Đây chắc là lần thứ nghìn anh ngồi bên chiếc bàn gọn gàng nhìn ra khoảng sân cỏ nhỏ, cố gắng tập trung tư tưởng, cố gắng tìm kiếm một điều gì đó mới mẻ, kinh ngạc, có thể đánh thức những con người từng trải đang nắm quyền điều khiển các nhà hát, tạp chí và nhà xuất bản nhận ra rằng anh vẫn tồn tại, có tài và đầy giá trị. Phải chi anh có thể nghĩ ra một nhân vật thám tử mới, hay—hay một cái gì đó.
Bất cứ ai khác chắc chắn đã bỏ cuộc từ lâu, nhưng anh biết mình có tài năng—anh không dám nhận là thiên tài, nhưng quả thực có tài lớn. Bọn họ cứ liên tục từ chối anh là điều vô ích. Anh chắc chắn rằng họ chưa từng đọc qua các bản thảo.
Anh cũng chắc chắn rằng có một thủ thuật, một mẹo mực nào đó mà anh chưa khám phá ra. Chỉ là một chút mẹo nhỏ thôi. Những người nổi tiếng trong nước và quốc tế ấy—nhìn nét mặt họ, anh thừa biết họ chẳng có chút thông minh đặc biệt nào hơn anh cả.
Nhưng chỉ là một chút mẹo nhỏ mà anh không tài nào nắm bắt được.
Anh từng tham gia các lớp học viết văn, theo học các trường báo chí, và đây là toàn bộ bản thảo của anh kèm theo những tờ giấy từ chối gọn gàng; đây là cuốn tiểu thuyết mà anh tưởng chừng là kiệt tác văn học Mỹ nay đã nhàu nát và quăn mép, một nghiên cứu về những cám dỗ của một cô gái chốn đô thành; và đây là kịch bản trinh sát của anh, bị một tên độc giả bẩn thỉu nào đó in hằn vành tách cà phê lên. Thế thì đủ khiến một người muốn bỏ nghề.
Nhưng anh sẽ không bỏ cuộc. Anh sẽ trở nên vĩ đại như những kẻ vĩ đại nhất. Anh cũng sẽ có hình ảnh đăng trên báo chí, không phải với vẻ hốc hác, cay đắng như phần lớn bọn họ, mà là một gương mặt dễ mến, đường hoàng, mang đậm chất văn chương. Ảnh của anh sẽ trông ra dáng một nhà văn, với những đường nét rõ ràng, bộ ria mép nam tính và cặp kính trí thức. Rồi anh cũng sẽ được phỏng vấn. Rồi anh cũng sẽ ký kết những bản hợp đồng trị giá những khoản tiền lớn. Và cũng sẽ có những lời bàn tán về anh trên mặt báo, rằng anh đang dành kỳ nghỉ đông ở Florida như thế nào, hay anh đang làm gì vào mùa hè.
Anh sẽ không bỏ cuộc. Chẳng phải hồi còn đi học, ai nấy đều bảo anh sinh ra là để làm nhà văn đó sao? Chẳng phải anh từng đến châu Âu trong sáu tháng hay sao? Và hơn thế nữa, chẳng phải anh đang thừa hưởng số tiền mà người cha làm nghề kinh doanh kim khí để lại hay sao? Chẳng phải anh có nhà cửa ổn định đó sao? Anh có thể kiên trì đến cùng.
Nhà của anh! Vợ của anh! Nếu thay vì dăm ba cái cây, khoảng sân cỏ này, và khung cảnh nhìn ra eo biển tĩnh lặng, nếu thay vì ở đây mà anh được sống giữa chốn hỗn độn của thời cuộc, chẳng phải anh sẽ khá hơn sao? Sống ở đâu mà vạn vật đổi thay, nơi người ta không phải đi tàu mất ba phần tư tiếng đồng hồ mới tới nhà hát. Ở tận trung tâm New York ấy. Còn ở đây chỉ toàn cây cối, thảm cỏ, mặt nước và bầu trời. Chẳng có gì để viết cả.
Còn vợ anh, Berenice—ồ, cô ấy là một cô gái ngọt ngào, tốt bụng, nhưng—liệu có phải anh đã sai lầm chăng? Cô ấy quá hiền lành và thuần hậu! Quá mức chăng? Chẳng phải sẽ tuyệt hơn nếu kết hôn với—với một nữ diễn viên, một nhà điêu khắc, hay—hay một người nào đó tương tự. Một người có thể cảm nhận sâu sắc mọi thứ; một người không chỉ biết mỉm cười và cư xử phải phép. Berenice rất tốt, nhưng—
Và mẹ anh. Bà là một người phụ nữ tuyệt vời, đáng yêu, nhưng—bà chẳng thể hiểu nổi anh. Bà chỉ là một người mẹ bình thường như bao người mẹ khác: Giá mà bà có thể thấu hiểu những vấn đề lớn lao, phức tạp! Nhưng bà chỉ biết yêu thương, và mọi việc anh làm đều đúng đắn trong mắt bà.
Berenice, và mẹ anh... cây cối, mặt nước... sự cằn cỗi vốn có của cuộc sống... chẳng có gì để viết... thật quá bất công.
Vì Barry từng bóng gió rằng việc cô quanh quẩn trong nhà khi anh đang cố gắng viết lách làm anh thấy phiền lòng, Berenice đã quyết định ra ngoài đi dạo chừng một tiếng đồng hồ, để tạo không gian cho tội nghiệp anh chàng. Ban đầu, việc phải rảnh rỗi lang thang khiến cô hơi bứt rứt, trong khi có biết bao nhiêu công việc vặt đang cần đến bàn tay cô chăm sóc. Một ngôi nhà mới mẻ làm sao! Nó cần được vuốt ve, chăm chút chỗ này một chút, chạm vào nhành hoa một chút. Thế nhưng con đường trắng xóa, những vòm cây xanh biếc uốn cong, và những cánh hoa sơn thù du rơi rụng—trông chúng tựa như những đám mây chứ không phải hoa, nhẹ nhàng đậu lơ lửng trong bầu không khí tháng Năm—tất cả đã thu hút ánh nhìn của cô, và phép màu bao la của mùa xuân đã kéo suy nghĩ của cô rời khỏi những bài trí tao nhã trong ngôi nhà. Mùa xuân đến mới dịu dàng và vô hình làm sao, giống như một làn sóng nhỏ uốn lượn của cơn gió tây, cùng tiếng hót trong trẻo của chú chim đang phiêu lưu! Mùa xuân tựa như vầng trăng vậy; một đường bạc mỏng manh trên bầu trời xám xợt, giống như chồi xanh li ti của cây liễu vừa thức giấc, và nó lớn dần... sự nhân từ ngọt ngào của nó hiển hiện ngay trước mắt bạn. Thật khó lòng đi ngủ vào ban đêm khi có biết bao điều đang diễn ra, vì sợ rằng bạn sẽ bỏ lỡ một khoảnh khắc nào đó trong sự trở lại của cái đẹp. Ồ, những chú chim nhỏ... thật tất bật, thật nhiệt tình với chiếc tổ của chúng. Những trận mưa rào như những tấm lụa bạc lớn; và sau mỗi trận mưa, những thân cây mảnh mai lại trông giống những tiểu thư kiều diễm, còn những cội cây to lớn rậm rạp lại tựa như những người đàn ông vạm vỡ, dễ mến. Và những đóa hoa e ấp, thẹn thùng hé nở, tựa như những thiếu nữ; y hệt như chính cảm xúc và cách hành xử của cô, Berenice, khi cô ở tuổi mười lăm và được đưa vào một căn phòng đầy những người xa lạ.
Và cô dừng lại một thoáng bên vũng nước sẫm màu, nơi những chú rùa nhỏ đang bận rộn bơi qua bơi lại, tạo thành một đường nét sắc sảo trên mặt nước tối mờ, với cái đầu nhỏ xíu và đôi mắt sáng như hạt cườm lấp ló... và nếu chúng nhận ra có người đang theo dõi, chúng liền lặn tõm—chỉ một cú quẫy đuôi là biến mất—và nếu nhìn kỹ, bạn có thể nhận ra đôi chân chèo của chúng khẽ khàng khua nước khi bơi về phía chiếc giường êm ái dưới đáy hồ. Vài chú giữ vẻ tĩnh lặng đến đáng sợ, đậu trên những hòn đá hay khúc gỗ, và chỉ cần một cử động nhỏ của bạn, chúng liềnụp xuống như những hòn đá. Xung quanh, những tán cây lớn tràn trề sự sống và đầy kiên nhẫn... Cô có thể hiểu tại sao các nhà thơ thời cổ đại xa xưa lại nhìn thấy các nữ thần cây trú ẩn trong đó. Cô không thể hiểu nổi thần Pan, hay các vị thần rừng satyr, nhưng những nữ thần cây dryad lại gần gũi với cô, những thiếu nữ e thẹn trong tà áo màu xanh táo. Nhờ thế mà bạn có thể phân biệt được một bức tranh vẽ cây đẹp với một bức tranh tồi: một số bức có thần cây ẩn giấy trong đó, số khác chỉ đơn thuần là củi gỗ.
Trong lòng cô chứa đựng biết bao suy cảm, cô cảm nhận sâu sắc sự gắn bó với cây cối, với những chú chim đang ca hót, với cơn gió tây làm trong lành bầu không khí, đến mức cô ước gì có ai đó để giãi bày tâm sự. Nhưng sự rụt rè lớn lao... Và có lẽ, thậm chí những điều ấy không thể diễn tả bằng lời, mà phải bằng âm nhạc. Ờ, thậm chí điều đó cũng khó. Cô đã từng cố nói với Barry về những điều này. Nhưng Barry chỉ ôm hôn cô và bảo rằng cô là một đứa nhóc mơ mộng giữa ban ngày, theo cách gọi của anh. Tội nghiệp Barry! Các giám đốc nhà xuất bản thật khắc nghiệt với anh quá! Thật tồi tệ khi làm tổn thương anh như vậy. Dù cô tự thú nhận sự phản bội ấy với một chút bàng hoàng trong lòng, cô vẫn thấy khó khăn, thậm chí gần như bất khả thi, để đọc những gì anh viết. Cô khó mà hiểu nổi những người phụ nữ giả tạo và những người đàn ông cao thượng. Tất cả những gì cô biết là tự nhiên, và tự nhiên thì không giả tạo. Nó cũng chẳng cao thượng nốt, cô nghĩ vậy; nó chỉ mang một sự tử tế ngọt ngào và hài hòa. Sự cao thượng chỉ có thể tồn tại khi cái thấp hèn cũng hiện hữu—và trong tự nhiên chẳng có gì là thấp hèn cả. Cô ước gì mình hiểu biết nhiều hơn về đàn ông và phụ nữ, vì lợi ích của Barry, để có thể thấu hiểu những vấn đề mà anh viết về, như đam mê và tội ác. Nhưng những niềm đam mê kịch tính dường như thật vô ích trong mắt cô, còn tội ác thì thật bệnh hoạn; cô chỉ cảm thấy xót xa cho nó, một cảm giác rằng những con người tội nghiệp ấy chắc phải điên rồ lắm mới làm những chuyện như vậy. Ồ, cô ước gì mình hiểu biết—có thể giúp đỡ anh! Cô nhớ lại hơn một năm trước, khi một tờ tạp chí nhỏ quyết định đăng một bài viết của anh, lá thư gửi đến đúng lúc những bông tuyết đầu mùa rơi xuống. Và cô không thể phấn khích cùng anh, bởi vì trong thâm tâm cô, vượt ngoài tầm kiểm soát của cô, là một thứ nhịp điệu kỳ lạ nào đó. Tuyết, lớp tuyết mềm mại và hài hòa... và trong đầu cô là khung cảnh những ngày thơ ấu, những rặng thông dưới sức nặng trắng ngát tinh khôi, và ông thánh Nicholas nhân hậu mà lũ trẻ gọi là ông già Noel, đang lái xe vượt qua thế giới phủ đầy bông tuyết... đôi má đỏ hồng, bộ râu trắng phau, và bầy tuần lộc với những chiếc chuông bạc kêu lanh lảnh. Hình ảnh tuần lộc gợi cô nhớ đến những người lấp-xê thấp lùn, rậm rạp lông lá, đang lặng lẽ câu cá gần Bắc Cực qua một lỗ nhỏ đục trên băng, trong khi phía xa đằng sau là một chú gấu Bắc Cực to lớn đang thong thả bước đi. Chắc hẳn đó là một loài động vật rất đáng sợ, nhưng người ta luôn nghĩ về nó hiền lành như một chú chó lớn tuổi.
Ồ, cô ước gì mình là một người phụ nữ tốt hơn, một người luôn đặt lợi ích của chồng lên hàng đầu! Người ta vẫn bảo phụ nữ có thể làm nên sự nghiệp của đàn ông. Cô tự hỏi bằng cách nào. Và người ta cũng nói rằng một số người chồng có được sự nghiệp hoàn toàn là nhờ vợ họ. Bằng cách nào chứ? Nhưng bằng cách nào cơ chứ? Và dẫu cô có biết đi chăng nữa, thì bản tính rụt rè đáng sợ của cô... Cô có thể thân thiết với chó, ngựa và những chú bò lầm lì, xa cách. Nhưng chẳng hiểu sao lời nói cứ nghẹn lại ở cổ họng. Thật là một bất lợi lớn!
Và mỗi khi anh thất vọng, cô lại đứng đó, câm nín như tượng đá. Chẳng có ý nghĩ nào thành hình nổi. Tất cả những gì cô có thể nghĩ đến chỉ là nâng bàn tay anh lên và hôn nhẹ, và thường thì những giọt nước mắt sẽ chực trào bởi vì anh đang đau đớn. Nhưng cô chẳng thể thốt ra lời nào khiến mọi thứ trở nên nhẹ nhàng hơn. Tất cả những gì cô nghĩ tới là dẫn anh bước ra màn đêm mờ sương, và lặng lẽ ngắm nhìn những vì sao. Toàn bộ sự bao la của những thế giới lấp lánh... rải rác khắp nơi, muôn hình vạn trạng, mà không có lấy một nét xấu xí. Và người ta cảm thấy bản thân được kéo ra khỏi chính mình hướng về bầu trời đẹp đẽ và vĩ đại kia, để rồi mọi lo âu phiền muộn dường như trở nên nhỏ bé hơn cả tiếng vo ve của một chú ong. Một khoản tiền nhỏ bị mất đi, một tham vọng tầm thường tan vỡ, câu châm chọc của kẻ hèn hạ, những điều ấy đau đớn đấy, nhưng chúng mới nhỏ nhoi làm sao dưới bầu trời đầy sao!
Và giá mà cô có thể đưa anh đi cùng và cùng anh lặng im, trong lúc lũ dế đang rả rích ca vang và những chú ếch nhỏ cất lên khúc hòa ca lệch nhịp đầy ngộ nghĩnh, và trái đất xoay chuyển về hướng đông dưới vòm trời uốn cong... Nhưng có lẽ anh đã đúng—cô chỉ là một đứa nhóc mơ mộng ngốc nghếch.
Lúc này cô đã ra đến eo biển, và trước mắt cô là mặt nước rộng lớn phẳng lặng như một hồ nước. Thỉnh thoảng lại có một chiếc tàu hơi nước lướt qua, và ở phía nam là một chiếc tàu lai dắt đang phì phò kéo theo một hàng sà lan được trang bị buồm phụ vuông vức. Tâm trí cô vượt qua tám tuần nữa, khi các cuộc đua thuyền buồm bắt đầu, và từ mọi ngóc ngách của eo biển, tận phía bắc của nó, thậm chí từ Marblehead, những chiếc thuyền sẽ kéo đến với cánh buồm trắng uốn cong để tranh giành ngôi vị bá chủ. Những chiếc thuyền lớn dài bốn mươi foot, những chiếc ba mươi foot nhỏ hơn, những chiếc thuyền chữ P tốc độ với giàn buồm Bermuda khổng lồ, những chiếc thuyền buồm đơn hạng chấp, và những chiếc thuyền buồm một cột do các thiếu niên mặc đồ bơi điều khiển, tất cả đang hối hả, rẽ sóng, lần lượt đổi hướng, bẻ lái, tranh giành vị trí vượt qua vạch xuất phát khi tiếng súng lệnh nổ vang.
Và rồi, chẳng mấy chốc những chú cá heo mù to lớn sẽ bơi lội tung tăng, sáng bóng như những người da đen, chơi trò đuổi bắt. Và cá biển sẽ bơi tới. Trên những ghềnh đá, bầy chim ồn ào sẽ kêu rít và hót líu lo. Và người ta sẽ ngóng chờ những con tàu đi New Bedford và Fall River... với tiến trình điềm tĩnh vững chãi như dáng đi của một chú ngựa thuần thục, cùng những ngọn đèn rực sáng. Và những chiếc tàu buồm chở gỗ lớn sẽ xuôi dòng từ Nova Scotia, với những thủy thủ kiệm lời, mắt xanh, thả neo tại City Island.
Một cái rung động nho nhỏ nơi lồng ngực nhắc nhở cô. Làm sao cô có thể nói với Barry rằng cô sắp có một em bé đây? Khi nào cô nên nói, và cô phải nói thế nào? Cô phải cẩn thận mới được. Cô không được làm ảnh hưởng đến công việc của anh. Liệu anh có hạnh phúc vì điều đó không? Hay anh sẽ—hay anh sẽ—cô chợt cắn nhẹ môi—liệu anh có không vui chăng?
Cô có cảm giác rằng tất cả những điều ấy đều hòa quyện làm một với sự trỗi dậy của mùa xuân, những chồi hoa hé nở, và cơn gió phương tây—phép màu của sinh linh bé nhỏ. Ban đầu, ta là chính thể cảm nhận của riêng mình, uốn mình theo cơn gió cùng những tán cây, rẽ qua những con sóng cuồn cuộn của mùa hè, và kiên nhẫn lắng nghe tiếng hót của một chú chim đầy tham vọng, để rồi trước khi kịp nhận ra, một sinh linh bé nhỏ đã đến nép mình dưới đôi cánh của bạn. Những đóa hoa coi bạn là tri kỷ, ngọn gió che chở cho bạn, và thảm cỏ cẩn thận để bước chân bạn không dẫm phải hòn đá nào. Nó từ đâu đến thế, mầm sống nhỏ bé mỏng manh như cánh hoa táo, mềm mại như chú chim non đang ngủ say trong tổ? Vào mùa hè, người ta cảm thấy nó đã vượt qua những thảm cỏ uốn lượn và len lỏi giữa những giọt mưa hiền hòa, để rồi những chú chim cổ đỏ phải bày tỏ lòng kính trọng. Và vào mùa xuân, nó được chở che trên cơn gió đầu tiên nồng hậu, tinh khôi, và những tán cây gật đầu chào những cành cao nhất, mới nhất của mình. Và vào mùa thu, Người đàn bà Nâu trong Rừng mang nó đến, trong khi những chú sóc chuột ngơ ngác dõi theo. Vào mùa đông, nó đến cùng tia nắng gắt gao, náo nhiệt. Bằng cách nào chứ? Bất cứ nơi đâu ư? Chỉ một khoảnh khắc trước, bạn vẫn là chính mình, cô độc, với những rắc rối của riêng bạn. Và đột nhiên, bạn được trao phó một sinh mệnh mềm mại hơn cả hoa, quý giá hơn cả kim cương, một phân tử của chính sự sống. Thật là một sự phó thác lớn lao!
Người phụ nữ nào cũng ấp ủ một giấc mơ nhỏ bé về đứa con của mình. Một người phụ nữ ở khu ổ chuột có thể nhìn thấy trong cục thịt bé nhỏ ấy hình ảnh một vị tổng thống tương lai của nền cộng hòa vĩ đại. Người khác lại nhìn thấy ở đứa trẻ một tôi tớ của Chúa mang ánh sáng đến cho hàng ngàn người. Và người thứ ba sẽ nhìn thấy ở cô con gái nhỏ một giọng ca sẽ cất lên những giai điệu hòa âm vĩ đại. Và những ai từng nếm trải chiếc răng nanh cay đắng của sự túng quẫn sẽ mơ ước con cái họ trở thành những thương gia quyền lực, với những chiếc xe hơi và du thuyền to lớn. Những câu chuyện màu hồng biết bao phụ nữ hằng mơ tưởng trong đầu.
Nhưng tất cả những gì Berenice có thể tưởng tượng là cô con gái nhỏ với mái tóc vàng óng trong chiếc giường bé xíu vào lúc chiều tà, khi hoàng hôn phương Tây lơ lửng như một chú chim, và màn đêm lê bước về phía tây với những bước chân trầm đục. Phía dưới phòng khách của họ, mọi người sẽ tề tựu để ăn tối hoặc chơi bài, tiếng cười nói và ánh nến lấp lánh, hơi ấm từ lò sưởi mở, cùng làn khói xám xanh do thuốc lá nhả ra từ những điếu nhỏ. Nhưng Berenice sẽ ở một mình với đứa trẻ tóc vàng trong căn phòng trẻ em mờ ảo, ru con ngủ và dạy con bài đồng dao vừa là lời cầu nguyện đầu đời của trẻ thơ, đồng thời cũng là bùa chú chống lại các thế lực tà ác; chống lại những hình thù vạm vỡ trong bóng tối khiến trẻ con phải thét lên; chống lại những người phụ nữ xám xịt kỳ lạ chuyên bắt những đứa trẻ nhỏ khỏi chiếc giường ấm áp mà người mẹ đặt chúng vào rồi quăng chúng xuống những cái hang sâu dưới lòng đất nơi lũ quỷ lùn và ác quỷ dị hình trú ngụ, để lại thay thế vào đó những đứa con bị đánh tráo gầy gò, cáu kỉnh. Chống lại mọi thế lực của bóng tối, bài kinh nguyện nhỏ bé ấy vô cùng linh nghiệm:
“Con xin nằm xuống giường yên giấc,
Cầu xin Chúa giữ gìn linh hồn con.
Và nếu con chết trước khi thức giấc,
Cầu xin Chúa đoái hoài linh hồn con!”
Và rồi, một cách cung kính:
“Hỡi Matthew, Mark, Luke và John,
Hãy phù hộ chiếc giường con đang nằm!”
Và khi đôi mắt nhỏ nhắm lại, khóe miệng chúm chím nở nụ cười ngọt ngào của giấc ngủ, đôi tay buông lỏng tựa những bông hoa trắng rực rỡ, cô sẽ rón rén bước xuống lầu với những vị khách của mình, đến căn phòng tao nhã nơi những người phụ nữ lịch thiệp, nuột nà và những người đàn ông vạm vỡ, tử tế đang tụ tập ăn tối cùng nhau hoặc chơi bài, nơi làn khói xanh nhạt bốc lên thành từng vòng từ những điếu thuốc trắng, nơi ánh nến dịu dàng và tiếng ly chén va vào nhau lanh lảnh. Và cô sẽ cảm thấy hạnh phúc ở đó, được an toàn. Sẽ chẳng có chút sợ hãi nào. Bởi vì ở phía trên, tại bốn góc chiếc giường nơi sinh linh nhỏ bé đang ngủ say là bốn vị thần quyền năng, bốn người đánh cá già cỗi, vạm vỡ—Matthew, Mark, Luke và John!
Bà cụ dõi theo Berenice đang đi dọc con đường, dừng lại một lát giữa công việc thêu thùa tuyệt đẹp để ngắm nhìn vóc dáng mảnh mai, uyển chuyển như cây liễu của cô con dâu trẻ, tư thế ngẩng đầu đầy háo hức, mái tóc nâu được tết gọn gàng xinh xắn. Tà áo màu xanh táo và sắc xanh biếc của những tán cây—cô tạo nên một bức tranh đẹp đẽ làm sao, khiến bà cụ khẽ lắc đầu và thở dài.
Và người ta có thể tưởng tượng bà cụ đang thốt lên: Khi tôi còn trẻ, tôi cũng uyển chuyển dường ấy, xinh đẹp dường ấy, cũng có cái đầu ngẩng cao đầy hăng hái thế. Thời gian trôi mau, và chúng ta già đi. À, những ngày tháng tuổi trẻ tuyệt đẹp làm sao!
Nhưng trong đầu bà hoàn toàn không nghĩ thế: bà lắc đầu vì bà thừa biết những nỗi đau tim, những khó khăn, những nỗi sợ hãi mà cô gái trẻ phải trải qua trước khi đạt được phần thưởng dành cho người phụ nữ—sự khôn ngoan và bình yên.
Bởi vì cuối cùng thì ai rồi cũng đến đích đó, bà cụ nghĩ thế—những cô gái bắt đầu bằng những bước nhảy múa, những cô gái có đôi mắt trăn trở vì suy ngẫm, những cô gái sâu sắc tựa dòng sông, và những cô gái nông cạn hay câu dụ những lời nói ngọt ngào. Và cuộc đời, tựa như một nữ gia sư khéo léo, đã bắt lấy họ, dạy dỗ họ và gieo rắc sự khôn ngoan vào đầu họ, cùng những đóa hoa khiêm nhường trong lồng ngực, tựa như hoa lưu ly. Và những cô gái buồn bã học được nụ cười từ những đứa trẻ chập chững trên sàn nhà, những cô gái bướng bỉnh học được lòng trung thành từ nghịch cảnh, và những dòng cảm xúc mãnh liệt đã bồi đắp chiều sâu cho những tâm hồn nông cạn. Và cuộc đời đôi khi thật khắc nghiệt, hiện tại thì phũ phàng, tương lai thì đáng sợ như một đạo quân giương cờ ngợp trời—nhưng rồi một ngày nó cũng qua đi. Tất cả đều đã lùi vào quá khứ. Và khi nhìn lại, người ta thấy những nỗi đau mình từng trải qua thật nhỏ bé biết bao để đổi lấy một bài học lớn lao, để đi đến một bến bờ ngọt ngào nhường ấy! Nếu người ta vượt qua được, thì nó hoàn toàn xứng đáng biết bao.
Những hiểm nguy mà người ta từng làm rùm ben lên... Ồ! Chẳng lẽ bà không biết sao!
Khi nhìn lại lúc này, bà thấy thật kỳ lạ khi tất cả những bi kịch nhỏ nhặt trong đời dường như đã phai mờ, trong khi mọi niềm hạnh phúc lại được tô đậm lên; và điều này thật đặc biệt, bởi vì vào thời điểm ấy, nỗi đau có vẻ buốt nhói làm sao và hạnh phúc thì thật muôn hình vạn trạng, thật khó nắm bắt. Chẳng hạn như một đêm đi xem hát cách đây hai mươi năm, bữa tối trước đó và bữa ăn nhẹ sau buổi biểu diễn—thật kỳ diệu làm sao khi người ta có thể ghi nhớ tất cả những điều đó! Thậm chí cả những giai điệu dàn nhạc tấu lên, trang phục người ta mặc, câu nói của người đàn ông này, ánh nhìn của người phụ nữ nọ. Và người ta nhớ lại đêm mà cậu con trai Barry bé bỏng ở tầng dưới đang viết lách, đã suýt cận kề cái chết; để rồi nỗi kinh hoàng tuyệt đối, bi kịch của thời gian đó giờ đã phai nhạt. Và người ta chỉ nhớ xem trông cậu đáng yêu thế nào, vị bác sĩ tốt bụng ra sao, hay ông Valance, chồng bà, đã đặt tay lên vai bà với sự bao dung và lớn lao nhường nào.
Nếu người trẻ tuổi biết trước mọi chuyện rồi sẽ kết cục ra sao, họ sẽ chẳng phải lo lắng nhiều đến thế, nhưng nói với họ cũng bằng thừa. Họ sẽ phải tự mình khám phá lấy.
Bà cụ vốn chưa bao giờ là người ca ngợi tự nhiên, nhưng có một điều bà tường tận: bà hiểu con người và am hiểu sự đời. Berenice rất tốt, một cô gái tuyệt vời dẫu mang trong mình bao suy nghĩ lãng mạn, nhưng Barry đôi khi lại khiến bà lo lắng. Anh quá mức say mê con đường văn chương của mình. Và thâm tâm bà cảm thấy anh sẽ chẳng thể thành công nổi. Người ta có trực giác để nhận biết chứ. Chẳng hạn như thế này: bà có thể đoán được một học viên mới tập chơi có trở thành một nghệ sĩ dương cầm vĩ đại hay không, bởi vì bà có thể mường tượng ra hình ảnh anh ta trong tương lai với tư cách một bậc thầy, nếu anh ta thực sự đạt tới đỉnh cao; sức mạnh, sự xa cách, và khả năng tập trung của anh ta. Bà cũng có thể nhận diện được một thương gia. Bà cho rằng đó là một thứ năng khiếu, khả năng cảm nhận bản chất con người.
Còn đứa con trai Barry của bà ở tầng dưới—bà không thể nhìn thấy tương lai ấy ở nó. Và bà cũng chẳng thèm nói cho nó biết đâu. Đàn ông vốn kỳ lạ lắm. Họ hay để bụng, thậm chí với cả mẹ mình. Tốt hơn hết là cứ để nó tự tung hoành, rồi vấp ngã, gục ngã; để rồi tự đứng dậy, ngẫm nghĩ lại, và chuyển sang làm việc khác, với một nỗi đau cùng sự khôn ngoan lớn hơn. Và qua từng tháng năm, nỗi thất vọng ấy sẽ phai nhạt dần, cho đến khi sự ngông cuồng của tuổi trẻ chẳng còn lại gì hơn ngoài một cử chỉ kỳ lạ. Và nhiều năm sau, nó sẽ tình cờ gặp một nhà văn lớn nào đó trong chớp nhoáng, tỏ ra vô cùng lịch thiệp và hơi rụt rè trước người ấy. Nhưng nó sẽ chẳng bao giờ kể về cuộc đấu tranh của chính mình, chẳng thèm nhắc đến nửa lời—à, bà biết chứ, bà thừa biết!
Barry rồi sẽ ổn thôi. Chỉ có điều—chỉ có điều nó phải chịu khuất phục. Con người ai cũng phải bị thuần hóa, như ông Valance, chồng bà từng nói về loài ngựa vậy. Có những con ngựa là chiến mã đua tài, có con là ngựa kéo xe thồ, có con là ngựa săn, có con chỉ để dùng việc cày bừa đơn thuần. Nhưng tất cả đều phải qua huấn luyện. Và hầu như chúng đều hiền lành, đều tốt tính, y như bản chất con người vậy.
Bởi vì hầu như tất cả đàn ông và phụ nữ đều hướng thiện, bà cụ nghĩ thế. Người ta phải thấu hiểu trái tim họ—vẻ bề ngoài hay cử chỉ chẳng có ý nghĩa gì cả—và trái tim họ cần có cơ hội để trưởng thành. Và rồi tất cả bọn họ sẽ trở thành người tốt. Những kẻ không thể tốt đẹp là do sự trưởng thành trong tâm hồn đã bị kìm hãm theo cách nào đó. Và họ không đáng bị căm ghét, mà cần được xót thương, những sinh tội nghiệp.
Nếu bất kỳ ai, một người trẻ tuổi nào đó, biết được những suy nghĩ trong đầu bà—bà cụ mỉm cười—họ sẽ bảo rằng bà chưa từng nếm trải giông bão cuộc đời, rằng bà thật nông cạn và chẳng hiểu gì về bi kịch của vạn vật.
Chà, bà cũng đã trải qua phần đời của mình; có những nỗi truân chuyên cũng như bao người khác. Bà từng là một cô thiếu nữ vô cùng nhạy cảm. Khi kết hôn với ông Valance, chồng bà, bà hầu như chẳng biết gì về ông—bởi vì phong tục thời đó là người đàn ông phải thuyết phục cha mẹ cô gái về tình cảm của mình thay vì chính cô ấy—và đến ngày phải rời xa cha mẹ cùng bốn người anh chị em, rời khỏi ngôi nhà đã gắn bó từ khi lọt lòng, rời căn phòng trinh nguyên của mình để đi theo một người đàn ông xa lạ, đáng sợ nhưng đầy quyến rũ—chà, cảm giác ấy tự lạc bước xuống biển sâu mà chẳng biết bơi. Thời đó những cô thiếu nữ nào có biết gì đâu, ai nấy đều sợ hãi. Thế mà mọi chuyện vẫn tốt đẹp cả. Bà yêu ông Valance, chồng bà. Chẳng có cặp đôi nào gắn bó khăng khít hơn bà và ông. Và bà bật cười khi nhớ lại nỗi sợ hãi ngày nào khi rời khỏi mái nhà thân yêu.
Và trước khi Barry ra đời—ôi, những đêm dài kinh hoàng, những đêm thao thức kinh hoàng, nằm trằn trọc trong nỗi sợ hãi và những giấc mơ quái dị không tưởng nổi! Cả khoảnh khắc vượt cạn, luồng đau đớn cuồn cuộn tựa như nhát dao tàn nhẫn đâm xuyên và sinh lực trôi tuột đi trong dòng lũ xiết! Rồi sự bất tỉnh nhân sự dịu êm kéo đến, và khi tỉnh dậy, bên trong bà là một sự bình yên trắng ngát, cùng cậu con trai nhỏ tóc đen đang nằm gọn trên đùi rộng của người bảo mẫu nhờ một phép màu nhân từ nào đó. Và sự kỳ diệu lạ lùng là sao bà có thể quên đi mọi đau đớn nhanh đến thế... sao mà nó có vẻ nhỏ nhoi và tự nhiên đến vậy! Và bà đã sẵn sàng để trải qua điều đó một lần nữa. Một cô con gái, bà từng nghĩ—thật tuyệt biết bao! Nhưng chuyện đó đã không xảy ra.
Và khi ông Valance, chồng bà, qua đời, bà tưởng chừng thế giới đối với mình đã chấm dứt. Thế nhưng giờ đây, tất cả những gì bà có thể nhớ lại chỉ là sự bình yên và niềm tin ngự trị trên gương mặt điềm tĩnh của ông khi mọi thứ đã qua đi. Và trong căn phòng nơi bà thầm lặng ở bên ông, một thông điệp bình dị vang lên rằng mọi chuyện đều ổn cả. Trái tim con người sao mà ấm áp thế. Ngay cả vị bác sĩ, người đã chứng kiến cái chết của bao nhiêu người đến mức tưởng chừng ông đã trở nên chai sạn, lại tỏ ra tử tế một cách chân tình. Ngay cả những người mà bà từng tưởng là kẻ thù—hoặc không phải kẻ thù mà chỉ là những kẻ hờ hững với bà—cũng thể hiện sự ấm áp và thấu hiểu.
Và bà từng nghĩ mình không tài nào sống nổi một mình trên cõi đời này; nhưng từ một nơi nào đó, sức mạnh đã đến với bà, cả sự điềm tĩnh; và mọi nỗi sợ hãi khi ông Valance còn sống nay đã chết đi, khi bà trở thành một quá phụ. Có những lúc cô đơn và chìm trong buồn khổ, nhưng chưa bao giờ sợ hãi!
Và bà thầm nghĩ với một nụ cười tinh nghịch, về những lần giữa đêm khuya khoắt, bên vùng nước rợn ngợp ở Long Island, bà từng bước ra ngoài, khóc nức nở trong nỗi tủi buồn, cầu nguyện, ước ao rằng ông Valance, chồng bà, sẽ hiện hình để cô có thể nghe lại giọng nói thân thương ấy, cảm nhận bóng dáng vĩ đại, hay thậm chí chạm vào bàn tay ấm áp trên vai mình. Nhưng bà đã mỏi mòn chờ đợi trong vô vọng. Chẳng có gì đáp lại tiếng khóc, lời cầu nguyện và ước muốn của bà. Thế nhưng khi bước trở vào nhà, bà cảm thấy lòng mình đã trút sạch nỗi khát khao và cô đơn, và tất cả đồ đạc quen thuộc trong phòng đều cất lời trò chuyện với bà một cách tế nhị và thân thiện.
Bà mỉm cười, bởi vì giờ đây bà nhận thức được—dù không hiểu vì sao mình lại thấu điều đó—rằng những gì bà muốn là điều không thể đáp ứng. Không thể có một ngoại lệ nào chỉ dành riêng cho bà để chống lại quy luật có vẻ tàn nhẫn nhưng vô cùng khôn ngoan rằng người chết phải giữ sự im lặng. Mọi thứ đều thật khôn ngoan và có trật tự. Và nếu ai nấy đều tường tận mọi nhẽ, thì người thương gia sẽ bỏ dở cửa hàng, người thợ may bỏ mặc đường kim mũi chỉ, và người công nhân rời bỏ máy tiện. Thế nên mọi thứ được giữ kín sau bức rèm của sự bí ẩn, với một hàng rào kinh hoàng bảo vệ phía trước.
Mọi chuyện đều tốt đẹp. Sự sống và cái chết, tất cả đều nằm trong những bàn chân nhân từ.
Ngồi đó, với dáng vẻ của một người già, bà từng nhiều lần nghĩ ngợi rằng mọi thứ dường như không còn tốt đẹp như trong những năm tháng tuổi trẻ của mình. Nhưng nghĩ lại, bà nhận ra chúng vẫn y nguyên thế. Cuộc đời là một hằng số, như ông Valance, chồng bà thường nói về vạn vật. Nhiều khi ngồi trong góc phòng lắng nghe đám trẻ trò chuyện, bà thấy rất buồn cười, bởi vì chúng dường như nghĩ rằng bà chẳng biết gì về cuộc sống hiện đại. Thế nhưng cuộc đời không thể chia thành hiện đại hay cổ xưa. Cuộc đời là một hằng số, như ông Valance, chồng bà hay nói. Bọn chúng chỉ tạo ra những thuật ngữ mới, khám phá những góc nhìn mới. Bà mỉm cười khi nghĩ về những cuộc bàn luận của chúng về phân tâm học; về việc con người ta phức tạp thế nào; và làm sao để tống khứ những nỗi ám ảnh bằng cách vạch trần chúng rồi kể lể với một chuyên gia. Thời trẻ của bà, người ta cũng làm y như vậy. Chỉ có điều họ gọi nỗi ám ảnh là những muộn phiền, và quỳ gối trút bầu tâm sự với Chúa. Còn những câu chuyện về thế giới tâm linh của chúng—chà, hồi bà đã trưởng thành, chẳng phải đã từng xuất hiện gia đình Eddy kỳ lạ ở Vermont, người phụ nữ Nga kỳ bí Madame Blavatsky, và Home, vị đồng cốt có thể bay lơ lửng qua cửa sổ bằng đôi chân đi trước đó sao! Và bà chắc chắn rằng khi bà còn trẻ, cũng có những trò chơi bài phức tạp chẳng kém gì bài bridge. Còn những lời bàn về Chủ nghĩa xã hội và quyền con người của chúng! Chẳng lẽ chúng quên mất rằng Lincoln đã giải phóng nô lệ rồi sao? À, tuổi trẻ!
Bà nhớ lời của một người đàn ông—một cụ già—rằng vấn đề của thế hệ trẻ là thế này: họ chẳng chịu phó mặc điều gì cho Chúa. Họ muốn tự mình làm mọi thứ theo cách riêng. Năm mươi năm trước, ông ấy nói, ai ai cũng ý thức về sự hiện diện của Chúa.
Nhưng có thật là thế không? bà cụ trầm ngâm tự hỏi. Đúng là họ có đi nhà thờ. Nhưng chẳng phải họ đi chỉ vì người ta đều đi đó sao, giống như người ta đi xem phim thời nay vậy? Đó là một thói quen. Và những câu văn trau chuốt của các mục sư có ý nghĩa gì với tụi trẻ không? Không hề. Còn những bài thánh ca—chúng chỉ là giai điệu. Người ta hát chúng, y như mấy cậu thiếu niên hát ca khúc của trường đại học. Chỉ khi người ta trưởng thành, trở thành những người đàn ông hay phụ nữ cao lớn, và những con sói hung ác của thế gian truy đuổi, truy đuổi cho đến khi cảm nhận được hàm răng trắng nhởn, cái miệng nhỏ dãi đỏ lòe của chúng, rồi bắt gặp một bức tường chắn ngang không đường thoát thân—chỉ khi ấy người ta mới cảm nhận được Bàn Tay Vĩ Đại. Và hiếm khi sau đó người ta nhắc về điều đó. Cảm giác ấy giống như việc gia nhập một giáo phái kỳ bí nào đó, được thụ giáo để đến với Chúa. Bà chắc chắn rằng ngày nay cũng thế, y hệt như năm mươi năm trước, như thể nó vẫn luôn như vậy từ ngàn xưa và sẽ mãi mãi như thế.
Ngừng tay thêu một thoáng, bà nhìn thấy Berenice đang đi về hướng ngôi nhà. Chắc là muộn hơn bà tưởng. Chắc đã đến giờ ăn trưa rồi. Họ phải bắt Barry, tội nghiệp cậu bé, dừng tay lại thôi. Công việc trí óc rất hao tổn sức lực và nó không nên làm việc quá sức.
Bà dừng lại lấy hơi, ngắm nhìn mái tóc nâu, tà áo xanh táo. Bà thừa biết bí mật của cô gái, dẫu Berenice chưa từng thổ lộ hay hé mở lời nào về đứa bé. Nhưng ánh nhìn ngập tràn vẻ tôn kính trong đôi mắt ấy—
“Tối nay mình phải cầu nguyện một lời,” bà cụ thầm nghĩ.
Anh đứng dậy khỏi bàn làm việc. Không! Chẳng ích gì cả. Hôm nay sẽ chẳng có chữ nào ra hồn. Lại một buổi sáng công cốc. Phải chi anh tìm ra được cái mẹo mà bọn kia đang nắm giữ!
Đúng thế, nhưng tụi nó đều có thứ để viết, còn anh chẳng có gì: khung cảnh đô thị khốn khổ này, khúc eo biển phẳng lặng tẻ nhạt này. Và anh chẳng quen biết ai. Chẳng có sự khích lệ nào, chẳng có nguồn cảm hứng nào. Mẹ anh, cụ già đáng yêu—bà chẳng biết gì cả, chẳng thể bảo cho anh điều gì. Còn vợ anh—cô ấy là một cô gái đáng yêu, và anh yêu cô, nhưng— Ồ, chẳng có gì để viết cả; chẳng có kịch tính; chẳng có những con người của kịch tính.