Hãy thử tưởng tượng, nếu có thể, khoảng thời gian còn lại của buổi tối hôm đó diễn ra như thế nào. Cách họ nép mình bên đống lửa đang bùng cháy, nhảy múa và tỏa ấm áp trong chiếc lò sưởi nhỏ. Cách họ mở nắp các món ăn và tìm thấy bát súp nóng hổi, béo ngậy, thơm lừng – bản thân nó đã là một bữa ăn hoàn chỉnh – cùng với bánh mì kẹp, bánh mì nướng và bánh nướng xốp đủ cho cả hai người. Chiếc cốc từ bàn rửa mặt được dùng làm tách trà cho Becky, và trà ngon đến mức chẳng cần phải giả vờ rằng đó là thứ gì khác ngoài trà.
Họ được sưởi ấm, ăn uống no nê và vô cùng hạnh phúc; và đúng với tính cách của Sara, sau khi thấy vận may kì lạ của mình là có thật, cô liền đắm chìm trọn vẹn vào niềm vui sướng ấy. Cô đã quen sống trong một thế giới tưởng tượng đến mức hoàn toàn sẵn sàng đón nhận bất kỳ điều kỳ diệu nào xảy ra, và chẳng bao lâu sau, cô gần như không còn cảm thấy bối rối nữa.
"Tớ không biết trên đời này có ai lại có thể làm được điều đó," cô nói; "nhưng chắc chắn đã có ai đó. Và giờ chúng ta đang ngồi bên lò sưởi của họ—và—và—đó là sự thật! Dù đó là ai—dù họ đang ở đâu—tớ đã có một người bạn, Becky ạ—có người là bạn của tớ."
Không thể phủ nhận rằng khi ngồi trước ngọn lửa bùng cháy và thưởng thức món ăn bổ dưỡng, dễ chịu ấy, họ cảm thấy một thứ kính trọng ngập tràn sự say mê, và nhìn vào mắt nhau với chút gì đó hoài nghi.
"Cậu có nghĩ rằng," Becky ngập ngừng thì thầm, "cậu có nghĩ là nó có thể biến mất không, thưa cô? Hay tốt hơn là chúng ta nên ăn nhanh lên nhỉ?" Và cô vội vã nhét chiếc bánh mì kẹp vào miệng. Nếu đây chỉ là một giấc mơ, phép tắc nhà bếp đành phải gạt sang một bên.
"Không, nó sẽ không biến mất đâu," Sara nói. "Tớ ĐANG ăn chiếc bánh nướng này, và tớ có thể nếm được vị của nó. Cậu không bao giờ thực sự ăn thứ gì trong giấc mơ cả. Cậu chỉ tưởng tượng là mình sắp ăn chúng thôi. Hơn nữa, tớ cứ tự véo mình mãi; và vừa nãy tớ còn chạm tay vào một viên than hồng cốt để thử đấy."
Cảm giác buồn ngủ dễ chịu cuối cùng đã gần như chiếm trọn lấy họ thật là tuyệt diệu. Đó là cơn buồn ngủ của tuổi thơ hạnh phúc, được ăn no mặc ấm, và họ ngồi trong ánh lửa bập bùng, tận hưởng sự thoải mái ấy cho đến khi Sara sực tỉnh, quay đầu nhìn chiếc giường đã được biến hóa của mình.
Thậm chí còn có đủ chăn để chia cho cả Becky. Chiếc giường hẹp trên căn gác xép bên cạnh tối hôm đó mới thoải mái làm sao, vượt xa mọi điều mà người nằm trên đó từng dám mơ ước.
Khi bước ra khỏi phòng, Becky quay người lại ngay ngưỡng cửa và đưa mắt ngốn ngấu nhìn quanh căn phòng.
"Nếu sáng mai mà nó không còn ở đây nữa, thưa cô," cô bé nói, "thì dẫu sao đêm nay nó cũng đã từng ở đây, và em sẽ không bao giờ quên điều đó." Cô nhìn từng món đồ cụ thể, như thể muốn ghi khắc chúng vào tâm trí. "Lò sưởi ở ĐÂY," cô chỉ tay, "còn cái bàn thì ở trước đó; và ngọn đèn ở đó, ánh sáng có màu đỏ hồng; và trên giường cô có một tấm trải bằng sa tanh, trên sàn nhà có một tấm thảm ấm áp, và mọi thứ trông thật tuyệt đẹp; và"—cô dừng lại một giây, nhẹ nhàng đặt tay lên bụng—"đúng LÀ có súp, bánh mì kẹp và bánh nướng xốp—chắc chắn LÀ có." Và với niềm tin chắc chắn rằng ít nhất đó là sự thật, cô bước đi.
Thông qua cái cơ chế bí ẩn vẫn thường vận hành trong các trường học và giữa đám gia nhân, đến sáng hôm sau, ai nấy đều biết rõ rằng Sara Crewe đang gặp rắc rối lớn, Ermengarde đang chịu phạt, và Becky lẽ ra đã bị tống cổ khỏi nhà trước bữa sáng, chỉ vì người ta không thể lập tức thiếu đi một cô bé dọn dẹp. Bọn gia nhân thừa biết cô bé được phép ở lại là vì bà Minchin không dễ gì tìm được một kẻ khác vừa khốn khổ vừa hèn mọn đến mức sẵn sàng làm việc như một con trâu ngựa suốt tuần chỉ đổi lấy vài xu tiền công. Các nữ sinh lớn tuổi trong phòng học thì hiểu rằng nếu bà Minchin không đuổi Sara đi thì đó là vì những tính toán thực tế của riêng bà.
"Cậu ấy ngày càng lớn nhanh và học giỏi hẳn lên, chẳng hiểu sao thế," Jessie nói với Lavinia, "rằng chẳng mấy chốc cậu ấy sẽ được giao đứng lớp, và bà Minchin biết thừa là mình sẽ chẳng mất xu tiền công nào. Cậu làm thế hơi tệ đấy, Lavvy, khi đi mách chuyện cậu ấy vui đùa trên gác xép. Cậu biết chuyện đó bằng cách nào thế?"
"Tớ gặng hỏi từ con bé Lottie. Nó còn trẻ con quá nên chẳng biết là mình đang kể cho tớ nghe. Chẳng có gì là tệ hại khi nói lại với bà Minchin cả. Tớ thấy đó làn phận sự của mình"—Lavinia đáp với giọng ra vẻ ta đây đạo đức. "Cậu ta đang sống giả dối. Thật nực cười khi cứ ra vẻ cao sang và được cưng chiều trong đống quần áo rách rưới ấy!"
"Họ đang làm gì khi bà Minchin bắt gặp thế?"
"Đang giả vờ mấy trò ngốc nghếch ấy mà. Con bé Ermengarde mang cả giỏ đồ ăn lên để chia sẻ với Sara và Becky. Nó chẳng bao giờ mời chúng mình chia sẻ thứ gì cả. Không phải là tớ quan tâm, nhưng việc chia sẻ đồ ăn với mấy đứa hầu gái trên gác xép đúng là thứ dân dã thô tục. Tớ lấy làm lạ sao bà Minchin không đuổi cổ Sara đi—cho dù bà ấy có đang cần nó làm giáo viên đi nữa."
"Nếu bị đuổi thì cậu ấy sẽ đi đâu cơ chứ?" Jessie hỏi, có chút lo lắng.
"Sao tớ biết được?" Lavinia gắt lên. "Chắc cậu ta sẽ có bộ mặt khá kì cục khi bước vào phòng học sáng nay cho mà xem—sau tất cả những gì đã xảy ra. Hôm qua cậu ta chẳng được ăn bữa tối nào, và hôm nay cũng chẳng có gì để ăn đâu."
"Jessie không hẳn là kẻ độc ác, chỉ là hơi ngốc nghếch. Cô bé giật mình nhặt cuốn sách lên."
"Ồ, tớ nghĩ thế là quá đáng," cô bé nói. "Họ không có quyền bỏ đói cậu ấy đến chết như vậy."
Khi Sara bước xuống nhà bếp vào sáng hôm đó, người đầu bếp nhìn cô với ánh mắt liếc xéo, và các cô hầu phòng cũng vậy; nhưng cô vội vã bước qua họ. Thực ra, cô đã ngủ quên hơi quá giờ một chút, và vì Becky cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự, nên chẳng ai có thời gian để gặp người kia, và cả hai đều vội vã cắm cổ chạy xuống lầu.
Sara bước vào phòng rửa bát đĩa. Becky đang hì hục cọ rửa một chiếc ấm đến bốc khói, và thậm chí còn đang ư ử hát khe khắp trong cổ họng. Cô bé ngẩng lên với gương mặt rạng rỡ đến phát cuồng.
"Nó vẫn ở đó lúc em thức dậy đấy, thưa cô—chiếc chăn ấy," cô thì thầm đầy phấn khích. "Nó thật y như tối hôm qua vậy."
"Của tớ cũng thế," Sara nói. "Bây giờ mọi thứ vẫn ở đó—tất cả luôn. Lúc đang mặc quần áo, tớ đã ăn một ít đồ nguội chúng mình để lại đấy."
"Ôi trời ơi! Ôi trời ơi!" Becky thốt lên câu đó bằng một thứ tiếng rên rỉ đầy say mê, rồi cắm cúi giũi đầu vào cái ấm vừa đúng lúc người đầu bếp từ trong bếp bước ra.
Bà Minchin vẫn đinh ninh rằng khi Sara xuất hiện ở phòng học, cô bé trông sẽ chẳng khác nào những gì Lavinia đã tiên đoán. Sara từ trước đến nay vẫn luôn là một câu đố gây bực bội cho bà, bởi sự nghiêm khắc chẳng bao giờ làm cô bật khóc hay tỏ ra sợ hãi. Khi bị mắng mức, cô đứng yên lắng nghe một cách lịch sự với vẻ mặt nghiêm nghị; khi bị phạt, cô hoàn thành các bài tập phụ hoặc nhịn đóm qua bữa mà không hề phàn nàn hay có biểu hiện nổi loạn ra mặt. Chính cái thực tế là cô chẳng bao giờ đáp trả xấc láo lại dường như là một kiểu xấc láo tự thân trong mắt bà Minchin. Nhưng sau trận đói bữa hôm qua, cuộc đối đầu dữ dội tối qua, cùng viễn cảnh bụng đói cồn cào trong ngày hôm nay, chắc chắn cô bé phải suy sụp rồi. Thật là lạ lùng nếu cô không lê bước xuống phòng học với đôi má tái nhợt, đôi mắt đỏ hoe cùng gương mặt u sầu, cúi đầu chịu tội.
Bà Minchin lần đầu tiên nhìn thấy Sara khi cô bước vào phòng học để nghe lớp tiếng Pháp đọc bài và giám sát các bài tập của họ. Vậy mà cô lại bước vào với những bước chân nhẹ nhõm, đôi má ửng hồng, và một nụ cười vương vấn khóe môi. Đó là điều kinh ngạc nhất mà bà Minchin từng chứng kiến. Nó giáng cho bà một cú sốc không nhỏ. Con bé này được nặn bằng thứ chất liệu gì thế? Rằng chuyện này có nghĩa là gì cơ chứ? Bà lập tức gọi cô bé lại bàn làm việc của mình.
"Trông cô chẳng có vẻ gì là nhận thức được rằng mình đang phải chịu phạt cả," bà nói. "Cô đã hoàn toàn trơ lỳ rồi sao?"
Sự thật là khi một người vẫn còn là trẻ con—hoặc thậm chí khi đã trưởng thành—mà được ăn no, được ngủ một giấc dài ấm áp, êm ái; khi chìm vào giấc ngủ giữa một câu chuyện cổ tích và thức dậy để rồi nhận ra nó có thật, thì người đó không thể nào buồn bã hay thậm chí là ra vẻ buồn bã cho được; và dù có cố gắng đến đâu, người ta cũng chẳng thể ngăn được ánh sáng của niềm vui lấp lánh trong đôi mắt mình. Bà Minchin gần như câm lặng trước ánh mắt của Sara khi cô đưa ra câu trả lời vô cùng lễ phép.
"Em xin lỗi bà Minchin," cô nói; "em biết là mình đang chịu phạt ạ."
"Làm ơn đừng có quên điều đó rồi lại bày cái vẻ mặt như vừa vớ được cả cơ ngơi gia tài thế kia. Thật là hỗn xược. Và hãy nhớ rằng hôm nay cô sẽ không có lấy một hạt cơm nào vào bụng đâu."
"Vâng, thưa bà Minchin," Sara đáp; nhưng khi cô quay lưng bước đi, trái tim cô như nhảy thót lên vì ký ức về những gì đã diễn ra ngày hôm qua. "Nếu Phép Màu không cứu mình kịp lúc," cô thầm nghĩ, "thì mọi chuyện đã tồi tệ biết nhường nào!"
"Cậu ta chắc gì đã đói," Lavinia thì thầm. "Cứ nhìn cậu ta kìa. Biết đâu cậu ta đang giả vờ là mình vừa được ăn một bữa sáng thịnh soạn ấy chứ"—nói rồi cô nàng cười nhạt đầy ác ý.
"Cậu ấy khác với mọi người," Jessie nói, vừa quan sát Sara đang đứng cùng lớp học. "Thỉnh thoảng tớ cũng thấy hơi sợ cậu ấy."
"Thật là nực cười!" Lavinia bực bội thốt lên.
Suốt cả ngày hôm ấy, ánh sáng bừng lên trên khuôn mặt Sara và đôi má cô lúc nào cũng ửng hồng. Đám gia nhân liếc nhìn cô đầy khó hiểu, thì thầm to nhỏ với nhau, và đôi mắt xanh nhỏ bé của cô quản gia Amelia lộ rõ vẻ hoang mang. Cô ta chẳng thể hiểu nổi tại sao giữa lúc đang phải hứng chịu cơn thịnh nộ của bề trên mà con bé này lại dám mang một vẻ mặt phơi phới sự sung túc đến thế. Tuy nhiên, điều đó lại hoàn toàn giống với cái tính bướng bỉnh kỳ lạ của Sara. Có lẽ cô bé đã hạ quyết tâm làm tới cùng để thách thức mọi chuyện rồi.
Có một điều Sara đã tự nhủ khi ngẫm nghĩ lại mọi chuyện. Những điều kỳ diệu đã xảy ra phải được giữ kín như bưng, nếu việc đó là khả thi. Nếu bà Minchin lại nổi hứng leo lên căn gác xép một lần nữa, tất nhiên mọi chuyện sẽ bị bại lộ. Nhưng xem ra bà ấy sẽ không làm thế trong một thời gian, ít nhất là trừ khi bị lòng nghi ngờ thôi thúc. Ermengarde và Lottie sẽ được canh chừng ngặt nghèo đến mức chúng sẽ chẳng dám lẻn ra khỏi giường một lần nào nữa. Ermengarde có thể được kể cho nghe toàn bộ câu chuyện và chắc chắn sẽ giữ kín nó. Nếu Lottie có vô tình phát hiện ra điều gì, con bé cũng sẽ bị bắt phải giữ bí mật. Biết đâu chính Phép Màu cũng sẽ góp tay che giấu những điều kỳ diệu của mình.
"Nhưng dù chuyện gì xảy ra đi nữa," Sara cứ tự nhủ suốt cả ngày—"DÙ chuyện gì xảy ra đi nữa, đâu đó trên thế giới này vẫn có một vị thánh thiện vô cùng tốt bụng đang là bạn của tôi—là bạn của tôi. Dù tôi không bao giờ biết đó là ai—dù tôi chẳng bao giờ có thể cất lời cảm ơn người ấy—tôi cũng sẽ không bao giờ cảm thấy cô độc đến thế. Ồ, Phép Màu thật TỐT với tôi biết bao!"
Nếu thời tiết có thể tồi tệ hơn ngày hôm trước, thì chính là ngày hôm nay—ẩm ướt hơn, lầy lội hơn, lạnh buốt hơn. Có nhiều việc vặt phải chạy đi làm hơn, người đầu bếp càng thêm cáu kỉnh, và khi biết Sara đang bị phạt, mụ ta lại càng ác độc hơn. Nhưng có gì quan trọng đâu khi Phép Màu của người ta vừa chứng minh nó chính là một người bạn. Bữa tối của Sara đêm qua đã cho cô sức mạnh, cô biết rằng mình sẽ có một giấc ngủ ngon lành trong chăn ấm nệm êm, và ngay cả khi cô bắt đầu cảm thấy đói trở lại trước khi chiều tối buông xuống, cô cảm thấy mình vẫn có thể chịu đựng được cho đến giờ ăn sáng của ngày hôm sau, khi những bữa ăn chắc chắn sẽ được mang lại cho cô. Đã khá muộn khi cuối cùng cô được phép lên lầu. Cô được bảo là phải vào phòng học tự học cho đến mười giờ, và vì mải say mê với công việc, cô đã ngồi lại bên những trang sách muộn hơn.
Khi bước lên bậc thang cuối cùng và đứng trước cánh cửa phòng gác xép, phải thừa nhận rằng trái tim cô đập nhanh hơn hẳn.
"Biết đâu tất cả đã bị thu hồi lại rồi thì sao," cô thì thầm, cố tỏ ra dũng cảm. "Biết đâu nó chỉ được cho mượn đúng trong một đêm khủng khiếp duy nhất đó. Nhưng nó ĐÃ được cho mượn cơ mà—tớ đã có nó. Nó là sự thật."
"Cô đẩy tung cửa bước vào. Một khi đã ở bên trong, cô hơi há hốc miệng, khép cửa lại và đứng tự lưng vào cửa, đưa mắt nhìn quanh khắp phòng."
Phép Màu lại xuất hiện ở đây rồi. Thực sự là vậy, thậm chí nó còn làm được nhiều điều hơn cả lần trước. Ngọn lửa đang bùng cháy rực rỡ với những vành lửa nhảy múa đáng yêu, vui tươi hơn bao giờ hết. Rất nhiều món đồ mới đã được mang lên căn gác xép, làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của nó đến mức nếu không phải đã vượt qua mọi sự hoài nghi, chắc cô sẽ phải dụi mắt nhìn lại. Trên chiếc bàn thấp lại có thêm một bữa tối nữa—lần này có cả chén đĩa dành cho Becky lẫn cô; một mảnh vải thêu kỳ lạ, rực rỡ và dày dặn phủ lên tấm lò sưởi sần sùi, trên đó đặt vài món đồ trang trí. Tất cả những góc xám xịt, xấu xí có thể che phủ bằng vải rèm đều đã được giấu đi và làm cho trở nên khá xinh xắn. Vài chất liệu kỳ lạ mang màu sắc phong phú được đính lên tường bằng những chiếc đinh ghim nhỏ sắc lẹm—nhỏ đến mức có thể ấn thẳng vào gỗ và lớp vữa mà không cần dùng búa. Vài chiếc quạt lộng lẫy được ghim lên, cùng mấy chiếc đệm lớn, đủ dày dặn để dùng làm ghế ngồi. Một chiếc thùng gỗ được phủ một tấm thảm, bên trên đặt vài chiếc đệm, khiến nó trông hệt như một chiếc ghế sô-bìa thực thụ.
Sara từ từ rời khỏi cửa, cứ thế ngồi phịch xuống rồi ngẩn ngơ ngắm nhìn hết lần này đến lần khác.
"Nó hệt như một câu chuyện cổ tích trở thành hiện thực vậy," cô nói. "Chẳng khác một tí nào. Tớ có cảm giác như mình chỉ cần ước bất cứ điều gì—kim cương hay những túi vàng—thì chúng sẽ xuất hiện ngay lập tức! Điều ĐÓ cũng chẳng có gì kỳ lạ hơn chuyện này cả. Đây có phải là căn gác xép của tớ không? Có phải tớ là con bé Sara lạnh lẽo, rách rưới và ẩm ướt hồi nào không? Thế mà nghĩ lại xem, trước đây tớ cứ hay giả vờ rồi lại giả vờ, ước gì có các nàng tiên! Điều duy nhất tớ luôn mong ước là được thấy một câu chuyện cổ tích biến thành sự thật. Giờ thì tớ ĐANG sống trong một câu chuyện cổ tích rồi. Tớ cảm thấy mình giống như một nàng tiên thực thụ, có khả năng biến mọi thứ thành bất cứ cái gì mình muốn."
Cô đứng dậy, gõ lên bức tường giáp với căn phòng của "tội nhân" ở phòng bên, và người tù nhân liền xuất hiện.
Khi bước vào, cô bé suýt ngã quỵ xuống sàn nhà. Trong vài giây, cô nghẹt thở hoàn toàn.
"Ôi trời ơi!" cô thốt lên. "Ôi trời ơi, thưa cô!"
"Cậu thấy chưa," Sara nói.
Đêm nay, Becky được ngồi trên một chiếc đệm đặt ngay trước tấm thảm lò sưởi, có hẳn một bộ tách trà và đĩa lót của riêng mình.
Khi đi ngủ, Sara nhận ra mình có thêm một chiếc nệm mới tinh, dày dặn cùng những chiếc gối lông vũ mềm mại. Tấm nệm và chiếc gối cũ của cô đã được chuyển sang giường của Becky, nhờ vậy mà với những món đồ bổ sung này, Becky đã có được sự thoải mái chưa từng thấy.
"Tất cả những thứ này từ đâu ra thế hả cô?" Becky bất chợt thốt lên. "Trời ơi, ai làm chuyện này vậy cô?"
"Chúng ta đừng THẮC MẮC làm gì," Sara nói. "Nếu không phải vì tớ rất muốn nói câu 'Ôi, xin cảm ơn', thì tớ thà không biết còn hơn. Như thế làm cho mọi thứ trở nên tuyệt diệu hơn."
Từ dạo đó, cuộc sống ngày càng trở nên kỳ diệu hơn qua từng ngày. Câu chuyện cổ tích vẫn tiếp diễn. Hầu như ngày nào cũng có điều gì mới mẻ được làm ra. Cứ mỗi lần Sara đẩy cửa bước vào phòng vào ban đêm là lại có thêm một tiện nghi hay món đồ trang trí mới xuất hiện, cho đến một ngày chẳng xa, căn gác xép đã biến thành một căn phòng nhỏ tuyệt đẹp, ngập tràn đủ loại vật dụng sang trọng kỳ lạ. Những bức tường xấu xí dần dần được che phủ hoàn toàn bởi tranh ảnh và rèm treo, những món đồ nội thất gấp gọn thông minh xuất hiện, một chiếc kệ sách được treo lên và lấp đầy những trang sách, những sự thoải mái và tiện lợi cứ thế lần lượt xuất hiện cho đến khi chẳng còn gì có thể mong ước thêm nữa. Khi Sara bước xuống nhà bếp vào buổi sáng, phần thức ăn thừa vẫn nằm trên bàn; và khi cô trở lại căn gác vào buổi tối, nhà ảo thuật đã dọn dẹp chúng đi và để lại một bữa ăn nhỏ tuyệt ngon khác. Bà Minchin vẫn cay nghiệt và xấc xược như ngày nào, cô Amelia thì vẫn cáu kỉnh, còn đám gia nhân vẫn thô tục và thô lỗ. Sara vẫn bị sai vặt chạy việc trong mọi điều kiện thời tiết, bị mắng mỏ và xua đuổi ngược xuôi; cô hầu như chẳng được phép nói chuyện với Ermengarde và Lottie; Lavinia thì buông lời mỉa mai sự tồi tàn ngày càng tăng trên quần áo của cô; và những nữ sinh khác thì tò mò nhìn trừng trừng mỗi khi cô xuất hiện trong phòng học. Nhưng tất cả những điều đó có xá gì khi cô đang được sống trong câu chuyện kỳ diệu đầy bí ẩn này? Nó lãng mạn và thú vị hơn bất cứ thứ gì cô từng tưởng tượng ra để xoa dịu tâm hồn non nớt đang đói khát và cứu rỗi bản thân khỏi sự tuyệt vọng. Thỉnh thoảng, khi bị mắng mỏi, cô suýt không nhịn được cười.
"Ước gì các người biết được!" cô thầm nói. "Ước gì các người biết được!"
Sự thoải mái và niềm hạnh phúc cô được hưởng đang làm cô mạnh mẽ lên, và đó luôn là điều khiến cô mong chờ mỗi ngày. Nếu cô đi làm chân sai vặt trở về trong bộ dạng ướt sũng, mệt mỏi và đói lả, cô biết rằng mình sẽ sớm được sưởi ấm và ăn no nê sau khi leo lên những bậc thang gác. Suốt những ngày làm việc vất vả nhất, cô vẫn có thể tự khuây khỏa bằng cách mường tượng đến cảnh tượng mình sẽ nhìn thấy gì khi mở cửa gác xép, và tự hỏi không biết niềm vui mới nào đang được chuẩn bị cho mình. Chẳng bao lâu sau, trông cô đã đỡ gầy đi rất nhiều. Đôi má ửng hồng trở lại, và đôi mắt dường như không còn quá to so với khuôn mặt nữa.
"Sara Crewe trông khỏe mạnh đến ngạc nhiên đấy chứ," bà Minchin nhận xét với vẻ không hài lòng khi nói chuyện với em gái.
"Vâng," tội nghiệp cô Amelia ngốc nghếch đáp. "Con bé đang béo lên trông thấy. Trước đây trông nó chẳng khác gì một con quạ đói."
"Đói khát gì chứ!" bà Minchin tức giận quát lên. "Chẳng có lý do gì mà nó lại phải trông đói khát cả. Lúc nào nó chẳng được ăn uống đầy đủ!"
"Đ—đương nhiên rồi ạ," cô Amelia rụt rè đồng tình, cảm thấy hoảng hốt khi nhận ra mình lại vừa lỡ lời như mọi khi.
"Có cái gì đó rất khó chịu khi nhìn thấy cái kiểu thái độ đó ở một đứa trẻ bằng tuổi nó," bà Minchin nói với vẻ bâng quơ đầy kiêu kỳ.
"Kiểu—thái độ gì cơ ạ?" cô Amelia rụt rè hỏi.
"Người ta suýt có thể gọi đó là sự bất phục tùng," bà Minchin đáp, cảm thấy bực bội vì biết rằng thứ bà đang bực mình chẳng giống chút nào với sự bất phục tùng, và bà cũng chẳng biết phải dùng từ ngữ khó chịu nào khác. "Tinh thần và ý chí của bất kỳ đứa trẻ nào khác chắc chắn đã bị khuất phục hoàn toàn và bẻ gãy bởi—bởi những biến cố mà nó phải chịu đựng. Nhưng thưa Chúa, con bé trông chẳng có vẻ gì là chịu khuất phục, cứ như thể—cứ như thể nó là một nàng công chúa vậy."
"Chị có nhớ," cô Amelia dại dột chen vào, "điều con bé đã nói với chị hôm đó ở phòng học về việc chị sẽ làm gì nếu phát hiện ra nó là—"
"Không, tôi không nhớ," bà Minchin nói. "Đừng có nói nhảm nữa." Nhưng thực ra bà nhớ rất rõ là đằng khác.
Thật là điều hiển nhiên, ngay cả Becky cũng bắt đầu trông mũm mĩm hơn và bớt sợ sệt hơn. Cô bé không thể nào khác được. Cô cũng có phần của mình trong câu chuyện cổ tích bí mật đó. Cô có hai tấm nệm, hai chiếc gối, chăn đắp đầy đủ, và mỗi đêm lại có một bữa tối nóng hổi cùng chiếc ghế ngồi trên đệm cạnh lò sưởi. Ngục Bastille đã tan biến, những người tù nhân không còn tồn tại nữa. Hai đứa trẻ được an ủi đang ngồi giữa chốn bồng lai tiên cảnh. Thỉnh thoảng Sara đọc lớn những cuốn sách của mình, thỉnh thoảng cô tự học bài, có lúc cô lại ngồi ngẩn ngơ nhìn vào đống lửa và tưởng tượng xem ai có thể là ân nhân của mình, rồi ước gì cô có thể nói cho người ấy nghe những tâm tư cất giấu trong lòng.
Và rồi một điều kỳ diệu khác lại xảy ra. Một người đàn ông đến cửa và để lại mấy bưu phẩm. Tất cả đều được đề tên bằng những chữ cái in hoa to bản: "Gửi Cô bé ở phòng gác xép bên phải."
Chính Sara được sai ra mở cửa và nhận chúng. Cô đặt hai bưu phẩm lớn nhất lên bàn ở sảnh, và đang ngắm nghía phần địa chỉ thì bà Minchin bước xuống cầu thang và nhìn thấy cô.
"Mang mấy thứ đó đến cho tiểu thư chủ nhân của chúng đi," bà nghiêm khắc nói. "Đừng có đứng đần mặt ra đó mà nhìn chằm chằm nữa."
"Chúng là của em ạ," Sara điềm tĩnh đáp.
"Của cô ư?" bà Minchin kêu lên. "Cô có ý gì hả?"
"Em không biết chúng từ đâu đến," Sara nói, "nhưng chúng đề tên em. Em ngủ ở căn gác bên phải. Becky ở căn bên kia ạ."
"Bà Minchin bước đến bên cô và nhìn chằm chằm vào các gói bưu phẩm với vẻ đầy phấn khích."
"Trong đó có gì?" bà gặng hỏi.
"Em không biết ạ," Sara đáp.
"Mở ra xem nào," bà ra lệnh.
Sara làm theo lời dạy. Khi các gói quà được mở ra, vẻ mặt bà Minchin bỗng xuất hiện một biểu cảm kỳ lạ. Những gì đập vào mắt bà là quần áo đẹp đẽ, thoải mái—đủ các loại trang phục: giày, tất, găng tay, và một chiếc áo khoác ấm áp, lộng lẫy. Thậm chí còn có cả một chiếc mũ xinh xắn và một chiếc ô. Tất cả đều là đồ tốt và đắt tiền, và trên túi chiếc áo khoác có ghim một mảnh giấy ghi rõ những dòng chữ sau: "Dùng để mặc hàng ngày. Sẽ được thay thế bằng đồ khác khi cần thiết."
Bà Minchin hoàn toàn dao động. Đây là một sự việc gợi lên những suy nghĩ kỳ lạ trong tâm trí thực dụng của bà. Liệu có khi nào, suy cho cùng, bà đã phạm sai lầm, và đứa trẻ bị hắt hủi này lại có một người chống lưng đầy quyền lực nhưng vô cùng kỳ quặc ở phía sau—có lẽ là một người họ hàng vô danh nào đó trước đây, nay đột ngột dò ra tung tích của con bé và chọn cách chu cấp cho nó theo cái cách bí mật và hoang đường này không? Họ hàng đôi khi rất dở hơi—đặc biệt là mấy ông chú độc thân giàu có, những kẻ chẳng thích để trẻ con quẩn quanh bên mình. Một kẻ như thế có thể thích âm thầm lo lắng cho phúc lợi của đứa cháu nhỏ từ đằng xa. Tuy nhiên, một người như vậy chắc chắn phải là kẻ gàn dở, nóng tính và dễ nổi giận. Sẽ chẳng mấy dễ chịu nếu thực sự có một kẻ như thế, và hắn lại hay biết toàn bộ sự thật về mớ quần áo tồi tàn, rách rưới, bữa ăn đạm bạc cùng công việc nặng nhọc mà con bé phải chịu đựng. Bà cảm thấy vô cùng kỳ lạ và bất an, rồi liếc mắt nhìn Sara.
"Thôi được," bà cất giọng, một giọng điệu mà từ khi cô bé mất cha đến nay bà chưa từng dùng tới bao giờ: "có ai đó rất tốt với cô đấy. Vì đằng nào đồ cũng đã được gửi đến, và cô sẽ có đồ mới khi đồ cũ rách, cô cứ đi thay vào và trông cho nó ra dáng con nhà lành đi. Thay đồ xong, cô có thể xuống đây học bài ở phòng học. Hôm nay cô không phải đi sai vặt đâu."
Khoảng nửa tiếng sau, khi cánh cửa phòng học bật mở và Sara bước vào, toàn bộ ngôi trường hoàn toàn câm lặng.
"Ôi trời ơi!" Jessie thốt lên, huých khuỷu tay vào người Lavinia. "Nhìn Công chúa Sara kìa!"
Ai nấy đều ngước nhìn, và khi Lavinia nhìn sang, mặt cô ta đỏ bừng lên.
Đúng là Công chúa Sara thật rồi. Ít ra thì kể từ những ngày cô còn là một nàng công chúa, Sara chưa từng trông như thế này bao giờ. Trông cô chẳng còn chút nào giống con đứa bé mà họ vừa thấy lủi thủi đi xuống cầu thang phụ cách đây vài tiếng. Cô mặc chiếc váy mà Lavinia từng ao ước có được. Nó có màu sắc trầm ấm và được may rất tinh xảo. Đôi chân mảnh dẻ trông y như hồi Jessie từng trầm trồ ngưỡng mộ, và mái tóc với những lọn dày từng khiến cô trông giống như một chú lợn rừng Shetland khi xõa tung trên gương mặt nhỏ nhắn kỳ lạ nay đã được cột gọn gàng bằng một chiếc nơ.
"Biết đâu có ai vừa để lại cho cậu ấy một gia tài thì sao," Jessie thì thầm. "Tớ vẫn luôn nghĩ sẽ có chuyện gì đó xảy ra với cậu ấy. Cậu ấy thật kỳ lạ."
"Biết đâu mỏ kim cương lại đột ngột xuất hiện lần nữa ấy chứ," Lavinia mỉa mai nói. "Làm ơn đừng có chiều ý cậu ta bằng cách nhìn chằm chằm như thế, đồ ngốc."
"Sara," giọng trầm của bà Minchin cắt ngang, "lại đây ngồi đi."
Và trong khi cả phòng học ngẩn ngơ nhìn theo, huých cùi chỏ nhau và gần như chẳng buồn che giấu sự tò mò đầy phấn khích của mình, Sara bước về chỗ ngồi danh dự ngày xưa và cúi đầu bên những trang sách.
Đêm đó, khi trở về phòng sau khi cô và Becky đã ăn xong bữa tối, cô ngồi lặng ngắm đống lửa đăm chiêu trong một lúc lâu.
"Cậu đang nghĩ ra chuyện gì trong đầu à, thưa cô?" Becky tôn kính hỏi với giọng dịu dàng. Khi Sara ngồi im lặng và đăm đăm nhìn vào những viên than với đôi mắt mộng mơ, điều đó thường có nghĩa là cô đang sáng tác một câu chuyện mới. Nhưng lần này thì không, và cô lắc đầu.
"Không," cô đáp. "Tớ đang tự hỏi xem mình nên làm gì đây."
Becky ngẩn người—vẫn đầy vẻ cung kính. Cô bé ngập tràn một thứ cảm xúc gần như sự tôn sùng đối với mọi hành động và lời nói của Sara.
"Tớ cứ nghĩ mãi về người bạn của mình," Sara giải thích. "Nếu người ấy muốn giữ kín danh tính, việc tớ cố gắng tìm xem đó là ai sẽ là một hành động bất lịch sự. Nhưng tớ rất muốn người ấy biết ơn sâu sắc đến nhường nào—và người ấy đã làm tớ hạnh phúc biết bao. Bất kỳ ai tốt bụng cũng đều muốn biết khi nào người khác cảm nhận được niềm hạnh phúc. Họ quan tâm đến điều đó hơn là việc được nói lời cảm ơn. Tớ ước gì—tớ thực sự ước gì..."
Cô đột ngột ngừng bặt vì ngay khoảnh khắc ấy, ánh mắt cô vô tình chạm phải một thứ đang đặt trên chiếc bàn ở góc phòng. Đó là món đồ cô đã tìm thấy trong phòng khi bước lên đây đúng hai ngày trước. Đó là một chiếc hộp đựng thư từ nhỏ gọn được trang bị sẵn giấy viết thư, phong bì, bút và mực.
"Ồ," cô thốt lên, "sao trước đó mình lại không nghĩ đến điều này cơ chứ?"
Cô đứng dậy, đi về phía góc phòng và mang chiếc hộp lại gần lò sưởi.
"Tớ có thể viết thư cho người ấy," cô nói đầy vui sướng, "rồi để nó trên bàn. Khi đó có lẽ người thu dọn đồ đạc cũng sẽ mang nó đi. Tớ sẽ chẳng hỏi han điều gì đâu. Chắc chắn người ấy sẽ không phiền khi tớ cảm ơn đâu mà."
Thế là cô viết một bức thư. Nội dung như sau:
Em hy vọng anh sẽ không nghĩ là em bất lịch sự khi viết bức thư này trong lúc anh muốn giữ kín danh tính của mình. Xin anh hãy tin rằng em không có ý bất lịch sự hay muốn tìm hiểu bất cứ điều gì đâu ạ; chỉ là em muốn cảm ơn anh vì đã quá tốt với em—tốt như một vị bồ tát—và biến mọi thứ trở thành một câu chuyện cổ tích. Em vô cùng biết ơn anh, và em rất hạnh phúc—Becky cũng vậy. Becky cảm thấy biết ơn hệt như em vậy—mọi thứ đối với con bé cũng đẹp đẽ và kỳ diệu như đối với em vậy. Trước đây chúng em đã từng cô độc, lạnh lẽo và đói khát biết bao, và giờ thì—xin hãy nghĩ xem anh đã làm được những gì cho chúng em! Xin hãy cho phép em được nói vài lời này. Em cảm thấy mình PHẢI nói ra chúng. Cảm ơn anh—Cảm ơn anh—Cảm ơn anh rất nhiều!
CÔ BÉ Ở PHÒNG GÁC XÉP.
Sáng hôm sau, cô để bức thư này trên chiếc bàn nhỏ, và đến tối nó đã biến mất cùng với những món đồ khác; thế là cô biết Nhà Ảo Thuật đã nhận được nó, và cô cảm thấy hạnh phúc hơn hẳn vì ý nghĩ đó. Cô đang đọc một trong những cuốn sách mới cho Becky nghe ngay trước giờ đi ngủ thì sự chú ý bị thu hút bởi một âm thanh phát ra từ cửa sổ trời. Khi ngẩng đầu lên khỏi trang sách, cô thấy Becky cũng nghe thấy tiếng động ấy vì con bé đã quay đầu lại và đang lắng nghe với vẻ khá căng thẳng.
"Có cái gì ở ngoài đó kìa cô," cô bé thì thầm.
"Ừ," Sara chậm rãi đáp. "Nghe có vẻ... giống như một con mèo—đang cố chui vào."
Cô rời ghế bước đến chỗ cửa sổ trời. Đó là một âm thanh kỳ lạ—giống như tiếng cào nhẹ. Bỗng nhiên cô nhớ ra điều gì đó và bật cười. Cô nhớ đến một vị khách không mời mà đến đầy kỳ quặc từng đột nhập vào căn gác xép này một lần trước đó. Cô vừa nhìn thấy nó ngay chiều hôm nay, đang ngồi ủ rũ trên chiếc bàn trước cửa sổ trong ngôi nhà của quý ông người Ấn Độ.
"Giả sử," cô thầm thì với niềm phấn khích đầy thích thú—"giả sử đó chính là con khỉ sổng chuồng lần trước thì sao nhỉ. Ồ, tớ ước gì đúng là nó!"
Cô trèo lên ghế, vô cùng cẩn trọng hé mở cửa sổ trời và nhòm ra ngoài. Tuyết đã rơi suốt cả ngày, và trên lớp tuyết dày, ngay sát chỗ cô, đang co ro một sinh vật nhỏ bé, run lẩy bẩy với khuôn mặt đen sì nhăn nhúm lại một cách đáng thương khi nhìn thấy cô.
"Chính là con khỉ," cô kêu lên. "Nó đã trốn khỏi gác xép của lão người Lascar và nhìn thấy ánh đèn."
Becky chạy đến bên cô.
"Cô có định cho nó vào không ạ?" cô bé hỏi.
"Có chứ," Sara vui mừng đáp. "Trời lạnh thế này khỉ sao sống nổi ngoài trời. Chúng rất yếu ớt. Tớ sẽ dụ nó vào."
"Cô đưa tay ra một cách nhẹ nhàng, cất giọng dỗ dành—hệt như cách cô hay nói với bầy sẻ và chú chuột Melchisedec—cứ như chính cô cũng là một con vật nhỏ thân thiện vậy."
"Lại đây nào, bé khỉ ngoan," cô nói. "Tớ không làm hại cậu đâu."
Nó biết cô sẽ không làm hại mình. Nó biết điều đó trước cả khi cô đặt bàn tay nhỏ nhắn mềm mại, đầy trìu mến lên người nó và kéo nó về phía mình. Nó từng cảm nhận được tình yêu thương con người từ đôi bàn tay nâu mảnh mai của Ram Dass, và giờ nó cũng cảm nhận được điều đó từ đôi tay cô. Nó để cô nhấc bổng qua cửa sổ trời, và khi thấy mình đang nằm gọn trong vòng tay Sara, nó liền rúc vào ngực cô và ngước nhìn lên khuôn mặt cô.
"Khỉ con ngoan quá! Khỉ con ngoan quá!" cô ru hời, hôn lên cái đầu ngộ nghĩnh của nó. "Ôi, tớ yêu mấy chú thú nhỏ quá đi mất."
Hiển nhiên nó rất vui mừng khi được sưởi ấm, và khi cô ngồi xuống đặt nó lên đùi, nó cứ ngước nhìn cô rồi lại nhìn Becky với vẻ thích thú lẫn lợt sự tán thưởng.
"Trông nó xấu xí thật đấy cô nhỉ?" Becky nói.
"Trông nó hệt như một đứa trẻ sơ sinh cực kỳ xấu xí ấy," Sara phì cười. "Xin lỗi nhé chú khỉ; nhưng tớ rất mừng vì cậu không phải là một đứa trẻ loài người. Mẹ cậu chắc chắn SẼ chẳng thể nào tự hào về cậu được đâu, và chẳng ai dám nói cậu giống bất kỳ người họ hàng nào trong nhà cả. Ồ, tớ thích cậu lắm đấy!"
Cô ngả người ra sau ghế và trầm ngâm suy nghĩ.
"Biết đâu nó đang buồn vì mình quá xấu," cô nói, "và chuyện đó cứ ám ảnh nó mãi trong đầu. Tớ tự hỏi không biết nó CÓ biết suy nghĩ không nhỉ. Khỉ cưng của tớ ơi, cậu có biết suy nghĩ không hả?"
Nhưng con khỉ chỉ giơ bàn tay nhỏ xíu lên gãi đầu.
"Cậu định làm gì với nó bây giờ?" Becky hỏi.
"Tớ sẽ cho nó ngủ cùng tối nay, rồi ngày mai mang trả lại cho quý ông người Ấn Độ. Tớ rất tiếc phải đưa cậu về đấy, khỉ con ạ; nhưng cậu phải về thôi. Cậu nên ở cạnh gia đình của mình thì hơn; còn tớ không phải là họ hàng THỰC SỰ của cậu."
Và khi đi ngủ, cô bèn tết cho nó một chiếc ổ nhỏ ngay dưới chân giường, thế là nó cuộn tròn ngủ say sưa ở đó hệt như một đứa trẻ và vô cùng mãn nguyện với chỗ ở mới của mình.