khác nhau về vấn đề trách nhiệm của tội phạm. Tiến sĩ Stanton Samenow là một nhà tâm lý học đã cộng tác với nhà tâm thần học, cổ tiến sĩ Samuel Yochelson trong một nghiên cứu tiên phong tại bệnh viện Thánh Elizabeth ở Washington, về hành vi của tội phạm. Nhiều năm tự nghiên cứu đã dần dần thay đổi những quan điểm của ông trước đây, Samenow kết luận trong cuốn sách sắc sảo và rất sâu sắc của mình, Trong tâm trí tội phạm, rằng “tội phạm suy nghĩ khác với những người có trách nhiệm”. Samenow tin rằng hành vi của tội phạm không phải là câu hỏi về bệnh tâm thần mà là về khiếm khuyết trong tính cách.

Tiến sĩ Park Dietz, người thường xuyên cộng tác cùng chúng tôi, đã tuyên bố “Không có tên sát nhân hàng loạt nào mà tôi từng có dịp nghiên cứu hoặc thẩm tra bị điên, theo pháp luật nhận định, nhưng cũng không có tên nào bình thường. Tất cả chúng đều mắc các hội chứng rối loạn tâm thần. Nhưng bất chấp tình trạng đó, có liên quan đến sở thích về tình dục và tính cách, chúng biết mình đang làm gì, biết việc mình làm là sai nhưng vẫn làm.”

Lúc này, cần nhớ rằng điên là một khái niệm theo pháp luật, không phải một thuật ngữ y học hay tâm thần học. Nó không có nghĩa là ai đó “bệnh” hay không “bệnh”. Nó có liên quan đến việc liệu người đó có chịu trách nhiệm cho hành động của mình hay không.

Thế này, nếu quý vị tin rằng một kẻ như Thomas Vanda bị điên, tốt thôi. Tôi nghĩ điều đó có thể đúng. Nhưng một khi đã xem xét cẩn thận các dữ liệu, tôi nghĩ chúng ta phải đối diện với sự thật là dù Thomas Vanda có bị gì đi nữa, thứ đó không thể chữa được. Nếu chúng ta chấp nhận điều đó, không được thả chúng ra quá nhanh để chúng có thể tái phạm những tội ác của mình. Hãy nhớ, đây không phải lần đầu hắn giết người.

Gần đây có nhiều tranh luận về khái niệm điên ở tội phạm và tranh luận này không hề mới. Nó đã xuất hiện từ ít nhất vài trăm năm trước trong ngành nghiên cứu luật pháp của vùng Mỹ Ăng-lê, đến thời của tác phẩm Eirenarcha hay Trong văn phòng của các quan tòa (William Lambard) vào những năm 1500.

Tuyên bố đầu tiên dùng khái niệm điên làm lý do biện hộ trước những cáo buộc phạm tội là Luật M’Naghten năm 1843, đặt theo tên của Daniel M’Naghten (đôi khi gọi là McNaughten hoặc McNaghten), kẻ đã định giết Thủ tướng Anh Robert Peel và thật sự đã bắn trúng thư ký riêng của Peel. Nhân tiện, Peel là người chịu trách nhiệm tổ chức lực lượng cảnh sát của Luân Đôn. Cho đến nay, cảnh sát Luân Đôn vẫn được gọi là bobbybobbies để vinh danh ngài.

Sau khi M’Naghten được phán vô tội, sự phẫn nộ của công chúng lớn đến mức ngài Bộ trưởng Tư pháp đã bị triệu tập trước Thượng nghị viện đề giải trình. Các yếu tố cơ bản cho thấy một bị cáo vô tội nếu tình trạng tâm thần của hắn làm hắn mất khả năng nhận biết sự sai trái hoặc hiểu được bản chất và tính chất trong hành động của mình; nói cách khác là hắn có phân biệt được đúng sai không.

Học thuyết về bệnh điên đã tiến triển qua nhiều năm, trở thành cái thường được gọi là “bài kiểm tra sự kích động không thể kháng cự”[1], tuyên bố rằng một bị cáo vô tội nếu, vì căn bệnh tâm thần, người này không thể kiểm soát hành động của mình hoặc tuân thủ pháp luật.

Học thuyết này trải qua một đợt sửa đổi quan trọng vào năm 1954 với phán quyết tại Tòa phúc thẩm của Thẩm phán David Bazelon trong vụ án Durham v. Hoa Kỳ rằng một bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tội ác của hắn “là sản phẩm của bệnh hoặc khiếm khuyết tâm thần” và nếu không vì bệnh hay khiếm khuyết này, bị cáo sẽ không phạm tội.

Durham, cho tội phạm phạm vi hoạt động rộng như vậy và không quan tâm đến tầm quan trọng của sự khác biệt giữa đúng và sai, không được những người trong ngành thi hành luật cũng như nhiều thẩm phán và công tố viên ưa thích. Năm 1972, trong một vụ án phúc thẩm khác, Hoa Kỳ v. Brawner, học thuyết này bị bác bỏ, thay thế bằng Tiêu chuẩn của Bộ luật Hình sự theo Hiệp hội Luật pháp Hoa Kỳ[2], gợi lại Luật M’Naghten và sự thúc ép không thể kháng cự để nói rằng khiếm khuyến tâm thần phải khiến bị cáo mất khả năng nhận thức việc mình làm là sai hoặc không thể thực thi pháp luật theo yêu cầu. Ở dạng này hay dạng khác, Tiêu chuẩn của Hiệp hội Luật pháp Hoa Kỳ được áp dụng rộng rãi trong các phiên tòa trong một thời gian dài.

Nhưng cùng với đợt thảo luận này, thường biến thành sự phỏng đoán rằng có bao nhiêu thiên thần có thể khiêu vũ trên một đầu kim, tôi nghĩ chúng tôi phải xử lý một khái niệm mang tính cơ bản hơn. Đó là sự nguy hiểm.

Một trong những mâu thuẫn kinh điển trong cuộc chiến đang diễn ra giữa các chuyên gia tâm lý là phiên tòa xét xử tên sát nhân hàng loạt Arthur J. Shawcross ở Rochester, New York năm 1990. Shawcross bị cáo buộc tội danh giết những cô gái làng chơi ở khu vực này và người vô gia cư, thi thể họ xuất hiện ở các khu vực rừng cây trong và xung quanh hẻm núi sống Genesee. Các vụ giết người diễn ra gần một năm. Xác của những nạn nhân sau còn bị cắt xẻo sau khi chết.

Sau khi thực hiện một bản mô tả nhân dạng chi tiết - và theo kết quả cuối cùng, là vô cùng chính xác - Gregg McCrary đã nghiên cứu hành vi tiến triển của Đối tượng vô danh. Khi cảnh sát phát hiện ra một thi thể bị cắt xẻo, Gregg nhận thấy kẻ sát nhân đã quay trở lại những địa điểm vứt xác để dành thời gian với con mồi của mình. Sau đó anh ta đã giục cảnh sát lùng sục các cánh rừng để tìm xác của một trong những phụ nữ còn mất tích. Nếu họ có thể làm được, sau đó bí mật theo dõi địa điểm đó, Gregg bảo đảm cuối cùng họ sẽ tìm ra kẻ sát nhân ở đó.

Kết quả là sau vài ngày giám sát trên không, cảnh sát bang New York quả thực đã tìm thấy một thi thể ở Salmon Creek trên Đường 31. Đồng thời, Thanh tra John McCaffrey nhìn thấy một người đàn ông trong một chiếc xe hơi đậu trên một cây cầu thấp. Cảnh sát thành phố và tiểu bang được gọi đến để theo dõi người này. Người đàn ông mà họ bắt là Arthur Shawcross.

Trong buổi thương thuyết với một đội do Dennis Blythe của Sở Cảnh sát tiểu bang và Leonard Boriello của Phòng Cảnh sát Rochester dẫn đầu, Shawcross thú nhận một số tội ác. Vấn đề chính tại phiên tòa xét xử mười vụ giết người của hắn, được báo đài đưa tin rầm rộ, là liệu hắn có điên ở thời điểm thực hiện các vụ giết người không.

Luật sư biện hộ mời tiến sĩ Dorothy Lewis ra làm chứng, bà là một nhà tâm thần học nổi tiếng tại Bệnh viện Bellevue ở New York, đã thực hiện những nghiên cứu quan trọng về ảnh hưởng của bạo lực đối với trẻ em. Lewis tin rằng đa số, nếu không phải tất cả, hành vi của tội phạm bạo lực là kết quả của sự bạo hành hoặc tổn thương hồi nhỏ kết hợp với một căn bệnh về thể chất như động kinh, một vết thương hoặc một dạng tổn thương, u nang hoặc u bướu. Dĩ nhiên, cũng có trường hợp Charles Whitman, một sinh viên ngành kỹ thuật hai mươi lăm tuổi, đã trèo lên nóc tòa tháp đồng hồ ở Đại học Texas tại Austin năm 1966 và xả súng xuống những người đi đường. Trước khi cảnh sát bao vây tòa tháp và giết hắn chín mươi phút sau đó, đã có mười sáu người chết và ba mươi người khác bị thương. Trước vụ việc, Whitman đã than phiền về những cơn thịnh nộ với mong muốn tàn sát diễn ra theo chu kỳ. Khi các bác sĩ tiến hành khám nghiệm tử thi, họ tìm thấy một u bướu trong thùy thái dương của hắn.

Khối u này có phải là nguyên nhân cho hành vi giết chóc của Whitman không? Chúng tôi không tài nào biết được. Nhưng Lewis muốn cho bồi thẩm đoàn thấy vì một u nhỏ lành tính ở thùy trán, xuất hiện trong hình chụp MRI của Shawcross, một dạng động kinh mà bà ấy miêu tả là “trạng thái động kinh cục bộ phức hợp”, căng thẳng sau chấn thương hậu chiến và cái mà hắn nói là sự bạo hành nghiêm trọng về thể xác và tình dục khi còn nhỏ của mẹ hắn, Arthur Shawcross không phải chịu trách nhiệm cho những hành vi bạo lực cực độ của hắn. Trên thực tế, bà ấy làm chứng rằng hắn đang ở trong trạng thái điên mỗi lần giết một phụ nữ; trí nhớ của hắn về những lần này bị khiếm khuyết hoặc không tồn tại.

Một trong những vấn đề của kiểu lập luận này là nhiều tuần, nhiều tháng sau các vụ giết người, Shawcross có thể kể lại diễn biến cho Boriello và Blythe một cách vô cùng chi tiết. Trong một số vụ án, hắn còn đưa họ đến các địa điểm vứt xác mà cảnh sát chưa tìm ra. Có lẽ hắn làm được việc đó vì đã ảo tưởng về từng vụ án nhiều đến mức chúng như mới nguyên trong đầu hắn.

Hắn đã tiêu hủy một số bằng chứng để cảnh sát không tìm được hắn. Sau khi bị bắt, hắn còn viết một lá thư phân tích cho bạn gái hắn (hắn đồng thời có một cô vợ), nói rằng hắn đặt hy vọng vào lời bào chữa do bệnh điên, vì bị giam trong bệnh viện tâm thần vẫn đỡ hơn nhiều so với nhà tù.

Ở khía cạnh đó, Shawcross rõ ràng biết hắn đang nói gì. Hắn bắt đầu gặp rắc rối với luật pháp vào năm 1969 khi bị buộc tội trộm và phóng hỏa ở Watertown, phía bắc Syracuse. Chưa đầy một năm sau, hắn lại bị bắt và thừa nhận đã siết cổ một bé trai và một bé gái. Bé gái cũng bị sàm sỡ. Vì hai tội này, Shawcross lãnh án hai mươi lăm năm tù. Hắn được phóng thích sau mười lăm năm. Việc đó, nếu quý vị nhớ lại chương trước, là lý do mà độ tuổi trong bản mô tả nhân dạng Gregg McCrary đưa ra về hắn lại sai. Mười lăm năm trong tù của Shawcross chỉ đơn thuần là một quãng nghỉ.

Bây giờ hãy từng bước phân tích việc này. Đầu tiên, nếu quý vị hỏi tôi hay bất kỳ ai trong hàng ngàn cảnh sát, công tố viên, cũng như đặc vụ liên bang mà tôi đã hợp tác trong sự nghiệp của tôi, quý vị sẽ nghe được câu trả lời nhất trí rằng hai mươi lăm năm tù cho tội giết hại hai đứa trẻ quả thực rất bất công. Nhưng điều thứ hai, phóng thích gã này sớm thì theo tôi, dường như quý vị phải chấp nhận một trong hai giả thiết trái ngược nhau.

Giả thiết thứ nhất: Bất chấp hoàn cảnh tồi tệ, gia đình lục đục, việc bạo hành, thiếu giáo dục, quá khứ bạo lực của hắn và mọi thứ khác, cuộc sống trong tù quả là một trải nghiệm tuyệt vời, giúp hắn nâng cao tinh thần, mở mang đầu óc và cải tạo tốt. Từ đó, Shawcross nhận ra sai phạm trong hành động của hắn và vì những ảnh hưởng tốt đẹp trong tù, hắn kiên quyết quay đầu, trở thành một công dân chính trực, tuân thủ pháp luật.

Nếu quý vị không chấp nhận giả thiết đó, vậy giả thiết thứ hai thì sao: Cuộc sống trong tù quá kinh dị, khó chịu và gây sốc, mỗi ngày đều là sự trừng phạt khủng khiếp nên bất chấp quá khứ tồi tệ cùng mong muốn tiếp tục cưỡng hiếp và giết hại trẻ em, hắn không bao giờ muốn trở lại nhà tù và kiên quyết làm mọi thứ để không phải trở lại.

Tôi đồng ý giả thiết đó không có khả năng. Nhưng nếu quý vị không chấp nhận bất cứ giả thiết nào, tại sao quý vị lại để một kẻ như vậy ra ngoài mà không cân nhắc khả năng rất cao là hắn sẽ lại giết người?

Rõ ràng, có một số loại tội phạm sát nhân có khả năng cao sẽ tái phạm hơn những kẻ khác. Nhưng với những kẻ sát nhân hàng loạt bạo lực vì tình dục, tôi đồng ý với tiến sĩ Park Dietz rằng “khó mà tưởng tượng có tình huống nào chúng ta nên phóng thích chúng về lại cộng đồng”. Ed Kemper, kẻ thông minh và chiêm nghiệm về bản thân nhiều hơn đa số những kẻ sát nhân khác mà tôi từng trò chuyện, thẳng thắn thừa nhận hắn không nên được phóng thích.

Ngoài đời có quá nhiều câu chuyện khủng khiếp. Richard Marquette, kẻ mà tôi đã thẩm vấn, kẻ bị buộc nhiều tội gồm gây rối trật tự, có ý định cưỡng hiếp và tấn công ở Oregon khi hắn mới đầu hai mươi, đã tiến đến cưỡng hiếp, giết người và phân xác sau một trải nghiệm tình dục không mấy thành công với một phụ nữ hắn gặp trong quán rượu ở Portland. Hắn rời khỏi khu vực đó, bị đưa vào danh sách Những tội phạm truy nã hàng đầu của FBI và bị bắt ở California. Hắn bị buộc tội giết người cấp độ I và lãnh án chung thân. Được phóng thích sau mười hai năm, hắn lại giết và phanh thây thêm hai phụ nữ trước khi bị bắt lần nữa. Vì lý do quái quỷ gì mà ban xét duyệt phóng thích lại nghĩ tên này không còn nguy hiểm?

Tôi không thể phát ngôn thay FBI, Bộ Tư pháp hay bất cứ ai. Nhưng tôi có thể nói rằng thà bị cắn rứt vì giam một kẻ sát nhân trong tù, có thể tái phạm giết người hoặc không nếu được tự do, còn hơn là ăn năn cả đời về cái chết của một người đàn ông, phụ nữ hay trẻ em vì đã thả tên sát nhân đó ra ngoài.

Đặc tính của người Mỹ là nghĩ rằng mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp hơn, mọi chuyện đều có thể cải thiện, chúng ta có thể đạt được bất cứ mục tiêu gì mình đặt ra. Nhưng càng thấy nhiều, tôi càng bi quan về khái niệm cải tạo đối với một số loại tội phạm nhất định. Những gì chúng trải qua trong tuổi thơ của mình thường rất khủng khiếp. Điều đó không có nghĩa là có thể chữa lành những tổn thương vào một ngày nào đó sau này. Và trái với những gì mà các thẩm phán, luật sư biện hộ và chuyên gia sức khỏe tâm thần muốn tin, hành vi tốt trong tù không nhất định dự báo hành vi được chấp nhận ở thế giới bên ngoài.

Ở hầu như mọi khía cạnh, Shawcross là một phạm nhân kiểu mẫu. Hắn yên lặng, không giao tiếp với ai, thực hiện những điều được yêu cầu và không làm phiền ai. Nhưng điều mà tôi và các cộng sự phát hiện và rất cố gắng truyền tải cho mọi người trong lĩnh vực cải tạo và tâm lý học pháp y là sự nguy hiểm phụ thuộc tình huống. Nếu có thể giữ ai đó trong một môi trường có trật tự tốt, nơi hắn không có lựa chọn, hắn có thể ổn định. Nhưng nếu đưa hắn trở lại môi trường mà hắn từng cư xử không hay, hành vi của hắn có thể thay đổi nhanh chóng.

Lấy ví dụ vụ án của Jack Henry Abbott, kẻ sát nhân bị buộc tội, đã viết Trong bụng con quái thú, một cuốn hồi ký xúc động và sâu sắc về đời sống trong tù. Nhận ra tài năng viết lách đặc biệt của hắn và tin rằng bất kỳ ai có sự nhạy cảm và sâu sắc như vậy phải được cải tạo nên những ngôi sao trong lĩnh vực văn chương như Norman Mailer đã vận động để Abbott được phóng thích. Hắn được mọi người ở New York nâng cốc chúc mừng. Nhưng chỉ vài tháng sau khi được thả, hắn cãi nhau với một bồi bàn ở Greenwich Village và giết người này.

Như Al Brantley, cựu giảng viên về Khoa học hành vi, hiện là thành viên của Đơn vị Hỗ trợ điều tra, đã nói trong một bài giảng của mình ở Học viện Quốc gia rằng, “Chỉ dấu tốt nhất cho hành vi trong tương lai hay hành động bạo lực trong tương lai chính là quá khứ bạo lực”.

Không ai thừa nhận Arthur Shawcross thông minh hay tài năng như Jack Henry Abbott nhưng hắn vẫn có thể thuyết phục cả một ban xét duyệt phóng thích. Sau khi được thả, ban đầu Shawcross sống ở Binghamton, tại đó, cộng đồng dân cư đầy phẫn nộ đã tiến hành một chiến dịch chống lại hắn và hắn rời đi sau hai tháng. Hắn đến sống ở một khu đô thị lớn hơn và nhàm chán hơn của thành phố Rochester, nơi hắn làm nhân viên chuẩn bị salad cho một công ty phân phối thực phẩm. Một năm sau khi đến đây, hắn lại bắt đầu giết người - một nạn nhân khác nhưng vẫn là một đối tượng yếu đuối.

Trong quá trình tra xét Shawcross, Dorothy Lewis đã nhiều lần thôi miên hắn và cho hắn trở lại những giai đoạn đầu đời, để hắn kể lại những lần bị bạo hành mà mẹ hắn nhét một cái cán chổi vào trực tràng của hắn. Trong những lần thôi miên được ghi hình lại này, chúng ta thấy hắn có nhiều nhân cách khác, trong đó có nhân cách của mẹ hắn, trong một cảnh tượng làm chúng tôi nhớ đến bộ phim Kẻ điên. (Nhưng mẹ của Shawcross phủ nhận việc bạo hành con mình và tố cáo hắn là kẻ nói dối.)

Trong quá trình công tác tại Bellevue, Lewis đã ghi chép một số trường hợp vô cùng thuyết phục về hiện tượng đa nhân cách ở những đứa trẻ bị bạo hành. Chúng còn quá nhỏ, khó mà nghĩ rằng chúng có thể giả vờ. Nhưng như Lewis đã chứng minh, những trường hợp hiếm về rối loạn đa nhân cách bắt đầu từ thuở nhỏ, thường trong quá trình đứa trẻ đang học nói. Ở người trưởng thành, dường như thời điểm duy nhất mà chúng ta thực sự nghe về chứng rối loạn đa nhân cách là sau khi một kẻ nào đó bị xét xử vì tội giết người. Bằng cách nào đó, chứng rối loạn này mãi đến khi đó mới xuất hiện. Kenneth Bianchi, một trong hai anh em họ đã cùng nhau thực hiện các vụ giết người được đặt tên là Kẻ sát nhân bên sườn đồi ở Los Angeles vào thập niên 1970, nói mình đa nhân cách sau khi bị bắt. John Wayne Gacy cũng từng thử cách này.

(Tôi thường đùa là nếu tôi bắt được một tên tội phạm đa nhân cách, tôi sẽ tha cho các nhân cách vô tội miễn là tôi có thể giam giữ nhân cách có tội.)

Với phiên tòa xét xử Shawcross, công tố viên dẫn đầu là Charles Siragusa, người đã thể hiện rất tốt trong phiên tòa, mời Park Dietz làm chứng cho bên công tố. Dietz cũng kiểm tra Shawcross ở nhiều phương diện như Lewis đã từng và Shawcross đưa ra rất nhiều chi tiết cụ thể về các vụ giết người. Tuy Dietz không có đánh giá toàn diện về tính trung thực của những câu chuyện bạo hành nhưng ông ấy nghĩ những chuyện này nghe có vẻ đáng tin. Dù sao thì ông ấy không nghĩ Shawcross bị ảo giác, không tìm thấy bằng chứng rằng hắn bị bất tỉnh hay mất trí nhớ, không thấy sự tương quan giữa hành vi của hắn với bất kỳ phát hiện nào về hệ thần kinh và kết luận rằng dù có thể có vấn đề gì đó về tâm thần hay cảm xúc thì Arthur Shawcross vẫn phân biệt được đúng sai và có thể lựa chọn giết người hay không. Trong ít nhất là mười trường hợp, có thể nhiều hơn, hắn đã chọn giết người.

Khi Len Boriello hỏi hắn tại sao lại giết những phụ nữ này, hắn chỉ đáp “Làm chuyện cần làm”. Những kẻ bị rối loạn tâm thần thực sự - mất liên hệ với thực tế - không thường xuyên phạm những tội ác nghiêm trọng. Nếu có, chúng thường rất lộn xộn và không hề cố gắng tránh bị phát hiện nên nhìn chung chúng bị bắt rất nhanh. Richard Trenton Chase, kẻ giết phụ nữ vì hắn nghĩ hắn cần máu của họ để sinh tồn, bị rối loạn tâm thần. Nếu hắn không lấy được máu người, hắn sẽ lấy tạm máu của sinh vật khác mà hắn có thể. Khi Chase bị đưa vào viện tâm thần, hắn tiếp tục bắt thỏ, cắt tiết chúng, rồi bơm máu chúng vào cánh tay. Hắn bắt những con chim nhỏ, cắn đứt đầu chúng rồi uống máu chúng. Chuyện này là thật. Nhưng một kẻ sát nhân tránh bị phát hiện và thoát tội giết mười người phải khá giỏi việc trốn tránh. Đừng nhầm lẫn giữa một kẻ bị rối loạn nhân cách và một kẻ bị rối loạn tâm thần.

Trong phiên xử, Shawcross luôn duy trì thái độ đơ cứng và không nhúc nhích, gần như không thể cử động hay nói chuyện, với bồi thẩm đoàn. Như thế hắn đang trong trạng thái xuất thần, không thể tiếp thu những gì đang diễn ra xung quanh. Nhưng các cảnh sát và nhân viên an ninh canh giữ và hộ tống hắn báo cáo lại rằng ngay khi ra khỏi tầm nghe nhìn của bồi thẩm đoàn, hắn liền thả lỏng, nói nhiều, đôi khi còn đùa. Hắn biết có nhiều nguy cơ trong việc thuyết phục họ tin vào lời biện hộ rằng hắn bị điên.

Một trong những tội phạm thông minh, tài tình nhất - và phải nói là thu hút nhất - mà tôi từng nghiên cứu và thẩm vấn là Gary Trapell. Trong phần lớn quãng đời trưởng thành của mình, hắn vào tù ra khám nhiều lần. Có một lần, hắn thực sự thuyết phục được một phụ nữ trẻ cho một chiếc trực thăng đáp xuống giữa sân nhà tù để cứu hắn. Trong quá trình thực hiện một trong những tội ác đáng chú ý của hắn - một vụ bắt cóc máy bay vào đầu những năm 1970 - Trapnell ở trong chiếc máy bay đậu trên mặt đất, cố gắng thương thuyết các điều kiện để trốn thoát. Hắn giơ nắm đấm lên trời cho các máy quay phim ghi được và yêu cầu, “Thả Angela Davis!”

“Thả Angela Davis? Thả Angela Davis? là sao?” Đây trở thành một cú sốc với đa số nhân viên thi hành luật đang điều tra vụ án này. Trong cuộc sống của Trapnell không có gì cho thấy hắn gắn bó với những lý lẽ cấp tiến của vị giáo sư trẻ người da màu ở California này. Không có gì cho thấy hắn có hoạt động chính trị, vậy mà ở đây, một trong những yêu cầu của hắn là Angela Davis được trả tự do. Gã này điên rồi. Đó là lời giải thích thỏa đáng duy nhất.

Sau này, khi hắn đã đầu hàng và bị buộc tội, khi tôi thẩm vấn hắn trong trại giam liên bang ở Marion, bang Illinois, tôi hỏi hắn về yêu cầu này. Hắn đã nói đại loại như “Khi thấy mình không có đường lui khỏi vụ này, tôi biết mình sẽ phải đi tù. Và tôi đoán nếu những gã da đen to con nghĩ tôi là tù nhân chính trị, tôi sẽ có ít nguy cơ bị bọn nó cưỡng hiếp trong nhà tắm.”

Bấy giờ, Trapnell không chỉ hoàn toàn có lý trí mà còn lên kế hoạch cho tương lai, gần như hoàn toàn trái ngược với một người điên. Thực ra hắn đã viết một hồi ký có tựa đề Con cáo cũng bị điên. Mẩu thông tin quý giá này cũng cho chúng tôi hiểu biết sâu sắc ứng dụng vào các cuộc thương thuyết. Nếu đưa ra một yêu cầu hoàn toàn lạ lùng, có nghĩa là trong đầu mình, tên tội phạm đã lên kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo, và người thương thuyết có thể có phản ứng phù hợp.

Trapnell nói với tôi một chuyện khác mà tôi thấy rất, rất thú vị. Hắn bảo nếu tôi đưa cho hắn quyển sách Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các chứng rối loạn tâm thần[3] bản mới nhất và chỉ vào bất kỳ một căn bệnh nào trong đó, hôm sau hắn có thể thuyết phục bất kỳ nhà tâm thần học nào là hắn đang bị đúng căn bệnh đó. Một lần nữa, Trapnell thông minh, nhanh nhạy hơn Shawcross rất nhiều. Nhưng cũng như việc không cần tưởng tượng nhiều mới biết, một tên tội phạm có cơ hội được phóng thích cao hơn nếu hắn nói với chuyên gia tâm lý rằng hắn đang cảm thấy khỏe hơn và không còn thích thú với việc sàm sỡ các bé trai, rõ ràng lời giải thích về trạng thái xuất thần sẽ hiệu quả hơn nếu bồi thẩm đoàn có thể tận mắt thấy hắn đang ở trong trạng thái đó.

Suốt một thời gian dài, cộng đồng nhân viên thi hành luật đã dựa vào những hướng dẫn và định nghĩa trong sách Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các chứng rối loạn tâm thần về điều kiện nào tạo thành một chứng rối loạn tâm thần nghiêm trọng và điều kiện nào không. Nhưng đa số chúng tôi cảm thấy quyển sách tham khảo này không có nhiều giá trị cho công việc của mình. Đây là một trong các động lực để viết Cẩm nang phân loại tội phạm[4], xuất bản năm 1992. Cấu trúc cơ bản của cuốn sách xuất phát từ luận văn tiến sĩ của tôi. Ressler, Ann Burgess và chồng cô ấy, Allen, một giáo sư dạy môn quản trị ở Boston, đã hợp tác cùng tôi với tư cách các đồng tác giả. Những thành viên khác của Đơn vị Hỗ trợ điều tra và Đơn vị Khoa học hành vi, gồm Greg Cooper, Roy Hazelwood, Ken Lanning, Gregg McCrary, Jud Ray, Pete Smerick và Jim Wright, đóng vai trò là cộng tác viên.

Với Cẩm nang phân loại tội phạm, chúng tôi bắt đầu sắp xếp và phân loại những tội ác nghiêm trọng dựa theo đặc tính hành vi của tội phạm rồi giải thích chúng theo cách mà một cuốn sách với lối tiếp cận mang tính tâm lý học hoàn toàn như Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các chứng rối loạn tâm thần chưa làm được. Ví dụ, độc giả sẽ không tìm thấy tình huống sát nhân mà O. J. Simpson bị buộc tội trong Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các chứng rối loạn tâm thần nhưng lại tìm thấy trong Cẩm nang phân loại tội phạm. Mục đích của chúng tôi là tách biệt cái giá trị với cái vô giá trị trong lĩnh vực bằng chứng hành vi và giúp các điều tra viên cũng như cộng đồng thi hành luật tập trung vào những gì phù hợp và không phù hợp.

Không có gì ngạc nhiên khi bị cáo và luật sư biện hộ sẽ đưa ra bất cứ cái gì có thể để tránh nhận trách nhiệm cho những hành động của chúng. Trong danh sách những yếu tố mà nhóm luật sư của Shawcross nói rằng đã góp phần gây ra tình trạng điên của hắn là chứng rối loạn căng thẳng hậu chấn thương sau chiến tranh. Nghiên cứu cho thấy Shawcross chưa từng tham gia trận đánh nào. Nhưng lý do này không mới. Nó từng được dùng nhiều lần trước đó. Duane Samples, kẻ đã moi ruột hai phụ nữ ở Silverton, bang Oregon, vào đêm 9 tháng Mười hai năm 1975, dùng rối loạn căng thẳng hậu chấn thương làm lý do biện hộ. Chỉ có một trong hai người phụ nữ tử vong, nhưng tôi đã xem ảnh chụp hiện trường vụ án. Cả hai trông không khác gì thi thể lúc được khám nghiệm. Robert Ressler phát hiện ra Samples cũng chưa từng tham chiến, bất chấp lời nói của hắn. Nhưng trước ngày diễn ra vụ tấn công, Samples đã viết một lá thư mô tả ảo tưởng từ rất lâu của hắn về việc moi ruột một phụ nữ xinh đẹp khỏa thân.

Năm 1981, Ressler đến Oregon để hỗ trợ các công tố viên giải thích tại sao thống đốc bang không nên thực hiện ý định phóng thích Samples. Lý lẽ của họ đã có hiệu quả, nhưng cuối cùng hắn vẫn được phóng thích sau đó mười năm.

Samples có bị điên không? Hắn có bị điên tạm thời khi moi ruột hai người phụ nữ đó không? Khuynh hướng tự nhiên là bất cứ kẻ nào có thể làm ra điều kinh khủng, sai trái như thế sẽ bị cho là “bệnh” Tôi đồng ý với luận điểm đó. Nhưng hắn có biết việc hắn đang làm là sai không? Hắn có lựa chọn vẫn làm việc đó không? Đây là những câu hỏi quan trọng mà tôi quan tâm.

Phiên tòa xử Arthur Shawcross ở Tòa án Rochester kéo dài hơn năm tuần, trong đó công tố viên Siragusa đã chứng tỏ mình có kiến thức sâu và hoàn thiện về tâm thần học pháp y hơn bất cứ vị bác sĩ nào mà tôi biết. Trong phiên xử, mỗi một phút đều được phát trên truyền hình, hắn trở thành một vị anh hùng của địa phương. Cuối cùng, khi vụ án được trao cho bồi thẩm đoàn quyết định sau những tranh luận cuối cùng, họ mất chưa tới một ngày để đưa ra phán quyết có tội với tội giết người cấp độ II cho tất cả các cáo buộc. Vị thẩm phán này còn bảo đảm Shawcross sẽ không có cơ hội tái phạm. Ông ấy phán hắn 250 năm tù đến chung thân trong nhà tù tiểu bang.

Vụ án này gợi ra một khía cạnh khác của lời biện hộ vì lý do bị điên mà nhiều người không nhận ra: các bồi thẩm đoàn không thích và thường không tin lý do đó. Tôi tin họ không tin vì hai nguyên nhân. Một là khó mà tin những kẻ sát nhân hàng loạt bị bức ép thực hiện những tội ác mà chúng không còn lựa chọn nào khác. Nên nhớ, theo kinh nghiệm của tôi, không có kẻ sát nhân hàng loạt nào bị bức ép giết người đến mức hắn phải giết trước sự có mặt của một sĩ quan cảnh sát mặc cảnh phục. Nguyên nhân thứ hai mà các bồi thẩm đoàn không tin lời biện hộ vì lý do bị điên thậm chí còn mang tính cơ bản hơn. Sau khi loại bỏ hết những lý luận về pháp lý, tâm thần học và hàn lâm học, đến thời điểm cân nhắc đến số phận của một bị cáo, theo bản năng, các bồi thẩm viên nhận ra những gã này rất nguy hiểm. Dù những công dân chuẩn mực ở Milwaukee cảm thấy ra sao về sự minh mẫn hay thiếu minh mẫn của Jeffrey Dahmer, tôi không tin họ sẵn sàng giao tương lai của hắn (và cộng đồng của họ) cho một viện tâm thần mà họ không bảo đảm về hệ thống an ninh và khả năng giam giữ hắn. Nếu họ đưa hắn vào tù thì sự nguy hiểm của hắn có khả năng bị kiềm chế tốt hơn.

Tôi không ám chỉ rằng đa số chuyên gia tâm thần học hoặc chuyên viên sức khỏe tâm thần nóng lòng thả những tên tội phạm nguy hiểm khỏi nhà tù và đưa chúng trở lại những tình huống mà chúng có thể gây hại nhiều hơn. Điều tôi muốn nói là trong đa số trường hợp, tôi nghĩ những vị này không thấy những gì chúng tôi thấy để có thể đưa ra nhận xét với hiểu biết đầy đủ. Dù họ có nhiều kinh nghiệm pháp y nhưng thường giới hạn trong một lĩnh vực cụ thể, đó là cái mà họ sẽ dựa vào.

Một trong những vụ án đầu tiên của tôi với tư cách chuyên viên mô tả nhân dạng là vụ giết hại một phụ nữ lớn tuổi, Anna Berliner, trong nhà bà ấy ở Oregon. Cảnh sát địa phương đã hỏi ý kiến một chuyên gia tâm lý lâm sàng về loại Đối tượng vô danh mà họ đang truy tìm. Trong số các vết thương của nạn nhân, có bốn vết thương do bút chì đâm sâu vào ngực. Vị chuyên gia tâm lý đã tiến hành thẩm vấn khoảng năm mươi gã đàn ông bị truy tố hoặc buộc tội giết người. Phần lớn những cuộc thẩm vấn này diễn ra trong tù. Dựa trên kinh nghiệm của mình, anh ta dự đoán hung thủ là một người từng ngồi tù một thời gian, có lẽ là một tên buôn ma túy, vì chỉ có trong tù, người ta mới xem một cây bút chì chuốt nhọn là vũ khí giết người. Những người ở bên ngoài, anh ta lập luận, sẽ không nghĩ đến việc dùng một cây bút chì bình thường để tấn công người khác.

Khi cảnh sát liên hệ với tôi, tôi đưa ra một ý kiến trái ngược hoàn toàn. Tôi nghĩ với độ tuổi và tình trạng dễ bị tấn công của nạn nhân, sự thái quá trong hành động của hắn, thực tế đây là một tội ác diễn ra vào ban ngày, và không có thứ gì đáng giá bị lấy đi, cho thấy hắn là một tên tội phạm ở tuổi vị thành niên chưa có kinh nghiệm. Tôi không tin hắn ta cẩn thận suy tính việc sử dụng cây bút chì làm vũ khí. Nó có mặt ở đó nên hắn dùng nó thôi. Kẻ giết người cuối cùng lộ diện là một thiếu niên mười sáu tuổi chưa có kinh nghiệm, hắn đến nhà nạn nhân để xin tiền ủng hộ cho một cuộc đua đi bộ đường dài mà hắn không hề tham dự.

Đặc điểm chính của hiện trường vụ án này là tất cả bằng chứng hành vi đều cho tôi thấy tên tội phạm không tự tin. Một kẻ từng ngồi tù tấn công một bà cụ trong nhà bà ấy sẽ rất tự tin. Chỉ chọn lấy một bằng chứng duy nhất (như sợi tóc của một người Mỹ gốc Phi trong vụ án Francine Elveson) không giúp thấy được toàn bộ sự việc. Thực ra, trong vụ sát hại Anna Berliner, việc đó có thể dẫn tới hướng điều tra đi ngược với sự thật.

Câu hỏi khó nhất với bất kỳ ai trong lĩnh vực này liên quan đến việc liệu một người nào đó có, sẽ, nguy hiểm hay không. Với các nhà tâm thần học, nghi vấn thường được đưa ra dưới dạng “một mối đe dọa cho bản thân hoặc người khác”.

Khoảng năm 1986, có người liên hệ với FBI về một cuộn phim được gửi từ Colorado đến một tiệm ảnh để rửa. Các tấm ảnh cho thấy một người đàn ông ở độ tuổi gần hoặc đầu ba mươi, mặc quần áo cải trang rằn ri, tạo dáng ở cửa sau chiếc xe địa hình của hắn với một khẩu súng trường và một con búp bê Barbie mà hắn đã hành hạ và cắt xẻo đủ kiểu. Hành động này không vi phạm điều luật nào và tôi nói gã này sẽ không có tiền sử phạm tội. Nhưng tôi cũng cảnh báo ở tuổi của hắn, ảo tưởng mà hắn đang thực hiện với con búp bê sẽ không đủ làm hắn thỏa mãn lâu. Nó sẽ tiến triển. Chỉ từ những tấm ảnh, tôi không biết điều này có tầm quan trọng thế nào trong cuộc đời hắn, nhưng làm đến mức này thì phải có ý nghĩa nào đó. Tôi nói nên quan sát và thẩm vấn gã, vì đây là trường hợp sự nguy hiểm đang chờ xảy ra. Tôi không chắc liệu đa số các nhà tâm thần học có quan điểm tương tự mình hay không.

Tuy vụ này có vẻ lạ nhưng tôi đã gặp nhiều “vụ án búp bê Barbie” được gửi đến cho mình suốt những năm công tác, tất cả đều liên quan đến đàn ông trưởng thành. Có một đối tượng ở khu vực Trung Tây, đâm kim vào từng mi-li-mét trên con búp bê và để nó trên sân của bệnh viện tâm thần ở địa phương. Thỉnh thoảng chúng ta thấy chuyện như vậy ở những giáo phái thờ quỷ Satan, pháp sư hay người thích pháp thuật nhưng trong chuyện lần này không có yếu tố nào như vậy. Hắn cũng không viết tên lên con búp bê để cho thấy ai đó đang bị nhắm đến. Đây là xu hướng tàn ác nói chung, là đặc điểm của một kẻ có vấn đề thực sự với phụ nữ.

Có thể nói thêm gì về gã này? Chúng ta có thể nói có lẽ hắn đã thử nghiệm ngược đãi những động vật nhỏ và có thể thường xuyên làm việc đó. Hắn sẽ gặp khó khăn trong việc ứng xử với những người đồng trang lứa, bất kể nam nữ. Trong quá trình trưởng thành, hắn là một kẻ bắt nạt hoặc có những trò ác dâm với trẻ em nhỏ con, ít tuổi hơn. Và hắn đã hoặc sẽ sớm tiến đến giai đoạn mà việc thực hiện những ảo tưởng với con búp bê không còn đủ thỏa mãn. Quý vị có thể tranh luận về việc hắn có bị “bệnh” hay không, nhưng dù thế nào thì tôi vẫn phải nói rằng tôi thực lòng lo lắng về sự nguy hiểm của hắn.

Thế thì khi nào hành vi nguy hiểm như vậy xuất hiện? Gã này là một kẻ thất bại đầy tự ti. Trong tâm trí hắn, mọi người đều muốn bắt hắn và không ai công nhận những tài năng của hắn. Nếu các yếu tố gây căng thẳng trong cuộc sống của hắn trở nên quá sức chịu đựng, đó là lúc hắn sẽ tiến thêm một bước với ảo tưởng của mình. Với một kẻ hành xác búp bê, một bước tiến không đồng nghĩa với việc nhắm vào một người cùng độ tuổi, mà là nhắm vào ai đó trẻ hơn, yếu hơn hoặc tệ hại hơn. Hắn hèn nhát nên sẽ không nhắm vào người đồng trang lứa.

Điều đó không có nghĩa là hắn nhất định nhắm vào trẻ em. Búp bê Barbie tượng trưng cho một phụ nữ trưởng thành, đã phát triển đầy đủ, không phải một cô bé chưa dậy thì. Dù nhân cách gã này có méo mó cỡ nào, cái hắn muốn là sự tiếp xúc với một phụ nữ trưởng thành. Nếu hắn cắt xẻo hay hành hạ một búp bê trẻ em, chúng ta lại có những vấn đề khác.

Nhưng gã cắm kim vào con búp bê và để nó ở bệnh viện là một kẻ bị rối loạn, hắn sẽ không có giấy phép lái xe, hắn sẽ nổi bật giữa đám đông vì rất kỳ quặc. Gã mặc đồ rằn ri thì nguy hiểm hơn nhiều. Hắn có công ăn việc làm vì hắn có tiền mua súng, xe tải, máy ảnh. Hắn có thể đi lại và sinh sống “bình thường” trong xã hội. Giây phút mà hắn mất kiểm soát, ai đó sẽ gặp rắc rối rất lớn. Tôi có tin là đa số các nhà tâm thần học hoặc chuyên gia chăm sóc sức khỏe sẽ nhìn ra sự khác biệt này không? Không. Họ không có kinh nghiệm hoặc định hướng cho việc đó. Họ chưa kiểm chứng được những phát hiện của mình.

Một trong những đặc điểm chính của nghiên cứu về sát nhân hàng loạt của chúng tôi là ý tưởng kiểm chứng những gì mọi người nói với chúng tôi bằng cách nghiên cứu bằng chứng hữu hình. Nếu không, nghiên cứu sẽ chỉ dựa trên việc tự báo cáo, việc đó nếu cho ra kết quả tốt nhất thì cũng không hoàn thiện, còn kết quả xấu nhất là hoàn toàn không có ý nghĩa khoa học.

Việc đánh giá sự nguy hiểm có nhiều công dụng và ứng dụng. Thứ Sáu ngày 16 tháng Tư năm 1982, các đặc vụ của Sở Mật vụ Hoa Kỳ đến gặp tôi vì một loạt thư do cùng một người viết bắt đầu vào tháng Hai năm 1979, đe dọa tính mạng ngài Tổng thống (lá thư đầu tiên nhắm đến Jimmy Carter, những lá thư khác nhắm đến Ronald Reagan) và những chính khách khác.

Lá thư đầu tiên được gửi cho Sở Mật vụ ở New York, từ người gửi “Cô đơn và Chán nản”. Lá thư dài hai trang, viết tay trên giấy sổ tay, đe dọa “bắn và giết tổng thống Carter hoặc một người nào khác có quyền lực”.

Từ tháng Bảy năm 1981 đến tháng Hai năm 1982, có thêm tám lá thư. Ba lá gửi đến Sở Mật vụ ở New York, một lá gửi tới FBI ở New York, một lá gửi tới FBI ở Washington, một lá gửi tới Nhật báo Philadelphia và hai lá gửi thẳng đến Nhà Trắng. Tất cả đều được viết tay bởi cùng một bàn tay như “Cô đơn và Chán nản” nhưng đều được ký tên là “CAT” Các lá thư được gửi từ New York, Philadelphia và Washington. Chúng thể hiện ý định của CAT. là giết Tổng thống Reagan, người được gọi bằng nhiều cái tên như “tai họa của Chúa” và “Ác quỷ” Những chính khách khác ủng hộ Tổng thống Reagan cũng bị đe dọa. Kẻ viết thư còn nhắc đến John Hinckley, hứa sẽ thực hiện nhiệm vụ đã thất bại của hắn.

Thêm nhiều lá thư khác, với danh sách người nhận có thêm Nghị sĩ Jack Kemp và Thượng nghị sĩ Alfonse D’Amato. Đặc biệt khiến Sở Mật vụ lo lắng là việc gửi kèm ảnh chụp Thượng nghị sĩ D’Amato và Nghị sĩ Raymond McGrath của thành phố New York. Được chụp ở cự ly rất gần, những tấm ảnh cho thấy khả năng CAT. có thể tiếp cận đủ để thực hiện những lời đe dọa của hắn.

Cuối cùng, vào ngày 14 tháng Sáu năm 1982, lá thư thứ mười bốn được gửi cho biên tập viên của tờ New York Post. Lá thư tuyên bố mọi người sẽ biết hắn là ai sau khi hắn xong việc với ngài Tổng thống, người mà hắn gọi là “Ác quỷ”. Hắn nói rằng không ai chịu nghe hắn, mọi người cười cợt hắn, những điều này không làm tôi ngạc nhiên.

Nhưng trong nội dung của lá thư này, hắn cũng “cho phép” tờ báo nói chuyện với hắn sau khi hắn hoàn thành nhiệm vụ mang tính lịch sử của mình. Đây là cơ hội mà chúng tôi đang tìm kiếm. CAT. sẵn sàng, có lẽ là háo hức, được trò chuyện với một biên tập viên báo. Chúng tôi sẽ cho hắn một người để trò chuyện.

Từ ngôn ngữ và cách dùng từ trong các lá thư, cũng như địa chỉ gửi và người nhận, tôi khá chắc chắn gã này ở New York. Tôi đưa ra mô tả về một gã đàn ông da trắng từ hơn hai mươi đến đầu ba mươi, người New York gốc, ở vùng ngoại ô thành phố, có lẽ sống một mình. Hắn có trí thông minh ở mức trung bình, có bằng trung học, có thể học thêm các khóa về khoa học chính trị và văn học, có lẽ là con út hoặc con trai độc nhất trong gia đình. Tôi ngờ rằng trong quá khứ, hắn từng nghiện ma túy vàhoặc rượu nhưng bây giờ chỉ thỉnh thoảng mới dùng. Hắn tự coi mình là một kẻ thất bại, chưa đạt được những ước mơ mà bố mẹ hay người khác đặt ra cho hắn, có một danh sách dài những nhiệm vụ và mục tiêu chưa hoàn thành. Trong khoảng thời gian từ đầu đến hơn hai mươi tuổi, tôi tin tâm lý hắn bị áp lực nặng nề bởi một yếu tố gây căng thẳng không kiểm soát được, có thể liên quan đến nghĩa vụ quân sự, ly hôn, bệnh tật hoặc mất người thân.

Có nhiều suy đoán về việc “CAT” tượng trưng cho điều gì. Tôi bảo Sở Mật vụ đừng dành quá nhiều thời gian cho việc đó, vì nó có thể chẳng có ý nghĩa gì cả. Người ta thường có xu hướng chú ý quá nhiều vào tiểu tiết, trong khi có thể Đối tượng vô danh chỉ đơn giản là thích cái tên đó khi đọc hoặc viết nó ra mà thôi.

Vấn đề đối với Sở Mật vụ, như mọi lần, là liệu gã này có thực sự nguy hiểm không vì rất nhiều người viết thư đe dọa hoặc nói nhăng nói cuội nhưng không bao giờ thực hiện. Nhưng tôi nói với họ rằng những kẻ như tên này luôn tìm kiếm cái gì đó. Chúng gia nhập những nhóm hoặc đảng phái chính trị nhưng không tìm được cái chúng muốn. Người khác nghĩ chúng dị hợm và không xem trọng chúng nên vấn đề ngày càng nghiêm trọng theo thời gian. Chúng tập trung vào một nhiệm vụ để cuộc sống của mình có chút ý nghĩa. Đây là lần đầu hắn cảm thấy mình có quyền kiểm soát và hắn thích cảm giác này. Nó sẽ khiến hắn có những hành động ngày càng liều lĩnh và thường xuyên hơn. Những kẻ liều lĩnh là những kẻ nguy hiểm.

Tôi nghĩ hắn đã quen sử dụng vũ khí và thích tấn công cự ly gần, dù như vậy nghĩa là hắn không thể trốn thoát. Vì nhiệm vụ của hắn có thể mang tính tự sát nên hắn sẽ viết nhật ký để lại cho hậu thế, để thế giới biết về câu chuyện của hắn. Không như kẻ đầu độc bằng Tylenol, CAT. không muốn ẩn danh. Khi nỗi sợ cuộc sống lớn hơn nỗi sợ cái chết, hắn sẽ tiến hành hành động bạo lực của mình. Hắn sẽ tỏ vẻ rất bình tĩnh trước lúc hành động. Hắn sẽ ngụy trang và trà trộn vào những người xung quanh. Hắn sẽ nói chuyện với cảnh sát hoặc các đặc vụ của Sở Mật vụ ở gần và nhìn hắn có vẻ bình thường, không nguy hiểm.

Ở một số khía cạnh, hắn cùng một hạng với John Hinckley, vụ án và phiên xét xử tên này được báo chí đưa tin rầm rộ. Hắn dường như cũng rất chú tâm đến Hinckley, mà thông tin về tên này thì chúng tôi đã biết khá nhiều. Tôi nghĩ có thể hắn muốn nghe về phán quyết hoặc hình phạt trong vụ án và đề nghị với Sở Mật vụ là ở thời điểm đó, họ hãy đến Nhà hát Ford ở Washington, nơi Abraham Lincoln bị bắn và cũng là nơi Hinckley đến trước khi hắn bắn Tổng thống Reagan. Tôi cũng bảo họ theo dõi khách sạn gần đó, nơi Hinckley đã thuê phòng. Nếu có ai yêu cầu căn phòng Hinckley đã từng ở, rất có thể đó là hắn.

Theo báo cáo của khách sạn, quả thực có người yêu cầu căn phòng đó. Các đặc vụ Sở Mật vụ tấn công và gặp ngay một cặp vợ chồng già vốn đã ở căn phòng đó vào đêm tân hôn của họ, từ đó đến nay có trở lại nhiều lần nữa.

Vào tháng Tám, Sở Mật vụ nhận thêm hai lá thư ký tên “CAT” được gửi đến “Văn phòng Tổng thống, Washington, DC. Cả hai lá thư này đều đóng dấu bưu điện ở Bakersfield, California. Vì rất nhiều kẻ ám sát đi khắp cả nước để theo dõi con mồi của mình nên họ thật sự lo lắng gã này đang di chuyển. Trong những lá thư này, hắn nói, “Là một người có tư tưởng lạc quan & Cơ thể Khỏe mạnh (tôi] tự nhận lấy trách nhiệm tổ chức cho càng nhiều Công dân Hoa Kỳ càng tốt để cầm lấy vũ khí và triệt tiêu những kẻ thù từ trong lòng đất nước tôi”.

Trong một đoạn thư dông dài, đầy hoang tưởng, hắn nói về “sự hành hạ & Địa ngục” mà hắn đã trải qua và công nhận khả năng hắn có thể bị giết “khi cố gắng đưa những kẻ đầu sỏ ra trước Công lý”.

Tôi cẩn thận phân tích đống thư này và kết luận là chúng tôi đang gặp một tên bắt chước. Lý do là chúng được viết bằng chữ thường thay vì chữ in hoa như những thư trước. Trong thư, Tổng thống Reagan được gọi là “Ron” thay vì “Ác quỷ” hay “Lão già”. Tôi nghĩ có khả năng người viết là phụ nữ, và tuy những tuyên bố và đe dọa này nghe có vẻ khó chịu, tôi không nghĩ người này nguy hiểm.

CAT. thật lại là chuyện khác. Tôi nghĩ “tactical stall” sẽ là biện pháp tốt nhất, dẫn dụ hắn vào một cuộc đối thoại đến khi có thể xác định vị trí của hắn. Chúng tôi cho một đặc vụ Sở Mật vụ giả làm biên tập viên báo và chỉ dẫn anh ta về điệu bộ cũng như những gì cần nói. Tôi nhấn mạnh anh ta nên thử làm CAT. cởi mở hơn để có thể kể lại “toàn bộ câu chuyện” của hắn. Khi đã gây dựng được lòng tin, “biên tập viên” nên đề nghị hai bên gặp nhau nhưng hẹn gặp vào đêm muộn, ở một nơi xa, vì biên tập viên này còn lo lắng về chuyện giữ bí mật hơn cả CAT.

Chúng tôi đăng một tin rao vặt được viết thật cẩn thận trên tờ New York Post, CAT. trả lời tin này. Hắn bắt đầu trò chuyện thường xuyên với viên đặc vụ. Tôi nghĩ hắn sẽ gọi điện từ một cơ sở công cộng lớn nào đó như trạm tàu Grand Central hoặc Pennsylvania, có thể từ một thư viện hay bảo tàng.

Trong khoảng thời gian này, FBI nhận được một bản đánh giá khác từ Tiến sĩ Murray Miron, chuyên gia ngôn ngữ học tâm lý nổi tiếng tại Đại học Syracuse. Murray và tôi từng cộng tác trong nghiên cứu và các bài viết về việc đánh giá những lời đe dọa. Tôi nghĩ ông ấy là một trong những người giỏi nhất ở lĩnh vực này. Sau khi cuộc nói chuyện qua điện thoại bắt đầu, Murray viết một bản phân tích cho FBI, tuyên bố ông không còn xem CAT. là thành phần nguy hiểm nữa, nhưng thay vào đó, là một kẻ lừa đảo tìm kiếm sự nổi tiếng và đang thích thú với việc thao túng tất cả những người quan trọng này. Chắc chắn Murray nghĩ hắn phải bị bắt nhưng không xem hắn là mối nguy hại như tôi nghĩ.

Dần dần, chúng tôi đã có thể giữ hắn nói chuyện điện thoại đủ lâu để thiết lập phương án bắt sóng và theo dõi. Vào ngày 21 tháng Mười năm 1982, một đội gồm các đặc vụ của Sở Mật vụ và FBI đã bắt được hắn trong một buồng điện thoại ở trạm tàu Pennsylvania khi hắn đang nói chuyện với “biên tập viên”. Tên hắn là Alphonse Amodio Con, một người gốc New York, hai mươi bảy tuổi, da trắng, đã học hết cấp III.

Các đặc vụ của Sở Mật vụ và FBI đến căn hộ chật hẹp, đầy gián của hắn ở Floral Park. Gia đình này dường như không êm ấm và khi bà Amodio bị thẩm vấn, những miêu tả của bà ấy về con trai khớp với bản mô tả nhân dạng.

“Nó ghét [thế giới này] lắm và cảm thấy thế giới này ghét nó”, bà ấy nói với các đặc vụ. Bà ấy còn mô tả những lần chuyển biến tâm trạng đầy bạo lực của hắn. Suốt nhiều năm, hắn cắt những câu chuyện đăng trên báo ra và tập hợp lại, có hai cái tủ đựng đầy những tập hồ sơ dán tên của nhiều chính khách.

Hồi nhỏ, hắn bị tật nói lắp nặng đến mức khiến hắn bắt đầu đi học muộn. Hắn tham gia Lục quân nhưng lại vắng mặt không phép sau đợt huấn luyện cơ bản. Ngoài vài trang nhật ký trong đó hắn tự gọi mình là một “con mèo hoang”[5], các đặc vụ không tìm được lời giải thích hay lý lẽ nào cho cái tên CAT.

Amodio bị đưa vào nơi giam giữ phạm nhân tâm thần tại Bệnh viện Bellevue. Trước phiên tòa xử hắn, thẩm phán Tòa án quận David Edelstein yêu cầu bản đánh giá từ một nhân viên công tác xã hội chuyên về tâm thần học, người này phát hiện bị cáo bị bệnh nghiêm trọng về mặt cảm xúc, vì vậy là một mối nguy hiểm nghiêm trọng với ngài Tổng thống và các quan chức Chính phủ khác.

Amodio thú nhận mình là CAT. Các đặc vụ thẩm vấn hắn không thấy có bất cứ yếu tố chính trị nào trong tư tưởng của hắn. Hắn làm vậy chỉ để có quyền lực và sự chú ý.

Hiện hắn không còn bị giữ trong bệnh viện. Loại người này vẫn nguy hiểm chứ? Tôi không nghĩ hắn là mối đe dọa tức thời, nhưng nếu các yếu tố gây căng thẳng lại tăng lên và hắn không có cách nào ứng phó, tôi sẽ lại lo lắng.

Tôi tìm kiếm điều gì? Một trong những điểm quan trọng là giọng điệu. Nếu tôi thấy một loạt thư gửi cho một chính trị gia, ngôi sao điện ảnh, vận động viên hay bất kỳ người nổi tiếng nào mà giọng điệu trong thư ngày càng cứng rắn và gấp gáp (“Các người không trả lời thư của tôi!”), tôi sẽ cân nhắc nghiêm túc. Duy trì sự cứng rắn ám ảnh cưỡng chế đó là việc rất mệt mỏi, cả về thể xác và tinh thần. Đến đúng thời điểm, người đó sẽ bắt đầu mất kiểm soát. Một lần nữa, quý vị có thể nói hành vi là một dạng bệnh tâm thần nhưng điều tôi quan tâm là nó có thể nguy hiểm nhường nào.

Tuy chúng tôi có thẩm vấn phụ nữ, chẳng hạn như những kẻ có ý định ám sát và những thành viên trong gia đình Manson gồm Lynette “Squeaky” Fromme và Sara Jane Moore, nhưng nghiên cứu về các tù nhân mà chúng tôi đã xuất bản chỉ nói đến đàn ông. Dù thỉnh thoảng vẫn có loại người ám sát là phụ nữ, nhưng quý vị sẽ thấy mọi vụ án giết người hàng loạt hay giết người vì tình dục mà tôi đã nói tới đều liên quan đến một tội phạm là đàn ông. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy gần như mọi tên sát nhân hàng loạt đều có quá khứ không êm ấm, bị bạo hành về tình dục hoặc thể xác, nghiện rượu hoặc ma túy, hoặc những vấn đề có liên quan khác. Phụ nữ xuất phát từ những môi trường tương tự và đặc biệt, các bé gái còn là đối tượng dễ bị bạo hành và sàm sỡ hơn bé trai. Vậy thì tại sao rất ít phụ nữ lớn lên, phạm vào những tội ác như đàn ông? Một nghi phạm sát nhân hàng loạt là nữ như Aileen Wuornos, bị cáo buộc giết nhiều đàn ông trên các con đường liên bang ở Florida, là rất hiếm nên được chú ý ngay tức thì.

Với đề tài này thì chúng tôi không có cơ sở vững chắc để nói, vì đơn giản là chưa có các nghiên cứu trả lời đầy đủ. Có thể như một số người tranh luận, rằng việc đó liên quan trực tiếp đến lượng testosterone, nếu không thì cũng dựa trên hoóc-môn hoặc chất hóa học. Điều duy nhất chúng tôi có thể nói mà có căn cứ thực nghiệm là dường như phụ nữ hóa giải các yếu tố gây căng thẳng trong nội tâm của họ. Thay vì đổ lên đầu người khác, họ thường tự trừng phạt bản thân bằng rượu, ma túy, mại dâm và tự tử. Một số người có thể lặp lại việc bạo hành tâm lý hoặc thể chất trong gia đình họ, như mẹ của Ed Kemper có vẻ từng làm. Từ góc độ sức khỏe tâm thần, điều này rất có hại. Nhưng sự thật vẫn là phụ nữ không giết người theo kiểu đàn ông giết, và số người họ giết cũng rất ít so với tội phạm nam giới.

Vậy có thể làm gì với sự nguy hiểm này? Chúng ta có thể can thiệp trong những trường hợp tâm thần không ổn định hoặc khiếm khuyết nhân cách trước khi quá muộn không? Trong nhiều trường hợp, lực lượng thi hành luật đã trở thành tuyến đầu trong việc giữ gìn trật tự và kỷ luật thay vì gia đình. Đây là một tình huống rất nguy hiểm cho xã hội, vì đến lúc chúng tôi can thiệp, đã quá trễ để cải thiện tình hình. Điều tốt nhất chúng tôi có thể làm là ngăn chặn việc xấu xảy ra.

Nếu quý vị đề xuất trường c là câu trả lời cho vấn đề này, quý vị cũng đang yêu cầu thái quá. Nếu quý vị giao một đứa trẻ với hoàn cảnh gia đình không tốt cho những thầy cô giáo đang gánh quá nhiều trách nhiệm và hy vọng họ có thể giúp nó thay đổi trong vòng bảy giờ một ngày, kết quả có thể tốt, có thể không. Vậy mười bảy giờ còn lại trong ngày thì sao?

Mọi người thường hỏi chúng tôi rằng, qua nghiên cứu và kinh nghiệm của mình, liệu bây chúng tôi có thể dự đoán đứa trẻ nào có nguy cơ trở nên nguy hiểm trong tương lai không. Câu trả lời của Roy Hazelwood là, “Được chứ. Nhưng bất kỳ giáo viên tiểu học giỏi nào cũng làm được điều đó. Và nếu chúng ta có thể điều trị cho chúng đúng thời điểm và đủ triệt để, có thể tạo nên sự khác biệt. Một người trưởng thành đóng vai trò hình mẫu quan trọng trong những năm tháng hình thành nhân cách của trẻ thì có thể tạo ra rất nhiều khác biệt.

Bill Tafoya, đặc vụ với vai trò “người theo thuyết vị lai” của chúng tôi tại Quantico, tán thành một cam kết cung cấp tiền và nguồn lực trong vòng mười năm về tầm quan trọng của những gì chúng tôi đã đưa vào vịnh Ba Tư. Anh ta kêu gọi phục hồi trên diện rộng Dự án Head Start, một trong những chương trình phòng chống tội phạm dài hạn hiệu quả nhất trong lịch sử. Anh ta không cho rằng việc có thêm nhiều cảnh sát là câu trả lời cho vấn đề này nhưng sẽ sử dụng “một đội quân các nhân viên công tác xã hội” để hỗ trợ những phụ nữ gặp khó khăn, gia đình có con nhỏ nhưng vô gia cư, tìm được mái ấm tốt. Anh ta sẽ hỗ trợ cho dự án này bằng các chương trình ưu đãi thuế.

Tôi không chắc đây là câu trả lời toàn diện nhưng chắc chắn là một khởi đầu quan trọng. Vì thực tế đáng buồn là các chuyên gia tâm lý có thể đấu tranh như họ muốn, còn tôi và đồng nghiệp của mình có thể dùng tâm lý học và khoa học hành vi để hỗ trợ bắt tội phạm, nhưng lúc chúng tôi có thể tham gia thì tác hại nghiêm trọng đã xảy ra rồi.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn: irresistible impulse test.

[2] Nguyên văn: American Law Institute Model Penal Code Test.

[3] Nguyên văn: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders.

[4] Nguyên văn: Crime Classification Manual.

[5] Nguyên văn: alley cat.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.