Kẻ Săn Suy Nghĩ

Lượt đọc: 131 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
Ai cũng có điểm yếu

❊ ❊ ❊

Một buổi tối vào nhiều năm trước, khi trở về nhà sau thời gian học đại học xui xẻo ở Montana, tôi ăn tối cùng bố mẹ tại một quán pizza và bia ở Uniondale, Long Island, tên là Coldstream. Khi tôi vừa cắn một miếng pizza thập cẩm thêm phô mai, mẹ tôi đột nhiên hỏi “John, con từng quan hệ với cô gái nào chưa?”

Tôi cố nuốt miếng bánh vừa cắn xuống. Đây không phải loại câu hỏi mà những đứa mười chín, đôi mươi thường bị mẹ hỏi vào thời điểm giữa thập niên 1960. Tôi quay sang bố mình để nhờ giúp đỡ nhưng mặt bố không có biểu cảm gì. Bố cũng bất ngờ như tôi.

“Thế nào, có chưa?” Mẹ gặng hỏi. Cái họ Holmes của mẹ hóa ra không phải chỉ để làm cảnh.

“À… dạ có”

Tôi thấy biểu cảm khiếp sợ lướt qua mặt mẹ.

“Thế cô bé đó là ai?” Mẹ hỏi cho bằng được.

“À… thì…”, tôi mất hết cả cảm giác thèm ăn khi mới vào đây. “Thực ra là có vài người.”

Tôi không kể với mẹ có một người ở độ tuổi mười mấy, sống trong trung tâm bảo trợ bà mẹ đơn thân ở Bozeman. Chắc các bạn độc giả sẽ nghĩ tôi chỉ kể với mẹ nơi tôi giấu mấy thi thể sau khi phanh thây họ, và đó là tầng hầm nhà chúng tôi. “Vậy bây giờ ai sẽ thành vợ của con?” Mẹ rên rỉ.

Tôi lại quay sang người bố đang im lặng bất thường. Kìa bố, giúp con đi chứ!

“Anh không biết nữa, Dolores. Thời buổi bây giờ chuyện đó đâu còn quan trọng”

“Chuyện đó lúc nào cũng quan trọng hết, Jack”, mẹ phản pháo, rồi lại nhìn sang tôi. “John, chuyện gì sẽ xảy ra nếu một ngày nào đó, vợ tương lai của con hỏi con từng có mối quan hệ với người phụ nữ nào khác trước khi gặp nó chưa?”

Tôi ngừng lại khi chuẩn bị cắn miếng bánh. “Mẹ à, con sẽ nói sự thật” “Không, đừng nói”, bố tôi đột ngột lên tiếng.

“Ý anh là sao, Jack?” Mẹ hỏi. Được đấy bố ạ, để coi bố giải quyết vụ này ra sao.

Cuộc thẩm vấn kết thúc trong tình trạng dang dở khó chịu. Tôi không biết mình có học hỏi được gì từ chuyện này không. Hoặc tôi cho Pam nghe quá khứ của mình hoặc cô ấy sẽ nghi ngờ. Nhưng dù sao cô ấy cũng đã đồng ý lấy tôi, bất chấp nỗi lo của mẹ tôi. Nhưng khi nghĩ về lần tra hỏi đó từ góc nhìn của một nhân viên thi hành luật liên bang, một chuyên gia mô tả nhân dạng và chuyên gia về tâm lý và hành vi tội phạm, tôi nhận ra một điều quan trọng. Dù được đào tạo kỹ càng và giàu kinh nghiệm phân tích như hiện nay, tôi cũng không thể ứng phó với sự tra hỏi của mẹ tôi tốt hơn chút nào so với hồi đó!

Vì mẹ đã nhắm trúng điểm yếu về sự thật của tôi.

Tôi sẽ đưa ra một ví dụ khác cho quý độc giả xem xét. Kể từ khi trở thành trưởng bộ phận mô tả nhân dạng của FBI, tôi đã đích thân lựa chọn và đào tạo tất cả những chuyên viên khác. Vì vậy, tôi có mối quan hệ hợp tác và đặc biệt gần gũi với các thành viên cả nam lẫn nữ trong đội mình. Đa số họ đều trở thành những chuyên viên có tiếng. Nhưng nếu tôi có thể nói mình từng có một học trò thực sự, đó chính là Greg Cooper. Greg từ bỏ công việc cảnh sát trưởng ở một thành phố thuộc bang Utah mang lại thanh danh cho mình khi mới chớm ba mươi, gia nhập FBI sau khi nghe Ken Lanning và Bill Hagmaier diễn thuyết tại một hội nghị thi hành luật. Anh ấy rất nổi bật trong văn phòng thực địa Seattle, nhưng luôn mơ được đến Quantico để làm việc cho Đơn vị Khoa học hành vi. Anh ấy đã yêu cầu xem và nghiên cứu mọi bản mô tả cũng như phân tích của tôi về Kẻ sát nhân sống Xanh. Khi tôi bay đến Seattle để xuất hiện trên một chương trình truyền hình đặc biệt có khán giả tham gia với tên gọi Truy tìm tội phạm trực tiếp, Greg đã xung phong làm tài xế và hoa tiêu cho tôi. Khi tôi trở thành quản lý Đơn vị Hỗ trợ điều tra đã tái cơ cấu, Greg đang làm việc tại cơ sở vệ tinh của FBI ở quận Orange, California và sống ở Laguna Niguel. Tôi dẫn anh ấy đến Quantico, nơi anh ấy trở thành một chuyên viên xuất sắc.

Khi mới đến đơn vị, Greg được phân vào một văn phòng ở tầng hầm, không cửa sổ, chung với Jana Monroe - cựu nhân viên cảnh sát và thanh tra điều tra các vụ giết người ở California trước khi trở thành một đặc vụ, một người mà ngoài những ưu điểm khác, còn là một cô nàng tóc vàng cực kỳ quyến rũ. Nói cách khác, cô ấy hoàn hảo. Ít ai cho rằng đây là sự phân công bất lợi, nhưng Greg tình cờ lại là một tín đồ Mặc Môn[1] sùng đạo, rất nam tính và là kiểu người của gia đình với năm đứa con đáng yêu và một cô vợ tuyệt vời tên là Rhonda, với cô này thì việc chuyển nhà từ thiên đường California đầy nắng sang vùng Virginia nóng ẩm và dễ gây buồn ngủ là một sự hy sinh to lớn. Mỗi lần cô vợ hỏi về cộng sự trong văn phòng chồng, Greg đều hắng giọng và lảng sang chuyện khác.

Cuối cùng, khoảng sáu tháng sau khi anh ấy bắt đầu làm việc cho đội chúng tôi, Greg đưa Rhonda đến bữa tiệc Giáng sinh của đơn vị. Tôi không có mặt vì đang tham gia một vụ án ở ngoài thành phố, nhưng cô nàng Jana hoạt bát thì có. Và điều hiển nhiên với cô nàng trong một bữa tiệc đó là mặc một cái đầm màu đỏ tươi ôm sát, ngắn, đơn giản với chiếc cổ xẻ sâu.

Khi tôi trở về, Jim Wright, phó trưởng đơn vị, người đã thay tôi quản lý chương trình mô tả nhân dạng, nói rằng Rhonda và Greg đã cãi nhau nảy lửa sau bữa tiệc. Rhonda không hài lòng khi hằng ngày anh ấy ở trong một không gian hẹp với một đặc vụ xinh đẹp, gan lì, quyến rũ và bắn súng điệu nghệ không thua gì khiêu vũ.

Thế là tôi bảo thư ký gọi Greg ra khỏi một cuộc họp, nhắn là tôi muốn gặp anh ấy ngay. Anh ấy đến văn phòng tôi, trông có vẻ lo lắng. Anh ấy chỉ mới vào đây sáu tháng, đơn vị này là ước mơ của anh ấy, và anh ấy thực lòng muốn thể hiện thật tốt.

Tôi ngước mắt lên và bảo, “Đóng cửa lại, Greg. Ngôi đi” Anh ấy làm theo, càng lo hơn vì giọng điệu của tôi. “Tôi vừa nói chuyện điện thoại với Rhonda, tôi tiếp tục. “Tôi hiểu hai người đang có chút vấn đề.

“Anh vừa nói chuyện với Rhonda à?” Anh ấy còn không nhìn tôi mà nhìn chằm chằm vào chiếc điện thoại trên bàn tôi.

“Nghe này, Greg”, tôi nói bằng giọng nhẹ nhàng nhất của một người cố vấn, “Tôi muốn bao che cho anh, nhưng khi anh và Jana ra ngoài làm việc cùng nhau, tôi không thể bảo đảm. Đây là việc anh phải tự giải quyết. Rhonda rõ ràng đã biết chuyện giữa anh và Jana, và…”

“Giữa tôi và Jana không có chuyện gì cả!” Anh ấy nói nhanh.

“Tôi biết công việc này rất áp lực. Nhưng anh có một người vợ xinh đẹp, tuyệt vời, những đứa con đáng yêu. Đừng phá hỏng mọi thứ.”

“Không phải như anh nghĩ đâu John. Cô ấy không nghĩ như vậy. Anh phải tin tôi.” Trong suốt thời gian đó, anh ấy vẫn nhìn xoáy vào cái điện thoại, có thể anh ấy đang nghĩ nếu tập trung hết sức thì nó sẽ bốc cháy. Mồ hôi anh ấy túa ra đầm đìa. Tôi có thể thấy động mạch cảnh của anh ấy đập mạnh trên cổ. Anh ấy đang sa sút tinh thần. Vì vậy, ngay lúc đó, tôi thôi ra vẻ nghiêm trọng. “Nhìn anh kìa, anh chàng đáng thương!” Tôi cười đắc thắng. “Anh là nhà thương thuyết thật sao?” Thời điểm đó, anh ấy đang viết một chương về vấn đề thương thuyết cho Cẩm nang phân loại tội phạm. “Anh có làm gì có lỗi không?”

“Không, John. Tôi xin thề!”

“Vậy mà nhìn xem. Vào tay tôi thì anh nhũn ra như cám! Anh hoàn toàn vô tội. Anh còn là cựu cảnh sát trưởng. Anh là một nhà thương thuyết dày dạn kinh nghiệm. Nhưng tôi vẫn có thể xoay anh như xoay một cái yo-yo. Vậy anh có gì biện hộ cho mình không?”

Lúc đó, khi mồ hôi chảy dài trên cái đầu hói của anh ấy vì nhẹ nhõm, anh ấy không có gì để biện hộ, nhưng đã nắm được mấu chốt. Tôi biết tôi có thể vờn anh ấy như vậy vì tôi từng trải qua rồi, người ta cũng thành công xoay tôi và có thể lặp lại nếu hoàn cảnh cho phép.

Chúng ta đều dễ bị tổn thương. Không quan trọng bạn hiểu biết đến đâu, có kinh nghiệm cỡ nào, đã thành công thương thuyết với bao nhiêu nghi phạm. Bạn có nắm được kỹ thuật để lừa người khác đi nữa cũng không quan trọng. Mỗi người trong chúng ta đều có thể bị tấn công - nếu đối phương đoán ra chúng ta dễ bị tổn thương vì điều gì và như thế nào.

Tôi học được kỹ thuật này từ một trong các vụ án đầu tiên tôi tham gia với tư cách chuyên viên mô tả nhân dạng, và về sau tôi đưa nó vào sử dụng nhiều lần - không chỉ trong những buổi minh họa cho đội mình. Đó là lần đầu tiên tôi thực sự “chỉ đạo” một buổi thương thuyết.

Tháng Mười hai năm 1979, Đặc vụ Robert Leary từ Cơ sở vệ tinh ở Rome, Georgia gọi đến cung cấp chi tiết về một vụ án đặc biệt khủng khiếp và nhờ tôi ưu tiên giải quyết vụ này. Tuần trước, Mary Frances Stoner, một cô bé mười hai tuổi xinh xắn, hoạt bát, sống ở Adairsville, cách Rome khoảng nửa giờ đi xe, sau khi rời xe buýt đưa đón học sinh, đã biến mất ở lối vào nhà, cách đường khoảng 100m. Sau đó, thi thể cô bé được một cặp đôi trẻ phát hiện tại một khu vực hẹn hò có nhiều cây cối cách nhà khoảng 16km khi họ trông thấy chiếc áo khoác màu vàng phủ trên đầu cô bé. Cặp đôi này gọi cho cảnh sát và không làm xáo trộn hiện trường, một hành động thiết yếu. Nguyên nhân tử vong được xác định là chấn thương do lực đánh mạnh vào đầu. Trong quá trình kiểm tra thi thể, phát hiện vết nứt ở sọ tương thích với một hòn đá lớn. (Ảnh chụp hiện trường cho thấy có một hòn đá dính máu nằm gần đầu cô bé.) Các dấu vết trên cổ cũng cho thấy hành động siết cổ từ phía sau.

Trước khi xem các tài liệu về vụ án, tôi muốn biết về nạn nhân càng nhiều càng tốt. Mọi người đều nói những điều tuyệt vời về Mary Frances. Họ mô tả cô bé là người thân thiện, hướng ngoại và đáng yêu. Cô bé ngọt ngào và ngây thơ, là majorette[2] trong ban nhạc của trường, thường mặc đồng phục ban nhạc đi học. Đó là một cô bé dễ thương mười hai tuổi có vẻ ngoài đúng với độ tuổi của mình thay vì ra vẻ như mình đã mười tám. Cô bé không quan hệ bừa bãi, chưa bao giờ dính đến ma túy hay rượu bia. Kết quả khám nghiệm chỉ rõ cô bé còn trinh trước khi bị cưỡng hiếp. Tóm lại, cô bé là kiểu nạn nhân mà chúng tôi phân loại có nguy cơ thấp, bị bắt đi từ một môi trường cũng có nguy cơ thấp.

Sau khi được báo cáo chi tiết, nghe Leary trình bày và nghiên cứu hồ sơ, ảnh chụp hiện trường, tôi đã ghi lại nửa trang ghi chú sau:

BẢN MÔ TẢ;

Giới tính: nam;

Chủng tộc: da trắng;

Tuổi: hơn hai mươi, gần ba mươi;

Hôn nhân: đã kết hôn - trục trặc hoặc đã ly hôn;

Quân ngũ: trái đạo đức, vấn đề sức khỏe;

Nghề nghiệp: công nhân - thợ điện, thợ sửa ống nước;

IQ: trung bình, trên trung bình;

Học tập: tối đa là phổ thông; bỏ học;

Tiền án: phóng hỏa, cưỡng hiếp;

Tính cách: tự tin, kiêu ngạo, vượt qua kiểm tra phát hiện nói dối;

Màu xe: đen hoặc xanh dương;

Thương thuyết: trực tiếp, theo kế hoạch;

Đây là một vụ cưỡng hiếp cơ hội, việc sát hại nạn nhân không được lên kế hoạch hay dự tính trước. Tình trạng quần áo xộc xệch của nạn nhân cho t©We-love-ebookhấy Mary Frances đã bị ép buộc cởi trang phục, sau đó được phép mặc lại vội vàng sau khi bị cưỡng hiếp. Từ các bức ảnh chụp có thể thấy một chiếc giày chưa được thắt dây, và báo cáo khám nghiệm cho biết trong quần lót cô bé có máu. Trên lưng, sau gáy hay bàn chân cô bé không dính đất hay rác, cho thấy cô bé bị cưỡng hiếp trong xe hơi, không phải trên nền đất nơi được phát hiện.

Quan sát kỹ lưỡng ảnh chụp hiện trường tương đối theo thủ tục, tôi bắt đầu hiểu chuyện gì đã xảy ra. Tôi có thể hình dung toàn bộ sự việc.

Vì còn nhỏ, lại dễ gần và tin người, Mary Frances là đối tượng dễ tiếp cận ở một môi trường không nguy cơ là trạm dừng cho xe buýt trường học. Đối tượng vô danh có lẽ đã dụ cô bé lên xe hắn, rồi tóm lấy hoặc ép buộc bằng dao hoặc súng. Khu vực phát hiện thi thể xa và hẻo lánh cho thấy hắn thông thuộc vùng này và biết ở đó hắn sẽ không bị làm phiền.

Từ hiện trường bắt cóc, có thể thấy đây không phải một tội ác được lên kế hoạch trước, mà chỉ xảy ra khi hắn lái xe ngang qua. Cũng như vụ của Odom và Lawson, nếu có ai khác xuất hiện ở hiện trường vào đúng thời điểm thì vụ việc sẽ không xảy ra. Vì sự đáng yêu và tính tình trong sáng của cô bé nên trong tâm trí mình, tên tội phạm với những ảo tưởng đã xem sự ngây thơ của cô bé là dễ dãi và mong muốn vui đùa xác thịt với hắn.

Dĩ nhiên thực tế hoàn toàn không đúng như vậy. Sau khi bị hắn tấn công, Mary Frances có lẽ đã vô cùng sợ hãi, đau đớn, kêu khóc nhờ người giúp đỡ và xin tha mạng. Ảo tưởng mà hắn vun đắp bao nhiêu năm là một nhẽ, nhưng thực tế lại không đẹp như vậy. Hắn không thể kiểm soát tình hình với cô bé này và nhận ra mình đã rơi vào rắc rối.

Lúc này, hắn nhận ra cách duy nhất để thoát khỏi tình thế là giết cô bé. Nhưng vì cô bé đang sợ bị giết nên việc kiểm soát cô bé càng khó khăn hơn hắn nghĩ. Thế là, để dễ bề hành động, để cô bé hợp tác và nghe lời hơn, hắn bảo cô bé nhanh chóng mặc quần áo vào, hắn sẽ thả cô bé đi - hắn sẽ để cô bé chạy đi hoặc có thể trói cô bé vào một cái cây bất kỳ và rời khỏi nơi đó.

Nhưng ngay khi cô bé xoay lưng lại, hắn tiến lên phía sau và siết cổ cô bé. Có lẽ hắn có thể làm cô bé bất tỉnh nhưng việc siết cổ một người đòi hỏi nhiều sức mạnh của phần trên cơ thể. Ban nãy, hắn đã không thể kiểm soát cô bé và bây giờ hắn không thể hoàn tất việc siết cổ. Hắn lôi cô bé đến một cái cây, nhặt hòn đá gần nhất và đập vào đầu cô bé ba hay bốn lần gì đó, giết chết cô bé.

Tôi không cho rằng hung thủ biết rõ về Mary Frances, nhưng hai người đã thấy nhau vài lần trong khu phố, đủ để cô bé nhận ra hắn và đủ để hắn hình thành những ảo tưởng về cô. Có lẽ hắn đã thấy cô bé đến trường trong bộ đồng phục majorette nhỏ xinh.

Từ việc phủ áo khoác lên đầu nạn nhân, tôi biết Đối tượng vô danh không hài lòng với tội ác này. Tôi cũng biết cảnh sát không còn nhiều thời gian. Với loại tội ác và kiểu hung thủ thông minh, tư duy có tổ chức này, hắn phải suy nghĩ về vụ án càng lâu, giải thích vụ án và lập luận theo kiểu đó là lỗi của nạn nhân, chúng ta càng khó khiến hắn thú tội. Dù hắn được kiểm tra phát hiện nói dối, kết quả cũng không thể xác định đúng sai, dù có xét theo hướng tốt nhất. Ngay khi hắn cảm thấy áp lực giảm đi và không ai nghi ngờ hắn, hắn sẽ biến đến một nơi thật xa, khó truy tìm và thêm một cô bé nào đó sẽ gặp nguy hiểm.

Theo tôi, rõ ràng Đối tượng vô danh sống quanh khu vực gây án và gần như chắc chắn cảnh sát đã thẩm vấn hắn. Hắn sẽ rất hợp tác nhưng có vẻ ngạo mạn và nếu cảnh sát buộc tội hắn, hắn sẽ không đầu hàng. Tôi bảo họ rằng một tội ác ở mức độ phức tạp thế này sẽ không phải tội ác đầu tiên, nhưng rất có thể là lần đầu hắn giết người. Chiếc xe màu đen hoặc xanh dương của hắn đã được sử dụng nhiều năm vì hắn không đủ khả năng mua xe mới, nhưng chiếc xe vẫn chạy tốt và được bảo dưỡng kỹ lưỡng. Mọi bộ phận của chiếc xe đều còn hoạt động. Từ kinh nghiệm của tôi thì những người ngăn nắp, khó kiểm soát hành vi của bản thân như vậy thường thích xe màu tối.

Sau khi nghe tất cả những điều này, một viên cảnh sát nói qua điện thoại, “Mô tả của anh khớp với một gã chúng tôi xem là nghi phạm nhưng đã thả ra. Hắn vẫn là nghi phạm trong một vụ án khác và hoàn toàn khớp với bản mô tả. Tên hắn là Darrell Gene Devier, một gã đàn ông da trắng, hai mươi tư tuổi, đã kết hôn và ly hôn hai lần, hiện đang sống với người vợ đầu. Hắn làm nghề tỉa cây ở Rome, Georgia, tại đó, hắn là một nghi phạm nhiều hiềm nghi trong vụ cưỡng hiếp một bé gái mười ba tuổi nhưng không bị truy tố. Hắn nhập ngũ sau lần ly hôn đầu nhưng đã vắng mặt không phép và bị cho xuất ngũ sau bảy tháng. Hắn lái một chiếc Ford Pinto màu đen đã được ba năm và bảo dưỡng kỹ càng. Hắn thừa nhận khi còn thiếu niên từng bị bắt vì sở hữu một quả bom xăng. Hắn bỏ học hồi lớp Tám, nhưng bài kiểm tra IQ cho kết quả từ 100 đến 110.

Hắn đã bị thẩm vấn để xem có thấy hay nghe điều gì không, vì hắn đã làm công việc tỉa cây ở con đường có nhà của gia đình Stoner cho công ty điện lực khoảng hai tuần trước khi Mary Frances bị bắt cóc. Cảnh sát nói với tôi ngay hôm đó hắn đã được làm bài kiểm tra phát hiện nói dối.

Tôi bảo họ đó không phải là ý hay. Họ sẽ chẳng thu được gì từ bài kiểm tra mà chỉ khiến khả năng ứng phó với quy trình thương thuyết của nghi phạm tăng lên. Lúc đó, chúng tôi chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế trong thương thuyết, nhưng từ những cuộc thẩm vấn trong trại giam và cuộc nghiên cứu về sát nhân hàng loạt đang diễn ra, tôi cảm thấy tôi biết mình đang lo lắng điều gì. Như đã nói, khi gọi lại cho tôi vào hôm sau, họ nói máy phát hiện nói dối không cho ra kết quả.

Tôi nói rằng bây giờ hắn đã biết cách lừa cái máy nên chỉ còn một cách để bắt hắn. Hãy sắp đặt một cuộc thương thuyết tại đồn cảnh sát vào tối nay. Nghi phạm sẽ cảm thấy thoải mái hơn, điều đó khiến hắn dễ bị tấn công khi thẩm vấn. Điều này cũng sẽ gửi đến hắn một thông điệp về sự nghiêm túc và quyết tâm của các anh. Hắn biết sẽ không có thời gian giải lao ngẫu nhiên như giờ ăn trưa hay ăn tối và hắn sẽ không bị đem ra làm đối tượng cho báo chí mổ xẻ nếu đầu hàng. Hãy để cảnh sát địa phương và Cơ sở vệ tinh ở Atlanta của FBI cùng tiến hành cuộc thương thuyết để thể hiện sự đồng lòng và ám chỉ rằng cả bộ máy chính quyền Hoa Kỳ đang chống lại hắn. Hãy chất thật nhiều tập hồ sơ có tên hắn thành chồng trên bàn trước mắt hắn, dù bên trong chỉ toàn là giấy trắng.

Điều quan trọng nhất: Đừng nói gì cả mà hãy đặt hòn đá dính máu lên một cái bàn thấp ở một góc 45° so với tầm mắt của hắn để hắn phải quay đầu nhìn hòn đá. Cẩn thận quan sát mọi dấu hiệu từ hắn - hành vi, sự hô hấp, mồ hôi, mạch ở cổ hắn. Nếu là hung thủ, hắn sẽ không thể làm ngơ hòn đá, dù các anh chưa hề nhắc đến hay giải thích tầm quan trọng của hòn đá.

Chúng ta nhất định phải tạo ra cái mà tôi gọi là “yếu tố gây sợ hãi”. Thực ra tôi dùng vụ án của Stoner để làm thí nghiệm cho các lý thuyết của mình. Nhiều kỹ thuật mà chúng tôi hoàn thiện sau này đều bắt nguồn từ những thí nghiệm như vậy.

Hắn sẽ không thú tội, tôi nói tiếp. Georgia là bang có án tử hình và nếu hắn chỉ bị bỏ tù thì tội sàm sỡ trẻ em có thể khiến hắn bị cưỡng bức ngay lần đầu tiên hắn đi tắm. Tất cả những tù nhân khác sẽ nhắm vào hắn.

Hãy dùng đèn có ánh sáng yếu và tạo cảm giác bí ẩn. Mỗi lần chỉ có không quá hai cảnh sát hoặc đặc vụ trong phòng thẩm vấn, tốt nhất là một người từ FBI và một người từ Phòng Cảnh sát Adairsville. Điều các anh phải làm là ám chỉ cách anh hiểu được đối tượng, biết hắn đang nghĩ gì và áp lực của hắn. Dù cảm thấy ghê tởm thế nào đi nữa, các anh cũng phải đổ lỗi cho nạn nhân, ám chỉ cô bé đã dụ dỗ hắn. Hỏi xem có phải cô bé lừa hắn, có phải cô bé khiến hắn hưng phấn, có phải cô bé đe dọa hắn. Hãy vẽ ra cho hắn một cảnh tượng để cứu vớt danh dự của hắn. Cho hắn một con đường để giải thích cho hành động của hắn.

Một điều khác tôi rút ra từ những vụ án tôi đã xem là trong những vụ giết người bằng tay hay dao, hung thủ khó mà không bị dính vài vệt máu của nạn nhân. Việc đó xảy ra thường xuyên đến mức các anh có thể lợi dụng nó. Tôi bảo họ rằng khi hắn bắt đầu vòng vo, dù chỉ một chút, hãy nhìn thẳng vào mặt hắn và nói với hắn phần gây khó chịu nhất trong vụ án là thực tế người hắn có dính máu của Mary.

“Chúng tôi biết anh đã bị dính máu, Gene; trên hai tay anh, trên quần áo anh. Câu hỏi của chúng tôi không phải là Anh đã giết cô bé đúng không? Chúng tôi biết anh là hung thủ. Câu hỏi thực sự là ‘Tại sao?’ Chúng tôi biết lý do và chúng tôi hiểu. Những gì anh cần nói là cho chúng tôi biết chúng tôi có đúng hay không?”

Và cuộc thương thuyết đã diễn ra đúng như thế. Họ đưa Devier vào. Hắn ngay lập tức nhìn hòn đá, bắt đầu đổ mồ hôi và thở nặng nhọc. Ngôn ngữ cơ thể hắn hoàn toàn khác với những lần thẩm vấn trước: dè dặt, đề phòng. Những người thương thuyết đổ lỗi và trách nhiệm lên cô bé, khi hắn có vẻ đang đồng tình với điều đó thì họ nhắc đến vết máu. Chuyện đó làm hắn rất khó chịu. Thường thì chúng tôi có thể biết mình đã bắt đúng người khi hắn không nói gì và bắt đầu chăm chú lắng nghe chúng tôi. Người vô tội sẽ la hét om sòm. Kẻ có tội cố tình la hét om sòm để chúng tôi nghĩ hắn vô tội, chúng tôi vẫn có thể nhận ra sự khác biệt.

Hắn thừa nhận chuyện cưỡng bức và đồng ý với người thương thuyết là cô bé đã đe dọa hắn. Bob Leary bảo rằng họ biết hắn không định giết cô bé. Nếu hắn có ý định đó, hắn đã dùng thứ gì đó có hiệu quả hơn hòn đá. Cuối cùng, hắn thừa nhận mình là hung thủ của vụ giết người này và vụ cưỡng bức ở Rome vào năm ngoái. Darrell Gene Devier bị đưa ra xét xử vụ cưỡng hiếp và giết Mary Frances Stoner, bị buộc tội và nhận án tử hình. Hắn bị tử hình trên ghế điện ở Georgia vào ngày 18 tháng Năm năm 1995, gần mười sáu năm sau vụ giết người và bị bắt giữ; khoảng thời gian đó nhiều hơn gần bốn năm so với thời gian mà Mary Frances đã sống trên đời.

Tôi nhận ra, điểm quan trọng của kiểu thương thuyết này là sáng tạo; sử dụng trí tưởng tượng của bạn. Tôi phải tự hỏi mình “Điều gì sẽ khiến mình đầu hàng nếu mình là tội phạm?” Tất cả chúng ta đều dễ bị tổn thương. Điều khiến mỗi chúng ta đầu hàng sẽ khác nhau. Trong trường hợp của tôi, với vấn đề làm sổ sách cẩu thả của tôi, SAC có thể gọi tôi vào văn phòng, cho tôi xem một trong những hóa đơn chi phí của tôi trên bàn anh ta và khiến tôi vã mồ hôi. Nhưng luôn có một điều gì đó thực sự chí mạng.

Ai cũng có điểm yếu.

Những bài học từ vụ án của Devier có thể có tính ứng dụng cao ngoài thế giới bệnh hoạn của những vụ sát nhân vì tình dục. Dù là biển thủ công quỹ, tham nhũng, điều tra tập thể, âm mưu tàng trữ đồ ăn cắp hoặc một liên minh thối nát mà bạn phải thâm nhập, đều không quan trọng; các nguyên tắc đều như nhau. Lời khuyên của tôi cho bất kỳ hình thức phạm tội nào trong số này đều là nhắm vào người mà bạn cho là “mắt xích yếu nhất”, tìm cách bắt hắn và cho hắn thấy hắn đang đối mặt với điều gì, rồi nhận được sự hợp tác của hắn để điều tra những kẻ khác.

Trong bất kỳ vụ án có sự thông đồng nào, đây là vấn đề mấu chốt. Điều chúng tôi muốn làm là biến một kẻ trong số đó thành nhân chứng cho Chính phủ, sau đó nhìn cả liên minh của chúng sụp đổ. Việc chọn đối tượng để tiếp cận trước rất quan trọng vì nếu chọn sai người và không thể thuyết phục hắn, hắn sẽ cảnh báo những kẻ khác và bạn phải bắt đầu lại từ đầu.

Ví dụ như chúng tôi đang điều tra một vụ tham nhũng ở một thành phố lớn, trong đó có sự can dự của tám hay mười người từ một cơ quan cụ thể. Giả sử người số một hoặc hai trong cơ quan là “đối tượng chiêu hàng” tốt nhất. Nhưng khi nghiên cứu gã này, chúng tôi phát hiện ra cuộc sống cá nhân của hắn vẫn ổn định bất chấp vụ tham nhũng. Hắn không uống rượu hay lăng nhăng, thực ra hắn là một người đàn ông của gia đình - không bệnh tật, không khó khăn về tiền bạc, không có điểm yếu nào rõ ràng. Nếu FBI tiếp cận hắn, có khả năng hắn sẽ chối bay chối biến tất cả, bảo chúng tôi đi chết đi, rồi báo động cho những kẻ khác.

Cách bắt được kẻ như vậy là thông qua đối tượng yếu hơn, giống như với tội phạm có tổ chức. Khi chúng tôi xem xét hết toàn bộ hồ sơ, có thể có một kẻ nổi bật hơn đám còn lại, phù hợp với mục đích của chúng tôi. Hắn không có chức vụ cao, mà là một thư ký làm công việc xử lý giấy tờ. Hắn đã làm công việc đó hai mươi năm nên hắn đầu tư tất cả những gì mình có vào đó. Hắn có vấn đề về tài chính và sức khỏe, cả hai đều là những điểm yếu chí mạng.

Tiếp đến là lựa chọn người “thủ vai” chủ trì buổi thương thuyết. Tôi thường ưu tiên người lớn tuổi hơn một chút và có quyền uy hơn đối tượng, ăn vận tươm tất với vẻ ngoài oai vệ, có thể tỏ ra thân thiện và cởi mở, khiến đối tượng thấy thoải mái, nhưng cũng có thể trở nên cực kỳ nghiêm túc và quyết đoán khi tình huống yêu cầu.

Nếu trong vài tuần tới có ngày lễ, có thể là sinh nhật hay ngày kỷ niệm nào đó của đối tượng, tôi khuyên hãy hoãn cuộc thương thuyết lại để tận dụng ngày đó. Nếu đưa hắn vào phòng thương thuyết và hắn nhận ra nếu không hợp tác, đây có thể là kỳ nghỉ cuối cùng mà hắn được ở bên gia đình, điều đó sẽ cho chúng ta thêm lợi thế.

Với tội phạm phi bạo lực, việc “dàn dựng” cuộc thương thuyết cũng có hiệu quả như với vụ sát hại Stoner. Với bất kỳ cuộc điều tra nào có quy mô lớn hoặc đang diễn ra, tôi đề nghị tập trung tất cả tài liệu vào một chỗ, dù việc này có thực sự được tiến hành vì vụ án đó hay không. Ví dụ, nếu lấy một phòng họp để “đội đặc nhiệm” sử dụng, tập hợp tất cả đặc vụ, nhân viên và hồ sơ vụ án lại, bạn đang cho đối tượng thấy mức độ nghiêm túc của mình. Nếu có thể “trang trí” tường trong phòng bằng ảnh từ máy quay giám sát được phóng to và những dấu hiệu khác cho thấy cuộc điều tra này được tiến hành chính thức và trên diện rộng, mục đích của bạn sẽ rõ ràng hơn. Cho vài màn hình chiếu các đoạn băng ghi lại cảnh các mục tiêu đang hành động thì càng hiệu quả hơn.

Một vài biện pháp mà tôi ưa thích là những sơ đồ gắn trên tường thể hiện hình phạt mà mỗi người sẽ nhận nếu bị buộc tội. Biện pháp này không có gì sâu sắc nhưng nó có xu hướng khiến đối tượng cảm thấy áp lực và nhắc nhở hắn về những điều hắn có thể mất. Tôi muốn tạo “yếu tố gây sợ hãi” càng mãnh liệt càng tốt.

Tôi luôn thấy đêm muộn hay sáng sớm thường là thời điểm tốt nhất để tiến hành thương thuyết. Người ta thường thư thái hơn và cũng dễ bị tổn thương hơn. Nếu bạn và đồng nghiệp đã làm việc cả đêm, điều đó lập tức cho thấy đây làm một vụ lớn và bạn toàn tâm toàn ý điều tra. Một lý do thực tế khác để tiến hành thương thuyết vào ban đêm trong bất kỳ vụ án có sự thông đồng nào là các đối tượng khác không được trông thấy đối tượng bạn chọn. Nếu hắn nghĩ hắn được chọn, vậy sẽ chẳng có thỏa thuận nào xảy ra.

Thỏa thuận thành công phải dựa trên nền tảng là sự thật, lý trí và lương tri của đối tượng. Mục đích của việc dàn dựng là để tập trung sự chú ý vào những yếu tố chính. Nếu tôi tiến hành một cuộc thương thuyết với đối tượng tiêu biểu trong vụ tham nhũng, có thể tôi sẽ gọi đến nhà hắn vào tối muộn và nói đại loại như, “Thưa anh, tôi cần nói chuyện với anh vào tối nay vì việc này rất quan trọng. Các đặc vụ FBI đang đến nhà anh ngay lúc chúng ta nói chuyện đây” Tôi sẽ nhấn mạnh hắn không bị bắt và không cần phải đi với các đặc vụ. Nhưng tôi thật lòng khuyên hắn nên cùng họ đến trung tâm một chuyến vì có thể hắn sẽ không còn cơ hội nào khác. Không cần nói cho hắn biết các quyền của mình vào lúc này vì hắn chưa bị truy tố bất cứ tội gì.

Khi hắn đã đến văn phòng, tôi sẽ để hắn nghỉ ngơi một chút. Khi đội bóng kia phải ghi một bàn thắng ở khoảng cách xa trong lượt cuối để thắng trận, bạn hãy đề nghị giải lao để cầu thủ của họ có thời gian nghĩ về chuyện đó. Bất cứ ai từng phải chờ gặp bác sĩ trước một cuộc hẹn quan trọng đều biết tác động của biện pháp này.

Khi hắn được đưa vào văn phòng tôi, tôi sẽ đóng cửa, cố gắng tỏ ra thân thiện, dễ gần, thấu hiểu, cởi mở và thành thật. Tôi sẽ gọi tên hắn. “Tôi muốn anh hiểu rằng anh không bị bắt”, tôi lặp lại. “Anh có thể đi bất kỳ lúc nào anh muốn và các đồng nghiệp của tôi sẽ đưa anh về nhà. Nhưng tôi nghĩ anh nên lắng nghe những gì tôi cần nói. Đây có thể là ngày quan trọng nhất trong đời anh”

Có thể tôi sẽ bảo hắn cùng nói ra ngày tháng lúc đó để bảo đảm chúng tôi hiểu nhau.

“Tôi cũng muốn anh biết rằng chúng tôi nắm rõ tiền sử dịch tễ của anh và có sắp xếp một y tá chờ bên ngoài. Điều đó có thể là thật. Một trong những lý do chúng tôi nhắm vào gã này chính là vì điểm yếu đó.

Bấy giờ chúng tôi bắt đầu nói chuyện nghiêm túc. Tôi sẽ nhấn mạnh FBI nhận thấy hắn chỉ là một con cá nhỏ, lợi ích hắn nhận được không xứng với những gì hắn đã làm và hắn không thực sự là người chúng tôi muốn bắt nhất. “Như anh thấy đấy, chúng tôi đang thẩm vấn nhiều người có can dự vụ này. Con tàu đang chìm rồi, không nghi ngờ gì nữa. Anh có thể cùng chìm với nó hoặc ngoi lên lần thứ ba trước khi chết đuối và tóm lấy một cái phao cứu sinh. Chúng tôi biết anh đã bị những người khác có quyền lực hơn anh lợi dụng, thao túng. Chúng tôi có một luật sư đang chờ để đề nghị với anh một thỏa thuận thực sự nếu anh muốn chấp nhận.”

Để tạo tác động mạnh hơn, tôi nhấn mạnh: “Hãy nhớ, đây là lần duy nhất chúng tôi có thể đưa ra đề nghị này. Tôi có hai mươi đặc vụ điều tra vụ này. Chúng tôi có thể bắt tất cả mọi người nếu cần. Anh nghĩ nếu anh từ chối thì một người nào khác có chấp nhận không? Thế thì anh sẽ chìm chung với bọn họ. Nếu muốn bị bắt cùng những kẻ tai to mặt lớn thì tùy anh. Nhưng đêm nay là lần cuối chúng ta có thể nói chuyện như thế này. Anh sẽ hợp tác chứ?”

Nếu hắn chịu - và đó thực sự là điều tốt nhất cho hắn - thì chúng tôi sẽ đọc cho hắn nghe những quyền của hắn và cho hắn liên lạc với luật sư. Nhưng để thể hiện thiện chí của hắn, có lẽ tôi sẽ bảo hắn gọi điện thoại và sắp xếp một cuộc hẹn với một trong những kẻ khác. Tôi không muốn hắn suy nghĩ lại và rút lui. Một khi đã có sự cam kết từ gã đầu tiên, những mảnh ghép còn lại sẽ bắt đầu vào đúng vị trí.

Lý do mà phương pháp này có hiệu quả, dù bạn đã biết trước cách tiếp cận hoàn chỉnh của chúng tôi, là vì nó có lợi cho cả người điều tra và đối tượng được nhắm tới. Phương pháp này dựa trên sự thật và được điều chỉnh cho phù hợp với cuộc sống, tình huống và nhu cầu cảm xúc của đối tượng. Dù biết rõ cuộc thương thuyết được dàn dựng để mang lại tác động tối đa đi nữa, nhưng nếu là đối tượng nhận được lời đề nghị này, tôi cũng sẽ chấp nhận, vì nó là cơ hội tốt nhất cho tôi. Chiến thuật đằng sau hình thức thương thuyết này cũng giống chiến thuật tôi phát triển cho vụ sát hại cô bé Stoner. Tôi cứ nghĩ, “Điều gì sẽ khiến mình phải đầu hàng?”

Vì ai cũng có điểm yếu.

Gary Trapnell, kẻ cướp có vũ trang và không tặc mà tôi từng thẩm vấn tại nhà tù liên bang ở Marion, Illinois, cũng thông minh và sâu sắc như bất kỳ tên tội phạm nào tôi từng nghiên cứu. Hắn tự tin vào khả năng của mình đến mức bảo đảm với tôi là hắn có thể lừa bất kỳ nhà tâm thần học nào ở trại giam tin rằng hắn bị tâm thần, bất kể căn bệnh nào mà tôi có thể kể tên. Hắn cũng tự tin rằng khi được ra tù, hắn có thể lẩn trốn pháp luật.

“Các người không thể bắt được tôi”, hắn quả quyết.

“Được rồi Gary”, tôi đưa ra giả thiết. “Anh được ra ngoài. Và anh đủ thông minh để biết anh phải cắt đứt mọi liên lạc với người nhà để lẩn trốn các đặc vụ FBI.

Thế này nhé, tôi biết bố anh là một sĩ quan cấp cao trong quân đội. Anh rất yêu quý và tôn trọng ông ấy. Anh muốn giống như ông ấy. Anh bắt đầu gây ra các vụ án khi ông ấy qua đời.”

Từ biểu cảm trên mặt hắn, có thể thấy tôi đã chạm đúng điểm yếu của hắn.

“Bố anh được an táng ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Chẳng hạn như tôi phái các đặc vụ theo dõi quanh mộ ông ấy vào dịp Giáng sinh, sinh nhật và ngày giỗ của ông ấy thì sao nào?”

Dù không muốn thừa nhận nhưng Trapnell vẫn nặn ra một nụ cười nhạo báng. “Anh hiểu tôi đấy!” Hắn tuyên bố.

Xin nhắc lại, lý do tôi làm được như vậy là vì tôi cố gắng đặt mình vào vị trí của hắn; tôi cố gắng đoán xem điều gì sẽ khiến tôi phải đầu hàng. Và kinh nghiệm cho tôi biết có cách để đánh trúng tâm lý mọi người, nếu có thể tìm ra đó là gì.

Với bản thân tôi, điều khiến tôi đầu hàng có thể tương tự như cách tôi đã dùng với Trapnell; đó là, một ngày tháng cụ thể có thể là yếu tố kích động cảm xúc.

Chị Arlene của tôi có một cô con gái tóc vàng xinh xắn tên là Kim. Con bé có cùng ngày sinh với tôi, ngày 18 tháng Sáu, và tôi luôn có mối liên kết đặc biệt với con bé. Mười sáu tuổi, Kim qua đời trong giấc ngủ. Chúng tôi không bao giờ tìm ra nguyên nhân chính xác. Ký ức về con bé khiến chúng tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn vì con gái lớn của tôi, Erika -giờ đã lên đại học - tình cờ lại rất giống Kim. Tôi chắc chắn mỗi khi nhìn Erika, chị Arlene đều thấy hình bóng Kim trong tâm trí, mường tượng Kim lớn lên sẽ như thế nào. Mẹ tôi cũng vậy.

Nếu tôi muốn nhắm vào chính mình chẳng hạn, tôi sẽ lên kế hoạch tiếp cận ngay trước ngày sinh nhật của mình. Khi đó tôi đang đong đầy cảm xúc, mong chờ tổ chức sinh nhật với gia đình. Nhưng tôi cũng nghĩ về cháu mình, Kim, về ngày sinh chung của chúng tôi, về việc con bé giống Erika ra sao, và tôi sẽ cảm thấy dễ bị tổn thương. Nếu tình cờ trông thấy những tấm hình chụp hai đứa gắn trên tường, tôi sẽ càng buồn hơn.

Tôi đã biết rõ chiến lược tổng quát dùng để tiếp cận mình, không quan trọng. Tôi là người nghĩ ra chiến lược đó, không hề gì. Nếu yếu tố gây căng thẳng là nỗi băn khoăn có thực và chính đáng, khả năng cao là cách tiếp cận sẽ thành công. Đây có thể là chiến lược dành cho tôi. Chiến lược dành cho bạn có thể sẽ khác và chúng tôi phải tìm xem điều đó là gì trước. Nhưng chắc chắn sẽ có.

Vì ai cũng có điểm yếu.

❀ ❀ ❀

[1] Mặc Môn giáo (Mormon church), còn gọi là Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê-su, với những giáo lý như kiêng rượu bia, thuốc lá, ma túy hoặc các chất gây nghiện có hại cho sức khỏe. Tín hữu được giảng dạy không quan hệ tình dục trước hôn nhân hay ngoại tình sau khi kết hôn….

[2] Từ chỉ nữ thành viên trong một nhóm diễu hành, sử dụng đạo cụ là một cây ba-toong, hoặc trưởng nhóm trong một ban nhạc.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.