“Ồ, tôi sẽ xuống Belfast để ngắm bến cảng vui tươi ấy.” — MỘT NHÀ THƠ QUÊ QUÁN.
Đối với hắn, toàn bộ cuộc trò chuyện, toàn bộ khung cảnh, toàn bộ sự việc đều vô thực hệt như những bóng ma, hay những sự vật trong đêm sương mù. Trước mặt hắn là người phụ nữ này, người từng vô cùng gần gũi với hắn, người mà hắn từng gắn bó sâu nặng, nay lại đang nói chuyện rời bỏ hắn một cách tỉnh bơ như thể cô đang bàn chuyện lên xe điện. Kìa là màn sương mờ tối của một buổi chiều tháng Hai tại Belfast, làn mưa lất phất làm ngả vàng những ngọn đèn đường; những chiếc xe điện cáp lao vút qua một cách sỗ sàng và cáu kỉnh, mang theo âm thanh va chạm đột ngột như muốn quát lên rằng “tránh đường ra cho tao nhờ, đồ khốn kiếp!”. Cô đang tính chuyện bỏ hắn, cô đang tính chuyện bỏ hắn vĩnh viễn, tất cả chỉ vì một cuộc đình công, hãy nghĩ mà xem! Chỉ vì một cuộc đình công chứ chẳng vì cái gì khác!
“Thôi, chắc tôi phải đi đây,” cô nói.
“Ừm—” Hắn chuyển trọng lượng từ chân này sang chân kia. “Tôi nghĩ cô làm thế là ngốc nghếch lắm đấy,” hắn nói.
Cô mỉm cười khi hắn nhìn mình, nụ cười thầm kín kỳ lạ ấy cho thấy cô đang thu mình vào thế giới riêng. Hắn thuộc lòng từng biểu cảm trênKhuôn mặt cô—tính đến nay đã tròn một năm.
“Cô muốn tôi phải làm gì nào?” hắn hỏi lần thứ tư.
“Hãy cho những công nhân trong xưởng thứ họ muốn đi. Họ chỉ đòi hỏi sự công bằng tối thiểu thôi mà. Hơi đâu tiếc vài ba xu một tuần! Đối với anh thì đáng là gì chứ?”
“Tôi không đời nào làm thế.” Hắn lắc đầu. Bộ râu đỏ rậm rạp của hắn cũng lắc theo.
“Anh là một kẻ nhẫn tâm, Aleck,” cô dịu dàng nói. “Anh chẳng khác nào sắt đá cả. Mà anh cũng có tuổi rồi đấy, Aleck. Anh đâu còn trẻ trung gì nữa. Hãy mềm mỏng đi một chút đi anh. Chẳng có gì phải xấu hổ cả.”
“Tôi không đời nào.”
“À, thôi vậy!” Cô bước về phía lề đường, sẵn sàng ra hiệu gọi xe điện. Hắn dõi theo cô bằng ánh mắt đăm đăm. Trong số tất cả những người phụ nữ đi qua đời hắn, cô là người để lại dấu ấn sâu đậm nhất:—một cô gái lao động bình thường! Hắn quý mến cô. Hơn thế nữa, hắn đã yêu cô. Tình cảm của hắn dành cho cô không phải là một thứ nhất thời bồng bột mà là một sự thật hiển nhiên. Hắn còn khâm phục cô nữa, điều mà hắn chưa từng cảm thấy ở bất kỳ người phụ nữ nào, dẫu cô có vị trí trong lòng hắn vượt qua cả ranh giới của một người vợ thông thường. Hắn nể phục cô chính vì điều đó—cô bước vào mối quan hệ này một cách vô cùng bình thản, cởi mở và dũng cảm. Hắn ngưỡng mộ cô; trong con người cô không hề mang dòng máu thấp hém, tầm thường.
“Nhưng này Jennie, tôi không thể để cô đi như thế được.”
Cô quay lại đối mặt với hắn. Hắn cảm thấy lúng túng trước đôi mắt nâu kiên định của cô.
“Sao lại không chứ?” cô hỏi. “Aleck, tôi đâu phải đứa con gái ngar ngơ để bị lừa phỉnh. Mọi chuyện giữa chúng ta, Aleck ạ, là bởi vì tôi quý anh và tôi biết anh cũng thích tôi. Đừng bận tâm suy nghĩ làm gì cho mệt óc. Tôi chẳng làm tổn hại gì đến anh, Aleck, và anh cũng vậy. Đó là chuyện riêng của hai chúng ta.”
“Nhưng tại sao lại phải chấm dứt thế này? Vì cái gì cơ chứ?”
“Vì điều này đây, Aleck. Anh là ông chủ, là kẻ bề trên. Còn tôi là một người thợ. Tôi từ trước đến nay vẫn luôn là thợ thuyền. Anh thừa biết tôi chưa từng nhận bất cứ thứ gì từ anh, Aleck ạ. Tôi là một trong những người mà anh đang chống lại, Aleck, và tôi phải đứng về phía người dân của mình. Chừng nào cuộc chiến này còn tiếp diễn, Aleck, thì anh với tôi là chấm hết. Đó là cảm nhận của tôi, Aleck à. Tôi không thể thay đổi được.”
“Cô thật ngốc nghếch!”
“Tôi không nghĩ mình ngốc đâu.” Lần này cô ra hiệu gọi chiếc xe điện. Nó dừng lại với vẻ cáu kỉnh và vội vã quen thuộc.
“Khi nào tôi mới gặp lại cô đây?”
“Khi nào anh làm những điều mà người dân của tôi chính đáng đòi hỏi, Aleck, chứ không phải trước thời điểm đó.” Và cô đã đi mất.
Hắn đứng chôn chân giữa làn mưa vài phút. Một nỗi hoảng hốt chợt ùa về chiếm lấy hắn. Đã một năm nay hắn chưa từng cảm thấy cô đơn đến thế. Hắn có cảm giác mình đang đứng bên bờ vực của một hành động dại dột.
“Tôi không đời nào chịu thua!” hắn ngoan cố lẩm bẩm.
Hắn lủi thủi quay bước đi với vẻ mặt u ám. Trong lòng dâng lên một khao khát cháy bỏng muốn bắt ngay chuyến xe điện tiếp theo để đón đầu cô ở trạm trung chuyển.
“Thôi ngay cái trò làm rồ làm dại đi,” hắn tự nhủ với chính mình. “Mày sẽ không làm thế đâu.”
Hắn cứ thế cắm cổ bước đi, chẳng màng đến việc mình đang đi đâu. Lòng hắn sục sôi những nỗi niềm bực dọc.
“Năm nay tao đã tăng lương cho chúng nó đến hai lần rồi còn gì nữa!”
Hắn phớt lờ tất cả, ngoại trừ hành động nổi loạn ngang bướng và công khai của đám công nhân trong nhà máy hắn, nhà máy của cha hắn, nhà máy của ông nội hắn. Và giờ đây, họ lại cướp đi của hắn Jeanie Lindsay, người phụ nữ duy nhất mà hắn thực sự yêu quý trong suốt cuộc đời mình.
“Mặc thây chúng nó chứ!” hắn hung hăng thốt lên. Bộ râu đỏ dựng ngược cả lên.
Hắn khựng lại đột ngột. Hắn giơ nắm đấm về phía cột đèn hồ quang.
“Tao sẽ đóng cửa nhà máy,” hắn lẩm bẩm thành tiếng. “Tao sẽ dẹp tiệm luôn. Cứ thế đi cho rồi. Tao ngấy đến tận cổ rồi đấy. Bọn chúng đừng có hòng kiếm đâu ra một kẻ mềm lòng ở cái tên Aleck Robe’son này. Tao đóng cửa tất. Có mà chết quách đi tao cũng làm! Làm thật đấy! Tao sẽ làm cho chúng mày biết tay!”
Từ thủa lọt lòng, Aleck Robertson đã được nuôi dạy để gắn liền cuộc đời với nhà máy dệt, y như cha anh và ông nội anh trước kia. Nhà máy Robertson là một tòa nhà nhỏ gọn, nằm khuất ngả đường Falls Road, nơi dung dưỡng không quá bốn trăm công nhân. Nhưng danh tiếng của họ không chỉ vang dội riêng ở Belfast. Trước Thế chiến, nhiều vương triều hoàng gia ở châu Âu từng đặt mua vải lụa may đồ cưới từ xưởng dệt của nhà Robertson. Đó là một xưởng dệt nhỏ, đúng như lẽ dĩ nhiên phải thế, với một cánh cửa nhỏ, và trên con phố phụ là phần lề cửa khắc dòng chữ “Robert Robertson & Con Trai, Thành lập năm 1803.”
Một gia đình kì lạ làm sao, những con người nhà Robertson ở Belfast này, vô cùng kiên cố và vô cùng ngoan cố. Suốt năm thế hệ qua, dòng họ này chỉ sinh được một người con trai duy nhất và không có lấy một cô con gái nào. “Loài chim dệt vải xứ Scotland, mỗi mùa chỉ đẻ một trứng,” một vị bác sĩ tính tình khô khan từng châm biếm họ như vậy. Quả đúng là thế thật. Họ là một triều đại cao lớn, vững chãi, đến tuổi trung niên sẽ kết hôn với những người vợ cũng vững chãi chẳng kém gì họ. Aleck trẻ tuổi, với bộ râu đỏ rực và vóc dáng cao gầy, vẫn còn nhớ như in người cha cao lớn, gầy gò và để râu y như anh, cùng người ông nội cũng để râu hệt vậy; cả hai đều là những con người trầm lặng, hay trầm tư suy ngẫm, những học giả nghiên cứu Sách Giáo Lý Ngắn Gọn, đồng thời là những nhà quan sát đời sống sắc sảo, những người nắm giữ sự tín nhiệm của những tấm vải lụa óng ả. Họ có những bổn phận của riêng mình: lo quản lý công việc làm ăn của gia đình; chăm sóc nhà máy thật tốt; và dệt ra những cấm vải thượng hạng.
“Mấy kẻ nhà Robertson ấy có thể nhìn thấy thớ lụa ngay từ trong cọng lanh đấy!” một công nhân của họ từng kiêu hãnh khoe khoang, và điều đó hoàn toàn là sự thật.
Đến câu lạc bộ gôn Portrush, thế nào bạn cũng sẽ nghe người ta kể về anh. “Chức vô địch Ireland,” họ kể với tôi, “lúc đó thuộc về Đại úy Macneill và ông giữ nó trong ba năm, rồi đến lượt Chú Simon của anh giữ một năm, rồi đến Mr. Campbell ở Kilkee, và sau đó—ai nữa nhỉ?—chính là tay buôn lụa ở Belfast—quái quỷ thật, hắn tên là gì ấy nhỉ? Robson? Robinson? Robertson, đúng rồi đấy! Chắc anh khó mà nhớ nổi hắn; hắn không phải là một tay chơi nổi bật, cũng chẳng phải là người cởi mở, nhưng cực kỳ cừ khôi! À, cừ khôi đến mức chết tiệt!”
Ở trường học, người ta phải rất vất vả mới nhớ lại được về anh. Vị hiệu trưởng chỉ mơ hồ nhớ anh là một thiếu niên trầm tính, có những vết tàn nhang và đôi bàn tay to lớn kỳ vĩ.
Có vẻ như anh và nhà máy của mình đã đi suốt cuộc đời với duy nhất một mục đích trên cõi đời này—đó là sản xuất ra những thước lụa là niềm tự hào của xứ Ulster. Mỗi người, mỗi vật đều có một vị trí xứng đáng và rõ ràng trong thế giới này. Gánh trên vai nhà máy chính là anh, một di sản quan trọng và mang tính thế hệ chẳng khác nào một trong những tiểu vương quốc Đức thời xưa. Anh từng đi khắp Ireland để nghiên cứu về cây lanh. Anh tận mắt chứng kiến chúng nhú lên những chồi xanh ngắt vào mùa xuân, mềm mại như tơ. Anh nhìn thấy chúng vươn cao rồi bị gió làm cho xao động, uốn lượn như mặt nước phẳng lặng. Anh thấy những bông hoa màu xanh kỳ lạ nở bung trên thân cây, xanh thẳm như một vì sao gần. Chúng được nhổ lên khỏi mặt đất vào mùa hè, hết sào này đến sào khác được cẩn trọng thu hoạch bởi bao nhiêu con người rồi chất đống lại như lúa mì. Và những đêm sau khi thu hoạch lanh, khắp các ngôi làng sẽ diễn ra những buổi tiệc tùng linh đình, người ta nhảy múa, ca hát, uống rượu và tình tứ dưới bầu trời đầy những vì sao bất định của xứ Ireland. Sau đó, lanh được đưa đến các con mương ngâm cho mục rữa, trong lúc những làn khí độc hại cuồn cuộn bao trùm khắp vùng quê. Tiếp đến, chúng được đem đi giũ ở các xưởng giũ lanh, nơi có những bánh xe vận hành bằng sức nước, dưới bàn tay của những người thợ tính tình hay cáu gắt và những tiếng ho lao khục khặc. Rồi cuối cùng, chúng mới đến tay anh và những người như anh, dưới dạng những sợi tơ mềm mại, óng ả, trắng ngà như mái tóc của những người phụ nữ vùng Scandinavia. Anh giao chúng cho đám nhân công của mình, những thợ dệt, thợ se và thợ chọn sợi, những con người còng lưng vì suốt ngày cúi gập trên khung cửi, cùng những người phụ nữ có lối sống phóng khoáng và hiếm khi nào được coi là xinh đẹp. Giờ đây, chúng phủ kín những ngọn đồi cằn cỗi của xứ Ulster và chẳng mấy chốc lại ngự trị trên những bàn tiệc xa hoa đang oằn mình của các bậc đế vương.
“Cây lanh quả là một thứ kỳ diệu!” những người thợ Scotland-Ireland của anh thường thốt lên như vậy. Aleck Robertson cũng có chung suy nghĩ ấy khi anh ngẫm ngợi—dù anh chưa bao giờ diễn đạt nó thành lời—rằng sự thịnh vượng, tiếng tăm tốt đẹp và việc quản lý nhà máy lụa chính là tôn giáo của đời anh.
Cuộc đời anh trôi qua trong một guồng quay đều đặn và khít khao như một chiếc dây cu-roa trên chính những cỗ máy dệt trong xưởng. Kể từ khi cha anh qua đời mười năm trước, anh vẫn duy trì một nề nếp quen thuộc: thức dậy vào buổi sáng tại câu lạc bộ nơi anh ở, đi làm bằng xe điện—dù hãng Robertson rất nổi tiếng nhưng lại chẳng giàu có gì—chăm lo công việc ở xưởng, rồi trở về vào buổi chiều tối để hàn huyên cùng vài người bạn bên ly rượu whisky Scotland.
“Sao anh không kiếm lấy một người vợ rồi an phận thủ thường đi, Aleck?” thỉnh thoảng một người bạn lại hỏi anh.
“Ồ, tôi thế này vẫn tốt chán mà,” anh thường đáp lại.
Ở tuổi ba mươi tám, cuộc sống đối với Aleck Robertson đã trở thành một chuỗi những niềm vui thụ hưởng nhỏ nhặt. Anh thích cảm giác tê tái của làn nước vòi sen vào buổi sáng, thích hương vị tuyệt vời của bữa điểm tâm. Anh thích nghe tiếng ồn ào, rộn rã của xưởng làm việc khi bước chân vào. Anh thích bữa trưa của mình. Anh tận hưởng những trận gôn, những kỳ nghỉ thỉnh thoảng ở Scotland hoặc Pháp, nơi anh ghé thăm các bãi tắm và chơi những ván cược nhỏ trò petits chevaux. Hàng tuần anh đều đến rạp hát tạp kỹ, và thỉnh thoảng người ta lại thấy anh đi cùng một nữ diễn viên hạng phụ.
“Cái tay Aleck này!” một vài chiến hữu của anh phải thốt lên. “Hắn đúng là một tay chơi cự phách!”
Đối với những cô gái không hề cảm thấy sợ hãi trước bộ râu và địa vị của anh, trong ánh mắt anh thường lóe lên một thứ tia sáng kỳ lạ, đầy khiêu khích mà họ vô cùng tận hưởng và khúc khích cười.
“Anh ta là một người đàn ông dễ mến, Mr. Robertson,” họ đồng tình với nhau. “Tôi dám cá là anh ấy cực kỳ dịu dàng và đáng yêu đối với cô gái nào mà anh ấy thích! Người ta đồn rằng—” và thế là những câu chuyện ngồi lê đôi mách nhảm nhí lại được thêu dệt lên.
Thật kỳ lạ làm sao khi anh lại tình cờ gặp Jean Lindsay, bởi vì anh từng đặt ra nguyên tắc là không bao giờ có bất kỳ mối quan hệ xã giao nào—nếu có thể gọi đó là xã giao—với những nữ công nhân trong nhà máy. Anh đã để ý đến cô vài lần trong khuôn viên xưởng—một cô gái có dáng vẻ đường bệ cùng vầng trán và đôi mắt bình thản. Anh thầm thán phục vóc dáng đẹp đẽ của cô—những bắp tay tròn lẳn và bộ ngực đầy đặn. Đúng là một người phụ nữ thực thụ! Chứ không phải mấy con búp bê sứ mỏng manh nào khác! Và đã hai lần anh nhìn thấy cô rời khỏi nhà máy lúc tan tầm, với bóng dáng ẩn hiện trong chiếc khăn choàng, váy và áo kiểu xứ Paisley, chẳng hề mang vẻ diêm dúa rẻ tiền của những nữ công nhân nhà máy khác.
“Cô gái kia trông được đấy chứ!” anh thầm nghĩ rồi quên bẵng đi.
Đó là một đêm trên đồi Cave Hill khi anh tình cờ phát hiện ra cô lần nữa, một đêm tháng Sáu dịu ngọt với vầng trăng khuyết lơ lửng trên bầu trời. Anh đi dạo và ngồi xuống để ngắm nhìn thành phố trải dài bên dưới. Bỗng anh nghe thấy tiếng sột soạt phát ra từ khóm thạch nam ngay bên cạnh. Anh vùng dậy ngay lập tức.
“Xin lỗi cô nhé.” Anh bất ngờ nhận ra một cô gái đang nhìn mình, ngồi cách đó chưa đầy mười thước. “Tôi không biết có ai ở đây.”
“Không sao đâu, Mr. Robertson.” Giọng nói bình tĩnh và điềm đạm hệt như của bất kỳ người phụ nữ thượng lưu nào. Anh phải mất vài giây nhìn chăm chú mới nhận ra cô.
“Anh từng thấy tôi ở xưởng mà,” cô giải thích.
“À, dĩ nhiên là tôi nhớ rồi,” anh sực nhớ ra. “Sao cô lại lên đây một mình thế này?”
“Ồ, tôi thích lên đây hóng mát giữa mấy khóm thạch nam vào buổi tối lắm,” cô chia sẻ. “Chúng là những bông hoa nhỏ xinh và dễ thương làm sao. Thảo nào lũ ong cứ quấn quýt lấy chúng. Người Đan Mạch,” cô nói thêm, giọng chậm rãi, “ngày xưa thường dùng hoa thạch nam để nấu bia, nhưng giờ thì thứ đó thất truyền rồi. Chắc là vị của nó ngon lắm đấy.”
“Giờ này mà lên đây thì lạ thật đấy.”
“Tôi chỉ có mỗi khoảng thời gian này là rảnh rỗi thôi,” cô đáp, “khi mà tôi phải chăm lo cho đám thợ dệt của anh từ lúc rạng đông cho đến tận khi mặt trời lặn! Dù vậy, tôi vẫn thích thời điểm này, bởi vì anh sẽ thấy được những thứ mà ban ngày anh chẳng tài nào thấy nổi. Anh có thể nghe tiếng chim chiền chiện kêu vang vào ban đêm, nghe như tiếng trẻ con gọi nhau. Và mới lúc nãy thôi, một con lửng vừa đi qua chỗ tôi, xám xịt như một ông cụ thợ cả. Tôi cũng đang chờ đấy,” cô nói và mỉm cười, “chờ lúc trăng lên để xem mấy nàng tiên nhảy múa trên sườn đồi. Chắc trong người tôi vẫn còn vương vấn nhiều nét trẻ con lắm,” cô giải thích, “bởi vì tôi cứ hay ngẩn ngơ vơ vẩn mãi.”
“Chẳng có mấy cô gái dám một mình lủi thủi lên đây thế này đâu.”
“Chẳng có ai thấy tôi đủ xinh đẹp để mà rủ đi cùng cả.”
“Cái xứ này toàn những kẻ mù lòa rồi.” Và cả hai cùng bật cười.
“Có lẽ tôi cũng chẳng bỏ lỡ cái gì to tát đâu.”
“Có Chúa mới biết! Cô đã bỏ lỡ đấy!” Và anh chồm người tới, đặt lên môi cô một nụ hôn.
Đêm hôm ấy khi trở về nhà, ngẫm nghĩ lại những nụ hôn, những tiếng cười và những vuốt ve dịu dàng, điều khiến anh ấn tượng sâu sắc nhất chính là mọi thứ diễn ra sao mà tự nhiên đến thế. Cô đón nhận tất cả, và anh trao đi tất cả, tựa như thể đó chỉ là những khóm thạch nam ngát hương, là cơn gió và ánh trăng vậy. Anh lại hẹn gặp cô vào một đêm khác bằng sự tình cờ đầy tính toán, và ở đó vẫn tràn ngập tâm hồn trẻ thơ của cô, sự háo hức, nét đăm chiêu, những nụ hôn ngây thơ cùng tiếng cười khúc khích trong trẻo. Anh có thể cảm nhận được cả đôi mắt cô đang mỉm cười.
Anh gặp cô lần thứ ba trên ngọn đồi lớn nhìn xuống thị trấn, và lần này là một cuộc hẹn trước. Cô đã trở thành một niềm vui lớn lao đối với anh, một niềm vui lớn hơn bất cứ điều gì anh từng tưởng tượng trước đó, bởi có một cái gì đó thật tách biệt khỏi thế giới xô bồ ngoài kia. Nghĩ đến buổi hẹn tối hôm ấy khiến lồng ngực vạm vỡ của anh phập phồng không kìm được.
Đêm hôm đó, khi gặp lại cô, anh cảm nhận rõ cô hoàn toàn là một người phụ nữ, chứ không chỉ thuần túy là một đứa trẻ. Anh hôn cô và họ cùng ngồi xuống giữa thảm hoa thạch nam xuân thì. Cô im lặng.
“Hôm nay dài thật đấy,” cuối cùng cô lên tiếng, “một ngày dài dằng dặc.” Cô ngước nhìn anh và mỉm cười.
Anh quay sang ôm chầm lấy cô. Cô dùng cánh tay đẩy anh ra cách một khoảng.
“Tên anh là gì thế?” cô hỏi. “Tên thường gọi ấy?”
“Aleck.”
“Anh có thật lòng không đấy, Aleck?” Không chỉ đôi môi, mà cả đôi mắt, toàn bộ con người cô đang dò xét. “Aleck, anh có thật lòng không?”
“Có chứ! Tôi thật lòng mà.”
Và anh đã trở thành người tình của cô, người tình trong bóng tối của cô.
Suốt ròng rã một năm trời, cô là niềm vui sướng đồng thời là một ẩn số đối với anh. Dù vậy, trong người anh không hề bùng cháy thứ đam mê cuồng nhiệt có thể tạo nên những bản anh hùng ca tình ái. Chỉ đơn giản là anh cảm thấy thật tuyệt khi có cô bên cạnh. Giả sử trẻ hơn chục tuổi, chắc chắn anh đã cưới cô làm vợ, và chẳng đời nào chịu buông tay cho đến khi trói buộc cô bằng nến, kinh thánh và tiếng chuông nhà thờ. Nhưng giờ đây anh đã bước sang tuổi băm, một con người vững chãi, điềm đạm và khôn ngoan. Cô chẳng đòi hỏi gì ở anh. Cô đi cùng anh đến nơi này nơi khác, tới Bangor, đến thung lũng Antrim Glens, ăn mặc kín đáo và đoan trang. Cô đón nhận mối quan hệ của họ với một sự đường hoàng, tự trọng. Cô không hề có tính chiếm hữu như những người phụ nữ bình dân khác. Cô cũng không biểu lộ tình cảm một cách quá đà, sướt mướt với anh. Mọi thứ đều rất mực chừng mực.
“Em rất quý anh, Aleck,” đó là tất cả những gì cô thốt lên. “Em quý anh nhiều lắm, gã đàn ông to xác tóc đỏ của em ạ.”
Ở nơi làm việc, cô chưa bao giờ đoái hoài đến anh, và anh cũng thế. Quả thực, đã có lần anh muốn cô nghỉ việc và ra ngoài thuê một ngôi nhà nhỏ để ở, nhưng đôi mắt cô đã lóe lên vẻ giận dữ khủng khiếp ngay từ những lời đầu tiên ấy.
“Anh xin lỗi, Jeanie,” anh ngập ngừng. “Anh lỡ lời, thật xin lỗi em.”
“Anh làm em tổn thương đấy,” cô thú nhận. “Thật sự là vậy đấy.” Thấy anh bối rối, cô liền dịu lại. “Thôi nào, đừng có ủ rũ như thế chứ. Một lời thốt ra thôi mà—nói ra dễ ợt à. Đáng lẽ em không nên tỏ ra hung dữ thế. Nhưng em biết anh không có ý định coi thường em đâu, Aleck.”
Anh chưa bao giờ hoàn toàn hiểu thấu con người cô. Chưa từng có người phụ nữ nào trong đời anh lại hành xử như vậy. Đã có những người phụ nữ vụ lợi, những người phụ nữ ngốc nghếch, và cả những người mà bản năng mách bảo những phụ nữ khác rằng họ là kẻ xấu. Nhưng Jean lại là sự pha trộn của những điều trái ngược ấy, và cô vẫn cứ là chính Jean mà thôi.
Anh thích đứng ngắm nhìn cô. Cô gợi cho anh nhớ đến một bức tranh từng thấy—một trong bộ bốn bức tranh vẽ cảnh bốn mùa; và Jean rất giống bức mang tên “Mùa Thu”, hình ảnh một người phụ nữ khoác chiếc áo choàng tím kiểu Hy Lạp đang bước đi giữa khu rừng rụng lá, một người phụ nữ trưởng thành, với lòng nhân hậu và sự khôn ngoan trong ánh mắt, cùng một vẻ duyên dáng, kiêu kỳ khó tả. Jean thường mang nét đẹp phảng phất như thế.
Cách suy nghĩ của cô cũng thật giản dị. Những quan điểm của cô cứng rắn như đá vậy.
“Thế là không đúng đâu, Aleck!” Cô thường ngước đôi mắt nâu nhìn anh đầy bình thản và dũng cảm, khi họ bàn luận về một phương thức buôn bán hay một khía cạnh chính trị đô thị nào đó.
Cô chỉ tìm thấy ở anh đúng một điểm chưa hoàn hảo. Cô thường vỗ nhẹ lên đầu anh và nói:
“Anh chỉ có mỗi một thói xấu này thôi, Aleck, anh không hoàn toàn là con người bằng xương bằng thịt. Có một chút gì đó bị thiếu mất ở đâu đó rồi, gã đầu đỏ ạ. Mấy người công nhân của anh ấy, trong mắt anh họ chẳng có giá trị gì ngoài đống máy móc mà họ đang vận hành. Em ước gì anh mềm mỏng hơn một chút nữa, Aleck à. Thật đấy.”
“Tôi rất mềm mỏng với cô còn gì,” anh thường phản bác.
“Đâu có giống nhau, ngốc ạ. Anh mềm mỏng với em vì em là người thân cận của anh. Nhưng ngoài điều đó ra thì anh lạnh lùng lắm. Anh không nhìn thấy con người ta. Anh đừng chỉ suy nghĩ bằng cái đầu chứ, Aleck. Anh phải suy nghĩ bằng cả trái tim một chút xem nào. Không, ý em không phải thế! Ý em là với tất cả mọi người cơ.”
Sau mỗi lần rời xa cô để trở về câu lạc bộ vào ban đêm, anh thường cảm thấy tiếc nuối vì cô không phải là kiểu người mà anh có thể cưới làm vợ. Sẽ thật tuyệt vời biết bao khi có một ngôi nhà với sự hiện diện của cô trong đó, người phụ nữ to lớn tuyệt mỹ, với một cái đầu khôn ngoan, một trái tim ấm áp, cùng một tâm hồn phong phú như rượu ngon. Cô sẽ rất hợp với một ngôi nhà của riêng mình, hòa hợp vào đó một cách tự nhiên như một chiếc đồng hồ cổ sang trọng, hay món đồ gỗ trầm mặc từ thuở xa xưa nào đó. Và được cô chào đón vào mỗi buổi tối—
“Thật kỳ lạ và dễ chịu làm sao,” anh thầm nghĩ bằng thứ ngôn ngữ Belfast cộc lốc của mình. “Ồ, ừ chứ! Chắc chắn là thế rồi!”
Nhưng cô không phải là kiểu phụ nữ mà dòng họ Robertson có thể cưới làm vợ. Những vị tổ tiên đã khuất của anh chắc sẽ phải xoay mòng mòng trong mồ nếu anh dám chọn một người vợ từ đám công nhân nhà máy.
Hội đồng những người vợ nhà Robertson, vốn uy nghiêm, trinh bạch và lạnh lùng, không hề có chỗ cho bất kỳ ai ấm áp, xinh đẹp và bình dân như Jean. Những người vợ mà nhà Robertson chọn lựa đều phải xuất thân từ môn đăng hộ đối, là những cô nàng độc thân gầy guộc có chút ít tiền tài, với những tài năng nữ công gia chánh như đánh một số bản nhạc piano, đan khăn quàng, nói thứ tiếng Anh tao nhã thay vì thứ tiếng Scots ở Belfast—một vẻ bề ngoài thanh cao nhưng chua chát.
Phải chi mọi chuyện không phải thế!
Cuộc gặp gỡ với người quản xưởng đã diễn ra vô cùng căng thẳng. Rồi nó trở nên dữ dội. Và kết thúc trong thảm họa, thảm họa đến mức anh chẳng mảy quan tâm dù chỉ một xu rách.
“Tao đã tăng lương cho tụi mày đến hai lần rồi, thế mà giờ tụi mày lại quay lại đòi thêm nữa à. Mẹ kiếp, tụi mày tưởng tao là cái xưởng đúc tiền của quốc vương chắc?”
“Thưa ngài, đúng là ngài đã tăng lương cho chúng tôi, thưa ngài Aleck, nhưng tiền thuê nhà cũng lại tăng vọt lên rồi. Chẳng còn chỗ nào rẻ hơn để mà chuyển đi cả. Giá cả thực phẩm thì đắt đỏ vô đạo đức—”
“Đấy là lỗi của tôi phỏng?”
“Không! Không phải lỗi của ngài. Chỉ là thời buổi nó thế. Hơn nữa chúng tôi lại sắp có thêm con cái—”
“Đấy cũng là lỗi của tôi luôn à?”
“À, thưa ngài Aleck, hãy nói lý lẽ một chút đi chứ! Chúng tôi còn phải sống chứ bộ. Dưới xưởng dệt của Richardson người ta đã tăng lương lần thứ ba rồi kìa. Còn ở hãng United—”
“Giờ thì nghe đây, tụi mày,” anh gầm lên như một con bò tót điên dại. “Tụi mày phải chọn một trong hai đường. Hoặc là tiếp tục làm việc với những gì đang có, hoặc tao sẽ đóng cửa nhà máy. Tao thề với Chúa là tao sẽ dẹp tiệm cái nhà máy này.”
“Chúng tôi còn phải sống chứ,” đám đàn ông lầm lì đáp lại. Một công nhân lớn tuổi bước lên phía trước.
“Thưa ngài Aleck,” ông khẩn khoản, “tôi đã làm việc cho cha ngài suốt cả cuộc đời tôi, và tôi vẫn chỉ là một chú nhóc tì khi ông nội ngài còn ở đây. Tôi nhớ rõ ông lắm chứ. Ngài chẳng vướng bận vợ con gì cả, và nếu cứ tiếp tục như thế thì nhà máy này sẽ chấm dứt theo ngài thôi—”
Lạy Chúa! Đúng là thế thật. Anh chưa bao giờ nghĩ đến điều đó.
“—vậy nên ngài có thiếu thốn tiền bạc gì cho cam—”
“Tôi không đời nào!” Một nửa bộ não của anh đưa ra câu trả lời và đôi môi anh thốt lên điều đó. Nửa còn lại đang bận rộn với phát hiện mới mẻ này, rằng với sự ra đi của anh, nhà máy cũng sẽ chết theo. Dĩ nhiên là thế rồi.
“Thế thì, mặc xác ngài! Cứ đóng cửa nhà máy đi!”
“Mẹ kiếp nhà tất cả tụi mày! Nhận thông báo nghỉ việc trước một tuần tính từ ngày hôm nay đi. Đúng một tuần nữa vào thứ Bảy, nhà máy sẽ đóng cửa, và tao thề với Chúa là nó sẽ không bao giờ mở cửa trở lại nữa.”
Tại sao anh phải giữ nó lại cơ chứ, anh tự hỏi khi bọn họ đã rời đi, tại sao lại phải thế?
Anh ngả người ra sau ghế sau khi họ đã bước ra ngoài, và trong một khoảnh khắc, tầm vóc to lớn của ý nghĩ rằng sẽ không có người nối dõi đã làm anh chấn động cả thể xác, khiến anh run lập cập từ đầu đến chân. Chưa bao giờ trong đời anh nghĩ đến điều đó, dù nghe có vẻ khó tin đến thế nào đi chăng nữa.
“Không! Sẽ chẳng có ai khác nữa đâu. Mình là người cuối cùng rồi.” Anh châm một que diêm để hút tẩu, nhưng rồi lại để mặc nó tắt ngúm. “Mình là người cuối cùng.”
Toàn bộ cuộc đời anh, vào khoảnh khắc này, dường như vỡ vụn—guồng máy vận hành êm ái trước đây nay bị vứt xó thành một thứ câu đố kỳ dị và lạnh lẽo, hệt như một cỗ máy phức tạp bị sét đánh hủy hoại hoàn toàn. Nhà máy đã tiêu đời, bởi vì anh sẽ chẳng đời nào chịu nhượng bộ việc tăng lương, và cả Jeanie Lindsay nữa chứ—cô quá quan trọng đối với anh, hiện diện sâu đậm đến mức phủ lấp mọi suy nghĩ trong đầu anh.
Lần đầu tiên trong đời, ngồi đống đổ nát ấy, anh chợt nhận ra rốt cuộc cái cơ chế phức tạp này thật nghèo nàn làm sao. Anh có thể nhớ lại tuổi thơ của mình, một chuỗi những năm tháng buồn tẻ mang màu sắc Sa-bát, trải qua cùng người cha nghiêm khắc để râu và người mẹ gầy gò, chua ngoa. Ở trường học, anh cũng chẳng hề được yêu quý.
“Nghĩ lại thì thấy quãng thời gian đó chẳng mấy dễ chịu gì cho cam.”
Và anh được cho là phải kết hôn với một người phụ nữ độc thân khắc khổ, để hoàn thành định mệnh của dòng họ nhà Robertson; phải thân mật với một kẻ xa lạ lạnh lùng, để rồi sinh ra một đứa trẻ cô độc và không được yêu thương chào đời giữa một ông người cha cau có và một người mẹ mang đậm nét quý tộc giả tạo, trong một ngôi nhà lúc nào cũng lạnh lẽo dù mùa hè có oi bức đến đâu, và u ám dẫu ánh mặt trời có rực rỡ cách mấy.
“Tôi không đời nào làm thế!”
Khuôn mặt của cô gái nhà Lindsay bỗng chen vào giữa anh và viễn cảnh nhạt nhẽo mà anh vừa tưởng tượng ra, hệt như một thước phim quay chậm. Và anh nhìn thấy sự ấm áp, nét tươi vui, tiếng cười chầm chậm cùng đôi mắt bình thản của cô. Nơi cái xứ sở này, tại sao trời đất xui khiến thế nào mà cô lại sinh ra ở một chốn mà truyền thống nhà Robertson không chấp thuận cơ chứ? Tại sao cô lại đáng khao khát đến thế, trong khi những người vợ được coi là môn đăng hộ đối lại tẻ nhạt đến vậy?
“À, mặc thây cô ta chứ!” anh bực bội quạu quạ. “Mọi thứ cứ quỷ tha ma bắt đi hết đi. Cuộc đời thế này thì đúng là chó chết, và tôi chấm dứt từ đây. Phải, chấm dứt thật đấy.”
Suốt một năm trời, anh lang thang khắp châu Âu, đi đi lại lại không ngừng. Anh đến Đan Mạch và Jutland, và dù đã thề từ bỏ chuyện buôn bán vải lụa, anh vẫn không kìm được mà kiểm tra chất lượng cây lanh được trồng ở đó, để rồi kết luận rằng chúng chẳng ra gì—đúng là phẩm chất của một người Belfast chính cội. Anh thăm thú Hà Lan và đánh giá cao sự chăm chỉ của người dân nơi đây, nhưng lại phán họ là “tự mãn quá mức”. Paris thì anh đã biết từ trước, nhưng giờ đây nó khiến anh chán ngán. Một trong những ước mơ ngày trước của anh là được cùng Jeanie Lindsay đến nơi đó. “Cảm giác trống trải làm sao,” anh thầm nghĩ. Nước Anh khiến anh có phần bực bội. Người dân ở đây, biết anh đến từ Ireland, cứ gặng hỏi suy nghĩ của anh về vấn đề Tự trị và tỏ ra bị sốc khi nghe câu trả lời. Anh đi ngược lên phía bắc Scotland để chơi gôn, và giọng nói bẹt bẹt của người Scotland khiến anh càng thêm nhớ nhà, nhớ Belfast da diết.
“Chắc tôi phải tạt qua xem thị trấn cũ dạo này thế nào rồi.” Sự thật là, dù anh chẳng thèm thừa nhận với bản thân, nhưng anh muốn dò la tin tức về Jeanie Lindsay. Dạo này cô ấy thế nào rồi? Cô ấy vẫn vậy chứ? Và liệu cô ấy—ý nghĩ đó đâm nhói vào tim anh một cách kỳ lạ—có đang cười nụ cười chậm rãi và trao ánh nhìn bình thản cho một ai khác ngoài anh không?
Tin tức về cô đến với anh rất nhanh và đầy bất ngờ. Khi đang đi ngang qua quảng trường Donegal Place, vai anh bỗng bị ai đó vỗ nhẹ.
“Tôi muốn nói chuyện riêng với anh một lát đấy, Mr. Aleck Robertson.”
Anh nhìn sang bên cạnh và thấy một vóc dáng gọn gàng với cái cằm bạnh và đôi mắt hung dữ. Thứ đập vào mắt anh rõ nhất chính là đôi mắt ấy. Chúng đang trừng trừng nhìn anh với mối hận thù không chút giấu diếm.
“Và cậu là ai thế?”
“Anh sẽ biết rõ tôi là ai trước khi mọi chuyện giữa chúng ta kết thúc đấy, Aleck Robertson. Tôi là Tom Lindsay, anh trai của Jeanie Lindsay đây.”
Robertson quên bẵng đi ánh mắt gườm gườm ấy trước câu hỏi vừa bật thốt lên trên môi anh. Anh vội đưa tay ra.
“Tôi có nghe cô ấy nhắc đến cậu. Cậu là người đã đến Newcastle làm việc ở xưởng đóng tàu phải không. Thế còn Jean ra sao rồi?”
Lindsay hất mạnh bàn tay đang chìa ra của anh xuống.
“Nó vẫn y như lúc anh bỏ rơi nó, chỉ khác một điều này: Đã bốn tháng nay, trên tay nó đang ẵm một đứa con hoang là giọt máu của anh đấy. Và anh có biết tôi sẽ làm gì với anh vì chuyện này không, Aleck Robertson? Tôi sẽ giết anh!”
“Bị một đứa bé ư!”
“Bị chính đứa con rơi của anh đấy!”
“Bị một đứa con của tôi ư!” Robertson tỏ rõ vẻ ngẩn ngơ.
“Chắc anh không ngờ tới điều này chứ gì?”
“Đúng thế! Tôi không ngờ tới thật.” Gã đàn ông to lớn cố gắng thu gom lại sự minh mẫn trong đầu.
“Và giờ cô ấy đâu rồi? Cô ấy không đi đâu đấy chứ?”
“Không! Nó không đi đâu cả. Và nó cũng không rơi vào cái xó xỉnh mà lẽ ra nó phải chịu đựng vì những gì anh đã gây ra—trong nhà tế thế! Cũng chẳng phải lang thang ngoài đường bán diêm! Không! Nó đang ở nhà. Ở nhà cha nó ấy—”
“Ở nhà, cậu nói thế thật à?”
“Nó đang ở nhà.” Tom Lindsay chắn ngang đường Robertson. “Và giờ thì, nghe đây cho thủng tai vào—”
Gã đàn ông râu đỏ đẩy xốc Tom sang một bên như thể hắn chỉ là một nhành cây vướng víu trên lối đi.
“Cậu có cút xéo ngay khỏi đường của tôi không,” hắn gầm lên, “trước khi tôi giáng cho cậu một cú bạt tai vào tai bây giờ?”
Hắn cắm cổ chạy với tốc độ chóng mặt dọc theo con phố. Người anh đứng dõi theo bóng hắn trong thẫn thờ, cái cằm trễ xuống vì kinh ngạc.
Hắn đẩy chiếc cổng nhỏ phía trước khu vườn, dù có gõ cửa nhưng vì quá sốt ruột muốn bước vào nên hắn thử vặn tay nắm luôn, và thấy cửa không khóa then, hắn đẩy toang ra hệt như một cơn gió lốc. Ngay ở sảnh nhà, hắn chạm mặt cô đang đi ra mở cửa, và ngay khoảnh khắc nhìn thấy cô, mọi sự hung hăng, bạo khí trong người hắn bỗng biến đi đâu mất, đôi chân bủn rủn như nhũn ra và cổ họng nghẹn đắng lại. Hắn khao khát chỉ được nhìn thấy mỗi mình cô, nhưng đứa bé trên tay cô cũng chính là một phần của cô, cả hai mẹ con hòa quyện làm một. Bỗng nhiên hắn nhận ra chính hắn cũng là một phần trong cuộc đời cô, cả ba người bọn họ quyện vào nhau thành một thể thống nhất. Và hắn chợt có cảm giác hệt như Phao-lô thuở xưa trên đường tới Đa-mát, bị đánh gục ngã xuống đất.
Cô mỉm cười trước vẻ bối rối của hắn. “Em rất vui được gặp lại anh, Aleck.” Cô bình thản chuyển đứa bé sang cánh tay trái. Cô giưa tay ra về phía hắn và anh nắm chặt lấy nó, bấu víu lấy như một gã thủy thủ tàu đắm túm lấy chiếc phao cứu sinh được ném tới. Cô dẫn hắn vào phòng khách.
“Anh không có lời nào,” cô mỉm cười, “để nói với em và đứa nhóc này của anh sao?”
Hắn nhìn cả hai mẹ con, Jean trông càng phảng phất hình ảnh của nữ thần Ceres, vị thần mùa thu, hơn bao giờ hết, đầy đặn, khôn ngoan và bình thản hạnh phúc, còn sinh linh bé bỏng mềm mại đang cựa quậy trong vòng tay cô, mềm như một chú gà con mới nở, hắn cảm nhận rõ mồn một.
“Khi nào,” hắn hỏi, và giọng nói lọt vào tai hắn nghe khàn đặc như tiếng quạ kêu, “khi nào em mới cưới anh đây?”
“Em chưa chắc lắm,” cô điềm nhiên đáp, “là em có muốn cưới anh hay không nữa.”
“Em sẽ cưới anh, Jeanie, và anh sẽ cho mở lại nhà máy, rồi chúng ta sẽ lại tốt đẹp tất cả—”
“Và anh sẽ tăng lương cho những người lao động đúng như những gì họ xứng đáng được hưởng chứ?”
“Tôi không đời nào,” hắn bỗng thốt lên lẫy lừng như thuở nào. “Họ chẳng xứng đáng được cái quái gì hết.”
“Thế thì em cũng chẳng thèm dính dáng gì đến anh nữa.” Cô điềm tĩnh nhìn hắn. “Và thằng nhóc này cũng thế. Em là một người thợ, Aleck, và nó là con trai của một nữ công nhân. Mẹ con em không cùng đẳng cấp với anh đâu.”
Lúc này hắn nhìn rõ khuôn mặt đứa bé đang nhăn nhúm vì chìm trong giấc ngủ. Trông nó giống hệt mặt một ông cụ non, vậy mà lại có một sức hút kỳ lạ khó tả.
“Gã thợ mộc bé con!” Ý nghĩ ấy mang một nét đáng yêu đến nao lòng.
“Lạy Chúa!” hắn bỗng tuột miệng thốt lên. “Tao sẽ giao nhà máy cho bọn họ!”
Cô lại mỉm cười. “Thứ thiếu sót lúc trước ở anh nay đã tìm lại được rồi đấy, Aleck ạ. Và em sẽ cưới anh, Aleck, bất cứ lúc nào anh muốn. Chẳng còn sớm sủa gì nữa đâu,” cô nói thêm một cách giản dị.
Trong một phút giây, hắn chìm đắm vào dòng suy tưởng trong khi cô vẫn đang vỗ về tay hắn bằng cử chỉ quen thuộc ngày nào. Hắn ngẩng đầu lên và cất giọng đầy quả quyết.
“Em biết không Jeanie, em biết đấy, thật kỳ lạ khi nghĩ rằng chỉ mới cách đây một tiếng đồng hồ thôi, anh hoàn toàn chẳng hay biết gì về cơ sự này. Em và thằng bé kia, rồi nhà máy lại hoạt động trở lại, mọi mâu thuẫn giữa anh và anh em thợ thuyền đều được giải quyết ổn thỏa. Anh cứ tưởng mọi chuyện đã chấm hết, nhưng giờ đây sẽ chẳng có sự chấm dứt nào cả. Em biết không, dường như mọi chuyện đã được định đoạt sẵn từ trước vậy. Phải, giống như thể là đã được an bài rồi ấy. Đúng thế thật,” hắn nói. “Chắc chắn là thế rồi. Quả thật là vậy. Đúng thế đấy.”