Người thứ ba trong bộ ba là Lottie. Con bé hãy còn nhỏ dại và chưa hề biết nghịch cảnh là gì, nên rất bối rối trước sự thay đổi ở người mẹ nuôi trẻ tuổi của mình. Nó từng nghe đồn rằng có những chuyện kỳ lạ đã xảy ra với Sara, nhưng nó không tài nào hiểu nổi vì sao trông Sara lại khác trước—vì sao chị lại mặc chiếc áo đen cũ kỹ và chỉ bước vào lớp học để giảng dạy thay vì ngồi ở vị trí danh dự để tự mình học bài. Đã có rất nhiều lời xì xào to nhỏ giữa mấy đứa trẻ nhỏ khi chúng phát hiện ra Sara không còn ở trong những căn phòng mà con búp bê Emily từng ngự trị bấy lâu nay.
Khó khăn lớn nhất của Lottie là Sara nói rất ít khi có ai gặng hỏi. Ở tuổi lên bảy, mọi điều bí ẩn phải được giải thích thật rõ ràng thì trẻ con mới có thể hiểu nổi.
"Bây giờ chị có rất nghèo không, Sara?" con bé đã hỏi nhỏ vào buổi sáng đầu tiên người bạn của nó tiếp quản lớp tiếng Pháp vỡ lòng. "Chị có nghèo như kẻ ăn mày không?" Nó thọc bàn tay mũm mĩm vào bàn tay mảnh khảnh của Sara, đôi mắt tròn xoe ngấn lệ. "Em không muốn chị nghèo như kẻ ăn mày đâu."
Trông con bé như sắp sửa òa khóc đến nơi. Sara vội vàng dỗ dành nó.
"Người ăn mày thì chẳng có nơi nào để ở cả," Sara can đảm nói. "Còn chị thì có chỗ để ở chứ."
"Chị ở đâu cơ?" Lottie gặng hỏi. "Cô bé mới đến đang ngủ trong phòng của chị, và phòng đó hết xinh rồi."
"Chị ở phòng khác," Sara đáp.
"Phòng đó có đẹp không?" Lottie thắc mắc. "Em muốn đến xem cơ."
"Em không được nói chuyện," Sara nhắc nhở. "Bà Minchin đang nhìn chúng ta kìa. Bà ấy sẽ nổi giận với chị vì đã để em thì thầm đấy."
Con bé đã sớm nhận ra rằng mình sẽ phải chịu trách nhiệm cho mọi chuyện trái ý. Nếu bọn trẻ không chú ý, nếu chúng nói chuyện, nếu chúng ngọ nguậy không yên, thì người bị quở trách chính là cô.
Nhưng Lottie là một đứa trẻ có ý chí kiên định. Nếu Sara không chịu nói cho nó biết nơi ở, nó sẽ tự mình tìm ra bằng cách khác. Nó trò chuyện với mấy đứa bạn nhỏ, la cà quanh những nữ sinh lớn tuổi hơn và lắng nghe khi họ buôn chuyện; rồi dựa trên một vài thông tin mà họ vô tình để lộ, vào một buổi chiều muộn, nó bắt đầu cuộc hành trình khám phá, leo qua những bậc thang mà nó chưa từng biết là có tồn tại, cho đến khi lên đến tầng áp mái. Ở đó, nó tìm thấy hai cánh cửa nằm sát cạnh nhau, và khi đẩy một cánh cửa mở ra, nó nhìn thấy Sara yêu quý của mình đang đứng trên một chiếc ghế đẩu cũ và nhìn ra ngoài cửa sổ.
"Sara!" nó kêu lên, đầy kinh hoàng. "Mẹ Sara!" Nó kinh hoàng vì căn phòng áp mái quá trống trải, xấu xí và dường như cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Đôi chân ngắn ngủi của nó có cảm giác như vừa leo qua hàng trăm bậc thang vậy.
Sara quay người lại theo tiếng gọi. Giờ thì đến lượt cô hoảng hốt. Chuyện gì sẽ xảy ra đây? Nếu Lottie bật khóc và vô tình có ai nghe thấy, cả hai sẽ tiêu đời. Cô nhảy phắt khỏi chiếc ghế và chạy về phía con bé.
"Đừng khóc và làm ồn," cô khẩn khoản. "Chị sẽ bị mắng nếu em làm thế, và chị đã bị mắng suốt cả ngày nay rồi. Nó... nó không phải là một căn phòng quá tệ đâu, Lottie ạ."
Lottie há hốc miệng thở dốc, và khi đưa mắt nhìn quanh phòng, nó cắn nhẹ môi. Dù vẫn là một đứa trẻ được chiều chuộng, nhưng nó đủ yêu quý người mẹ nuôi để cố gắng kìm nềm cảm xúc vì cô. Hơn nữa, chẳng hiểu sao, bất cứ nơi nào Sara ở cũng rất có thể sẽ trở thành một nơi tốt đẹp. "Sao lại thế hả chị, Sara?" nó suýt thì thầm.
Sara ôm chặt lấy con bé và cố gắng bật cười. Sự ấm áp từ thân hình mũm mĩm của đứa trẻ mang lại một niềm an ủi phần nào. Cô đã trải qua một ngày tồi tệ và phải dán mắt nhìn ra cửa sổ với đôi mắt cay xè.
"Em có thể nhìn thấy đủ thứ mà ở dưới lầu em chẳng thể thấy được," cô nói.
"Thứ gì cơ ạ?" Lottie gặng hỏi, với sự tò mò mà Sara luôn có thể khơi gợi ngay cả ở những cô bé lớn hơn.
"Những chiếc ống khói—ở ngay sát chúng ta thôi—với làn khói cuộn thành từng vòng tròn, từng cụm mây bay thẳng lên bầu trời—và những chú chim sẻ nhảy nhót, chuyện trò với nhau cứ như thể chúng là con người vậy—và những ô cửa sổ áp mái khác mà đầu ai đó có thể nhô ra bất cứ lúc nào khiến em phải tự hỏi không biết chúng thuộc về ai. Và tất cả những điều đó mang lại cảm giác ở trên cao—tựa như đây là một thế giới khác vậy."
"Ồ, cho em xem với!" Lottie kêu lên. "Nhấc em lên nào!"
Sara nhấc bổng con bé lên, và cả hai cùng đứng trên chiếc chiếc ghế đẩu cũ, tì người vào bệ ô cửa sổ phẳng trên mái nhà rồi phóng tầm mắt nhìn ra ngoài.
Bất cứ ai chưa từng làm điều này sẽ không thể biết được họ đã nhìn thấy một thế giới khác biệt đến nhường nào. Những phiến đá phiến trải dài ở hai bên và nghiêng dốc xuống những ống máng xối nước mưa. Bấy giờ đã quen thuộc với chốn này, lũ chim sẻ ríu rít và nhảy nhót hoàn toàn không chút sợ hãi. Hai con đậu trên đỉnh ống khói gần nhất và cãi nhau kịch liệt cho đến khi một con mổ con kia và đuổi nó đi. Ô cửa sổ gác mái sát bên cạnh họ bị đóng kín vì ngôi nhà bên cạnh đang bỏ trống.
"Ước gì có ai đó sống ở đó nhỉ," Sara nói. "Nó sát đến mức nếu có một cô bé ở trên gác mái, chúng ta có thể trò chuyện với nhau qua cửa sổ và trèo qua thăm nhau, miễn là chúng ta không sợ ngã."
Bầu trời dường như ở gần hơn rất nhiều so với khi nhìn từ dưới đường, khiến Lottie vô cùng thích thú. Từ khung cửa sổ áp mái, giữa những chiếc ống khói, những gì đang diễn ra ở thế giới bên dưới dường như trở nên vô thực. Người ta hầu như quên mất sự tồn tại của bà Minchin, cô Amelia và phòng học, còn tiếng bánh xe lăn lọc cọc ngoài quảng trường bỗng vang lên như âm thanh thuộc về một cõi đời khác.
"Ồ, Sara!" Lottie kêu lên, rúc vào vòng tay bảo bọc của Sara. "Em thích căn gác mái này quá—em thích lắm! Nó đẹp hơn ở dưới lầu nhiều!"
"Nhìn kìa, chú chim sẻ kìa," Sara thì thầm. "Ước gì chị có chút vụn bánh mì để ném cho nó."
"Em có đây!" Lottie ré lên một tiếng nhỏ. "Em còn giấu một mẩu bánh ngọt trong túi; hôm qua em mua nó bằng đồng xu của mình đấy, và em đã để dành lại một mẩu."
Khi họ ném ra vài mẩu vụn bánh, chú chim sẻ giật mình bay vút lên đỉnh ống khói gần đó. Rõ ràng nó không quen với sự thân mật ở những căn gác mái, và những mẩu vụn bất ngờ đã làm nó hoảng sợ. Nhưng khi Lottie đứng im phăng phắc và Sara cất tiếng hót líu lo thật khẽ—gần như thể chính cô cũng là một chú chim sẻ—nó nhận ra rằng thứ vừa làm nó hoảng sợ hóa ra lại là một cử chỉ hiếu khách. Nó nghiêng đầu, từ chỗ đậu trên ống khói nhìn xuống những mẩu vụn bánh với đôi mắt láo liên. Lottie suýt không giữ được bình tĩnh.
"Nó có đến không? Nó có đến không ạ?" con bé thì thầm.
"Mắt nó trông có vẻ như muốn đến đấy," Sara thì thầm đáp lại. "Nó đang đắn đo suy nghĩ xem có dám lại không. Có chứ! Nó đang đến kìa!"
Chú chim bay là đà xuống và nhảy nhót tiến về phía những mẩu vụn bánh, nhưng lại dừng lại cách đó vài phân, lại nghiêng đầu sang một bên như thể đang cân nhắc rủi ro liệu Sara và Lottie có hóa thành những con mèo lớn chồm tới vồ lấy nó hay không. Cuối cùng, trái tim mách bảo rằng hai đứa trẻ thực sự thân thiện hơn vẻ bề ngoài của chúng, chú ta nhảy lại gần hơn nữa, lao tới mẩu bánh to nhất với một cú mổ nhanh tựa chớp, ngoạm lấy nó rồi bay vút về phía bên kia ống khói.
"Bây giờ thì nó BIẾT rồi đấy," Sara nói. "Và nó sẽ quay lại vì những mẩu khác cho mà xem."
Nó đã quay lại thật, thậm chí còn dắt theo một người bạn, rồi người bạn đó lại đi gọi thêm họ hàng đến; và giữa bọn chúng diễn ra một bữa ăn thịnh soạn ríu rít chát chít và kêu la inh ỏi, thỉnh thoảng lại dừng lại để nghiêng đầu quan sát Lottie và Sara. Lottie thích thú đến mức quên béng mất ấn tượng tồi tệ ban đầu về căn gác mái. Thậm chí, khi con bé được nhấc xuống khỏi chiếc ghế đẩu và trở về với thực tại, Sara đã có thể chỉ cho nó thấy rất nhiều nét đẹp trong căn phòng mà nếu tự mình, chắc Lottie chẳng bao giờ ngờ tới sự tồn tại của chúng.
"Nó nhỏ bé và nằm ở tít trên cao," cô nói, "nên trông gần giống như một cái tổ chim trên cây vậy. Trần nhà nghiêng trông ngộ nghĩnh làm sao. Em xem này, em khó mà đứng thẳng ở đầu này của phòng; và khi trời vừa hửng sáng, chị có thể nằm trên giường ngước thẳng lên bầu trời qua khung cửa sổ phẳng trên mái nhà. Nó giống như một mảnh vá ánh sáng hình vuông vậy. Nếu trời sắp nắng, những đám mây hồng nhỏ xíu sẽ trôi lững lờ, và chị có cảm giác như mình có thể chạm tay vào chúng. Còn nếu trời mưa, những giọt nước tí tách rơi như thể chúng đang thì thầm điều gì dễ chịu lắm. Rồi khi đêm về có những vì sao, em có thể nằm đếm xem có bao nhiêu ngôi sao lọt vào ô cửa đó. Sẽ cần rất nhiều đấy chứ. Và em hãy nhìn chiếc lò sưởi nhỏ xíu, rỉ sét ở góc kìa. Nếu nó được đánh bóng và có lửa cháy bùng bên trong, hãy nghĩ xem nó sẽ tuyệt vời đến thế nào. Em thấy đấy, đây thực sự là một căn phòng nhỏ xinh đẹp."
Cô vừa đi vòng quanh không gian nhỏ bé, vừa nắm tay Lottie và làm những cử chỉ miêu tả tất cả những vẻ đẹp mà chính cô đang tự tưởng tượng ra. Cô đã thực sự khiến Lottie cũng nhìn thấy những điều đó. Lottie luôn có thể tin vào những hình ảnh mà Sara vẽ ra.
"Em thấy đấy," cô nói, "sẽ có một tấm thảm len Ấn Độ dày và mềm mại trải trên sàn; và ở góc kia sẽ là một chiếc ghế sô-đa nhỏ êm ái, với những chiếc gối để cuộn mình nằm nghỉ; ngay phía trên sẽ là một chiếc giá sách đầy ắp để người ta có thể với lấy một cách dễ dàng; và sẽ có một tấm thảm lông thú trước lò sưởi, những tấm rèm treo tường để che đi lớp vôi trắng, cùng những bức tranh nữa. Chúng phải là những bức tranh nhỏ, nhưng sẽ rất đẹp; rồi sẽ có một chiếc đèn với chiếc chụp màu hồng đậm; một chiếc bàn ở giữa phòng với đầy đủ dụng cụ uống trà; một chiếc ấm đồng nhỏ béo tròn đang reo vui trên bếp lò; và chiếc giường ngủ sẽ hoàn toàn khác. Nó có thể được làm thật êm ái và phủ một tấm khăn trải giường bằng lụa tuyệt đẹp. Mọi thứ có thể thật lộng lẫy. Và biết đâu chúng ta có thể dỗ dành để kết thân với lũ chim sẻ đến mức chúng sẽ bay đến mổ vào cửa sổ và xin được vào trong."
"Ồ, Sara!" Lottie kêu lên. "Em muốn được sống ở đây quá!"
Khi Sara đã thuyết phục được con bé đi xuống nhà, và sau khi tiễn nó đi một đoạn, cô quay trở lại căn gác mái của mình, đứng giữa phòng và đưa mắt nhìn quanh. Phép màu từ những tưởng tượng mà cô vừa vẽ ra cho Lottie đã phai nhạt. Chiếc giường thì cứng ngắc và được phủ một tấm chăn bông xỉn màu. Bức tường quét vôi loang lổ những vết nứt vỡ, sàn nhà lạnh lẽo và trống hoác, lò sưởi thì gãy nát và rỉ sét, còn chiếc ghế đẩu bị bóp méo, chỏng chơ nghiêng một bên trên cái chân gãy của nó chính là chỗ ngồi duy nhất trong phòng. Cô ngồi xuống đó trong vài phút và gục đầu vào hai bàn tay. Chỉ riêng việc Lottie đến rồi đi cũng đủ khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn—cũng giống như cảm giác của những tù nhân khi họ cảm thấy cô quạnh hơn sau khi có khách đến thăm rồi rời đi, để mặc họ ở lại một mình.
"Đúng là một nơi cô quạnh," cô nói. "Thỉnh thoảng nó là nơi cô quạnh nhất trên đời."
Cô đang ngồi như vậy thì sự chú ý bị thu hút bởi một tiếng động khẽ khàng gần đó. Cô ngẩng đầu lên để xem âm thanh phát ra từ đâu, và nếu là một đứa trẻ nhát gan, chắc cô đã vùng dậy khỏi chiếc ghế đẩu rách nát ấy trong sự hoảng hốt. Một con chuột lớn đang ngồi xổm trên hai chân sau, đánh hơi bầu không khí với vẻ đầy hứng thú. Vài mẩu vụn bánh của Lottie đã rơi xuống sàn và mùi thơm của chúng đã dụ nó bò ra khỏi hang.
Trông nó kỳ cục và giống một tên lùn hay yêu tinh râu xám đến nỗi Sara cảm thấy khá bị cuốn hút. Nó nhìn cô bằng đôi mắt sáng rực, như thể đang muốn đặt câu hỏi. Rõ ràng nó vô cùng dè dặt khiến một trong những suy nghĩ kỳ quặc của cô bé chợt hiện lên trong đầu.
"Ta dám cá là làm một con chuột thì cũng khá cực khổ," cô trầm ngâm suy nghĩ. "Chẳng ai thích mày cả. Người ta toàn nhảy dựng lên, bỏ chạy và hét toáng lên, 'Ối, con chuột gớm ghiếc!' Ta chắc sẽ không thích việc mọi người cứ thét lên, nhảy cẫng lên và bảo rằng, 'Ối, con Sara gớm ghiếc!' ngay khoảnh khắc họ trông thấy ta đâu. Rồi họ còn giăng bẫy bắt ta, và giả vờ như ta là bữa tối của họ nữa chứ. Làm chim sẻ khác biết bao. Thế mà chẳng ai thèm hỏi con chuột này xem nó có muốn làm chuột khi được sinh ra hay không. Chẳng ai thèm bảo nó rằng, 'Mày không thích làm chim sẻ hơn sao?'"
Cô ngồi yên lặng đến mức con chuột bắt đầu bạo dạn hơn. Nó rất sợ cô, nhưng có lẽ nó cũng có một trái tim giống như chú chim sẻ và nó mách bảo rằng cô không phải là thứ gì đó chực chờ vồ lấy nó. Nó đang rất đói. Nó có một cô vợ và một đàn con nheo nhóc trong vách tường, và dạo gần đây chúng gặp vận đen khủng khiếp suốt mấy ngày trời. Nó đã để đám con ở lại với tiếng khóc rấm rứt, và cảm thấy bản thân sẵn sàng đánh cược lớn để đổi lấy vài mẩu vụn bánh, thế nên nó cẩn thận hạ chân xuống sàn.
"Lại đây nào," Sara nói; "ta không phải cái bẫy đâu. Mày cứ ăn đi, tội nghiệp chưa kìa! Những tù nhân trong ngục Bastille ngày trước thường kết bạn với lũ chuột mà. Hay là ta kết bạn với mày nhỉ."
Làm thế nào mà động vật có thể hiểu được con người thì tôi không rõ, nhưng chắc chắn là chúng hiểu. Có lẽ có một thứ ngôn ngữ không được tạo nên từ từ ngữ và mọi vật trên đời đều hiểu được nó. Có lẽ có một tâm hồn ẩn giấu trong vạn vật và nó luôn có thể trò chuyện, thậm chí chẳng cần phát ra âm thanh nào, với một tâm hồn khác. Nhưng dù lý do là gì đi nữa, ngay từ khoảnh khắc ấy, con chuột biết rằng nó được an toàn—dù nó chỉ là một con chuột. Nó biết rằng con người trẻ tuổi đang ngồi trên chiếc ghế đẩu màu đỏ kia sẽ không chồm dậy làm nó hoảng sợ bằng những tiếng động sắc nhọn, dữ dội, hay ném những vật nặng vào nó—những thứ mà nếu không rơi xuống đè bẹp nó thì cũng khiến nó phải thọt chân trốn chạy thục mạng về hang. Nó thực sự là một con chuột rất ngoan và hoàn toàn không có ý định gây hại gì. Khi đứng trên hai chân sau và đánh hơi không khí với đôi mắt sáng đảo liên hồi nhìn Sara, nó đã hy vọng rằng cô sẽ hiểu điều này và sẽ không bắt đầu căm ghét nó như một kẻ thù. Khi thứ ngôn ngữ huyền bí truyền tải mà không cần thốt ra lời nào ấy báo cho nó biết rằng cô sẽ không làm thế, nó bèn rón rén tiến về phía những mẩu vụn bánh và bắt đầu ăn. Vừa ăn, nó vừa thỉnh thoảng liếc nhìn Sara hệt như lũ chim sẻ từng làm, và biểu cảm của nó trông có vẻ hối lỗi đến mức làm lay động trái tim cô.
Cô ngồi im lặng ngắm nhìn nó mà không hề chuyển động. Có một mẩu vụn to hơn hẳn những mẩu khác—thực ra, khó mà gọi đó là mẩu vụn được. Rõ ràng là nó rất muốn lấy miếng bánh đó, nhưng nó nằm khá gần chiếc ghế đẩu và con chuột vẫn còn đôi chút rụt rè.
"Chắc hẳn nó muốn mang về cho gia đình trong vách tường đây," Sara nghĩ thầm. "Nếu mình hoàn toàn không động đậy, biết đâu nó sẽ tới lấy."
Cô thậm chí chẳng dám thở mạnh vì quá chăm chú theo dõi. Con chuột lết lại gần hơn một chút và ăn thêm vài mẩu bánh nữa, rồi nó dừng lại, đánh hơi thật khẽ và liếc mắt sang phía người đang ngồi trên chiếc ghế đẩu; đoạn nó lao vút tới miếng bánh ngọt với sự bạo dạn đột ngột trông giống hệt chú chim sẻ, và ngay khoảnh khắc ngoạm được nó trong miệng, nó liền chuồn thẳng về phía bức tường, chui tụt qua một khe hở ở ván chân tường rồi biến mất.
"Ta biết ngay là nó muốn dành cho đám con mà," Sara nói. "Ta thực sự tin là mình có thể kết bạn với nó đấy."
Khoảng một tuần sau, vào một trong số ít những đêm hiếm hoi mà Ermengarde thấy an toàn để lẻn lên gác mái, khi cô bé gõ nhẹ những đầu ngón tay lên cửa, Sara đã không ra mở cửa ngay trong hai hoặc ba phút đầu. Thực ra, lúc ấy không gian trong phòng tĩnh lặng đến mức Ermengarde tự hỏi không biết bạn mình đã ngủ quên mất tiêu rồi hay sao. Rồi ngạc nhiên thay, cô bé nghe thấy Sara bật một tiếng cười khúc khích nho nhỏ và thì thầm dỗ dành ai đó.
"Nào!" Ermengarde nghe thấy Sara nói. "Cầm lấy rồi về nhà đi, Melchisedec! Về với vợ của mày đi!"
Ngay lập tức, Sara mở cửa, và khi cửa vừa hé, cô bé thấy Ermengarde đang đứng chết trân ngưỡng cửa với đôi mắt đầy hoảng hốt.
"C-Cậu... đang nói chuyện với ai thế, Sara?" cô bé thở hổn hển.
Sara thận trọng kéo bạn vào phòng, nhưng trông nét mặt cô rất đỗi vui vẻ và thích thú.
"Cậu phải hứa là không được sợ hãi—không được thét lên dù chỉ một chút đấy, bằng không tớ không kể đâu," cô đáp.
Ermengarde suýt chút nữa thì muốn hét toáng lên ngay tại chỗ, nhưng cô bé đã cố gắng kìm nềm lại. Cô bé đảo mắt nhìn quanh gác mái và chẳng thấy bóng dáng ai cả. Thế mà rõ ràng là Sara vừa nói chuyện VỚI ai đó. Cô bé nghĩ ngay đến hồn ma.
"Đó có phải là... thứ gì khiến tớ sợ không?" cô bé rụt rè hỏi.
"Một vài người thì sợ," Sara nói. "Ban đầu tớ cũng thế—nhưng giờ thì không."
"Có phải là... ma không?" Ermengarde run lẩy bẩy.
"Không," Sara bật cười đáp. "Là con chuột của tớ đấy."
Ermengarde nhảy dựng lên một cái, và hạ cánh ngay giữa chiếc giường nhỏ bé tồi tàn. Cô bé vội thu chân lại dưới lớp váy ngủ và chiếc khăn choàng đỏ. Cô bé không hét lên, nhưng thở dốc vì sợ hãi.
"Ôi! Ôi!" cô bé thều thào kêu lên. "Chuột! Chuột kìa!"
"Tớ đã sợ là cậu sẽ hoảng mà," Sara nói. "Nhưng cậu chẳng cần phải sợ đâu. Tớ đang thuần hóa nó đấy. Nó thực sự nhận ra tớ và sẽ chui ra mỗi khi tớ gọi. Cậu sợ đến mức không muốn nhìn thấy nó nữa à?"
Sự thật là qua thời gian, nhờ những mẩu thức ăn thừa mang từ nhà bếp lên, tình bạn kỳ lạ ấy ngày càng phát triển, khiến cô dần quên mất rằng sinh vật rụt rè mà cô đang dần quen thuộc ấy chỉ đơn thuần là một con chuột.
Ban đầu, Ermengarde quá sợ hãi nên chẳng làm được gì ngoài việc co ro cuộn tròn thành một cục trên giường và co giò lên, nhưng rồi dáng vẻ điềm tĩnh của Sara cùng câu chuyện về lần xuất hiện đầu tiên của Melchisedec cuối cùng cũng khơi dậy sự tò mò trong cô bé; cô bé chồm người tới trước, qua mép giường và quan sát Sara tiến lại gần, quỳ xuống bên lỗ hổng trên ván chân tường.
"Nó—nó sẽ không lao ra nhanh rồi nhảy lên giường đấy chứ?" cô bé hỏi.
"Không đâu," Sara đáp. "Nó lịch sự y như chúng mình vậy. Nó giống hệt như một con người ấy. Cậu xem nhé!"
Cô bắt đầu phát ra một âm thanh rít khẽ—nhỏ và đầy vẻ dỗ đến mức chỉ có thể nghe thấy trong không gian hoàn toàn tĩnh mịch. Cô làm thế vài lần, vẻ mặt hoàn toàn tập trung vào đó. Ermengarde thầm nghĩ trông cô cứ như đang làm phép vậy. Và cuối cùng, dường như để hưởng ứng lại tiếng gọi, một chiếc đầu với bộ râu xám và đôi mắt sáng rực đã ló ra từ chiếc lỗ. Sara đang cầm sẵn vài mẩu vụn bánh trên tay. Cô thả chúng xuống, và Melchisedec lặng lẽ tiến ra thưởng thức. Một miếng bánh to hơn hẳn những miếng khác đã được nó ngoạm lấy và mang về tổ với dáng vẻ vô cùng tháo vát, bận rộn.
"Cậu thấy chưa," Sara nói, "miếng đó là dành cho vợ và con nó đấy. Nó ngoan lắm. Nó chỉ ăn những mẩu nhỏ thôi. Sau khi nó quay về, tớ lúc nào cũng nghe thấy tiếng gia đình nó ríu rít mừng vui. Có ba loại tiếng kêu lận. Một loại là của bọn trẻ con, một là của bà Melchisedec, và một loại là của chính Melchisedec."
Ermengarde bật cười.
"Ồ, Sara!" cô bé nói. "Cậu KỲ CỤC thật đấy—nhưng mà cậu đáng yêu."
"Tớ biết là mình kỳ cục mà," Sara vui vẻ thừa nhận; "và tớ CỐ GẮNG để trở nên đáng yêu." Cô dùng bàn tay nhỏ nhắn rám nắng của mình xoa trán, và một vẻ mặt bối rối, dịu dàng hiện lên trên khuôn mặt. "Cha luôn cười tớ," cô nói; "nhưng tớ thích thế. Cha nghĩ tớ kỳ cục, nhưng cha thích việc tớ hay tưởng tượng ra mọi chuyện. Tớ—tớ không thể ngừng tưởng tượng được. Nếu không làm thế, tớ chẳng tin nổi mình có thể sống nổi." Cô dừng lại, đưa mắt nhìn quanh gác mái. "Tớ chắc chắn là mình không thể sống ở đây nổi đâu," cô nói thêm với giọng trầm buồn.
Ermengarde tỏ ra thích thú, như mọi khi. "Khi cậu kể chuyện," cô bé nói, "mọi thứ cứ như thể trở thành sự thật vậy. Cậu nói về Melchisedec cứ như thể nó là một con người thực thụ ấy."
"Nó LÀ một con người mà," Sara nói. "Nó cũng biết đói và biết sợ hãi hệt như chúng ta; nó cũng có vợ và có con. Làm sao chúng ta biết chắc là nó không có suy nghĩ giống như chúng ta cơ chứ? Mắt nó trông cứ như của một con người vậy. Đó là lý do vì sao tớ đặt tên cho nó."
Cô ngồi bệt xuống sàn theo tư thế quen thuộc, hay tay ôm lấy đầu gối.
"Hơn nữa," cô nói, "nó là một chú chuột ngục Bastille được phái đến để làm bạn với tớ. Tớ lúc nào cũng có thể xin một mẩu bánh mì từ người đầu bếp, và chừng đó là quá đủ để nuôi sống nó rồi."
"Vẫn là ngục Bastille à?" Ermengarde hào hứng hỏi. "Cậu lúc nào cũng giả vờ đây là ngục Bastille sao?"
"Hầu như lúc nào cũng thế," Sara đáp. "Đôi khi tớ cố giả vờ đây là một nơi nào khác; nhưng ngục Bastille vẫn là dễ tưởng tượng nhất—nhất là khi trời lạnh."
Ngay lúc đó, Ermengarde suýt ngã lăn xuống giường vì giật mình trước một âm thanh vừa vang lên. Nó nghe giống như hai tiếng gõ rõ rệt vào vách tường.
"Gì thế kia?" cô bé kêu lên.
Sara đứng dậy khỏi sàn nhà và đáp lại với vẻ vô cùng kịch tính:
"Là người tù nhân ở phòng giáp vách đấy."
Becky!" Ermengarde sung sướng kêu lên.
"Đúng vậy," Sara nói. "Cậu nghe này; hai tiếng gõ vừa rồi có nghĩa là, 'Tù nhân ơi, cậu có ở đó không?'"
Cô tự mình gõ ba tiếng lên vách tường, như để đáp lời.
"Điều đó có nghĩa là, 'Có, tôi ở đây, và mọi chuyện đều ổn cả.'"
Bốn tiếng gõ phát ra từ phía vách tường bên phía Becky.
"Nó có nghĩa là," Sara giải thích, "'Vậy thì, người cùng cảnh ngộ, chúng ta hãy ngủ một giấc thật bình yên nhé. Chúc ngủ ngon.'"
Ermengarde rạng rỡ hẳn lên vì thích thú.
"Ồ, Sara!" cô bé vui sướng thì thầm. "Y như trong truyện vậy!"
"Đúng LÀ truyện mà," Sara nói. "MỌI THỨ đều là truyện. Cậu là truyện—tớ là truyện. Bà Minchin cũng là truyện."
Và cô lại ngồi xuống, trò chuyện rôm rả cho đến khi Ermengarde quên mất rằng chính bản thân mình cũng đang là một dạng tù nhân trốn trại, và phải được Sara nhắc nhở rằng cô bé không thể ở lại ngục Bastille suốt đêm được, mà phải lẻn thật khẽ xuống nhà để bò về chiếc giường trống vắng của mình.