Kẻ Săn Suy Nghĩ

Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
DẪN NHẬP Chắc hẳn tôi đang ở địa ngục

❊ ❊ ❊

Chắc hẳn tôi đang ở địa ngục.

Đó là lời giải thích hợp lý duy nhất. Tôi bị trói và đang trần truồng. Cơn đau thật quá sức chịu đựng. Tay chân tôi đang bị một lưỡi dao cắt sâu vào. Tất cả các lỗ trên người tôi đều bị nhét thứ gì đó. Tôi bị nghẹn và nôn mửa vì có thứ gì đó nhồi vào cuống họng. Những vật nhọn đang đâm vào dương vật và trực tràng của tôi, có cảm giác như chúng đang xé người tôi ra. Toàn thân tôi đầm đìa mồ hôi. Rồi tôi nhận ra điều đang xảy ra: tôi đang bị hành hạ tới chết bởi tất cả những kẻ sát nhân, kẻ cưỡng hiếp và sàm sỡ trẻ em mà tôi đã bỏ tù trong suốt sự nghiệp của mình. Bây giờ thì tôi là nạn nhân và không thể phản kháng.

Tôi biết cách thức hoạt động của chúng; tôi đã nhìn thấy không biết bao nhiêu lần. Chúng có nhu cầu phải thao túng và chế ngự con mồi. Chúng muốn mình có thể quyết định nạn nhân nên sống hay chết hoặc chết như thế nào. Chúng sẽ giữ cho tôi sống khi cơ thể tôi còn có thể chịu đựng, làm tôi tỉnh lại sau khi tôi ngất hoặc gần chết, luôn gây ra càng nhiều đau đớn và thống khổ càng tốt. Một số kẻ có thể làm như thế suốt nhiều ngày.

Chúng muốn cho tôi thấy chúng nắm toàn quyền kiểm soát và tôi hoàn toàn chịu sự điều khiển của chúng. Càng la khóc, van xin được tha, tôi càng tiếp thêm năng lượng cho những mong muốn đen tối của chúng. Nếu tôi van xin được tha chết hoặc gọi cha gọi mẹ, chúng sẽ khoái trá vô cùng.

Đây là cái giá tôi phải trả cho sáu năm săn lùng những gã đàn ông xấu xa nhất hành tinh.

Tim tôi đang đập liên hồi, người tôi nóng như lửa. Tôi cảm nhận một cú đâm cực mạnh khi chúng thọc cái que nhọn sâu hơn vào dương vật của tôi. Cả cơ thể tôi co giật trong cơn đau tột cùng.

Xin Chúa, nếu con vẫn còn sống, hãy để con chết quách đi. Và nếu con đã chết, xin hãy giải thoát con khỏi những cực hình chốn địa ngục thật nhanh.

Rồi tôi thấy một ánh sáng trắng cực mạnh, giống như ánh sáng mà tôi nghe nói người ta sẽ nhìn thấy khi cận kề cái chết. Tôi mong nhìn thấy Chúa, thiên sứ hay quỷ dữ - tôi cũng đã nghe về chuyện đó. Nhưng tất cả những gì tôi thấy chỉ là ánh sáng trắng rực rỡ đó.

Quả thực tôi có nghe một giọng nói - xoa dịu và trấn an, âm thanh êm ái nhất mà tôi từng nghe.

“Đừng lo, John. Chúng tôi đang cố gắng làm mọi chuyện tốt hơn.”

Đó là điều cuối cùng tôi còn nhớ.

“John, anh có nghe tôi nói không? Đừng lo. Hãy bình tĩnh. Anh đang ở bệnh viện. Tình trạng của anh rất nghiêm trọng nhưng chúng tôi đang cố gắng cứu chữa”, đó mới là điều người y tá đã nói với tôi. Cô ấy không biết tôi có nghe được cô ấy nói không, nhưng cô ấy liên tục lặp lại câu đó bằng giọng nói êm dịu.

Tuy lúc đó tôi không biết, nhưng tôi đang ở trong phòng cấp cứu của bệnh viện Thụy Điển tại Seattle, hôn mê và dùng máy duy trì sự sống. Tay chân tôi bị buộc lại. Các loại dây, ống và ống tiêm tĩnh mạch cắm vào người tôi. Người ta không hy vọng tôi sẽ sống. Đó là vào đầu tháng Mười hai năm 1983, và tôi ba mươi tám tuổi.

Câu chuyện bắt đầu ba tuần trước đó, ở bên kia của đất nước. Tôi đang ở New York, phát biểu về việc mô tả tính cách tội phạm - trước khoảng 350 người thuộc Sở Cảnh sát New York, Sở Cảnh sát Vận tải, và các Phòng Cảnh sát quận Nassau và Suffolk ở đảo Long Island. Tôi đã thực hiện bài nói này hàng trăm lần và sắp nói hết cả bài mà không cần suy nghĩ.

Đột nhiên, tôi bắt đầu nghĩ lan man. Tôi nhận thức được mình vẫn đang nói, nhưng mồ hôi bắt đầu tuôn đầm đìa và tôi nhủ thầm Làm sao mình có thể xử lý hết những vụ án này đây? Tôi chuẩn bị kết thúc vụ án Wayne Williams sát hại trẻ em trong loạt án mạng vì phân biệt chủng tộc “bằng súng cỡ 22 ly” ở hai thành phố Atlanta và Buffalo. Trước đó, tôi được gọi đến hỗ trợ vụ “Sát nhân đường mòn trên núi” ở San Francisco. Khi đó, tôi có tham vấn Sở Cảnh sát Scotland Yard về vụ điều tra “Tên đồ tể ở Yorkshire” tại Anh. Tôi đi đi về về Alaska, xử lý vụ án Robert Hansen - một thợ làm bánh ở thành phố Anchorage tìm kiếm các cô gái làng chơi, đưa họ lên máy bay đến nơi hoang vắng rồi săn họ. Tôi đã điều tra một kẻ phóng hỏa hàng loạt nhắm đến những nhà thờ Hồi giáo ở Hartford, bang Connecticut. Và tuần tiếp theo, tôi phải bay đến Seattle để cố vấn cho Đội đặc nhiệm sông Xanh về một vụ có vẻ là một trong những án giết người hàng loạt lớn nhất lịch sử nước Mỹ, kẻ sát nhân chỉ nhắm vào gái điếm và những người tạm trú ở khu vực biên giới Seattle và Tacoma.

Trong sáu năm qua, tôi đã và đang phát triển một phương pháp mới để phân tích các vụ án và tôi là người duy nhất ở Đơn vị Khoa học hành vi làm việc toàn thời gian về các vụ án. Những người khác trong đơn vị chủ yếu là trợ giáo. Tôi đang xử lý khoảng 150 vụ điều tra cùng lúc mà không có hỗ trợ, và tôi chạy xe từ văn phòng tại Học viện FBI ở Quantico, Virginia khoảng 125 ngày một năm. Tôi chịu áp lực khủng khiếp từ cảnh sát địa phương, còn bản thân họ cũng chịu áp lực phá án không kém từ cộng đồng và gia đình nạn nhân, những người mà tôi luôn thấy thương cảm vô cùng. Tôi cố gắng sắp xếp khối lượng công việc để ưu tiên cho một số vụ án, nhưng yêu cầu mới cứ ập tới mỗi ngày. Các cộng sự của tôi ở Quantico thường nói tôi giống như một gã trai bao vì không thể từ chối các khách hàng.

Trong bài diễn thuyết ở New York, tôi tiếp tục nói về các loại tội phạm - tính cách nhưng tâm trí tôi cứ nghĩ về Seattle. Tôi biết không phải mọi người trong đội đặc nhiệm đều muốn tôi có mặt ở đó, đó là chuyện thường tình. Cũng như trong từng vụ án lớn mà tôi được gọi đến để cung cấp một dịch vụ mới mà đa số cảnh sát và nhiều quan chức trong Cục vẫn cho rằng không khác gì ma thuật, tôi biết tôi phải nói làm sao để họ nghe theo. Tôi phải nói thật thuyết phục nhưng không tỏ ra quá tự tin hay ngạo mạn. Tôi phải cho họ biết tôi nghĩ họ đã làm rất cẩn thận, chuyên nghiệp, đồng thời cố gắng thuyết phục những ai còn hồ nghi rằng FBI có thể giúp đỡ họ. Và có lẽ điều làm tôi nản lòng nhất, không như những đặc vụ FBI truyền thống chuyên xử lý “Chỉ nói sự thật thôi, thưa bà”[1], công việc của tôi đòi hỏi phải xử lý ý kiến. Tôi sống với nhận thức rõ rệt rằng nếu tôi sai, tôi có thể khiến cả cuộc điều tra hàng loạt đi chệch hướng và thêm nhiều người bị giết. Tệ không kém là việc đó sẽ khiến chương trình mới về mô tả tính cách tội phạm và phân tích vụ án mà tôi đang cố bắt đầu bị đình trệ.

Còn cả việc đi lại nữa. Tôi đã có nhiều dịp đến Alaska, đi qua bốn múi giờ, kết nối với một chuyến bay đáng sợ gần mặt nước và hạ cánh trong bóng tối, ngay khi tôi vừa tới đó gặp gỡ cảnh sát địa phương xong, tôi lại lên máy bay để đáp xuống Seattle.

Cơn hoảng loạn lơ lửng đó có lẽ kéo dài chừng một phút. Tôi cứ tự nhủ Này Douglas, bình tĩnh lại nào. Và tôi đã làm được. Tôi nghĩ không ai trong căn phòng đó biết chuyện gì đã xảy ra. Nhưng tôi không thể rũ bỏ cảm giác có chuyện gì đó bi thảm sắp đến với mình.

Tôi không thể rũ bỏ linh cảm này và khi trở về Quantico, tôi đến văn phòng nhân viên nhân sự và lấy bản hợp đồng bảo hiểm nhân thọ phụ cùng bảo hiểm bảo đảm thu nhập trong trường hợp tôi bị tàn tật. Tôi không thể nói chính xác lý do tôi làm vậy, ngoại trừ cảm giác khiếp sợ tuy mơ hồ nhưng vô cùng mạnh mẽ đó. Cơ thể tôi kiệt sức; tôi tập thể dục quá nhiều và có lẽ uống rượu nhiều hơn mức cần thiết để đương đầu với áp lực căng thẳng. Tôi đang bị khó ngủ và khi ngủ được thì lại bị đánh thức bởi cuộc gọi từ ai đó cần sự giúp đỡ của tôi ngay lập tức. Khi ngủ trở lại, tôi cố ép bản thân mơ về vụ án với hy vọng nhìn thấu điều gì đó. Bây giờ nghĩ lại, có thể dễ dàng nhận ra tôi sắp gặp phải chuyện gì đấy, nhưng lúc đó, dường như tôi chẳng thể làm gì với tình trạng của mình.

Ngay trước khi ra sân bay, có điều gì đó xui khiến tôi ghé qua trường tiểu học nơi vợ tôi, Pam, đang dạy môn tập đọc cho các học sinh khuyết tật, để nói với cô ấy về hợp đồng bảo hiểm bổ sung.

“Sao anh lại nói với em việc này vào lúc này?” Cô ấy lo lắng hỏi tôi.

Nửa đầu bên phải của tôi đau kinh khủng, vợ tôi nói mắt tôi đỏ ngầu và trông lạ lắm.

“Anh chỉ muốn em biết mọi thứ trước khi anh đi”, tôi đáp. Lúc đó, chúng tôi có hai đứa con gái nhỏ. Erika tám tuổi và Lauren mới lên ba.

Trong chuyến đi tới Seattle này, tôi đi cùng hai đặc vụ mới là Blaine McIlwain và Ron Walker để giải thích cho họ về vụ án. Chúng tôi đến Seattle vào buổi tối và nhận phòng ở khách sạn Hilton tại trung tâm. Khi giở hành lý ra, tôi thấy mình chỉ có một chiếc giày màu đen. Tôi đã quên mang theo chiếc kia hoặc đã làm mất trên đường đến đây. Sáng mai tôi có buổi nói chuyện với Sở Cảnh sát quận King, và tôi quyết định mình không thể đến đó mà không có đôi giày đen. Tôi thuộc tuýp người ăn mặc chải chuốt nên trong cơn mệt mỏi và áp lực, tôi bị ám ảnh với việc phải có đôi giày đen để mang cùng bộ vest. Vì thế, tôi ào ra đường, lùng sục khắp nơi đến khi tìm được một tiệm bán giày còn mở cửa, rồi trở lại khách sạn với một đôi giày đen phù hợp, và mệt mỏi hơn gấp bội.

Hôm sau, sáng thứ Tư, tôi nói chuyện trước các cảnh sát và một nhóm người đại diện của cảng Seattle cùng hai nhà tâm lý làm việc tại thành phố này, vốn được mời đến để giúp đỡ điều tra. Mọi người rất quan tâm đến bản mô tả nhân dạng tên sát nhân tôi đưa ra, việc có thể có nhiều hơn một kẻ phạm tội và hắn hay bọn hắn là kiểu người gì. Tôi cố gắng nói với họ rằng trong một vụ án kiểu này, bản mô tả nhân dạng không quan trọng đến thế. Tôi khá chắc chắn rằng kẻ sát nhân thuộc kiểu người nào, nhưng cũng chắc chắn sẽ có nhiều người dễ dàng trùng khớp với mô tả.

Tôi nói với họ là trong chu trình án mạng đang diễn ra này, điều quan trọng hơn là bắt đầu chủ động hành động, dùng những kết quả điều tra mà cảnh sát nỗ lực thực hiện cùng truyền thông để lừa nghi phạm vào tròng. Ví dụ, tôi đề nghị cảnh sát có thể tổ chức nhiều buổi gặp mặt cộng đồng để “thảo luận” về các vụ án. Tôi có lý do để tin chắc tên sát nhân sẽ xuất hiện tại một hoặc nhiều buổi gặp mặt này. Tôi cũng cho rằng điều đó sẽ giúp giải đáp câu hỏi là chúng tôi có đang đối mặt với nhiều hơn một hung thủ hay không. Một mánh khác tôi muốn cảnh sát thử là thông cáo với báo chí rằng có nhân chứng chứng kiến một trong các vụ bắt cóc. Tôi cảm thấy cách đó sẽ khiến kẻ sát nhân xuất đầu lộ diện để thực hiện “chiến lược chủ động” của hắn và giải thích tại sao hắn lại bị nhìn thấy ở khu vực lân cận. Điều mà tôi chắc chắn nhất là dù kẻ nào đứng sau những vụ giết người này thì hắn cũng sẽ không dừng lại.

Sau đó, tôi tư vấn cho cả đội cách thương thuyết với những đối tượng tình nghi - cả những người họ điều tra ra và những kẻ điên rồ đáng thương không tránh khỏi việc lộ diện trong một vụ án nhiều người quan tâm. McIlwain, Walker và tôi dành thời gian còn lại trong ngày đi xem xét các địa điểm vứt xác và khi trở về khách sạn tối hôm đó, tôi hoàn toàn kiệt sức.

Bên những ly rượu ở quầy bar của khách sạn, nơi chúng tôi đang cố thư giãn sau một ngày dài, tôi nói với Blaine và Ron rằng tôi cảm thấy không khỏe. Tôi vẫn bị đau đầu, tôi nghĩ tôi bị cúm và nhờ họ thay tôi làm việc với cảnh sát vào hôm sau. Tôi nghĩ mình sẽ khỏe hơn nếu ngủ cả ngày hôm sau nên khi chúng tôi tạm biệt nhau, tôi treo biển báo Không làm phiền lên cửa và nhắn với hai cộng sự là tôi sẽ gặp lại họ vào sáng thứ Sáu.

Tôi chỉ nhớ lúc đó tôi cảm thấy rất mệt, tôi ngồi ở mép giường và bắt đầu cởi quần áo. Hai cộng sự của tôi trở lại Tòa án quận King vào thứ Năm để tiếp tục theo dõi những chiến lược tôi đã soạn ra hôm trước. Theo yêu cầu của tôi, họ để tôi một mình cả ngày để ngủ cho lại sức.

Nhưng khi tôi không có mặt để ăn sáng vào thứ Sáu, họ bắt đầu lo lắng. Họ gọi lên phòng tôi. Không ai trả lời. Họ đi lên và gõ cửa. Vẫn không một tiếng động.

Cảm thấy bất an nên họ trở xuống quầy lễ tân và yêu cầu quản lý đưa chìa khóa phòng. Họ trở lên, mở cửa phòng và vướng dây xích chống trộm mà tôi đã gài. Nhưng họ nghe thấy tiếng rên yếu ớt trong phòng.

Mọi người đá tung cửa ra rồi ùa vào. Họ thấy tôi đang nằm trên sàn trong tư thế như một con ếch, quần áo cái có cái không, có vẻ đang cố với tới chiếc điện thoại. Nửa người bên trái của tôi đang co giật, Blaine nói khi đó người tôi nóng như lửa đốt.

Khách sạn gọi cho bệnh viện Thụy Điển, họ lập tức điều một xe cấp cứu đến. Trong lúc đó, Blaine và Ron vẫn nói chuyện với người ở phòng cấp cứu qua điện thoại, báo cho họ các chỉ số sinh tồn của tôi. Tôi sốt đến 41°C, mạch 220 nhịp. Nửa người bên trái của tôi đã tê liệt, và tôi tiếp tục co giật khi ở trong xe cấp cứu. Báo cáo y tế mô tả lúc đó mắt tôi như mắt búp bê - mở trừng trừng, không chuyển động và phân tán.

Vừa đến bệnh viện, họ lập tức chườm đá cho tôi và tiêm nhiều liều lớn phenobarbital vào tĩnh mạch để kiểm soát cơn co giật. Bác sĩ nói với Blaine và Ron là liều lượng thuốc mà ông ấy dùng cho tôi có thể làm cả thành phố Seattle ngủ mê. Ông ấy cũng nói với hai đặc vụ rằng tuy họ sẽ cố gắng hết sức, nhưng có thể tôi sẽ chết. Phim chụp CAT[2] cho thấy não phải của tôi bị đứt mạch máu và chảy máu do cơn sốt cao.

“Nói dễ hiểu”, bác sĩ bảo, “thì não anh ấy đã bị rán giòn.

Hôm đó là ngày 2 tháng Mười hai năm 1983. Chương trình bảo hiểm mới của tôi vừa có hiệu lực vào hôm trước.

Trưởng đơn vị của tôi, Roger Depue, đến trường Pam dạy để đích thân báo tin cho cô ấy. Rồi vợ tôi và bố tôi, Jack, bay đến Seattle với tôi, gửi các con tôi cho mẹ tôi là Dolores trông nom. Hai đặc vụ từ Văn phòng Thực địa ở Seattle của FBI, Rick Mathers và John Biner, đón họ ở sân bay và đưa thẳng đến bệnh viện. Lúc đó họ mới biết tình hình nghiêm trọng dường nào. Bác sĩ cố gắng chuẩn bị tâm lý cho Pam đón nhận tin tôi qua đời và nói rằng nếu có sống, có thể tôi cũng bị mù và sống đời thực vật. Là người theo Công giáo, cô ấy gọi một mục sư đến để làm lễ cho tôi lần cuối, nhưng khi biết tôi là tín đồ của Giáo hội Trưởng lão, ông ấy từ chối ngay. Vì vậy, Blaine và Ron mời ông ấy về tìm một mục sư khác không đặt nặng vấn đề này. Họ nhờ ông ấy đến cầu nguyện cho tôi. Tôi vật vờ giữa sự sống và cái chết trong cơn hôn mê suốt cả tuần. Quy định của phòng cấp cứu chỉ cho phép người nhà vào thăm nên đột nhiên các đồng nghiệp ở Quantico, Rick Mathers và những người khác ở Văn phòng Thực địa Seattle đều trở thành họ hàng gần. “Gia đình chị lớn thật đấy”, một y tá bảo Pam với vẻ hơi châm biếm.

Về mặt nào đó, “gia đình lớn” không hoàn toàn là chuyện đùa. Ở Quantico, một số đồng nghiệp do Bill Hagmaier của Đơn vị Khoa học hành vi dẫn đầu và Tom Columbell ở Học viện Quốc gia đã tổ chức quyên góp để Pam và bố tôi có thể ở lại Seattle cùng tôi. Trong khoảng thời gian ngắn, họ đã nhận tiền đóng góp của nhân viên cảnh sát trên khắp cả nước. Đồng thời, mọi người cũng sắp xếp chuẩn bị đưa thi hài tôi về Virginia bằng máy bay để chôn trong nghĩa trang quân đội ở Quantico.

Đến cuối tuần đầu tiên, Pam, bố tôi, các đặc vụ và vị mục sư đứng thành vòng tròn quanh giường bệnh, nắm tay nhau và nắm lấy tay tôi, cầu nguyện cho tôi. Đêm đó, tôi tỉnh lại.

Tôi nhớ lúc đó mình rất ngạc nhiên khi thấy vợ và bố, không hiểu tại sao mình lại ở bệnh viện. Thời gian đầu, tôi không nói chuyện được; nửa mặt bên trái bị xệ và nửa người bên trái vẫn tê liệt. Khi tôi nói lại được, lúc đầu giọng tôi vẫn lè nhè. Sau một khoảng thời gian, tôi có thể cử động chân và dần dần cử động được nhiều bộ phận khác. Cổ họng tôi đau rát vì bị nhét ống của máy duy trì sự sống. Thuốc của tôi chuyển từ phenobarbital sang Dilantin để kiểm soát các cơn co giật. Sau tất cả xét nghiệm, chụp hình và chọc dò tủy sống, cuối cùng họ đưa ra chẩn đoán lâm sàng: viêm não vi rút hoặc trầm trọng hơn bởi căng thẳng cũng như sức khỏe yếu. Tôi rất may khi còn sống.

Nhưng quá trình phục hồi rất đau đớn và khiến tôi nản lòng. Tôi phải học lại cách bước đi. Trí nhớ tôi bị xáo trộn. Để giúp tôi nhớ tên bác sĩ điều trị chính là Siegal, Pam đã mang vào một bức tượng hình chim hải âu nhỏ làm bằng vỏ sò, đứng trên một cái đế bằng bần. Sau đó, khi bác sĩ tới kiểm tra tình trạng tâm thần và hỏi xem tôi có nhớ tên ông ấy không, tôi lè nhè “Tôi nhớ, bác sĩ Hải Âu.

Dù được hỗ trợ rất nhiều, nhưng tôi cảm thấy vô cùng chán nản với quá trình phục hồi. Tôi chưa bao giờ có thể ngồi yên thư giãn hay chậm rãi làm mọi việc. Giám đốc FBI William Webster gọi đến để khích lệ tôi. Tôi nói với ông rằng tôi nghĩ mình không thể bóp cò súng được nữa.

“Đừng lo chuyện đó, John”, vị giám đốc đáp. “Chúng tôi muốn trí tuệ của anh.” Tôi không nói với ông rằng e là trí tuệ của tôi cũng chẳng còn lại bao nhiêu.

Cuối cùng, tôi xuất viện về nhà trước Giáng sinh hai ngày. Trước khi đi, tôi dùng mấy tấm bảng để viết lời cảm ơn sâu sắc dành cho các nh©We-love-ebookân viên phòng cấp cứu và chăm sóc đặc biệt vì đã làm tất cả để cứu tôi.

Roger Depue đón chúng tôi ở sân bay Dulles và đưa về nhà ở Fredericksburg. Tại đó, một lá cờ Mỹ và biểu ngữ to với dòng chữ “Mừng John về nhà” đang đợi tôi. Từ cân nặng bình thường là tám mươi tám ký, tôi chỉ còn bảy mươi hai ký. Các con tôi, Erika và Lauren, rất lo vì vẻ ngoài của tôi và tôi ngồi xe lăn nên suốt một thời gian dài sau đó, hai đứa rất sợ mỗi khi tôi đi xa.

Giáng sinh khá buồn. Tôi không gặp được nhiều bạn bè; chỉ gặp Ron Walker, Blaine McIlwain, Bill Hagmaier và một đặc vụ khác ở Quantico, Jim Horn. Tôi không phải ngồi xe lăn nữa nhưng đi lại vẫn còn khó lắm. Tôi không thể nói chuyện lâu, dễ khóc và không thể nhớ gì. Khi vợ hoặc bố tôi đưa tôi đi dạo quanh Fredericksburg, tôi thường chú ý đến một tòa nhà nào đó và không biết liệu có phải nó mới được xây không. Tôi cảm giác như mình là bệnh nhân đột quỵ và băn khoăn liệu tôi có thể làm việc lại hay không.

Tôi cũng buồn và giận cơ quan của mình vì những gì họ bắt tôi trải qua. Tháng Hai năm ngoái, tôi đã trao đổi với một trong những Phó giám đốc Cục là Jim McKenzie. Tôi nói mình không thể tiếp tục cáng đáng và hỏi xem ông ấy có thể điều vài người đến hỗ trợ không.

McKenzie thông cảm với tôi nhưng cũng rất thực tế. “Anh biết cái tổ chức này mà”, ông nói. “Anh phải làm việc đến khi gục ngã thì mới có người nhận ra.

Không chỉ cảm thấy mình không được hỗ trợ, tôi còn nghĩ mình chẳng được trân trọng tí nào. Ngược lại là đằng khác. Năm ngoái, sau khi cật lực xử lý “Các vụ sát hại trẻ em” ở Atlanta, tôi bị Cục khiển trách vì một câu chuyện đăng trên một tờ báo ở thành phố Newport News, Virginia ngay sau khi Wayne Williams bị bắt. Tay phóng viên hỏi tôi nghĩ gì về Williams với tư cách một nghi phạm, tôi trả lời là trông hắn “ổn” và nếu hắn tiếp tục, có lẽ hắn vẫn ổn trong ít nhất vài vụ án.

Dù chính Cục đã yêu cầu tôi trả lời phỏng vấn, nhưng họ lại bảo tôi nói chuyện không phù hợp về một vụ án treo. Họ bảo tôi từng bị khiển trách vì tham gia một bài phỏng vấn của tạp chí People vài tháng trước. Đúng là thói quan liêu của Chính phủ. Tôi bị đưa ra trước Văn phòng Điều tra Trách nhiệm Nghiệp vụ ở tổng cục tại Washington và sau sáu tháng đệ trình giấy tờ các kiểu, tôi nhận một lá thư khiển trách. Sau đó, tôi sẽ nhận một lá thư khen ngợi dành cho vụ án. Nhưng lần này là sự công nhận từ Cục vì đã giúp phá giải vụ án mà khi đó báo chí gọi là “vụ án thế kỷ”.

Có rất nhiều việc mà một nhân viên thi hành luật pháp khó có thể chia sẻ với ai, kể cả vợ hoặc chồng. Khi bạn suốt ngày nhìn những thi thể hoặc cơ thể bị thương nghiêm trọng, đặc biệt là trẻ em, đó không phải là thứ bạn muốn mang về nhà. Trên bàn ăn tối, bạn không thể nói “Hôm nay ba điều tra một kẻ sát nhân cuồng dâm rất thú vị. Để ba kể cho cả nhà nghe. Vì vậy, chúng ta thường thấy cảnh sát và y tá hay hấp dẫn lẫn nhau - họ là những người có thể phần nào hiểu được công việc của nhau.

Và thường thì khi ra ngoài cùng bọn trẻ, vào công viên hoặc rừng chẳng hạn, tôi thấy một cái gì đó và nghĩ rằng Giống hệt như vụ án đó, lúc tìm thấy đứa bé tám tuổi. Tuy rất lo cho sự an toàn của các con, nhưng nhìn thấy những thứ đó, tôi cũng cảm thấy khó mà xúc động trước những vết thương tuy nhỏ nhưng nghiêm trọng mà đứa trẻ nào cũng bị. Khi tôi về nhà, Pam kể rằng một trong hai cô con gái bị ngã xe đạp và phải khâu vết thương, trong đầu tôi sẽ nhoáng lên hình ảnh khám nghiệm xác một đứa trẻ cỡ tuổi con bé và nghĩ đến mọi đường khâu của nhân viên pháp y nhằm khép vết thương của cô bé lại để chôn cất.

Pam cũng có bạn bè tham gia hoạt động chính trị ở địa phương, điều mà tôi chẳng hứng thú chút nào. Với lịch trình đi lại của tôi, kết quả là cô ấy phải gánh trách nhiệm nuôi dạy bọn trẻ, thanh toán các hóa đơn và quản lý ngôi nhà. Đây là một trong nhiều vấn đề hôn nhân của chúng tôi vào lúc đó, và tôi biết ít nhất con gái lớn Erika nhận thức được sự căng thẳng giữa chúng tôi.

Tôi không thể rũ bỏ nỗi oán giận với Cục vì đã để việc này xảy ra với tôi. Khoảng một tháng sau khi tôi về nhà, tôi ra sân sau đốt lá. Trong một phút bốc đồng, tôi trở vào, thu gom hết các bản mô tả nhân dạng mình đã tích trữ trong nhà, các bài báo mình đã viết, mang ra ngoài rồi ném hết vào đống lửa. Cảm giác như một sự giải phóng cảm xúc vậy.

Vài tuần sau đó, khi có thể lái xe lại, tôi đến Nghĩa trang Quốc gia Quantico để xem nơi tôi có thể đã yên nghỉ. Các ngôi mộ được sắp xếp theo ngày mất và nếu tôi chết vào mùng 1 hoặc 2 tháng Mười hai, tôi sẽ nằm xuống một vị trí rất tệ. Tôi để ý vị trí của tôi ở gần một cô gái trẻ bị đâm chết trên lối xe chạy vào nhà, cách không xa nơi tôi sống. Tôi có tham gia điều tra vụ án của cô gái và vụ đó vẫn chưa được giải quyết. Khi trầm ngâm đứng đó, tôi nhớ rằng mình nhiều lần khuyên cảnh sát phải theo dõi các nghĩa trang khi nghĩ kẻ giết người có thể đến đó, để rồi cảm thấy thật trớ trêu nếu họ đang theo dõi nơi này và cho rằng tôi là một nghi phạm.

Bốn tháng sau khi ngã bệnh ở Seattle, tôi vẫn đang tạm nghỉ việc. Trong chân và phổi của tôi hình thành nhiều cục máu đông do biến chứng của bệnh và nằm một chỗ quá lâu, tôi vẫn cảm thấy mình đang vật vã để sống qua từng ngày. Tôi vẫn không biết liệu mình có đủ sức đi làm lại không và nếu có thì liệu tôi đủ tự tin không. Trong lúc đó, Roy Hazelwood ở bộ phận trợ giáo của Đơn vị Khoa học hành vi, đang làm gấp đôi năng suất và kiêm luôn nhiệm vụ xử lý các vụ án mà tôi đang điều tra.

Tôi trở lại Quantico lần đầu vào tháng Tư năm 1984 để nói chuyện với một nhóm gồm khoảng năm mươi chuyên viên mô tả nhân dạng tại chức đến từ các văn phòng thực địa của FBI. Tôi bước vào phòng học, chân mang dép lê vì bàn chân vẫn sưng do máu đông, và nhận được một tràng pháo tay của những đặc vụ đến từ khắp cả nước. Phản ứng ngẫu hứng và chân thành của những người mà hơn ai hết hiểu được công việc của tôi và điều tôi đang cố gắng làm trong Cục. Lần đầu tiên trong suốt nhiều tháng trời, tôi cảm thấy mình được yêu quý và trân trọng. Tôi cũng cảm thấy như mình vừa trở về nhà.

Một tháng sau đó, tôi quay lại làm việc toàn thời gian.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn: Just the facts, ma’am.

[2] Viết tắt của Computerized Axial Tomography, nghĩa là chụp cắt lớp trục.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John E. Douglas, Mark Olshaker

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.