Ngày 1 tháng Sáu năm 1989, một ngư dân ở trên thuyền trông thấy ba “vật nổi” ở vịnh Tampa thuộc Florida. Anh ta liên lạc với đội Tuần tra bờ biển và cảnh sát thành phố St. Petersburg để họ đến vớt các thi thể đã phân hủy nghiêm trọng khỏi nước. Tất cả đều là phụ nữ, bị trói bằng dây nhựa màu vàng và thừng trắng thông thường. Cả ba đều bị cột vào cổ những viên gạch 22kg. Chúng là gạch hai lỗ thay vì gạch ba lỗ thông thường. Băng keo bạc bịt kín miệng và, từ dấu vết sót lại, có vẻ như còn bịt cả mắt khi họ bị thả xuống nước, cả ba đều mặc áo thun trắng cùng mảnh trên của bộ áo tắm. Mảnh dưới không còn, cho thấy vụ án này liên quan đến tình dục, tuy rằng tình trạng của ba thi thể trong nước khiến không thể xác định về mặt pháp y là có sự tấn công tình dục hay không.
Từ một chiếc xe hơi tìm thấy gần bờ biển, ba thi thể được nhận diện là Joan Rogers ba mươi tám tuổi và hai con gái, Michelle mười bảy tuổi và Christie mười lăm tuổi. Họ sống trong một nông trại ở Ohio và đây là kỳ nghỉ thực sự đầu tiên của họ. Họ đã đến công viên Disney World và hiện đang trọ ở nhà trọ Day’s Inn tại St. Petersburg trước khi trở về nhà. Ông Rogers cảm thấy không thể rời khỏi nông trại nên đã không đi cùng vợ và các con.
Khám nghiệm thức ăn trong dạ dày ba nạn nhân, kết hợp với các cuộc thẩm vấn nhân viên nhà hàng ở Day’s Inn, thời gian tử vong được xác định là khoảng bốn mươi tám giờ trước khi phát hiện. Bằng chứng pháp y hữu hình duy nhất là tờ ghi chú nguệch ngoạc tìm thấy trong xe, chỉ đường từ Day’s Inn đến nơi phát hiện chiếc xe. Ở mặt bên kia là thông tin chỉ đường và một bản đồ vẽ tay để đi từ Dale Mabry, một con phố buôn bán sầm uất ở St. Petersburg, đến khách sạn.
Vụ án lập tức trở thành sự kiện tin tức lớn, Phòng Cảnh sát hai thành phố St. Petersburg và Tampa, Văn phòng Quận trưởng quận Hillsborough đều vào cuộc. Công chúng vô cùng sợ hãi. Nếu ba du khách vô tội từ Ohio này có thể bị giết như vậy, mọi người lý luận, thì ai cũng có thể trở thành nạn nhân.
Cảnh sát cố gắng điều tra về tờ ghi chú, so sánh chữ viết trên đó với chữ của các nhân viên trong khách sạn, trong các cửa hàng và văn phòng quanh khu Dale Mabry, xuất phát điểm theo thông tin chỉ đường. Nhưng họ không tìm được gì. Tính chất tàn bạo, liên quan đến tình dục của các vụ sát nhân này thật đáng báo động và mang tính biểu thị. Văn phòng Quận trưởng quận Hillsborough liên lạc với Văn phòng thực địa FBI ở Tampa, nói rằng: “Có thể chúng ta đang gặp một vụ án sát nhân hàng loạt”. Nhưng sự hợp tác giữa cảnh sát của ba địa hạt này và FBI không có tiến triển gì đáng kể.
Jana Monroe là một đặc vụ ở Văn phòng thực địa Tampa. Trước khi đến Cục, cô ấy từng là sĩ quan cảnh sát, sau đó là thanh tra điều tra các vụ giết người ở California. Tháng Chín năm 1990, sau khi Jim Wright và tôi phỏng vấn cô ấy cho một vị trí trong đơn vị, chúng tôi yêu cầu cô ấy được điều động đến Quantico. Trước đó Jana là điều phối viên mô tả nhân dạng ở văn phòng thực địa và sau khi gia nhập đơn vị, vụ án nhà Rogers trở thành một trong những vụ đầu tiên cô ấy điều tra cho đơn vị.
Các đại diện của Phòng Cảnh sát St. Petersburg bay đến Quantico, trình bày vụ án cho Jana, Larry Ankrom, Steve Etter, Bill Hagmaier và Steve Mardigian. Sau đó họ đưa ra một bản mô tả nhân dạng một người đàn ông da trắng ở độ tuổi hơn ba mươi đến hơn bốn mươi, làm công việc bảo dưỡng nhà cửa, học vấn thấp; có lịch sử tấn công tình dục và đánh người, có nhiều yếu tố gây căng thẳng bất ngờ xuất hiện ngay trước khi giết người. Ngay khi cuộc điều tra hạ nhiệt, hắn sẽ rời khỏi khu vực nhưng như John Prante trong vụ Karla Brown, sau đó có thể hắn sẽ trở về.
Các đặc vụ rất tự tin về bản mô tả nhân dạng nhưng nó không giúp họ bắt được kẻ nào. Không có tiến triển gì nhiều. Họ cần một biện pháp chủ động hơn nên Jana tham gia Những bí ẩn chưa phá giải, một chương trình truyền hình phát sóng toàn quốc thường mang lại kết quả khả quan trong việc xác định vị trí và nhận diện các Đối tượng vô danh. Hàng ngàn manh mối xuất hiện sau khi Jana lên truyền hình và miêu tả về vụ án nhưng không có manh mối nào đưa đến kết quả.
Tôi luôn nói với các cộng sự của mình rằng “thua keo này ta bày keo khác”. Và Jana đã làm như thế. Tờ giấy hướng dẫn chỉ đường có vẻ là thứ liên kết các nạn nhân với hung thủ nhưng cho đến lúc đó, nó chưa có ích gì. Vì vụ án được rất nhiều người trong cộng đồng Tampa - St. Petersburg biết đến nên cô ấy nghĩ ra cách đưa tờ giấy ghi chú lên các bảng thông báo để xem có ai nhận ra nét chữ trên đó không. Giới thi hành luật cho rằng đa số sẽ không nhận diện được chữ viết của những ai không phải người thân và bạn thân, nhưng Jana đoán có thể sẽ có ai đó nhận ra, đặc biệt nếu đối tượng từng bạo hành và vợ hoặc người yêu đang tìm lý do để tố cáo hắn.
Một số doanh nhân địa phương đóng góp bảng thông báo, và tờ ghi chú được đưa lên cho mọi người cùng thấy. Trong vòng vài ngày, có ba người chưa từng gặp nhau gọi cho cảnh sát và xác định chữ viết trên giấy là của Oba Chandler, một gã đàn ông da trắng hơn bốn mươi tuổi. Là thợ lắp đặt tấm nhôm ốp ngoài không có giấy phép hành nghề, hắn đã bị cả ba người này kiện khi những tấm nhôm mới ốp bị bung ra sau trận mưa lớn đầu tiên. Họ chắc chắn về danh tính gã này vì mỗi người đều có một bản viết tay thư phúc đáp của hắn cho những lời cáo buộc của họ.
Ngoài độ tuổi và nghề nghiệp, hắn còn khớp với bản mô tả ở nhiều khía cạnh chính khác. Hắn có tiền sử phạm tội liên quan đến tài sản, đánh người và tấn công tình dục. Hắn đã chuyển ra khỏi khu vực lân cận sau khi cuộc điều tra hạ nhiệt nhưng hắn cảm thấy chưa cần rời khỏi vùng đó. Yếu tố gây căng thẳng tức thời là người vợ hiện tại vừa hạ sinh một đứa bé mà hắn không muốn có. Một việc cũng thường xảy ra khi bạn có thể làm gì đó để phanh phui một vụ án là một nạn nhân khác xuất hiện cung cấp thông tin sau khi được nghe các chi tiết của vụ án đó. Một phụ nữ và người bạn của mình đã gặp một người đàn ông khớp với mô tả về Chandler, gã này muốn họ cùng hắn lên thuyền của hắn ở vịnh Tampa. Người bạn cảm thấy không ổn và từ chối nên người phụ nữ này đi một mình.
Ra đến giữa vịnh, hắn định cưỡng hiếp cô ấy. Khi cô ấy cố kháng cự, hắn cảnh cáo: “Không được kêu, nếu không tao sẽ dán băng keo lên miệng mày, cột mày vào một viên gạch và nhấn mày xuống nước!”
Oba Chandler bị bắt, xét xử và phán tội giết người cấp độ I vì giết Joan, Michelle và Christie Rogers. Hắn bị xử tử hình.
Các nạn nhân của hắn đều bình thường, cả tin, được chọn lựa gần như ngẫu nhiên. Điều đó minh chứng cho nỗi sợ rằng bất cứ ai có thể trở thành nạn nhân. Trong những tình huống thế này, như vụ án nhà Rogers, các kỹ thuật điều tra chủ động trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Cuối năm 1982, nhiều người chết một cách đột ngột bí ẩn ở khu vực Chicago. Không lâu sau, cảnh sát Chicago điều tra được mối liên hệ giữa những cái chết và tìm ra nguyên nhân: các nạn nhân đều uống các viên con nhộng Tylenol trộn xyanua. Khi viên thuốc tan trong bao tử, cái chết ập đến nhanh chóng.
Ed Hagarty, SAC ở Chicago, đề nghị tôi tham gia điều tra. Tôi chưa từng tham gia một vụ phá hoại sản phẩm nhưng khi nghĩ đến vụ án đó, tôi đoán phần lớn những gì tôi học được từ việc thẩm vấn trong trại giam và kinh nghiệm tiếp xúc với nhiều loại tội phạm khác cũng có thể áp dụng vào vụ này. Theo hệ thống mật mã của FBI, vụ án này được gọi là “Tymurs”
Vấn đề chính của các điều tra viên là tính ngẫu nhiên của các vụ đầu độc. Vì hung thủ không nhắm vào một nạn nhân cụ thể, cũng không có mặt ở hiện trường án mạng nên kiểu phân tích chúng tôi thường làm không đưa ra kết quả trực tiếp nào.
Các vụ sát nhân dường như không có động cơ - nghĩa là chúng không xảy ra vì bất kỳ động cơ nào mang tính truyền thống, có thể nhận định được như tình yêu, sự ghen ghét, lòng tham hay mục đích báo thù. Kẻ đầu độc có thể đang nhắm vào nhà sản xuất loại thuốc này, công ty Johnson & Johnson, bất cứ cửa hàng nào bán sản phẩm này, một hoặc nhiều nạn nhân, hoặc xã hội nói chung.
Tôi nhận định các vụ đầu độc này giống kiểu ngẫu nhiên đánh bom hoặc ném đá từ trên cầu vượt xuống những chiếc xe bên dưới. Trong tất cả các vụ án loại này, hung thủ không bao giờ thấy mặt nạn nhân của hắn. Tôi mường tượng tên hung thủ này - rất giống David Berkowitz bắn vào những chiếc xe không mở đèn - quan tâm đến việc trút giận hơn là nhắm vào một kiểu nạn nhân cụ thể. Nếu có lúc nào đó, loại đối tượng này có nhìn thấy mặt của các nạn nhân, hắn có thể suy nghĩ lại hoặc biểu hiện sự ăn năn.
So sánh với những tội ác ngẫu nhiên, thể hiện sự hèn nhát khác, tôi cảm thấy mình hiểu được Đối tượng vô danh này trông như thế nào. Dù chúng tôi đang đối phó với một loại tội ác khác, nhưng bản mô tả nhân dạng lại quen thuộc ở nhiều điểm. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các đối tượng giết người mà không phân biệt nạn nhân là ai, không tìm kiếm sự nổi tiếng, thường ra tay với động cơ chính là sự giận dữ. Tôi tin gã này có những giai đoạn bị trầm cảm nặng và là kiểu người tự ti, vô vọng, gặp thất bại suốt cả đời trong việc học, đi làm và các mối quan hệ.
Theo thống kê, đối tượng có lẽ khớp với kiểu tội phạm ám sát - một gã đàn ông da trắng ở độ tuổi gần hoặc đầu ba mươi, cô độc sống về đêm. Hắn đã đến nhà nạn nhân hoặc nơi chôn cất họ, có lẽ đã để lại một thứ gì đó quan trọng tại đó. Tôi đoán hắn đảm nhận một vị trí gần với sức mạnh và quyền lực nhất mà hắn có thể đạt được như tài xế xe cấp cứu, nhân viên an ninh, nhân viên quan sát khách hàng để ngăn chặn các vụ ăn cắp, hoặc cảnh sát hỗ trợ. Có thể hắn có chút kinh nghiệm trong quân đội, Lục quân hoặc Hải quân.
Tôi nghĩ hắn từng điều trị bệnh tâm thần trước đây và đang uống thuốc theo toa bác sĩ để kiểm soát vấn đề của hắn. Xe hắn đã dùng được ít nhất năm năm, không được bảo dưỡng tốt nhưng lại thể hiện sức mạnh và quyền lực, như mẫu xe Ford mà các phòng cảnh sát ưa chuộng. Gần thời điểm xảy ra vụ đầu độc đầu tiên - khoảng 28 hoặc 29 tháng Chín - hắn đã gặp phải một chuyện gây căng thẳng tức thời, có thể vì thế mà hắn đổ lỗi cho xã hội nói chung, cơn giận của hắn gia tăng. Khi vụ án đã được công khai, hắn sẽ thảo luận về nó với bất cứ ai chịu nghe, trong các quán rượu, nhà thuốc và với cảnh sát. Sức mạnh thể hiện trong những tội ác này là chất kích thích chính cho cái tôi của hắn, điều đó cho thấy hắn có thể có một cuốn nhật ký hoặc một cuốn sổ dán đầy những bài báo.
Tôi bảo với cảnh sát có khả năng hắn từng viết thư cho những người ở các vị trí cầm quyền - tổng thống, giám đốc FBI, thống đốc bang, thị trưởng thành phố - để khiếu nại về những điều sai trái mọi người nghĩ về hắn. Thời gian trôi qua mà hắn không nhận được cái hắn cho là sự phản hồi thích đáng từ bất cứ ai, hắn càng giận hơn vì bị ngó lơ. Những vụ giết người ngẫu nhiên này có thể là cách hắn trả thù những người đã không xem mọi điều hắn nói là nghiêm túc.
Cuối cùng, tôi cảnh báo họ đừng quá chú trọng vào việc hung thủ chọn Tylenol làm phương tiện đầu độc. Đây là một hành động cẩu thả, tùy tiện. Tylenol là một loại thuốc phổ biến và các viên thuốc rất dễ mở ra. Khả năng hắn thích bao bì của loại thuốc này cũng tương đồng với khả năng hắn có mối thù đặc biệt nào đó với công ty Johnson & Johnson.
Giống những vụ đánh bom, phóng hỏa hàng loạt và các vụ tương tự, trong một thành phố lớn như Chicago, có nhiều người khớp với bản mô tả nhân dạng tổng quát. Vì vậy, như trong vụ gia đình Rogers, quan trọng hơn là tập trung vào các kỹ thuật điều tra chủ động. Cảnh sát phải liên tục tạo áp lực cho đối tượng và không cho hắn có thời gian để thở. Một trong những cách tiến hành biện pháp này là chỉ đưa ra những tuyên bố tích cực. Đồng thời, tôi cảnh báo họ đừng khiêu khích bằng việc gọi hắn là kẻ điên, đáng tiếc là việc đó đã xảy ra.
Nhưng quan trọng hơn là khuyến khích báo chí đăng những bài viết ca ngợi nạn nhân vì bản chất của vụ án này là khiến họ mất đi nhân tính theo tư duy của Đối tượng vô danh. Cụ thể, tôi nghĩ có lẽ hắn bắt đầu cảm thấy tội lỗi nếu buộc phải đối diện với gương mặt của một cô bé mười hai tuổi đã chết, chúng tôi có thể tìm ra hắn thông qua việc đó.
Tương tự điều chúng tôi đã làm ở Atlanta và trong vụ án Shari Smith, tôi đề nghị tổ chức một buổi cầu kinh ban đêm ở nơi chôn cất một số nạn nhân, tôi nghĩ Đối tượng có thể tham gia buổi lễ. Nhận ra có lẽ đối tượng không cảm thấy hài lòng với bản thân, tôi cũng khuyên nên để báo chí đăng tải nhiều bài viết về hoạt động tưởng niệm liên quan đến các vụ án mạng.
Tôi nghĩ có thể kích thích hắn tìm đến những cửa hàng cụ thể theo cách chúng tôi “dẫn dắt” bọn cướp ngân hàng ở Milwaukee và Detroit đến cướp những chi nhánh ngân hàng cụ thể mà chúng tôi đã chờ sẵn. Ví dụ, cảnh sát có thể tiết lộ thông tin về những biện pháp được thực hiện để bảo vệ khách hàng tại một cửa hàng cụ thể. Tôi nghĩ gã hung thủ có thể cảm thấy mình buộc phải đến cửa hàng đó để tận mắt thấy những tác động từ hành vi của hắn. Một cách khác là đăng một bài báo về một tay cửa hàng trưởng kiêu ngạo công khai tuyên bố rằng anh ta rất tin tưởng vào hệ thống an ninh của cửa hàng, kẻ đầu độc Tylenol không thể phá hoại bất kỳ sản phẩm nào trên các kệ hàng của anh ta. Một phiên bản khác của mánh khóe này là cho cảnh sát và đặc vụ FBI hành động theo một “thông tin nội bộ” tại một cửa hàng cụ thể và công khai cho mọi người. Việc này thực chất là một cảnh báo giả. Nhưng viên chỉ huy sau đó sẽ tuyên bố với báo đài rằng khả năng điều tra của phòng cảnh sát rất hiệu quả nên Đối tượng vô danh đã quyết định không tung ra những viên Tylenol bị đầu độc. Điều này sẽ mang đến một thách thức gián tiếp khiến hắn cảm thấy khó bỏ qua.
Chúng tôi có thể sắp xếp cho một nhà tâm thần học dễ mủi lòng thực hiện một cuộc phỏng vấn, thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ dành cho đối tượng, xác định hắn là một nạn nhân của xã hội, từ đó cho hắn một kịch bản cứu vãn chút danh dự. Chúng tôi mong đợi đối tượng sẽ gọi điện hoặc lái xe ngang qua văn phòng của vị bác sĩ, nơi chúng tôi sẵn sàng nhận diện và theo dấu hắn.
Tôi cũng cho rằng nếu nhà chức trách tổ chức một đội đặc nhiệm gồm những công dân tình nguyện giúp cảnh sát cung cấp manh mối qua điện thoại, đối tượng có khả năng sẽ xung phong hỗ trợ. Nếu có thể tổ chức một đội như thế ở Atlanta, tôi nghĩ chúng tôi hẳn đã trông thấy Wayne Williams. Ted Bundy, trong thời gian phạm tội, đã tình nguyện tham gia một tổ chức hỗ trợ nạn nhân bị cưỡng hiếp ở Seattle.
Lực lượng thi hành luật luôn đắn đo về việc hợp tác quá mật thiết với - hoặc sử dụng - truyền thống. Việc này đã xảy ra vài lần trong sự nghiệp của tôi. Hồi đầu những năm 1980, khi chương trình mô tả nhân dạng còn khá mới, tôi được gọi lên tổng bộ để gặp cố vấn pháp luật của Bộ phận điều tra tội phạm và của Cục để giải thích một số kỹ thuật điều tra chủ động của mình.
“John, anh không nói dối báo chí, đúng không?”
Tôi đưa ra một ví dụ gần đây về cách thức tiến hành biện pháp tiếp cận chủ động tới báo chí thành công. Ở San Diego, thi thể một cô gái được phát hiện ở vùng đồi, bị siết cổ và cưỡng hiếp, quanh cổ đeo một cái vòng và dây xích chó. Xe cô ấy được phát hiện trên một con đường. Có vẻ cái xe hết xăng và kẻ sát nhân đã cho cô ấy đi nhờ - theo kiểu người Samarita tốt lành hoặc cưỡng ép - và chở cô ấy đến nơi cô ấy được tìm thấy.
Tôi đề nghị cảnh sát hãy tiết lộ thông tin cho báo chí theo một thứ tự cụ thể. Đầu tiên, họ nên mô tả lại vụ án và những phân tích vụ án của chúng tôi. Thứ hai, họ nên nhấn mạnh việc FBI kết hợp với quan chức tiểu bang và địa phương cũng như thông điệp “Mất hai mươi năm, chúng tôi cũng sẽ bắt tên hung thủ này!” Thứ ba, trên một con đường đông đúc như vậy, khi một phụ nữ trẻ bị hư xe, phải có ai đó nhìn thấy điều gì đó. Tôi muốn nội dung câu chuyện thứ ba là có nhiều báo cáo rằng ai đó hoặc điều gì đó khả nghi xảy ra vào khoảng thời gian cô ấy bị bắt, cảnh sát đang yêu cầu người dân cung cấp thông tin.
Lý do của tôi ở đây là nếu kẻ sát nhân nghĩ có thể ai đó đã trông thấy hắn ở một thời điểm nào đó (có khả năng là thật), hắn sẽ nghĩ hắn phải làm rõ với cảnh sát, giải thích và hợp pháp hóa sự có mặt của hắn ở hiện trường. Hắn có thể ra mặt và nói đại loại như “Tôi lái xe ngang qua và thấy cô ấy đang gặp khó khăn. Tôi dừng lại, hỏi xem có giúp được gì không nhưng cô ấy nói không sao nên tôi lái xe đi.”
Chuyện là thế này, cảnh sát thường xuyên nhờ mọi người hỗ trợ thông qua truyền thông. Nhưng họ hiếm khi xem đó là một kỹ thuật điều tra chủ động. Tôi thắc mắc đã bao lần các tội phạm xuất hiện rồi trượt qua kẽ tay họ vì họ không biết phải tìm cái gì. Nhân tiện, điều này không có nghĩa là những nhân chứng thực sự phải cảm thấy sợ xuất đầu lộ diện để kể lại điều mình biết. Quý vị sẽ không trở thành nghi phạm nhưng có thể hỗ trợ công tác bắt giữ một nghi phạm.
Trong vụ án ở San Diego, kỹ thuật này có hiệu quả đúng như tôi đã phác thảo. Đối tượng tự đưa mình vào cuộc điều tra và đã bị bắt.
“Được rồi Douglas, chúng tôi hiểu ý anh”, nhân viên tổng bộ FBI miễn cưỡng trả lời. “Nhưng nhớ báo cho chúng tôi biết khi nào anh nghĩ anh sẽ sử dụng cách này. Bất cứ điều gì mới mẻ hay mang tính cách tân đều có vẻ đáng sợ với một hệ thống quan liêu.
Tôi hy vọng bằng cách nào đó, báo chí có thể hỗ trợ dẫn dụ kẻ đầu độc Tylenol xuất hiện. Bob Greene, nhà báo nổi tiếng dễ mủi lòng của tờ Diễn đàn Chicago, gặp cảnh sát và FBI. Sau đó ông ấy viết một bài rất cảm động về cô bé Mary Kellerman mười hai tuổi, nạn nhân nhỏ nhất của kẻ đầu độc và là đứa con duy nhất của một đôi vợ chồng không có khả năng sinh thêm con. Theo sau bài báo, cảnh sát và các đặc vụ FBI sẵn sàng cho việc giám sát nhà và mộ của cô bé. Tôi nghĩ đa số người có liên quan cho rằng chuyện này rất vớ vẩn, những kẻ sát nhân cảm thấy tội lỗi vàhoặc thích thú hồi tưởng về những gì chúng gây ra không thực sự trở lại nơi chôn cất nạn nhân. Nhưng tôi đề nghị họ thực hiện giám sát trong một tuần.
Tôi vẫn còn ở Chicago khi cảnh sát theo dõi khu nghĩa trang và tôi biết mình sẽ phải đối mặt với cơn giận của họ nếu họ không thu hoạch được gì. Việc theo dõi rất nhàm chán, mệt mỏi, dù trong những điều kiện tốt nhất. Công việc này còn tệ hơn khi diễn ra ở nghĩa trang vào ban đêm.
Đêm đầu tiên, không có gì xảy ra. Xung quanh thanh bình và yên ắng. Nhưng vào đêm thứ hai, nhóm giám sát nghĩ họ nghe thấy gì đó. Họ tiếp cận ngôi mộ, cẩn thận để không lộ diện. Họ nghe giọng nói của một người đàn ông ở độ tuổi giống dự đoán trong bản mô tả nhân dạng.
Giọng người này nghẹn ngào, dường như sắp khóc nấc lên. “Tôi xin lỗi”, hắn cầu khẩn. “Tôi không cố ý. Đó chỉ là tai nạn!” Hắn xin cô gái đã khuất tha thứ cho hắn.
Chết tiệt, họ nghĩ, Douglas hẳn đã đúng. Họ vội vàng khen ngợi anh ta. Nhưng khoan đã! Cái tên hắn nói ra không phải là Mary. Gã này sợ vãi ra quần. Khi cảnh sát nhìn rõ hơn, họ thấy hắn đang đứng trước ngôi mộ kế bên mộ của Mary! Hóa ra được chôn cạnh Mary Kellerman là nạn nhân của một vụ va chạm xe rồi bỏ trốn chưa phá được, và người vô tình giết chết cô ấy đã trở lại để thú tội.
Bốn hay năm năm sau đó, phòng cảnh sát dùng cách tương tự cho một vụ sát nhân chưa phá được. Dẫn đầu là điều phối viên đào tạo của FBI Bob Sagowski, họ bắt đầu tiết lộ thông tin cho các tờ báo vào thời điểm tưởng niệm vụ sát nhân. Khi cảnh sát tóm được hung thủ tại mộ nạn nhân, hắn chỉ nói, “Tôi thắc mắc sao các vị mất nhiều thời gian đến thế.”
Chúng tôi không bắt kẻ đầu độc Tylenol theo cách này. Chúng tôi không hề bắt được kẻ sát nhân nào. Một nghi phạm bị bắt và buộc tội dựa trên những truy tố về tham nhũng có liên hệ đến các vụ giết người, nhưng không đủ bằng chứng để xét xử hắn vì tội danh giết người. Hắn khớp với bản mô tả nhưng hắn đã rời khỏi Chicago khi cảnh sát tiến hành theo dõi ở nghĩa trang. Tuy nhiên, sau khi hắn bị giam giữ thì không còn xảy ra vụ đầu độc nào nữa.
Vì không xét xử nên chúng tôi không có cơ sở pháp lý để nói đây chính là hung thủ. Nhưng rõ ràng có một số lượng nhất định hung thủ gây án mạng hàng loạt chưa được phá giải đã bị bắt mà cảnh sát và thanh tra điều tra các vụ án này lại không biết. Khi một tên sát nhân đang gây án đột nhiên ngừng lại, có ba lý do chính ngoài việc đơn giản là hắn quyết định dừng tay. Nguyên nhân thứ nhất là hắn đã tự sát, điều này có thể đúng với một số kiểu người. Nguyên nhân thứ hai là hắn đã rời khỏi khu vực đó và đang tiếp tục ở một nơi khác. Với cơ sở máy tính VICAP (Chương trình Bắt giữ tội phạm bạo lực) của FBI, chúng tôi đang làm việc để ngăn chặn điều ở trên xảy ra bằng cách trao cho hàng ngàn cơ quan cảnh sát khắp cả nước khả năng chia sẻ thông tin với nhau một cách dễ dàng. Nguyên nhân thứ ba là kẻ sát nhân đã bị bắt vì một tội nào khác - thường là trộm cắp, cướp giật hoặc tấn công - và đang bị giam với cáo buộc nhẹ hơn nhưng cơ quan chức năng không liên kết hắn với những tội ác ghê tởm nhất của chúng.
Từ sau vụ Tylenol, đã có nhiều vụ phá hoại sản phẩm xảy ra, nhưng phần lớn là vì các động cơ mang tính truyền thống. Ví dụ những vụ án trong phạm vi gia đình, kẻ sát hại vợchồng có thể sắp đặt để trông như một vụ phá hoại sản phẩm. Khi đánh giá kiểu vụ án này, cảnh sát nên cân nhắc đến số lượng vụ việc được báo cáo, xem chúng tập trung ở một khu vực hay rải rác nhiều nơi, xem sản phẩm có được sử dụng gần nơi chúng có khả năng bị phá hoại, cũng như mối quan hệ giữa nạn nhân và người báo án. Tương tự các vụ giết người bị tình nghi là vì lý do cá nhân khác, cảnh sát nên điều tra xem hai bên có từng xảy ra mâu thuẫn không và thu thập mọi thông tin có thể về hành vi trước và sau khi gây án.
Một vụ án mà bề ngoài dường như không nhắm vào nạn nhân nào cụ thể thực ra có thể có một mục tiêu rõ ràng. Và một vụ án dường như là do giận dữ và thất vọng chung chung lại có thể vì một động cơ thường thấy như muốn thoát khỏi một cuộc hôn nhân hay lấy tiền bảo hiểmthừa kế. Sau vụ Tylenol công khai, một bà vợ sát hại chồng mình bằng thuốc Tylenol có nhồi thuốc độc, đoán rằng vụ việc sẽ bị quy cho tên giết người đầu tiên. Sự sắp đặt quá rõ ràng và các chi tiết đủ tính khác biệt nên không ai bị lừa. Trong những vụ này, bằng chứng pháp y cũng thường liên kết với hung thủ. Ví dụ, phòng thí nghiệm có thể phân tích nguồn gốc của xyanua hoặc các chất độc khác.
Cách phân tích tương tự này giúp các điều tra viên dễ dàng nhận ra khi có người thay đổi một sản phẩm với ý định kiện tụng để lấy tiền bồi thường thiệt hại, chẳng hạn như bỏ một con chuột chết vào một lọ xốt spaghetti, một con chuột cống vào lon số đa hoặc một cây kim vào túi thức ăn nhanh. Các công ty thường muốn dàn xếp nhanh để tránh mang tiếng xấu và phải ra tòa. Nhưng khoa học pháp lý bây giờ đã phát triển đến mức nếu công ty nghi ngờ rằng sản phẩm bị phá hoại, từ chối giảng hòa và đưa vụ việc lên FBI, khả năng cao là kẻ phá hoại sẽ bị phát hiện và truy tố. Tương tự, một điều tra viên giỏi sẽ nhận ra những hành động theo chủ nghĩa anh hùng sắp đặt - kịch bản do một người sắp đặt để người quen hoặc công chúng nhận ra.
Với nỗi khủng khiếp mà nó mang lại, vụ án Tylenol là một vụ việc dị thường. Nó dường như không phải một vụ tống tiền. Kẻ tống tiền muốn thành công, trước tiên phải chứng tỏ hắn có khả năng thực hiện lời đe dọa của mình. Vì thế, kẻ tống tiền đe dọa phá hoại sản phẩm thường sẽ thay đổi một chai hoặc bao bì của sản phẩm, đánh dấu nó theo cách nào đó và gọi điện thoại hoặc để lại ghi chú để cảnh báo. Nhưng kẻ đầu độc bằng Tylenol không bắt đầu bằng những lời đe dọa. Hắn giết người luôn.
Theo tiêu chuẩn của bọn tống tiền, hắn không được tinh tế. Dựa trên tính chất đơn giản của việc phá hoại (sau những vụ án này, Johnson & Johnson đã chi rất nhiều tiền để phát triển loại bao bì chống phá hoại hiệu quả), tôi biết gã này không phải là người có suy nghĩ tổ chức cho lắm. Nhưng đối với những kẻ đưa ra lời đe dọa, có thể sử dụng những biện pháp đã được vận dụng phân tích một lời đe dọa về chính trị để xác định mức độ nguy hiểm và khả năng thực hiện dự định mà hắn đã tuyên bố.
Điều này cũng đúng với những kẻ đánh bom. Nếu có ai đe dọa đánh bom, nó luôn được nhận định nghiêm túc. Nhưng, để xã hội không bị đình trệ, cơ quan chức năng phải nhanh chóng xác định lời đe dọa có thật không. Những kẻ đánh bom và tống tiền thường dùng đại từ chúng tôi trong thông điệp để ám chỉ một nhóm lớn đang quan sát trong bóng tối. Nhưng thật ra, đa số chúng hành động đơn độc và đa nghi.
Những tên đánh bom thường rơi vào ba loại: mê quyền lực - bị thu hút bởi sự hủy diệt; mê nhiệm vụ - bị thu hút bởi cảm giác ly kỳ khi thiết kế, chế tạo và đặt bom; mê kỹ thuật - tìm kiếm cảm giác thỏa mãn từ tài hoa và sự khéo léo khi thiết kế và chế tạo bom. Động cơ gây án thì có tống tiền, tranh chấp lao động, báo thù, thậm chí tự sát.
Nghiên cứu của chúng về những kẻ đánh bom cho thấy một bản mô tả nhân dạng chung lặp đi lặp lại. Chúng thường là đàn ông da trắng, độ tuổi được xác định dựa vào nạn nhân hoặc mục tiêu. Chúng có trí thông minh ít nhất ở mức trung bình, thường là trên mức này, nhưng lại học hoặc làm việc không giỏi. Chúng là kiểu người ngăn nắp, trật tự, lên kế hoạch tỉ mỉ, cẩn thận, không hay gây hấn, không có thần kinh vận động tốt, hèn nhát, tự ti. Bản mô tả nhân dạng này xuất phát từ việc đánh giá mục tiêu hoặc nạn nhân và loại thiết bị (ví dụ như thiết bị gây cháy nổ), như cách chúng tôi mô tả nhân dạng kẻ sát nhân hàng loạt từ một hiện trường vụ án. Chúng tôi sẽ cân nhắc các yếu tố nguy cơ có liên hệ với cả nạn nhân và thủ phạm, xác định nạn nhân ngẫu nhiên hay đã bị nhắm trước, người này dễ tiếp cận ra sao, thời điểm xảy ra vụ tấn công trong ngày, biện pháp vận chuyển bom (chẳng hạn như qua thư), cũng như bất kỳ tính chất riêng biệt hay đặc trưng nào trong thành phần hoặc cách chế tạo bom.
Thời gian đầu trong sự nghiệp mô tả nhân dạng, tôi đã đưa ra bản mô tả đầu tiên về kẻ đánh bom nổi tiếng Una (từ mật danh Unabom của FBI), biệt danh xuất phát từ việc hắn nhắm đến các trường đại học và giáo sư.
Chúng tôi hiểu những kẻ đánh bom nhiều nhất từ các phương pháp giao tiếp của chúng. Đến thời điểm kẻ đánh bom Una quyết định liên lạc với công chúng sau một khoảng thời gian dài, thông qua thư gửi cho các tờ báo và những tuyên ngôn dài hàng ngàn chữ, hắn đã khiến ba người chết và hai mươi ba người bị thương trong sự nghiệp kéo dài mười bảy năm. Ngoài những kỳ công khác, hắn đã tạm thời kìm hãm ngành công nghiệp hàng không thương mại bằng lời hứa hẹn về một quả bom xuất phát từ sân bay quốc tế Los Angeles.
Như đa số những kẻ đánh bom, hắn nói một nhóm người (“FC” hay “Freedom Club” tức “Câu lạc bộ tự do”) chịu trách nhiệm cho hoạt động khủng bố của hắn. Nhưng chắc chắn hắn là kiểu người đơn độc như tôi đã mô tả. Cho đến nay, bản mô tả đã được xuất bản rộng rãi và tôi thấy không có lý do gì để thay đổi nhận xét của mình. Đáng tiếc là bất chấp bản mô tả nhân dạng mang tính đột phá của Tiến sĩ Brussel trong vụ “Kẻ đánh bom điên rồ” Metesky, khi kẻ đánh bom Una tấn công lần đầu tiên, lực lượng thi hành luật chưa được chuẩn bị để sử dụng kiểu phân tích của chúng tôi như hiện nay. Đa số chúng có thể bị bắt ở giai đoạn sớm trong sự nghiệp của chúng. Tội ác thứ nhất và thứ hai là quan trọng nhất ở khía cạnh hành vi, vị trí và mục tiêu trước khi chúng bắt đầu hoàn thiện kỹ năng và gây án trên khắp cả nước. Nhiều năm trôi qua, chúng còn mở rộng các tư tưởng của mình, không chỉ là mối thù đơn giản và cơ bản nhắm vào xã hội, điều đã khiến chúng bắt đầu việc khủng bố ngay từ đầu. Tôi nghĩ nếu vào năm 1979, công việc mô tả nhân dạng của chúng tôi phát triển như hiện nay, kẻ đánh bom Una có lẽ đã bị bắt sớm hơn nhiều năm.
Đa phần các lời đe dọa đánh bom là một cách thức tống tiền, nhắm vào một người hoặc nhóm người cụ thể. Giữa thập niên 1970, một cuộc điện thoại đe dọa đánh bom đã nhắm đến một giám đốc ngân hàng ở Texas.
Theo một kịch bản dài và phức tạp, kẻ gọi đến nói rằng vài ngày trước, khi công ty điện thoại Southwest Bell cử các kỹ thuật viên đến ngân hàng, họ thực ra là người của hắn. Họ đã cài một quả bom mà hắn có thể kích nổ bằng một công tắc vi sóng, nhưng hắn sẽ không làm thế nếu ngài giám đốc thuận theo những yêu cầu của hắn.
Bây giờ mới đến phần đáng sợ nhất. Hắn nói hắn đang bắt giữ vợ của ngài giám đốc, Louise. Bà ấy lái một chiếc xe hơi hiệu Cadillac, đến chỗ này vào buổi sáng, rồi chỗ này, chỗ này… Quá lo sợ, vị giám đốc bảo thư ký gọi về nhà bằng một đường dây khác vì ông biết vợ mình sẽ có ở nhà. Nhưng không ai trả lời. Lúc này ông ta đã tin lời hắn.
Sau đó, kẻ gọi điện đưa ra yêu sách về tiền bạc: tiền giấy đã qua sử dụng - 10 đô đến 100 đô. Không được báo cảnh sát, chúng tôi sẽ nhận ra những chiếc xe thường của họ dễ như bỡn. Bảo thư ký của ông rằng ông sẽ rời ngân hàng khoảng bốn mươi lăm phút. Không được liên lạc với ai hết. Ngay trước khi ông đi, bật tắt đèn trong văn phòng ông ba lần. Nhóm của tôi sẽ chờ tín hiệu này. Để tiền trong xe, đậu xe ở lề đường giữa một khu vực xe cộ đông đúc, để máy chạy và bật đèn xin dừng xe.
Thế này nhé, trong vụ án này, không có quả bom nào, cũng không có vụ bắt cóc nào, chỉ là một kẻ lừa đảo khôn ngoan đang nhắm vào nạn nhân dễ nhất mà thôi. Mọi thứ trong kịch bản này đều có một mục đích cụ thể. Hắn canh thời điểm mà công ty điện thoại thực sự đến làm việc ở ngân hàng, để hắn có thể phân cho họ vai trò những kẻ đặt bom. Mọi người đều biết, công ty điện thoại thường làm những công việc kỹ thuật mà không ai hiểu gì hay chú ý đến nên у cũng khá đáng tin khi họ có thể là những kẻ mạo danh.
Biết rằng ngài giám đốc ngân hàng sẽ gọi về nhà cho vợ, kẻ tống tiền đã gọi cho bà ấy vào sáng hôm đó, nói mình ở công ty Southwest Bell, rằng họ nhận được nhiều lời than phiền về những cuộc gọi quấy rối trong khu phố của bà ấy và đang cố gắng theo dấu kẻ gọi điện nên từ giữa trưa đến 12:45 hôm nay, đừng nhấc máy nếu điện thoại reo; lúc đó chúng tôi đang tiến hành bắt sóng và theo dõi.
Lời yêu cầu để tiền trong chiếc xe đang nổ máy và bật đèn có lẽ là phần tài tình nhất của cả kế hoạch. Ngài giám đốc cho rằng những yêu cầu liên quan đến đèn là một phần của tín hiệu nhưng thực ra, chúng là một phần trong kế hoạch đào tẩu của kẻ gọi điện. Tuy đã cảnh báo không được báo cảnh sát, nhưng kẻ tống tiền biết có thể nạn nhân trước sau gì cũng gọi họ. Giai đoạn nguy hiểm nhất đối với thủ phạm luôn là trao đổi tiền, lúc hắn cho rằng cảnh sát đang quan sát. Theo kịch bản này, nếu thủ phạm không may bị cảnh sát bắt quả tang trong xe, hắn có thể nói hắn đang đi bộ trên con đường đông đúc này thì thấy một chiếc xe bật đèn và để máy nổ nên quyết định làm việc tử tế là tiến đến tắt đèn cùng máy xe. Nếu cảnh sát bắt hắn vào lúc đó, họ sẽ chẳng thu được gì. Thậm chí họ bắt hắn lúc đang cầm tiền nhưng hắn đã tạo ra một lý do chính đáng để có mặt trong xe nên có thể nói hắn thấy cái túi nằm trên ghế và định nộp cho cảnh sát.
Với kẻ tống tiền, đây là một trò chơi may rủi. Hắn đã soạn kịch bản và việc hắn phải làm chỉ là điền vào các chi tiết. Nếu nạn nhân hắn nhắm đến hôm nay không tin, hắn sẽ thử lại với một người khác vào hôm sau. Cuối cùng, một trong số họ sẽ cắn câu và hắn sẽ vớ bở nhờ những nỗ lực trên mà không cần thực sự bắt cóc hay cài bom bất kỳ ai. Trong những trường hợp này, kịch bản nhìn chung là một bằng chứng tốt vì thủ phạm sẽ giữ lại, vì biết rằng nó sẽ hữu dụng cho những lần sau. Hắn biết rằng với vài sự sắp đặt đơn giản từ trước, ai cũng có thể trở thành nạn nhân.
Một khi các nhà chức trách đã nắm được mánh khóe của hắn, hắn sẽ bị bắt, xét xử và buộc tội. Hóa ra hắn từng là DJ, nhưng quyết định sử dụng tài ăn nói của mình cho những lợi ích ngắn hạn hơn.
Khác biệt giữa kiểu người này và kiểu người thực sự tiến hành bắt cóc là gì? Cả hai đều làm vì lợi ích nên không ai muốn để lộ danh tính trước nạn nhân nếu không cần thiết, vì giết người không phải mục tiêu của chúng. Khác biệt lớn là một kẻ bắt cóc thực sự thường cần có ai đó giúp thực hiện kế hoạch của mình và trong khi kẻ tống tiền đơn thuần thực ra là một kẻ lừa đảo tinh ranh, kẻ bắt cóc lại là một kẻ chống đối xã hội. Giết nạn nhân không phải dự định của hắn, nhưng rõ ràng hắn sẵn sàng xuống tay để đạt được mục đích.
Steve Mardigian đã tham gia điều tra vụ án một phó chủ tịch tập đoàn Exxon Corporation bị bắt ngay trước nhà mình ở New Jersey và bị giam giữ để đòi tiền chuộc. Lúc giằng co, ông ta vô tình bị bắn vào cánh tay. Những kẻ bắt cóc - một nhân viên an ninh cũ của công ty và vợ hắn - vẫn tiếp tục kế hoạch và giam giữ người bị thương (ông ta có bệnh tim) trong một cái thùng và ông ta đã chết ở đó. Lý do chọn cái thùng - hoặc những thứ tương tự - là để những kẻ bắt cóc có thể tiếp xúc với nạn nhân càng ít càng tốt. Trong vụ này, bọn bắt cóc bày tỏ sự hối hận với hậu quả như vậy và cảm giác tuyệt vọng đã khiến chúng thực hiện tội ác ngay từ đầu. Nhưng chúng đã làm, và đã thực hiện tội ác này từng bước một mà không hề do dự. Chúng sẵn sàng để ai đó chết vì mục đích ích kỷ của mình và đó là một trong những định nghĩa về hành vi chống đối xã hội.
Tuy rất khủng khiếp nhưng không giống một số tội ác nghiêm trọng khác, bắt cóc là hành động khó mà thoát tội. Điều tra viên phải đánh giá vụ việc cẩn thận, dùng con mắt hoài nghi để tìm hiểu thật kỹ về nạn nhân và hành vi trước khi gây án. Cuối cùng, tuy biết bất cứ ai cũng có thể là nạn nhân nhưng điều tra viên phải trả lời được câu hỏi: Tại sao lại là nạn nhân này?
Vài năm trước, tôi nhận được một cuộc gọi khẩn vào buổi tối khi đang ở nhà. Một thám tử ở Oregon kể cho tôi nghe chuyện một cô gái đi học ở khu vực anh ta chịu trách nhiệm. Cô ấy đang bị theo dõi nhưng cô ấy hay bất kỳ ai đều không thể tìm ra danh tính của kẻ theo dõi. Cô ấy thường nhìn thấy kẻ theo dõi trong rừng nhưng đến khi bố hoặc bạn trai cô ấy đi tìm thì hắn đã biến mất. Hắn sẽ gọi đến nhà họ, nhưng không bao giờ gọi khi có ai khác ở nhà. Cô gái ngày càng hoang mang. Sau vài tuần căng thẳng vì việc này, cô ấy đang ở một nhà hàng với bạn trai mình. Cô ấy rời bàn để vào toa lét. Khi ra khỏi toa lét, cô ấy bị tóm lấy và nhanh chóng bị lôi ra bãi đậu xe, tại đó kẻ tấn công cô tàn nhẫn nhét một nòng súng vào cửa mình cô, đe dọa sẽ giết nếu cô báo cảnh sát, sau đó thả cô ấy ra. Cô ấy bị sang chấn tâm lý và không thể mô tả rõ ràng về thủ phạm.
Hiện tại, có vẻ cô ấy đã bị bắt khi rời thư viện vào một buổi tối. Xe cô ấy được tìm thấy trong bãi đậu. Không có bất kỳ liên lạc nào và mọi thứ đang trở nên nghiêm trọng.
Tôi bảo viên thanh tra nói cho tôi biết về nạn nhân. Đó là một cô gái xinh xắn, thành tích học tập luôn tốt. Nhưng năm ngoái cô ấy đã sinh con và gặp vài rắc rối với gia đình mình, đặc biệt là bố cô ấy, về chuyện tiền bạc. Điểm số của cô ấy tuột dốc, đặc biệt sau khi việc theo dõi bắt đầu.
Tôi bảo đừng vội nói gì với người bố phòng trường hợp tôi sai và cuối cùng cô gái chết, nhưng tôi thấy cả câu chuyện này giống như một trò lừa bịp. Ai lại theo dõi cô ấy? Cô ấy có một người bạn trai lâu năm, gần đây không chia tay. Nhìn chung, khi một người không phải là người nổi tiếng bị theo dõi thì kẻ theo dõi là người quen biết nạn nhân theo kiểu nào đó. Những kẻ theo dõi không thành thực hay cẩn thận trong việc theo dõi. Nếu cô ấy nhìn thấy hắn, bố và bạn trai cô ấy hẳn không thể lần nào cũng tóm hụt hắn. Chưa từng có ai khác nhận được các cuộc gọi từ hắn. Và khi cảnh sát tiến hành theo dấu đường dây điện thoại, các cuộc gọi đột ngột dừng lại. Thêm một sự tình cờ là vụ bắt cóc lại xảy ra ngay trước kỳ thi cuối năm - không hề ngẫu nhiên chút nào.
Tôi đề nghị chiến lược điều tra chủ động sẽ là để truyền thông phỏng vấn bố cô ấy, nhấn mạnh tính tích cực trong mối quan hệ của họ, nói rằng ông ấy rất yêu thương cô và muốn cô trở về, cầu xin kẻ bắt cóc hãy thả cô ấy. Nếu tôi nói đúng, một, hai ngày sau cô ấy sẽ xuất hiện, bị thương và toàn thân bẩn thỉu, với câu chuyện cô ấy đã bị bắt cóc, bị hành hạ và ném ra khỏi xe bên lề đường.
Đó chính là điều đã xảy ra. Cô ấy khá tơi tả và bẩn thỉu, kèm theo câu chuyện bị bắt cóc. Tôi nói rằng việc thương thuyết - trong trường hợp này được tiến hành dưới dạng một cuộc thẩm vấn - nên tập trung vào cái mà chúng ta tin là đã thực sự xảy ra. Không nên buộc tội nhưng công nhận rằng cô ấy đang gặp nhiều khó khăn với bố mẹ; trải qua nhiều căng thẳng, chấn thương và đau đớn; lo sợ vì các kỳ thi và cần một sự việc nào đó để cứu vãn. Hãy báo cho cô ấy biết cô ấy sẽ không bị trừng phạt, cái cô ấy cần là sự tư vấn và thấu hiểu, cô ấy sẽ có được cả hai. Sau khi làm rõ điều đó, cô ấy đã thú nhận về trò lừa bịp của mình.
Nhưng đây là một trong những vụ án khiến chúng tôi rất lo lắng. Nếu chúng tôi sai, hậu quả sẽ rất khủng khiếp, vì khi việc theo dõi là thật, nó có thể là một tội ác kinh khủng và thường dẫn đến kết cục chết chóc.
Trong đa số trường hợp, dù theo dõi người nổi tiếng hay người bình thường, việc theo dõi luôn bắt đầu bằng tình yêu và sự ngưỡng mộ. John Hinckley “yêu” Jodie Foster và muốn cô ấy đáp lại tình yêu của hắn. Nhưng cô ấy lại là một ngôi sao điện ảnh chuẩn bị vào Đại học Yale, còn hắn là một kẻ vô danh tự ti. Hắn tin mình phải làm điều gì đó để cân bằng tình thế và gây ấn tượng với cô ấy. Và còn chuyện gì “ấn tượng” hơn là hành động ám sát Tổng thống Hoa Kỳ đi vào lịch sử? Trong những lúc thần trí hắn minh mẫn, hẳn là hắn đã nhận ra giấc mơ hai người sống bên nhau hạnh phúc đến già sẽ không thành sự thật. Nhưng bằng hành động của mình, quả thực hắn đã đạt được một trong các mục tiêu. Hắn trở nên nổi tiếng và trong tâm trí của mọi người, hắn sẽ vĩnh viễn gắn liền với Foster, theo cách rất trớ trêu.
Như đa số vụ án loại này, Hinckley đã gặp phải một yếu tố gây căng thẳng tức thời. Gần thời điểm hắn bắn Tổng thống Reagan, bố hắn đã ra một tối hậu thư rằng hắn phải tìm việc làm và tự nuôi lấy thân.
Đặc vụ thuộc Cơ quan mật vụ Ken Baker đã tiến hành thẩm vấn Mark David Chapman, kẻ ám sát John Lennon, trong tù. Chapman cảm thấy mình có sự liên kết mạnh mẽ với cựu thành viên nhóm The Beatles và ở một mức độ nông cạn, hắn đã cố bắt chước ông ấy. Hắn sưu tầm tất cả bài hát của Lennon, thậm chí còn quen rất nhiều bạn gái người châu Á, để mô phỏng cuộc hôn nhân của Lennon với Yoko Ono. Nhưng cũng như điều sẽ xảy ra với nhiều kẻ thuộc loại này, cuối cùng hắn cũng đến cái ngưỡng mà sự tự ti của hắn trở nên quá lớn. Hắn không thể chịu nổi khác biệt giữa mình và vị anh hùng của mình nữa nên hắn phải giết ông ấy. Điều khiến chúng ta sởn gai ốc là một trong những lý do thúc đẩy Hinckley thực hiện tội ác và trở nên nổi tiếng (thực ra khét tiếng thì phù hợp hơn) chính là nơi theo Chapman.
Tôi đã thẩm vấn Arthur Bremer, kẻ theo dõi rồi sau đó dự định ám sát Thống đốc bang Alabama, George Wallace, ở Maryland khi ông ấy đang chạy đua tranh cử tổng thống, khiến Wallace bị bại liệt và phải chịu đau đớn suốt đời. Bremer không ghét Wallace. Trước vụ nổ súng, hắn đã theo dõi tổng thống Nixon vài tuần nhưng không thể đến gần ông. Hắn quá nóng lòng làm chuyện gì đó để thế giới thấy được giá trị của hắn và Wallace lại dễ tiếp cận, về cơ bản là một nạn nhân khác có mặt sai chỗ, sai thời điểm.
Các vụ án theo dõi biến thành ám sát có số lượng đáng báo động. Trong trường hợp người bị hại là các chính khách, có một “nguyên nhân” cho việc giết hại họ nhưng đây hầu như luôn là cái cớ để lấp liếm của một kẻ vô danh tự ti muốn trở thành ai đó. Trong trường hợp các ngôi sao điện ảnh và người nổi tiếng như John Lennon bị hại, kể cả cái cớ đó cũng vô nghĩa. Một trong những vụ án bi thương nhất là vụ sát hại Rebecca Schaeffer hai mươi mốt tuổi ngay trước căn hộ của cô ấy ở Los Angeles vào năm 1989. Nữ diễn viên trẻ xinh đẹp và tài năng, nổi tiếng với vai diễn em gái của Pam Dawber trong loạt phim truyền hình Chị Sam của tôi, bị Robert John Bardo - một kẻ vô công rồi nghề mười chín tuổi đến từ Tucson, công việc gần nhất của hắn là bảo vệ ở một cửa hàng Jack in the Box - bắn một phát khi cô ấy ra mở cửa. Như Chapman, Bardo khởi đầu là một người hâm mộ. Sự quý mến của hắn trở thành ám ảnh và nếu hắn không thể có một mối quan hệ “bình thường” với cô ấy, hắn phải “sở hữu” cô ấy theo cách khác.
Như tất cả chúng ta đã biết hiện nay, mục tiêu theo dõi không chỉ là người nổi tiếng. Hiển nhiên có nhiều vụ người ta bị vợchồng hoặc người yêu cũ theo dõi. Giai đoạn chết chóc đến khi rốt cuộc, kẻ theo dõi nghĩ rằng “Nếu tôi không thể có được cô ấy (hoặc anh ấy), không ai có được”. Nhưng Jim Wright, chuyên gia có kinh nghiệm nhất trong đơn vị của chúng tôi về nạn theo dõi và là một trong những chuyên gia hàng đầu về loại tội phạm này trong ngành thi hành luật, chỉ ra bất kỳ ai làm công việc liên quan đến công chúng, đặc biệt là phụ nữ, đều dễ bị những kẻ theo dõi nhắm đến. Nói cách khác, đối tượng khao khát của một kẻ theo dõi không nhất định phải lên truyền hình hay màn ảnh. Cô ấy có thể là một nữ phục vụ tại nhà hàng trên phố hoặc giao dịch viên ở ngân hàng tại địa phương. Thậm chí có thể nạn nhân làm việc chung trong một cửa hàng hoặc doanh nghiệp với hắn.
Đó là trường hợp của Kris Welles, một phụ nữ trẻ làm việc tại Công ty Nội thất Conlans ở Missoula, Montana. Kris có năng lực và được mọi người quý trọng, đã thăng tiến từ quản lý bán hàng lên quản lý chung vào năm 1985.
Cùng thời điểm Kris làm việc ở khối văn phòng, có một người đàn ông tên Wayne Nance làm việc trong nhà kho. Hắn thường không tiếp xúc với ai nhưng có vẻ thích Kris, và cô ấy luôn tỏ ra chân thành và thân thiện với hắn. Nhưng tính tình Wayne thất thường và sự cáu kỉnh ngấm ngầm bên dưới mà Kris nhận thấy khiến cô lo sợ. Nhưng không ai than phiền gì về thói quen làm việc của Wayne. Ngày qua ngày, hắn vẫn là người chăm chỉ nhất trong nhà kho.
Điều mà Kris và chồng cô, Doug, một người buôn bán súng ở địa phương, không biết là Wayne Nance bị ám ảnh bởi cô ấy. Hắn luôn quan sát cô ấy và có một hộp các-tông chứa đồ lưu niệm từ cô - những tấm ảnh chụp vội, những ghi chú cô viết ở văn phòng, bất cứ thứ gì thuộc về cô.
Một điều khác mà vợ chồng Welles và cảnh sát thành phố Missoula đều không biết là Wayne Nance là một kẻ sát nhân. Năm 1974, hắn đã sàm sỡ và đâm một bé gái năm tuổi. Về sau cảnh sát còn phát hiện hắn đã trói, nhét giẻ vào miệng và bán một số phụ nữ trưởng thành, trong đó có mẹ của bạn thân hắn. Đáng lo ngại là tất cả xảy ra ở những quận lân cận nơi hắn đang sống. Nhưng kể cả ở bang Montana dân cư thưa thớt, cảnh sát ở địa hạt này không thể nào biết hoạt động tội phạm được ghi nhận ở địa hạt khác.
Kris Welles không hay biết gì cho đến cái đêm Nance đột nhập vào nhà vợ chồng cô ở vùng ngoại ô. Họ có một con chó săn mồi cái nhưng nó không hề phản kháng hắn. Thủ sẵn một khẩu súng ngắn, hắn bắn Doug, trói anh ấy trong tầng hầm, sau đó ép Kris lên lầu, vào phòng ngủ, trói cô ấy vào giường để cưỡng hiếp cô ấy. Cô ấy biết rõ hắn và hắn không hề có ý định che giấu thân phận.
Trong khi đó, ở tầng hầm, Doug xoay sở thoát khỏi mớ dây trói. Yếu ớt, có thể ngất đi bất cứ lúc nào vì đau đớn và mất máu, anh ấy lảo đảo đi đến một cái bàn đang đặt một băng đạn súng trường của cửa hàng. Anh ấy cho được một viên đạn vào khẩu súng rồi vận hết sức lực còn lại để lết lên cầu thang. Cố gắng giữ im lặng, anh ấy lên lầu hai và trong hành lang, với đôi mắt mờ nhòe, anh ấy nhằm phát đạn duy nhất vào Nance. Anh ấy phải hạ Nance trước khi hắn thấy anh và cầm súng lên. Nance không bị thương và còn nhiều đạn hơn. Doug sẽ không địch lại hắn.
Anh ấy bóp cò. Phát đạn trúng Nance, làm hắn bật ngửa ra sau. Nhưng sau đó Nance đứng dậy và bắt đầu tiến về phía Doug. Phát súng không đủ để giết hắn. Nance cứ tiến về phía anh ấy trên cầu thang. Không còn lối thoát nào, Doug lại không thể để Kris ở đó một mình nên anh ấy làm điều duy nhất mình có thể. Anh ấy tiến về phía Nance, dùng khẩu súng không đạn làm vũ khí. Anh ấy liên tục đánh vào người tên Nance còn rất khỏe đến khi Kris có thể thoát ra và chạy lại giúp chồng.
Cho đến nay, vụ án gia đình Welles vẫn là một trong số ít vụ được lưu trữ, trong đó các nạn nhân của một tên sát nhân hàng loạt có thể kháng cự và giết được kẻ tấn công để tự vệ. Câu chuyện của họ rất phi thường và chúng tôi đã nhiều lần mời họ đến nói chuyện trước các lớp học tại Quantico. Đôi vợ chồng khiêm tốn này đã cung cấp cho chúng tôi nhiều thông tin hiếm có từ góc nhìn của những nạn nhân đã trở thành anh hùng. Đã trải qua giờ phút sinh tử vào đêm đó, họ là những người ấm áp, nhạy cảm và gắn bó.
Cuối một buổi nói chuyện của họ tại Quantico, một cảnh sát trong lớp đã hỏi họ, “Nếu Wayne Nance còn sống và không có hình phạt tử hình - nghĩa là, nếu hắn vẫn tồn tại trên đời này cùng hai người - thì tinh thần hai người có vững vàng như hiện tại?” Họ quay sang nhìn nhau rồi lặng lẽ gật đầu. “Gần như là không thể”, Doug Welles nói.