Dưới ban công của nàng, trong đêm xuân dịu ngọt, nhịp sống Gaza trôi êm đềm tựa một dòng sông phẳng lặng. Về phía đông là những ngọn đồi xanh thẳm của xứ Canaan, nàng Đê-li-la biết vậy, và trong trí tưởng tượng, nàng có thể hình dung ra sắc xanh mơn mởn của những chồi ngô non tơ, những chùm hoa rực rỡ, màu xanh biếc của giàn nho, và bóng râm thẫm của những rặng ô-liu. Còn ở phía tây, vầng trăng non hãy còn treo lơ lửng khi mặt trời chưa lặn hẳn, mảnh mai tựa một lưỡi dao bạc nhỏ nhoi, như một nốt nhạc trong trẻo cất lên từ cây sáo trúc. Cảnh tượng ấy khiến người ta ao ước được trở lại tuổi trẻ, được làm một đứa trẻ...
Những ngọn đèn ở Gaza vẫn chưa được thắp lên. Chẳng ai vội vã trở vào nhà, và phía dưới đường vẫn vang lên tiếng lục lạc của bầy lạc đà, tiếng bước chân rón rén của lữ lừa, tiếng đinh sắt khua lách cách đầy khắc khoải từ móng của những con ngựa khi một kỵ sĩ sa mạc cố điều khiển vật cưỡi giữa dòng người đông đúc. Những người Ai Cập uể oải, kiêu kỳ đang dạo bước trên các con đường tỉnh lẻ; những người đàn ông sa mạc với ánh mắt ngờ vực như chim ưng đang thận trọng di chuyển khắp ngả; đồng bào của nàng, những người Phi-li-tinh vạm vỡ, vui tính, mang nửa phần dáng dấp dân thành thị và nửa phần dân chài, đang sải bước nhanh nhẹn; những thương nhân Phê-ni-ki bí hiểm và xa cách; thỉnh thoảng lại xuất hiện một thủy thủ lạ mặt đến từ xứ Gaul, xuôi về phương đông cùng con thuyền chở hàng từ Tiểu Á; rồi tiếng «Họp-họp! Họp-họp!» của những kẻ chăn gia súc vang lên, theo sau là đàn bò đốm đi qua, bị quất roi bởi những cây gậy, và khi đưa mắt nhìn, Đê-li-la nhận ra nhóm người Ít-ra-en là chủ nhân của chúng.
Từ dưới đường, họ nhìn thấy nàng, và đôi mắt họ bừng lên ngọn lửa căm phẫn. Họ chỉ trỏ về phía nàng bằng những cử chỉ dứt khoát, rộng mở, và nàng có thể nghe thấy những âm thanh cuống họng đầy tính cáo buộc của họ... Ồ phải rồi, họ vẫn nhớ đến Sam-sôn, sau tận hai mươi năm! Nhớ về ông ấy suýt soát chẳng kém gì nàng!
Chính nàng cũng vừa nghĩ đến ông ấy chỉ một phút trước đó thôi. Thật lạ lùng, nhưng cứ vào độ này mỗi năm, ký ức và hình ảnh về ông lại hiện về trong tâm trí nàng, để rồi khi mùa đông đến, nàng có thể tự nhủ: «Vào kỳ trăng thứ hai của mùa xuân, hoa sẽ nở, không khí sẽ ngát hương như rượu vang, những người đánh cá Địa Trung Hải sẽ thu xếp ngư cụ, và ta sẽ nghĩ đến Sam-sôn», và nàng là người duy nhất trên xứ Phi-li-tinh còn có thể tưởng nhớ ông một cách rõ ràng.
Có lẽ một vị quan tòa già cỗi nào đó, hay một viên đội trưởng đội vệ binh thành phố, nếu được gợi nhắc lại trí nhớ, có thể sẽ nhớ đến tên phiến quân người Hê-bơ-rơ ấy và nói rằng: «Hồi đó chẳng phải từng có một Sam-sôn đấy ư, một gã đàn ông râu đỏ vạm vỡ, kẻ được cho là đã tay không giết chết một con sư tử hay sao? Hay là ta đang nhầm với những tên khổng lồ da đen gốc Phi, mấy đô vật hay nghệ sĩ biểu diễn gánh xiếc nhỉ? Ta không rõ nữa. Nhưng dường như ta vẫn nhớ cái tên ấy.»
Và quanh ông, giữa chính đồng bào của mình, đã dâng lên một huyền thoại lớn lao, như điều vẫn thường xảy ra giữa những cộng đồng người sa mạc khi họ kể chuyện bên ngọn lửa. Vị thủ lĩnh du kích già ấy đã trở thành một anh hùng dân tộc trong lòng họ, và họ đã phóng đại những cuộc đột kích của ông vượt xa mọi tỉ lệ thực tế.
Và khi ngồi trong những lều trại giữa sa mạc để nghĩ về vận mệnh của dân tộc mình, rồi khao khát chờ mong ngày mà vùng đất giàu có ở tây nam khi ấy sẽ thuộc về họ bằng con đường chinh phục hoặc thâm nhập, họ thường nói: «Giá mà Sam-sôn còn sống... Giá mà Sam-sôn đã không lầm đường lạc lối...»
Còn Đê-li-la thì bị họ nguyền rủa cay đắng, dẫu đã qua tận hai mươi năm, và họ nhìn nàng không phải với tư cách là người vợ của Sam-sôn, mà như một ả đàn bà xức nước hoa kỳ lạ nào đó đã quyến rũ rồi bán đứng ông cho kẻ thù. Ngay cả những đứa trẻ cũng được dạy cách nguyền rủa nàng. Trong khi tất cả những gì nàng từng làm chỉ là sùng bái ông, yêu thương ông, chăm sóc và xót thương cho ông khi ông đã già nua, mù lòa và tâm trí bấn loạn.
Thôi nào, những lời họ nói thì có nghĩa lý gì đâu!
Đã có ba người đàn ông xuất hiện trong cuộc đời nàng: người tình thời thơ ấu ở thung lũng Xô-rếch quê hương nàng, chàng thanh niên mảnh khảnh lẽ ra đã cưới nàng để rồi cùng định cư tại thung lũng, sống một cuộc đời điền viên lý tưởng của những đôi tình nhân miền thôn dã. Nhưng chàng đã đến Ai Cập, bị cuốn vào vòng xoáy của tham vọng, để rồi họ xa cách nhau và chẳng bao giờ thành hôn. Và giờ đây, ở đất Ai Cập, chàng đã trở thành một vị quan chức lịch lãm, rất được Pharaon sủng ái, một nhân vật lớn.
Và đã có Sam-sôn.
Cùng với người chồng hiện tại của nàng, một người đàn ông vóc dáng nhỏ nhắn, mắt sắc như diều hâu, ít nói, là vị thuyền trưởng lừng lẫy nhất vùng biển phương Đông, kẻ am hiểu Địa Trung Hải như lòng bàn tay giống như cách người khác thuộc lòng hồ Ga-li-lê, từng vượt qua eo biển mà người Hy Lạp gọi là những chiếc cột của Hercules, tiến lên phía bắc tới tận I-bê-ni-a, vùng đất của những khu rừng cùng tộc người Xen-tơ rậm rạp tóc tai, hung dữ, và những vị tư tế druid râu rậm với ánh mắt nham hiểm, cùng những xứ sở khác nơi người Phê-ni-ki sở hữu những mỏ thiếc khổng lồ. Quả là một người đàn ông trầm lặng và tài năng!
Dành cho người chồng hiện tại sự ngưỡng mộ và lòng tận tụy sâu sắc. Dành cho chàng thiếu niên của tuổi trẻ một trái tim dâng trào khúc nhạc trinh nguyên. Nhưng dành cho tên phiến quân người Hê-bơ-rơ xù xì ấy, một kẻ xa lạ với giống nòi nàng, khác biệt cả về tôn giáo lẫn mọi lối sống, nàng lại dâng hiến một tình yêu vô bờ bến...
Khuôn mặt nàng giờ đây, nơi từng mang một vẻ đẹp kiêu hãnh và chan chứa thi ca, nay đã thấm đượm nét uy nghiêm, quyền lực và sự khôn ngoan. Những sợi tóc bạc phất phơ cùng những nét quầng thâm vương bên khóe mắt. Trải khắp Gaza, khắp xứ Phi-li-tinh, chẳng tìm đâu ra một ai dám từ chối dành cho nàng sự kính trọng, ngoại trừ, tất nhiên, bộ tộc du mục kỳ lạ kia, những kẻ vẫn khăng khăng cho rằng nàng đã hủy hoại vị anh hùng kiêm chúa tể của họ.
Một dân tộc thật kỳ quặc! Một giống người xa lạ, đầy thù địch, những kẻ đã tiến vào xứ Canaan từ Ai Cập dưới sự dẫn dắt của các pháp sư từng rẽ Biển Đỏ — theo lời họ tự khoác lác — và họ luôn chống lại những cư dân bản địa của Canaan. Suốt từ nhiều thế kỷ nay, họ vẫn luôn là một vấn đề chính trị nhỏ nhặt đầy phiền toái, và bất cứ khi nào mối quan hệ với xứ Ai Cập chùng xuống, hay cuộc tranh luận về tuyến đường thương mại lớn đi phương Đông tạm lắng đi, thì vấn đề về người Ít-ra-en lại nổi lên. Hết tàn phá một thị trấn này, họ lại đến cắm trại bừa bãi ở một bãi đất công nọ. Việc phát một cuộc chiến tranh quy mô lớn chống lại họ là điều bất khả thi. Đem quân đi trấn áp, họ lại tản ra thành các đơn vị du mục nhỏ lẻ như bao bộ tộc khác. Và trước khi quân đội kịp rút về đồn trú, người Ít-ra-en đã quay trở lại. Người Phi-li-tinh, với sự khoan dung mang phong cách Ai Cập lịch thiệp của mình, chỉ biết mỉm cười. Người ta có thể làm gì được trước một giống người như thế chứ?
Suốt hàng thế kỷ qua, họ vẫn luôn ngang tàng, xảo quyệt, là những kẻ phá rối hòa bình, trong khi người Phi-li-tinh đối xử với họ bằng sự khinh miệt nhẹ nhàng, chút tự hào pha lẫn lòng trắc ẩn không hẳn là không có. Chẳng quốc gia nào trên thế giới lại phải đối mặt với một vấn đề độc nhất vô nhị như họ. Và người Phi càng tỏ ra tử tế, bao dung bao nhiêu, thì lòng căm thù của người Ít-ra-en lại càng dâng cao bấy nhiêu. Có những năm họ sống yên bình trong các thành phố của người Phi-li-tinh, nhưng rồi một cơn hờn dỗi mang tính dân tộc kỳ lạ bỗng trỗi dậy, họ kéo nhau ra vùng sa mạc cất tiếng cất lời ca ngợi vị thần khắc nghiệt của mình, tự phán xét bản thân một cách tàn nhẫn vì đã sống trong cảnh sung sướng, rồi những nhà tiên tri xuất hiện trong hàng ngũ của họ thốt ra những lời cay đắng, quất roi vào họ bằng một cơn thịnh nộ trắng xóa, các nhà cách mạng kích động chiến tranh, và đó là lúc người Phi-li-tinh phải cẩn trọng cử quân ra kiềm chế, bởi chẳng thể đoán trước được khoảnh khắc nào thì đám thanh niên sẽ tiến hành một cuộc đột kích vào một thị trấn hay một điền trang trồng nho. Một cuộc đụng độ chớp nhoáng, một chiến dịch du kích nhỏ, rồi mọi chuyện lại đâu vào đấy. Những chính trị gia già dặn kinh nghiệm cho rằng mỗi lần người Ít-ra-en bị đánh bại là mỗi lần họ lại giành thêm được một chút lãnh thổ, nhưng giới chính trị gia thì lúc nào chẳng là những kẻ bi quan. Hơn nữa, dẫu có thế thì đã sao nào?
Đê-li-la nhớ lại rằng khi còn là một đứa trẻ trong ngôi nhà của cha ở thung lũng Xô-rếch, nàng đã được nuôi dạy với niềm tin rằng toàn bộ người Ít-ra-en đều là những kẻ hay gây rối và bất mãn. Họ quả là những người chăn gia súc xuất sắc, nhưng ngoài điều đó ra thì chẳng có lấy một đức tính nào. Và những đứa trẻ người Hê-bơ-rơ thường bị coi thường vì quá nghèo khổ. Ôi! Thói kiêu kỳ tàn nhẫn của trẻ con! Một giống người tách biệt, một chủng tộc hạ đẳng, Đê-li-la từng nghĩ thế trong những năm tháng tuổi trẻ, và đã mỉm cười khi nghĩ về vị thần thô kệch, đầy kịch tính của họ – đấng tối cao mà họ luôn kính sợ. Vị thần của họ mới giới hạn và cụ thể làm sao. Chẳng có lấy một chút tính biểu tượng nào như Đa-gôn, nửa người nửa cá, vị thần được những thủy thủ Địa Trung Hải thành kính tạ ơn mỗi khi mẻ lưới nặng trĩu bạc; chẳng có lấy một chút vẻ đẹp nào của Ba-anh, thần mặt trời, vị thần sinh sôi nảy nở làm tăng đàn gia súc, với những tia nắng nuôi dưỡng đất đai và sinh ra thảm cỏ xanh ngọt ngào; chẳng có lấy một chút duyên dáng nào của Át-tê-rốt, nữ thần của màn đêm u tịch, của nỗi kinh hoàng, niềm hoan lạc cùng sự huyền bí, nữ thần mang bầu ngực căng tràn và đôi mắt đượm tình đam mê...
Thế nên, Đê-li-la từng nhìn nhận họ với sự hờ hững và không ít phần khinh miệt; một lũ người phiền toái, dốt nát, xảo quyệt và hay gây rối; những khúc ca dân gian và điệu nhảy kỳ quặc của họ, những buổi họp mặt tôn giáo lạ lùng, những mối thù hằn sâu sắc... Bất định — bản chất của họ chính là thế.
Rồi tuổi trẻ đến, nàng bước vào ngưỡng cửa đàn bà... Thỉnh thoảng nàng tự hỏi liệu chàng trai của những ngày tháng ấy, dẫu rất gần gũi với Pharaon Ai Cập, sở hữu cung điện Ai Cập và người vợ Ai Cập, có bao giờ nhớ về những ngày xanh ấm áp ở Xô-rếch, và cách họ đã cùng nhau trưởng thành từ tuổi mười lăm đến hai mươi ba.
Chưa từng có lời cầu hôn nào được thốt lên giữa họ, nhưng cả hai mặc nhiên coi như sẽ cưới nhau, tự nhiên như việc mặt trời chiếu sáng và màn đêm buông xuống những vì sao. Họ gắn bó như thể hai người bạn gái, hoặc đôi bạn trai, tình bạn giữa họ ngọt ngào biết bao.
Cuộc phiêu lưu của cuộc đời tự hé mở trước mắt họ — toàn bộ vẻ đẹp của thế gian, những đóa hoa hoang dại mỉm cười, mặt trời lặn sau những ngọn đồi, tiếng chim chóc râm ran vào mùa xuân khi chúng tàn phá những cánh đồng gieo hạt, những chú cá nhỏ quẫy nước trong vũng khi lặng gió và chiều về — tất cả những điều ấy là sợi dây liên kết vô cùng mạnh mẽ. Ngay cả bây giờ, khi nghĩ về những chốn cũ ở thung lũng thời thơ ấu, nàng chỉ có thể hình dung chúng như tấm phông nền cho khuôn mặt trẻ trung, điềm tĩnh của chàng. Mọi thứ trông thật tự nhiên, từ đóa táo nở hoa cho đến gương mặt của người tình trẻ.
Và những giấc mơ của Đê-li-la — năm năm mơ mộng về việc cai quản một ngôi nhà, quản lý bầy nữ tỳ, và những đứa con thơ. Năm năm mộng mơ! Để rồi chàng rời đến Ai Cập và chẳng bao giờ trở lại. Chỉ có những câu chuyện vọng về, kể về thành công của chàng, về chức vị, về người vợ của chàng...
Là một người phụ nữ trẻ khi ấy, nàng từng nghĩ rằng thứ bị tước đoạt bởi một cú sốc kinh hoàng chính là tình yêu của mình, nhưng giờ đây, ở tuổi bốn mươi chín, nàng hiểu ra rằng thứ đã chết đi chính là một giấc mơ. Nàng từng bị sốc, bị phương hướng, và cuộc đời vốn được hoạch định kỹ lưỡng bỗng chốc mất đi ý nghĩa.
Tuy nhiên, trải nghiệm ấy đã tôi luyện nàng thành một người phụ nữ bản lĩnh và kiêu hãnh. Nàng tự nhủ mình phải có việc để làm, có thứ để suy ngẫm. Tình yêu và mọi suy nghĩ về tình yêu được nàng gạt sang một bên. Để trốn chạy chính mình, nàng bắt đầu tìm hiểu về con người, thời sự, chuyện này chuyện nọ. Có lẽ chính bản tính phụ nữ luôn xót thương những kẻ yếu thế đã hướng ánh mắt nàng về phía những con người Hê-bơ-rơ khốn khổ, thay vì hướng đến vinh quang của Ai Cập hay quyền lực của những thành phố thương cảng.
Nàng trở thành bạn của họ, và họ dần thấu hiểu nàng. Có lẽ họ cũng thỉnh thoảng trộm đồ của nàng, nhưng cái giá ấy quá nhỏ nhoi so với sự xa xỉ của việc trốn chạy... Tất cả bạn bè đều mỉm cười trước sở thích kỳ quặc ấy, gọi những người Ít-ra-en là «những kẻ Hê-bơ-rơ của Đê-li-la», và họ tự hỏi tại sao một người phụ nữ có nhan sắc và địa vị như nàng lại đi bận tâm mấy chuyện đó. Sao nàng không chịu lấy chồng? Hay nàng đang dần trở nên khác thường? Trở thành một trong những người phụ nữ kỳ quái quan tâm đến việc công hơn là tổ ấm gia đình. Đã có biết bao người phụ nữ đang chuyển biến theo hướng đó.
Nhưng Đê-li-la chỉ mỉm cười. Họ chính là liều thuốc xoa dịu tâm hồn nàng. Nàng thích những điệu múa dân gian lạ lẫm của họ; những khúc ca hoài niệm, đầy ai oán. Và cả những huyền thoại của họ – ẩn chứa một nét mộc mạc, giản dị mà nàng yêu mến; A-đam và Ê-va trong vườn địa đàng; câu chuyện về Nô-ê và chiếc con tàu; truyền thuyết ngây ngô về tháp Ba-bên; cùng lịch sử cận đại về vị thủ lĩnh được công chúa Ai Cập phát hiện trong đám sậy – tên ông ta là gì nhỉ? Mô-sê! Đúng rồi... Họ thật ngây thơ làm sao, đơn giản một cách tươi mới làm sao, những con người đáng yêu!
Nàng thường cảm thấy thật kỳ lạ khi ngồi ngẫm nghĩ rằng mọi kiến thức người ta vất vả học hỏi rồi cũng sẽ trôi đi dễ dàng, chỉ có những gì từng cảm nhận là ở lại, dẫu chào đón hay không. Toàn bộ kiến thức sách vở của những năm đầu đời đã phai nhạt, nhưng ký ức về nụ hôn ngượng ngùng đầu tiên thì chẳng bao giờ phai mờ, và dẫu đã hai mươi sáu năm trôi qua kể từ ngày chàng bước ra khỏi cuộc đời nàng, thì hình bóng chàng thiếu niên Phi-li-tinh nay đã trở thành một bậc quyền quý ở Ai Cập ấy – vẫn ở lại.
Tương tự như vậy, tất cả những gì nàng từng biết về người Hê-bơ-rơ đã trôi tuột đi; giờ đây, thỉnh thoảng một huyền thoại, một câu nói, một câu tục ngữ hay một nghi thức nào đó lại vọng về trong tâm trí, nhưng vang lên hệt như một đoạn nhạc từ khúc ca mà ta đã quên lãng. Thế nhưng, mọi cảm xúc, mọi trải nghiệm của nàng về đại trượng phu Sam-sôn thì vẫn nguyên vẹn ở đó. Người ta học hỏi và trải nghiệm cuộc đời qua từng sự việc. Những gì được ghi tạc trong lý trí rồi sẽ phai mờ và chết đi, nhưng những lời khắc sâu vào tim thì càng lúc càng hằn sâu hơn... Nàng có thể nhớ rõ từng nụ hôn ông từng trao, thứ cuồng phong mãnh liệt mà ông từng khơi gợi... Lạy Chúa, liệu có khi nào nàng, một người giờ đây điềm đạm, được kính trọng, khôn ngoan đến thế, lại từng run rẩy như chiếc lá trước giọng nói của ông? Đầu gối nàng từng chùng xuống; trái tim nàng từng đập thình thịch trong lồng ngực như con chim giam trong lồng; cổ họng nàng từng khô khốc...
Trước khi gặp ông, nàng đã nghe danh tiếng của ông, một gã đàn ông vạm vỡ, ngang tàng với sức mạnh phi thường, kẻ từng nhiều lần gây rắc rối với chính quyền Phi-li-tinh... Trong những cuộc xung đột giữa các bộ tộc vài năm trước đó, tên tuổi ông từng nổi đình nổi đám. Ông đã kết hôn với một cô gái Phi-li-tinh ở Tim-nát, và đã có một vụ bạo loạn nổ ra trong đám cưới xoay quanh vấn đề của hồi môn hay đại loại thế, khiến một số họ hàng người Phi-li-tinh của cô dâu thiệt mạng. Một dạng mối thù truyền kiếp bùng nổ và Sam-sôn tuyên chiến với cả quốc gia. Ông tiến hành đốt cháy những lúa mạch chất đống trên đồng; có lời đồn kỳ lạ rằng ông đã bắt hàng loạt con cáo, buộc nhữngh ngọn đuốc đang cháy vào đuôi chúng rồi thả vào các đồng ruộng sắp thu hoạch.
Và đương nhiên, từ một vụ tranh chấp gia đình, nó đã biến thành một vấn đề quốc gia và Sam-sôn bị triều đình truy nã. Những câu chuyện kỳ vĩ được kể lại về sức mạnh và lòng dũng cảm của ông, về việc ông một mình đánh bại các toán tuần tra và trốn chạy trên những vách đá Etom. Người Hê-bơ-rơ được yêu cầu giao nộp ông cho nhà chức trách, và họ đã trói Sam-sôn lại để giải tới Lehi. Nhưng tại đó, ông đã tung tóe đứt tung dây thói, với sức mạnh vô song ấy, ông trốn thoát sau khi tiêu diệt hai mươi tên địch trong một trận cận chiến. Từ đó ông trở thành một tên cướp núi bị treo thưởng ngộ sát.
Xung quanh ông, một huyền thoại lãng mạn dần hình thành, như điều thường thấy ở các thủ lĩnh miền núi, và Sam-sôn đã sống xứng đáng với huyền thoại ấy một cách vô cùng hào hiệp. Chẳng màng cải trang, chẳng sợ nguy hiểm, với bộ râu đỏ rực và mái tóc buông xõa tận hông, chính ông đã từng đột nhập vào tận Gaza chỉ để thăm một người phụ nữ. Lính gác được lệnh khóa chặt các cổng thành để lùng sục ông, nhưng ông đã tông sập cánh cổng bằng đôi vai kinh hoàng của mình rồi băng qua Hebron. Người ta đồn rằng ông còn mang theo cả những thanh sắt của cổng thành để làm vũ khí.
Tất cả những chuyện đó đã xảy ra từ nhiều năm trước, mọi cuộc chiến biên giới đã khép lại, và Sam-sôn không còn là một tên cướp bị truy nã nữa mà đã trở thành một nhân vật lớn của người Hê-bơ-rơ, bỗng chốc vươn lên thành danh và nắm giữ quyền lực như cách những người như thế thường làm. Ông không còn đi cướp phá mùa màng hay gia súc, cũng chẳng còn lẻn đến Gaza trong bóng tối, mà nay ông bước đi hiên ngang như một kẻ chinh phục. Người ta bảo rằng ông cảm thấy ngột ngạt vì mọi thứ quá đỗi yên bình, và ông hoài niệm những ngày tháng tung hoành sơn cước. Trong mắt người Hê-bơ-rơ, ông là một nhân vật vĩ đại, một vị anh hùng.
Đê-li-la chưa từng hiểu làm thế nào họ có thể tôn vinh một tên du kích thành anh hùng dân tộc, nhưng khi lần đầu tiên nhìn thấy ông, nàng đã hiểu. Ông đến để cảm ơn sự quan tâm mà nàng dành cho đồng bào của ông.
«Cô đã đối xử tốt với dân tộc tôi», giọng ông vang lên sấm rền. «Tôi cảm ơn cô.»
Bản thân là một phụ nữ cao lớn, nàng vẫn phải ngước nhìn ông như một đứa trẻ, và dẫu vóc dáng chẳng hề nhỏ bé, nàng bỗng thấy mình nhỏ bé tựa nhành sậy đứng trước khối cơ bắp vạm vỡ ấy. Nàng có hai ấn tượng sâu sắc về ông: nét nam tính ngút ngàn và phong thái kiêu ngạo tột độ. Dường như với bất cứ thứ gì thuộc về Phi-li-tinh, ông đều dành một sự khinh miệt sâu sắc. Ông từng đánh bại người Phi-li-tinh, và về mặt thể chất, ông chẳng thèm đếm xỉa gì đến họ.
Thoạt đầu, nàng thấy mái tóc đỏ rực ấy có chút gì đó phô trương, thứ mà ông vô cùng tự hào và chăm chút cẩn thận. Ở một người đàn ông nhỏ con hơn, nó có thể trôngẻ ẻo lả, nhưng ở ông, đó lại là biểu hiện của sự cường tráng, hệt như bờm của một chú sư tử. Đứng cạnh ông, đám thuộc hạ và đồng tộc bỗng trở nên thật yếu ớt, còi cọc. Thảo nào họ lại dõi theo ông bằng những ánh mắt sùng bái đến thế. Thảo nào họ lại trưng diện ông lên với niềm tự hào tột độ.
Đối với Đê-li-la, việc mình bị lay động, bị xáo trộn cả lý trí lẫn cảm xúc trước sự hiện diện của gã đàn ông rực rỡ và rậm rạp ấy vừa là một điều kỳ lạ vừa là một nỗi khó chịu. Toàn bộ các giác quan của nàng bỗng chốc rung lên bần bật. Một phần trong nàng, người phụ nữ quý tộc Phi-li-tinh, mỉm cười với chút khinh miệt bề trên trước những lời khoác lác không giấu giếm, trước cái liếc mắt đầy khinh mạn của ông đối với những người qua đường.
Nhưng một phần khác, một Đê-li-la lạ lẫm lại gào thét:
«Mặc kệ ông ấy nói gì, cứ để ông ấy nói tiếp đi. Trái tim ta rộng mở trước giọng nói ấy... Cứ để ông ấy khinh miệt mọi người bằng ánh mắt ngạo mạn kia, nhưng xin đừng khinh miệt ta!»
Người phụ nữ Phi-li-tinh cảm thấy hơi ghê tởm cách ông đặt tay lên đầu và vai đám thuộc hạ, xoa bóp chúng một cách vụng về. Nhưng nàng Đê-li-la mới mẻ lại gào thét:
«Nếu ông ấy đặt tay lên người ta, ta sẽ ngất lịm xuống đất và chết mất!» Và một ngọn lửa hổ thẹn trào lên trong nàng, khiến khuôn mặt nàng đỏ bừng. Và nàng tự nhủ: «Lạy Chúa! Lạy Chúa! Ta đột nhiên phát điên rồi!»
Toàn bộ học thức, truyền thống, những phép tắc lịch sự thanh tao trong đời nàng bỗng chốc tan biến, trở thành hư không trước thân hình nam nhân vạm vỡ này. Mọi người đàn ông trong cuộc đời nàng, từ bạn bè, gã người tình phản trắc thuở thiếu thời cho đến họ hàng, bỗng hóa thành những con rối đứng cạnh ông – với những chiếc cằm nhẵn nhụi, lời lẽ bóng bẩy, sự cẩn trọng trong trang phục và phong thái. Gã khổng lồ râu đỏ đã xuất hiện, và như thể cất lời «Biến đi!», họ đã bị thổi bay đi như những chiếc lông vũ trong gió.
Nếu nàng trằn trọc, thì ông cũng thao thức. Sự trực diện của ông thấu suốt nỗi xáo trộn trong lòng nàng. Một khao khát cháy bỏng dâng lên trong lòng tên trai núi ngang tàng là được ở bên nàng, được thấu hiểu thể xác và tâm hồn nàng. Ông vốn quen với đàn bà, quen yêu đương, nhưng chưa từng gặp người phụ nữ nào thế này – một quý cô kiều diễm, được chăm sóc kỹ lưỡng, sở hữu tất cả những gì là kỳ quan đối với ông: sự giàu có, nền giáo dục ngoại tộc và một nét văn hóa ngọt ngào, lạ lẫm. Người vợ ở Tim-nát của ông chỉ là một cô thôn nữ, những người tình trên núi thì giống như những nữ chiến binh bộ tộc, nhanh nhẹn, hung dữ như loài mèo, tựa thứ trái cây cứng cáp, chua chát, và những người phụ nữ ông từng biết ở Gaza đều là những ả buôn hương bán phấn cho bất kỳ ai. Nhưng đây là một bậc quý bà – và nàng yêu ông. Niềm kiêu hãnh lớn lao, sự kinh ngạc tột cùng cùng niềm khao khát trào dâng trong lòng ông. Ông cũng ngây dại chẳng kém gì nàng.
Họ nhìn nhau, đọc thấu suy nghĩ của đối phương, cho đến khi cổ họng nghẹn lại, và mọi ngôn từ chỉ còn là những âm thanh vụn vặt, vô nghĩa. Ông câm lặng đầy kinh ngạc, còn nàng câm lặng cúi đầu trong nỗi hổ thẹn. Họ chia tay nhau thế nào vẫn là một điều bí ẩn đối với nàng, chỉ biết rằng tay họ đã chạm vào nhau, và khoảnh khắc chạm ấy khiến toàn bộ xương thịt nàng như tan chảy ra, đôi chân nàng run lên bần bật vì một nỗi sợ hãi tột cùng. Và chẳng còn thứ gì trên đời này vững chãi ngoại trừ bàn tay lớn đang hừng hực hơi ấm của ông, bàn tay cũng đang run rẩy không kém...
Nàng chìm đắm trong nỗi hổ thẹn, trăn trở, mù quáng về phương hướng, mọi thứ quen thuộc trong ngôi nhà và điền trang giờ đây bỗng trở nên lạ lẫm, vô nghĩa. Ngày dài lê thê, và trong lồng ngực nàng là một trận cuồng phong, tựa ngọn gió nóng thổi từ sa mạc. Nàng trốn vào những căn phòng bên trong, tận hưởng sự mát mẻ của chúng, nhưng điều đó chẳng đem lại sự bình yên nào, và sự bứt rứt lại buộc nàng phải bước ra ngoài. Mặt trời châu Á chậm chạp bò từ đông sang tây, còn Đê-li-la vẫn chìm trong một màn sương mụ mẫm. «Mình bị bệnh ư?», nàng tự hỏi. «Mình đang mắc phải căn bệnh lạ nào chăng?» Nhưng không. «Mình điên mất rồi», nàng nghĩ. «Mình phải xua tan nó đi. Mình không được nghĩ nữa.» Ngày cứ thế chậm chạp trôi qua; nhưng hình ảnh ấy cứ bám riết lấy tâm trí nàng. Và khuôn mặt nàng tái mét, nàng khẽ thì thầm với chính mình: «Ta là một ả đàn bà hư hỏng. Chưa bao giờ ta nhận ra điều này. Ôi, nhục nhã, nhục nhã và khốn khổ! Ta là một kẻ tà dâm!»
Mặt trời châu Á lặn xuống lòng biển đang xèo xèo bốc khói, nhường chỗ cho màn sương chiều mềm mại xứ Xy-ri cùng làn gió đêm mát rượi. Hơi nóng trong tâm trí và cơ thể tan biến theo cái oi ả của ban ngày. Chỉ còn lại một nỗi khao khát sâu thẳm, tựa niềm hoài niệm về sự vô tận. Bên ngoài, màn đêm nhuộm một màu xanh thẳm, chỉ có chút gió thoảng qua những tán cây táo, và muôn loài hoa đã khép cánh chờ bình minh, nhưng lũ chim vẫn ríu rít và chính lòng đất cũng thổn thức khi mùa xuân đã về.
Gió đêm mơn man chiếc trán ngọc và làm rối tung những lọn tóc đen thơm ngát bên thái dương nàng. Làn gió đêm mát rượi, tựa dòng nước trong lành. Khi ấy, trong lòng Đê-li-la trỗi dậy một niềm khao khát, nàng lang thang giữa những giàn nho và gốc táo, khẽ chạm vào chúng trên đường đi, như thể chúng cũng đang chia sẻ nỗi niềm thao thức với nàng. Dù bóng tối bao trùm, nhưng vạn vật vẫn chưa chìm vào giấc ngủ. Đâu đó bầy cừu đang gặm cỏ, và nàng có thể tưởng tượng ra những vị thần vùng Cận Đông đang bước đi trên mặt đất, những vị thần đầy đam mê và khát khao, những kẻ mãi mãi tuổi trẻ; họ sánh bước bên nàng với thân hình nâu bóng, mảnh mai, tuyệt mỹ và đôi mắt đượm tình. Mọi niềm khao khát của màn đêm dồn tụ trên đôi môi nàng thành một khúc ca nhỏ – một giai điệu cùng những lời ca ngập ngừng, bất định.
«Hỡi Mùa Xuân, mùa khởi đầu từ đây...», tiếng giọng trầm ngân nga cất lên.
Có tiếng xào xạc giữa những tán cây. Trái tim nàng ngừng đập.
«Có ai ở đó không? Ai ở đó? Ai vậy?» Nhưng nàng thừa biết ai đang đứng đó.
«Là ai thế? Ai vậy chứ?»
Nàng nhìn thấy bóng dáng vạm vỡ trong màn đêm xanh thẳm, tựa một người khổng lồ, một vị thần vĩ đại sinh ra từ lòng đất.
«Là ta đây – Sam-sôn.»
«Cái gì – làm sao mà...» Lời lẽ nghẹn lại trong cổ họng nàng. Ngôn từ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. «Tại sao...»
Nàng đưa đôi tay ra – chẳng biết vì lý do gì, có lẽ để đẩy ông ra xa – đôi tay trắng ngần mảnh mai trong màn đêm chập choạng. Ông chộp lấy chúng. Một lần nữa, toàn thân nàng rần rận từ đầu đến chân, đôi chân chùng xuống, và mọi thứ trong nàng tan chảy. Nàng ngả người về phía trước, ý chí hoàn toàn biến mất, ngã gục vào lồng ngực vạm vỡ đầy lông lá của ông.
«Ta sắp chết rồi», nàng thì thầm. «Lạy Chúa tôi, ta đang chết dần đây!»
Giờ thì họ đã thành vợ chồng; và ông đã dọn đến sống trong ngôi nhà của nàng, ngôi nhà thấp thoáng, dễ chịu ở thung lũng Xô-rếch, căn nhà trắng ngần và mát mẻ... Bên ngoài, những đóa hoa xứ Xy-ri khoe sắc trong khu vườn, những bông hoa trắng, xanh và sắc đỏ nhỏ nhoi, lũ ong đang vo ve... Những căn hầm chứa sữa mát lạnh và những khoảng sân với những đống lúa mạch khổng lồ; trên đồng cỏ, những con bò đốm đang gặm cỏ, và trên sườn đồi là đàn cừu dày lông. Bên trong, đám nữ tỳ đang chăm chú quay những chiếc bánh xe sợi, và toàn bộ vẻ trang nhã của một điền trang lớn hiện hữu ở đó, từ những chiếc vạc đựng nước mát lạnh do thợ gốm Ba Tư chế tác, những sấp vải từ Đa-mát, cho đến những tấm thảm treo tường dệt từ khung cửi tinh xảo ở phương Đông, cùng đồ đạc được tạo tác bởi những người thợ thủ công kiêu hãnh xứ Xy-ri. Ngôi nhà của nàng từng là nơi được yêu mến bởi tất cả mọi người, từ những nhà thơ trẻ tuổi người Phi-li-tinh, các vị nguyên lão cho đến những vị tư tế điềm đạm, thâm trầm. Khi sự mệt mỏi và áp lực công việc đè nặng, họ thường nói: «Hãy đến điền trang của Đê-li-la ở Xô-rếch, và nghỉ ngơi trong vườn hoa của bầy ong đi.»... Nhưng giờ đây, giờ thì Sam-sôn đã ở đó, và mọi thứ đã đổi thay.
Tin tức lan truyền khắp xứ Phi-li-tinh rằng Đê-li-la đã mê muội và kết hôn với tên thủ lĩnh du kích, khiến đám thanh niên nổi giận đùng đùng. Nàng điên rồi sao? Hoặc hắn đã bỏ bùa gì nàng vậy? Và một sự ghê tởm trào trúng trong họ. Đê-li-la, lại đi lấy một kẻ như thế ư! Đê-li-la, trong số tất cả phụ nữ sao! Đê-li-la xinh đẹp, tài năng, với bao truyền thống tốt đẹp, lại đi gắn kết đời mình với tên rách rưới này! Tên khoác lác ngớ ngẩn với mái tóc đỏ tấu hài và bộ râu nông dân! Thật kinh tởm, thật nhục nhã làm sao! Trong khi họ đã dâng hiến tất cả trái tim và thơ ca cho nàng, thì nàng lại chọn kẻ này. Ôi Đê-li-la! Đê-li-la!
Những người lớn tuổi hơn chẳng nói gì. Vài người trong số họ hiểu thấu. Sấm sét của đam mê vốn dĩ kỳ quái và khủng khiếp nhường nào, và cách nó giáng xuống ra sao. Ở một số phụ nữ, đó chính là thứ rượu mạnh đối với đàn ông, vừa là kẻ giễu cợt vừa là thứ hung bạo. Thật đáng tiếc cho Đê-li-la... Và các tư tế chỉ biết lắc đầu. Chuyện này sẽ chẳng kéo dài đâu, họ bảo thế, và trái tim nàng rồi sẽ tan nát.
Dẫu đau đớn, họ vẫn đến thăm nàng, để cho nàng hay rằng chẳng có gì quan trọng cả, nàng mãi mãi là bạn của họ... Họ phải nuốt nỗi đau khi nhìn thấy gã râu đỏ to lớn ngồi ở đầu bàn, nghe những trò đùa và ký ức của hắn. Và hắn sẽ trang trọng kể về xuất thân của mình, khoác lác về những hiện tượng siêu nhiên xuất hiện lúc hắn chào đời, những thiên thần hiện ra rồi biến mất trong những cột lửa... Còn những vị khách thì đưa ra những lời bình luận gượng gạo, còn Đê-li-la thì hạ mi mắt...
Thỉnh thoảng, một cơn giận dữ tột độ với người Phi-li-tinh bỗng bùng lên trong hắn, và hắn trút nó ra bằng cách kể lại trong bữa ăn về trận chiến ở Ramath-leki, nơi hắn đã tiêu diệt toán tuần tra Phi-li-tinh chỉ bằng thứ vũ khí vớ được đầu tiên, một chiếc xương lớn nhặt được trên cát sa mạc. Qua nhiều năm tháng được kể đi kể lại, hắn đã phóng đại chiến tích ấy vượt mọi tỉ lệ, từ mười người biến thành một nghìn người.
«Và các người có biết chiếc xương đó là gì không?» Hắn đặt đôi bàn tay khổng lồ lên bàn rồiồm nhoài người về phía trước.
«Xương hàm của một con lừa», hắn gầm lên kèm theo tràng cười sấm sét. «Hô! hô! Xương hàm của một con lừa. Chỉ với xương hàm của một con lừa, ta đã chất đống lớp lớp, ta đã tiêu diệt một nghìn người.»
Nhưng còn tệ hơn cả sự giận dữ và khoác lác của hắn chính là sự vui tính đến phát bực của hắn. Khi họ nói chuyện với Đê-li-la về một nhà thơ mới nổi ở Tyre, hay về những tác phẩm uyên bác mới của người Ai Cập, hắn sẽ cắt ngang bằng câu hỏi hóc búa đáng sợ: «Họ có biết câu đố nào không?» Và chẳng đợi câu trả lời, hắn liền kể cho họ nghe về câu đố nham hiểm mà hắn từng đưa ra trong dịp kết hôn đầu tiên của mình. Hắn kể, khi hắn đang tán tỉnh người vợ đầu tiên mà ai cũng biết là «chẳng ra tích sự gì», hắn vừa giải thích vừa vỗ về tay Đê-li-la, rằng hắn từng gặp một con sư tử non ở Tim-nát, nó gầm vào mặt hắn, thế là hắn chộp lấy và xé xác nó, «và ta chẳng có gì trong tay ngoài đôi bàn tay trần». Hắn hoàn tất công việc rồi trở về, và khi quay lại để làm đám cưới, hắn ghé xem xác con sư tử ở chỗ đã ném nó ngày trước, và nó vẫn nằm đó, một đàn ong cùng mật ngọt đã làm tổ trong ấy, và mật rất ngon. «Món ăn tuyệt hảo», hắn bảo với họ thế.
Trong tiệc cưới, hắn ra câu đố, cược ba mươi tấm vải lanh mịn và ba mươi bộ quần áo rằng các vị khách không thể giải được trong vòng bảy ngày. «Và nếu các người không đoán ra được, các người phải trả cho ta ba mươi tấm vải và ba mươi bộ quần áo», hắn cười lớn. «Họ toàn là người Phi-li-tinh, và ai cũng tự cho mình là kẻ thông minh.
«Thế là ta bảo: "Từ kẻ ăn mà ra thức ăn, từ kẻ mạnh mà ra sự ngọt ngào. Hãy giải nghĩa điều đó cho ta", ta nói, "hoặc trả cược đi. Hoặc trả cược đi", ta nói thế.»
Và hắn đảo mắt nhìn quanh bàn, im lặng, một nụ cười toe toét nở dưới bộ râu đỏ.
«Và họ có giải được không?» Cuối cùng ai đó lên tiếng hỏi.
«Giải được chứ. "Cái gì ngọt hơn mật?", họ đáp với nụ cười trên môi, "và cái gì mạnh hơn sư tử?". Họ đã moi thông tin từ vợ ta, các người thấy chưa, và cô ta đã tuồn câu trả lời cho họ.» Hắn cũng nói thẳng điều đó với họ. «"Nếu các người không cày bừa trên con bò cái của ta", ta bảo, "thì các người đã chẳng giải được câu đố của ta." Thế là ta thua cược.»
«Và anh đã trả cược chứ?»
«Trả chứ. Và điều đó còn buồn cười hơn cả câu đố. Ta đã xuống Ashkelon, giết chết ba mươi người ở đó, lấy đồ đạc của họ, rồi mang ba mươi bộ quần áo trao cho những kẻ đã giải được câu đố. Thế nên ta chẳng tốn xu nào cả, các người thấy chưa, mà vẫn giữ đúng lời hứa.
«Nhưng ta chẳng thèm nhìn mặt người vợ ấy nữa. Không thể chịu nổi. Ta đâm ra căm ghét cô ta. Cô ta đã đi lấy kẻ khác.»
Một bầu không khí ngượng ngùng bao trùm toàn bộ nhóm thực khách, họ cảm thấy vô cùng hổ thẹn thay cho nữ chủ nhân; nhưng trên khuôn mặt thanh tú, xinh đẹp của nàng chẳng hề gợn một bóng mây. Nàng điềm đạm và uy nghi như thể đang kết hôn với một vị vua vậy. Quả là một quý bà vĩ đại!
Nhìn lại quá khứ, giờ đây nàng hiểu rõ gã khổng lồ râu đỏ thảm hại đến nhường nào, giá như ngày ấy nàng có đủ nhãn quan và sự khôn ngoan để nhận ra điều đó. Ông hoàn toàn lạc lõng giữa những con người Phi-li-tinh lịch thiệp, tinh vi, những kẻ có thể sát thương người khác bằng một lời nói đau đớn hơn nhiều so với nắm đấm vạm vỡ của ông. Đằng sau lớp cơ bắp cuồn cuộn ấy, ông thực chất chỉ là một đứa trẻ. Ông muốn được quan trọng hóa như những vị khách trong nhà nàng. Cảm giác bị họ coi thường vì nguồn gốc thấp kém đã biến sự khoác lác và ngạo mạn của ông thành một thứ vỏ bọc phòng thủ.
Hết tuần này qua tháng nọ, bạn bè của Đê-li-la thưa dần rồi biến mất, và nàng lấy làm mừng vì điều đó, bởi nàng ghét phải chứng kiến cảnh Sam-sôn bị khinh miệt, ghét bỏ, và những ánh mắt ái ngại họ dành cho nàng cứa vào tim nàng đau nhói. Còn những ngày tháng yên bình lại chính là cực hình đối với ông; bi kịch của người lính khi chiến tranh chấm dứt cũng là bi kịch của ông, khi chẳng còn sự phấn khích, nhạy bén hay tầm quan trọng nào nữa. Sự khoan dung từ những kẻ thù cũ hóa ra lại là một sự sỉ nhục đối với ông. Hắn từng sống bằng lòng căm thù của họ. Sự căm thù ấy khiến hắn trở nên quan trọng. Nếu lòng căm thù ấy mất đi, hắn sẽ không còn là đại trượng phu Sam-sôn nữa, mà chỉ còn là một gã khổng lồ sơn cước.
Hắn không tài nào tin nổi rằng họ không căm ghét mình – làm sao họ có thể nghĩ khác được, khi hắn đã giết hại biết bao nhiêu người? – và một sự nghi ngờ sâu sắc trỗi dậy trong lòng hắn. Người Phi-li-tinh vốn nổi tiếng với những mưu mẹo, và liệu có khi nào họ đang âm mưu điều gì chống lại hắn không? Chẳng hạn như Đê-li-la! Thật kỳ lạ, hắn nghĩ, làm sao một người phụ nữ có địa vị như nàng lại đi lấy hắn cơ chứ. Hắn không thể tài nào hiểu nổi. Hắn phải canh chừng nàng.
Hắn cũng liên tục gặp gỡ những đồng bào cũ của mình, gặp nhiều hơn bao giờ hết, bởi hắn thường tìm về với họ mỗi khi cảm thấy ngột ngạt trước bầu không khí Phi-li-tinh. Và người Phi-li-tinh nhìn chung bị họ coi là kẻ thù không đội trời chung. Họ chưa từng tin vào thiện ý hòa bình của người Phi. Dù phần nào tự hào về cuộc hôn nhân lớn lao của Sam-sôn, họ vẫn hoài nghi nó. Và bằng những lời bóng gió, ẩn ý, họ tìm cách cảnh giác ông. Hắn gật đầu ra điều quan trọng lắm. Chẳng cần ai phải dạy đời hắn về người Phi-li-tinh cả, hắn nói; hắn sẽ tự cắt cử người canh chừng bọn chúng. «Có chuyện gì... vây quanh hắn không?» Hà hà, hắn chưa tiện nói, nhưng hắn đang theo dõi; hắn mỉm cười. Còn vợ hắn ư? Đừng lo lắng; hắn chưa bao giờ tin tưởng phụ nữ quá mức.
Và cảm thấy nhẹ nhõm, một lần nữa được nâng cao tầm quan trọng cùng sự tự tôn, hắn lại nghênh ngang bước về nhà.
Đôi khi, ngay tại dinh thự của Đê-li-la, hắn lại bị cơn thèm muốn chứng tỏ bản thân bủa vây, muốn làm bạn với đám thanh niên Phi-li-tinh; và những lúc Đê-li-la không có nhà, hắn lại trổ tài sức mạnh phi thường, đấm gục một con bò chỉ với một cú đấm. Có lần hắn tự bắt người ta trói mình bằng bảy sợi dây thừng xanh tươi non, dai hơn cả dây thừng, chắc hơn cả xích sắt, thế nhưng với một đợt bùng nổ sức mạnh tàn nhẫn, hắn đã rứt đứt chúng dễ dàng như bứt chỉ. Lại có lần cánh tay hắn bị trói bằng dây thừng mới, và hắn cũng phá vỡ xiềng xích mà chẳng tốn chút sức lực nào. Nhưng chiến tích vĩ đại nhất của hắn chính là việc để họ tết mái tóc thành một sợi dây thừng lớn rồi buộc vào chốt của bánh xe quay sợi, để rồi khi bước đi, hắn đã giật đứt luôn cả chốt của chiếc xà ngang lẫn khung vải dệt. Thế nhưng người Phi-li-tinh đã từng chứng kiến quá nhiều màn biểu diễn sức mạnh kỳ ảo và màu mè hơn thế từ đám nô lệ da đen của người Ai Cập. Thế nên họ chẳng mấy ấn tượng. Dù hắn có làm gì đi nữa, hắn vẫn không thể hòa nhập nổi với họ. Hắn mãi là một kẻ tha hương trong chính ngôi nhà của vợ mình. Thêm vào đó, hắn không tài nào hiểu nổi tại sao nàng lại có vẻ bẽ mặt trước những màn biểu diễn ấy. Chẳng phải phụ nữ thường yêu mến những kẻ mạnh mẽ hay sao? Chẳng phải nàng nên tự hào mới đúng chứ? Vậy sao nàng lại không?
Không hiểu sao câu chuyện về những lần thử sức mạnh ấy lại lọt đến các khu định cư của người Hê-bơ-rơ, và họ suy diễn rằng người Phi-li-tinh đang tìm cách bắt giữ hắn. Khi hắn đến gặp họ, với vẻ khoác lác, lẫy lừng, họ dồn dập gặng hỏi nhưng hắn chẳng hé răng, để mặc họ tin rằng kẻ thù cũ đang giăng bẫy bắt mình. Một sự hoảng sợ tột độ dâng lên trong lòng họ. Và họ cố gắng thuyết phục hắn quay về cùng họ. Nhưng hắn kiên quyết từ chối. Hắn thừa sức đối phó với mọi cạm bẫy của bọn chúng, hắn bóng gió. «Nhưng còn đàn bà thì sao?», họ nói, «chẳng mưu kế nào qua được sự xảo quyệt của đàn bà đâu. Tốt hơn là hãy rời bỏ cô ta đi, Sam-sôn; tốt nhất là hãy rời bỏ ả ngay bây giờ.»
«Người phụ nữ ấy làm ta vô cùng vừa ý.» Và hắn chẳng mảy may lay chuyển.
Người phụ nữ làm hắn vừa ý, nhưng hắn lại chẳng yêu nàng; còn hắn làm nàng phật lòng, nhưng nàng lại yêu hắn sâu sắc. Trong trái tim Đê-li-la chứa đựng một tình yêu đau đáu dành cho ông, một niềm đam mê sâu sắc đến mức đôi khi nàng cảm thấy hổ thẹn. Nàng có cảm giác mình đã dâng hiến tất cả mọi thứ thuộc về bản thân cho gã đàn ông này. Dù có bất mãn thế nào, dù có bị bẽ mặt ra sao trước những lời khoác lác, những trò hề xiếc thú của ông, thì khi màn đêm buông xuống, lúc ông chìa bàn tay ra với nàng, mọi sự khó chịu trong ngày đều tan biến, và tâm hồn nàng lại cất tiếng hát ca.
Nàng đã tự chọn lấy người chồng cho mình, và lựa chọn ấy là việc riêng của nàng. Dù ông có kỳ quặc đến đâu đi nữa, nàng cũng không đời nào cho phép người khác chế nhạo ông... Thế nên họ cứ việc lánh xa, và nàng thấy mừng vì điều đó, để rồi dần dà, sự kinh ngạc lớn lao từ cuộc hôn nhân của nàng cũng không còn khơi gợi thêm niềm đam mê hay những cuộc bàn tán nào nữa. Trừ phi có kẻ lạ mặt nào đó xuất hiện, hoặc một người bạn cũ nào đó ghé thăm, rồi thắc mắc giữa chốn đông người về Đê-li-la, để rồi cuộc hôn nhân bất dung ấy lại một lần nữa bị lôi ra bàn tán. Những cái nhún vai.
«Và cô ấy có hạnh phúc không?»
«Bọn tôi không rõ. Dạo này bọn tôi ít gặp cô ấy lắm.»
Một yếu tố kỳ lạ mới xuất hiện trong sự cô lập này: Sam-sôn không thích bị người Phi-li-tinh bỏ mặc một mình. Đâu đó trong tâm trí ông nảy sinh ý định rằng đó là một sự sỉ nhục mới, một tổn hại mới. Hắn trở nên cộc cằn với vợ; cáu bẳn; chẳng có gì làm hắn vừa lòng. Hắn không phải là nông dân, hắn là một chiến binh cơ mà! – hắn phàn nàn. Hắn có quyền được nghỉ ngơi, giải trí, trò chuyện. Hắn đâu phải là một củ khoai tây...
«Vậy, Sam-sôn, anh muốn mọi người đến đây chứ?»
Hắn không muốn bị bỏ lênh đênh một mình, cứ như thể hắn mang mụn dịch hạch, hay bị đối xử như một kẻ vô tích sự, lạy Chúa!
«Vậy thì họ sẽ đến, Sam-sôn.»
Nhưng ồ! có một vấn đề thế này, hắn phản đối. Hắn không thích cái thái độ kiêu kỳ khốn khiếp ấy, cái sự bề trên chết tiệt của người Phi-li-tinh –
«Anh tự tưởng tượng ra thôi, Sam-sôn. Anh quá nhạy cảm rồi, người yêu vạm vỡ của em.»
«Thế nghĩa là họ không bề trên ư? Không giỏi giang hơn ta sao?»
«Đương nhiên là không rồi, Sam-sôn vĩ đại. Về mọi mặt, anh đều tuyệt vời như họ, thậm chí hệt như họ. Anh sẽ trông y hệt họ, không, thậm chí còn đẹp trai hơn, hoành tráng hơn, giá như...»
«Giá như cái gì?»
«Ồ, đừng giận em nhé, anh yêu, nếu em nói điều này. Chỉ có đúng một điểm đáng chú ý ở anh thôi; một điều duy nhất khiến họ có thể chê bai. Giá như mái tóc của anh...»
«Hả! Mái tóc của ta!»
«Ôi anh yêu, không có nó, anh sẽ trông thật vĩ đại, lẫy lừng và uy nghi biết bao. Sẽ chẳng còn gì để họ soi mói nữa.»
«Nhưng Đê-li-la, sức mạnh của ta nằm ở mái tóc mà.»
«Ôi anh yêu, anh yêu ơi, đừng ngốc thế chứ!»
«Hơn nữa, cha mẹ ta đã từng thệ nguyện...»
«Nhưng anh yêu ơi, cha mẹ anh có bao giờ ngờ rằng anh sẽ trở thành một nhân vật vĩ đại đến thế, và rằng anh sẽ phải chỉ huy và giành lấy sự tôn kính từ cả một quốc gia –»
«Đương nhiên, đương nhiên rồi. Nhưng mà, Đê-li-la, nếu sức mạnh của ta mất đi...»
«Cục cưng à, nó sẽ không mất đâu. Làm sao mà mất được chứ?»
«Và khi ấy họ sẽ chẳng còn gì để chê bai nữa! Hả! Thế thì cắt quách nó đi!»
Nàng vô cùng hạnh phúc, nước mắt giàn giụa khóe mi. Niềm khao khát kỳ quặc muốn để tóc dài như phụ nữ ấy vẫn luôn là một nỗi bận tâm nhức nhối đối với nàng. Thói điệu đà, sự khác thường, mê tín dị đoan hay bất cứ thứ gì đi nữa, nó khiến ông trở nên khác biệt. Nàng không thể chịu đựng nổi việc đám đàn ông nhìn ông với nụ cười chế giễu.
«Anh có biết mình đã làm em hạnh phúc nhường nào không!»
Hắn tỏ ra lo lắng một cách buồn cười khi nàng xén đi những bím tóc đỏ rực. Hơn thế nữa, hắn còn sợ hãi. Khi gánh nặng đã được trút bỏ, hắn thong thả đi dạo xung quanh, nhặt một thanh sắt nhỏ ở lò sưởi, uốn cong nó thành một vòng tròn rồi tỏ vẻ hài lòng. Liếc nhìn bản thân trong tấm gương kim loại dài, rồi mỉm cười.
«Ta nghĩ kiểu này hợp với mình đấy chứ.»
Một niềm phấn khích dâng trào trong lòng Đê-li-la, một phiên bản Sam-sôn mới mẻ và trẻ trung hơn đã xuất hiện. Trái tim nàng đập thình thịch... Một vẻ uy nghiêm tuyệt trần ngự trị trên con người ông lúc này, và ông cẩn trọng cân nhắc từng lời nói trong bữa ăn. Cuốn theo mái tóc đã bay đi chính là thói kiêu ngạo cũ cùng thái độ thù hằn dân tộc... Người Phi-li-tinh xì xào bàn tán với nhau, tự hỏi làm thế nào mà nàng lại làm được điều đó. Gã đàn ông điềm đạm, chải chuốt kỹ lưỡng này, kẻ chỉ nổi bật bởi vóc dáng và chiều cao, liệu có phải là tên phiến quân râu đỏ mà họ từng biết cách đây vài tháng ngắn ngủi? Quả là một người phụ nữ tuyệt vời.
Thế nhưng khi người Hê-bơ-rơ hay tin, một giá lạnh thấu xương bao trùm lấy trái tim họ, và họ vò bứt tay chân. «Chúng đã cắt đi mái tóc của Sam-sôn nhà ta rồi. Ôi, khốn khổ thay!», họ khóc lóc. «Người phụ nữ ấy đã quyến rũ hắn, trong khi hắn là một người Na-xi-rít dâng hiến cho Chúa ngay từ trong bụng mẹ. Ôi khổ sở thay! Ôi khốn nạn thay! Sức mạnh của hắn nay đã mất, và vinh quang cũng chẳng còn!» Riêng gã râu đỏ, đang bận rộn hào hứng với thế giới văn minh mới mẻ, chẳng mảy may bận tâm đến họ, và chẳng thèm bén mảng đến gần họ lần nào nữa.
Trong vài tuần ngắn ngủi, Đê-li-la đã nếm trải thứ hạnh phúc mà nàng chưa từng tin là có thật trên thiên đường hay trần thế... Trông ông mới phong độ và vĩ đại làm sao, hành động mới oai hùng làm sao, cách ông yêu thương mới trọn vẹn làm sao... Đương nhiên là nó chẳng thể kéo dài mãi, giờ thì nàng thừa biết điều đó. Thảm họa đến nhanh làm sao!
Một ngày nọ, hắn điềm đạm cất lời: «Sao trời tối nhanh thế nhỉ! Đêm buông xuống nhanh hơn trước nhiều. Chỉ một tiếng trước mặt trời còn chiếu sáng, mà giờ đã tối mịt rồi.»
Nàng có cảm giác như một bàn tay tàn nhẫn đang bóp nghẹt trái tim và cổ họng mình. Nàng chết lặng người tại chỗ.
«Anh vừa nói gì cơ?»
«Ta bảo sao đám nữ tỳ vẫn chưa mang đèn ra nhỉ?»
«Khoan đã, anh yêu... Hãy ở lại trong bóng chiều ấm áp này thêm chút nữa. Đợi đã, để em nắm lấy tay anh.»
Vài ngày sau, hắn vấp ngã và suýt ngã nhào, bước đi vụng về. Nàng hoảng hốt lao đến bên cạnh.
«Đôi mắt ta», hắn bảo, «chói nắng một chút thôi. Chẳng có gì đáng ngại đâu.» Nhưng nàng vẫn sai người đi mời thầy thuốc.
«Chẳng có gì cả», Sam-sôn nói. «Chắc do cái gì ta ăn phải thôi. Ta đi ngủ đây.»
«Sam-sôn yêu quý, hãy vì em mà khám đi.» Vị thầy thuốc kiểm tra đôi mắt ông.
«Thế nào rồi?» Đê-li-la kéo ông ra một góc.
«Những ngày tháng dãi dầu sương gió ngoài sa mạc thuở trước... Cậu ấy đang bị mù dần.»
«Không còn hy vọng, không còn cách nào chữa trị sao?»
«Không một chút hy vọng.»
Một tiếng cười nghẹn ngào pha lẫn sự đớn đau bật ra từ lồng ngực nàng. Đại trượng phu Sam-sôn mù lòa! Chàng người tình bé bỏng mù lòa!... Lạy Chúa!...਼
«Chúng ta có nên nói cho anh ấy biết không?»
«Không, không!» nàng thét lên. Biết đâu có sự nhầm lẫn nào đó! «Không. Chúng ta sẽ không nói cho anh ấy biết.»
Vài ngày sau, một tiếng gầm vang dội cất lên từ khu vườn!
«Mặt trời đã tắt ngấm trên bầu trời rồi», nàng nghe thấy tiếng hắn hô hào đầy kiêu hãnh. «Ngày thị nộ đã giáng xuống đầu chúng ta. Vị Chúa tể của người Hê-bơ-rơ sẽ phán xét kẻ có tội lẫn người công chính. Hỡi người Phi-li-tinh, ngày tàn của các người đã đến. Mặt trời đã tắt ngấm trên bầu trời rồi.»
Nàng lao vút về phía hắn, chân hầu như chẳng chạm cỏ.
«Mặt trời đã tắt trên bầu trời rồi», hắn tụng ca; «giờ là lúc tịch mịch, nhưng chẳng mấy chốc núi non sẽ nứt toác, vách đá sẽ sụp đổ, và Đức Giê-hô-va Vạn Quân sẽ hiện thân trong sấm sét!»
«Ôi, Sam-sôn, Sam-sôn!» Khuôn mặt nàng đầm đìa nước mắt. Đôi tay nàng siết chặt lấy ông. «Hãy nghe em, Sam-sôn!»
«Đê-li-la, mặt trời đã tắt trên bầu trời rồi!»
«Sam-sôn, anh rất vĩ đại, rất to lớn, rất dũng cảm. Giờ thì hãy dũng cảm lên, hỡi trái tim của những trái tim –»
«Ngày trọng đại đã đến rồi. Mặt trời đã tắt trên bầu trời rồi.»
«Tệ hơn thế, anh yêu của em ạ, còn tệ hơn thế. Tệ hơn cả việc mặt trời vắng bóng trên bầu trời. Mặt trời, Sam-sôn, mặt trời – mặt trời đã tắt trong đôi mắt anh rồi!»
«Thế ra ta đã mù rồi sao», hắn điềm tĩnh nói sau một thoáng im lặng.
«Anh yêu ơi, em sẽ làm đôi mắt cho anh, luôn dõi theo và cẩn trọng. Ôi, Sam-sôn tội nghiệp, tội nghiệp quá, hãy tựa đầu vào vai em, áp mắt vào trái tim em đây. Anh sẽ nhìn bằng trái tim em. Em trao nó cho anh để làm đôi mắt nhìn... Hãy khóc đi, Sam-sôn, nếu anh muốn, cứ khóc trên vai em đi.» Nàng cố kéo ông sát hơn vào chốn bình yên nơi lồng ngực mình. Nhưng thân người ông cứng đờ, đôi bàn tay và cánh tay vạm vỡ của ông cũng cứng đờ. Hắn phũ phàng đẩy nàng sang một bên bằng một lực đẩy nặng nề... Hắn ngẩng đầu hướng lên bầu trời mùa thu, và một tiếng gầm thét vang dội phát ra từ lồng ngực.
«Bọn Phi-li-tinh đang vây lấy ta. Chúng đã móc đi đôi mắt của ta rồi.»
«Sam-sôn! Anh yêu, hãy nghe em –»
«Chúng đã cạo sạch bảy lọn tóc trên đầu ta. Chúng đã cướp đi sức mạnh của ta. Chúng đã móc đi đôi mắt của ta.»
«Sam-sôn, Sam-sôn, hãy nghe em. Em là Đê-li-la đây. Anh không nhận ra em sao?»
Tiếng gầm rống to lớn của ông đã đánh động cả người trong nhà lẫn những người dân trên sườn đồi, làm dừng chân những kẻ đang đi trên đường. Và giờ đây tất cả đều hớt hải chạy đến vì đinh ninh rằng có vụ án mạng nào đó đang xảy ra.
«Ta biết cô chứ, Đê-li-la. Ta biết rất rõ. Các chúa công Phi-li-tinh đã mua chuộc cô bằng bạc để quyến rũ ta. Ta đã sớm biết mặt cô, và Chúa đã rời bỏ ta rồi.»
«Sam-sôn, đừng làm thế! Đừng thế mà, Sam-sôn!»
«Biến đi, ả kỹ nữ!» Và hắn vung tay đấm vào không trung một cách mù quáng. Chỉ những ngón tay chạm vào vai nàng, nhưng lực đánh khủng khiếp ấy đã hất văng nàng xuống đất. Đám gia nhân trong nhà chồm lên chuẩn bị lao tới.
«Vì ơn Chúa, đừng!», nàng suýt thét lên với bọn họ.
«Bọn Phi-li-tinh đang vây lấy ta. Chúng đã móc đi đôi mắt của ta rồi!», hắn gầm lên. Hắn lảo đảo bước đi một cách đáng thương qua vườn cây ăn trái, những thân cây va đập vào người hắn, những cành cây đập thẳng vào khuôn mặt không tấc sắt phòng thân. Bằng cách nào đó hắn đã ra đến đường lớn: «Đê-li-la, con đĩ lớn, đã quyến rũ ta, và các chúa công Phi-li-tinh đã móc đi đôi mắt của ta...» tiếng gầm thảm thiết của hắn nghe như tiếng kêu của một con thú bị thương nặng. Đê-li-la gọi một tên gia nhân.
«Hãy đuổi theo đại nhân Sam-sôn», nàng bảo, «và dẫn ngài đến bất cứ nơi nào ngài muốn.»
Suốt cả buổi chiều, tối và kéo dài đến tận đêm khuya, nàng ngồi đó với khuôn mặt tái mét, hồn xiêu phách lạc, ngóng chờ tiếng bước chân của ông, ngóng chờ tin tức về ông. Trong bóng đêm, một con ngựa phi nước đại tiến lại gần. Một sĩ quan người Phi-li-tinh tìm gặp nàng.
«Cô có tin tức gì về Sam-sôn không?»
«Có chứ, Đê-li-la. Ông ấy đang ở Gaza, trong nhà ngục.»
«Trong nhà ngục! Ông ấy đã làm gì cơ chứ?»
«Ông ấy chẳng làm gì cả, Đê-li-la, ông ấy – ông ấy đã phát điên và mù lòa, cứ khăng khăng đòi vào trong thành. Chúng tôi đã cố tống tiễn ông ấy về nhà với cô, nhưng ông ấy nhất định không chịu về. Và ông ấy cũng chẳng thèm về với đám người Hê-bơ-rơ. Chúng tôi sợ có chuyện bất trắc xảy ra cho ông ấy nên đã đưa vào... Bọn tôi phải làm gì đây, hả Đê-li-la?»
«Các người có thể... có thể để ông ấy ở lại đó không?»
«Nếu cô muốn thế, Đê-li-la.»
«Ở đó ít ra ông ấy sẽ đỡ đau khổ hơn.»
Nàng ngầm hiểu trong tim rằng từ nay sẽ chẳng bao giờ mình còn được nằm trong vòng tay ông nữa, sẽ chẳng bao giờ còn làm vợ của người đàn ông đích thực bên trong ông nữa. Nàng sẽ đón ông về, sẽ vui vẻ đón ông về. Dù nàng không còn cảm giác đam mê mãnh liệt dành cho ông nữa – thứ đó đã chết đi từ khoảnh khắc ông giơ tay đánh và sỉ nhục nàng trước mặt đám gia nhân. Nàng dành cho người đàn ông khốn khổ đang bị guồng quay cuộc đời giày vò ấy một niềm xót thương và tình cảm sâu sắc. Nàng là người duy nhất thấu hiểu ông. «Ái chà, người đàn ông tội nghiệp! Tội nghiệp quá!», nàng khóc nấc lên. Và xét cho cùng, có những phương diện ông chẳng khác nào một đứa trẻ.
Vài ngày sau, nàng xuống nhà ngục. Các quan chức dẫn nàng đến nơi ông đang cặm cụi xay lúa ngoài sân.
«Bọn tôi bắt ông ấy làm việc này, Đê-li-la, để hướng tâm trí ông ấy ra khỏi nỗi đau.» Nàng khẽ gật đầu.
«Sam-sôn», nàng gọi. Ông khẽ cử động đầu.
«Anh không nhận ra em sao, Sam-sôn?»
«Ta biết cô chứ. Cô là ả kỹ nữ Đê-li-la, kẻ đã quyến rũ ta và giao nộp ta vào tay các chúa công Phi-li-tinh. Đê-li-la, ta thừa biết mặt cô.»
«Sam-sôn, anh có muốn về nhà với em không? Để em chăm sóc cho anh được thoải mái ở đó.»
«Cô sẽ cắt đứt lưỡi ta, Đê-li-la, rồi thiêu rụi đôi tay ta, hệt như cách cô đã móc đi đôi mắt của ta vậy. Ta thừa hiểu cô rồi, Đê-li-la!»
«Thế anh có muốn về với người Hê-bơ-rơ không?»
«Không!», hắn cộc cằn đáp.
Dòng nước mắt bất chợt trào ra khiến nàng phải bước ra ngoài. Nàng không thể chịu đựng thêm được nữa khi phải nhìn ngắm ông. Người từng mạnh mẽ biết bao, dũng cảm biết bao ngày trước. Kẻ từng dám trừng trừng nhìn thẳng vào mặt trời. Để rồi giờ đây, mù lòa và suy sụp – ôi, người yêu dấu tội nghiệp của tôi!... Nàng lảo đảo bước đi.
Ngay tại cửa nhà ngục, viên tổng đốc ngượng ngùng bước tới: «Chúng tôi sẽ đối xử rất tốt với ông ấy, Đê-li-la, tử tế nhất trong khả năng có thể», hắn thốt lên.
Cổ họng nàng nghẹn đắng nên chẳng thốt nổi một lời. Nhưng hắn nhận được lời cảm ơn từ nụ cười méo mó cùng đôi mắt đẫm lệ của nàng...
Và giờ đây nàng thui thủi một mình trong ngôi nhà, để rồi ngạc nhiên đến ngẩn ngơ khi thấy mọi thứ vẫn tiếp diễn: cỏ cây vẫn mọc, những chú bò vẫn rống lên vào giờ vắt sữa, lông cừu vẫn mọc dày để chờ ngày xén, những chùm nho vẫn chín mọng trên giàn. Và nàng vẫn sống, vẫn tiếp tục tồn tại. Mái tóc nàng không hề điểm bạc, khuôn mặt nàng cũng chẳng hằn lên bất kỳ dấu vết bi kịch nào, mà chỉ phảng phất một nét dịu dàng và sức mạnh mới mẻ. Tình yêu và cuộc hôn nhân của nàng giờ đây chẳng còn là gì ngoài một câu chuyện kỳ lạ về một người phụ nữ kỳ lạ và một người đàn ông kỳ lạ. Thậm chí chẳng hẳn là một câu chuyện, mà chỉ là tập hợp những sự kiện có khi quan trọng hoặc cũng có khi chẳng mảy may quan trọng. Và mối tình lớn lao mà nàng từng trải nghiệm đã trở nên lu mờ, đang phai dần đi, khiến nàng suýt ngỡ như mình chưa từng chứng kiến nó ở người khác, ngoại trừ sự mật thiết đến cùng cực của nó... Và ông còn trở nên xa vời đối với nàng hơn cả khi đã qua đời...
Nàng có nghe ngóng tin tức về ông. Nàng nghe nói từ sau bức tường ngục tối, ông vẫn thường diễn thuyết trước đám đồng bào mặt cắt không còn giọt máu và đầy sợ hãi của mình, nguyền rủa những kẻ bao dung mình, và trên hết là nguyền rủa nàng, đem những bí mật ái tình ra bêu riếu như âm mưu của một mụ đàn bà hiểm độc, nhắc lại chuyến viếng thăm của nàng và rêu rao rằng trái tim nàng khi ấy ngập tràn hoan hỉ và nàng đến để xem ông mua vui cho mình... Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau chẳng còn ai thèm để ý đến ông nữa, bởi những phép màu rồi cũng cũ mòn theo năm tháng, ngoại trừ đám đồng bào của chính ông. Đó chỉ là lời lải nhải của một gã cuồng tín tôn giáo điên rồ; người ta nhún vai, rồi chẳng mấy chốc quên bẵng mất Đê-li-la là ai, hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi rằng vị quý bà lừng lẫy ở Xô-rếch ấy lại từng là vợ và là người tình của gã khổng lồ điên loạn này, dẫu họ thừa biết điều đó là sự thật. Mọi thứ kỳ lạ rồi cũng trở nên quen thuộc theo thời gian, và qua nhiều ngày tháng nữa thì hoàn toàn chìm vào quên lãng.
Một năm trôi qua như thế...
Đúng vào lúc nàng đã nguôi ngoai và chấp nhận thực tại kỳ quặc này, khi bản thân đang được tôn kính và sống trong nhung lụa, còn người chồng thì điên loạn, mù lòa và khăng khăng đòi làm tù nhân của người Phi-li-tinh, đúng vào lúc nàng đã cố gắng và thành công trong việc biến điều này thành một chuyện bình thường, một điều quen thuộc, thì một sứ giả từ Gaza phóng ngựa đến... Mục đích chuyến đi của hắn là gì, nàng chẳng bao giờ mảy may đoán trước.
«Đê-li-la, Sam-sôn chết rồi!»
«Sam-sôn!» Tin tức ấy thậm chí chẳng làm nàng lạnh gáy, lời tuyên bố ấy mới phi lý làm sao. «Sam-sôn đang ở Gaza cơ mà.»
«Tôi đến từ Gaza, thưa Đê-li-la, và Sam-sôn đã chết.»
«Sam-sôn chết rồi ư?» Tính cách ngang tàng ấy, sức sống mãnh liệt ấy, khung xương khổng lồ ấy – chắc chắn phải có một kẻ mà Thần Chết không tài nào chạm tới, ít nhất là phải gần một thế kỷ nữa, khi ông đã già nua, yếu đuối và mệt mỏi. Chứ không phải lúc này! Không đời nào! «Ý anh là sao?»
«Đê-li-la, Sam-sôn đang lang thang trong thị trấn. Ông ấy đã xin viên cai ngục cho phép được đến thăm ngôi đền mới xây của thần Đa-gôn. Dù không thể nhìn thấy, ông ấy vẫn muốn sờ tận tay những chiếc cột và phiến đá ở đó. Một đứa trẻ đã dẫn đường cho ông ấy. Và ở đó có một giàn giáo bằng gỗ mà ba người thợ đang làm việc phía trên, ông ấy va phải nó, chạm tay vào các cột trụ, rồi dừng lại...»
«Và ông ấy đặt đôi tay lên hai cột trụ chính của giàn giáo, lắng nghe đám thợ xây phía trên, rồi cất tiếng gọi lớn: "Lạy Chúa Giê-hô-va, xin hãy nhớ đến con, xin ban sức mạnh cho con, chỉ lần này thôi, lạy Chúa, để con một lần trả thù người Phi-li-tinh vì đôi mắt của mình."
«Và ông ấy túm lấy hai cột trụ ở giữa giàn giáo –»
«Ôi!» Giọng Đê-li-la bật ra thành một tiếng rên rỉ kéo dài. «Ôi! Người tình khốn khổ của tôi! Chúa tể tội nghiệp của tôi! ôi!... Còn những người thợ», nàng gặng hỏi, «họ có bị – chết không?»
«Một người bị tàn tật, một người bị bầm dập và một người vỡ vai, nhưng chỉ có Sam-sôn, thưa Đê-li-la, là đã chết.»
«Sam-sôn chết rồi!», nàng lặp lại bằng giọng vô hồn. Rồi nàng bỗng bừng tỉnh. «Anh có chắc là ông ấy chỉ ngất đi thôi không?»
«Không đâu, thưa Đê-li-la; Sam-sôn đã chết thật rồi.»
«Tôi sẽ đi cùng anh...»
Họ đã khiêng ông vào một góc mát mẻ trong ngôi đền, và khi tận mắt nhìn thấy ông nằm đó, trong lòng nàng chẳng còn chút hoài nghi hay – hay hy vọng nào nữa. Ông nằm đó với vẻ uy nghiêm tột bậc, một sự vĩ đại mới mẻ, mọi đau đớn và sự bất lực đã biến mất khỏi khuôn mặt, đôi mắt trống rỗng tội nghiệp đã nhắm nghiền...
Và nàng khuỵu xuống, đỡ lấy đầu ông lên đùi mình, nàng hân hoan thắt thỏm nhận ra rằng một lần nữa mái tóc vàng óng bề thế ấy đã mọc dài trở lại...
«Đê-li-la, ngài ấy sẽ – được đưa đi đâu?» Viên đội trưởng vệ binh cúi người nhìn nàng.
«Không phải về với chúng ta đâu, người anh em ạ. Ông ấy có lẽ sẽ chẳng được bình yên đâu. Ông ấy sẽ ngủ giấc ngàn thu cùng người của mình.»
«Vậy tôi có nên báo cho các anh em và gia tộc của ngài ấy đến không?»
«Hãy làm thế đi, người anh em», nàng nói. Nàng quay đầu hướng về phía bóng râm. «Bảo họ đến đưa ông ấy đi đi», nàng nói.
Nàng trông cứng đờ như một bức tượng đá, ngoại trừ giọng nói nghẹn ngào và đôi ngón tay cứ vặn xoắn, vặn xoắn, vặn xoắn dưới lớp áo choàng tóc vàng óng. «Giờ thì đi báo cho họ đi», nàng nói. «Hãy bảo họ đến, nhưng đừng để họ đến vội – chỉ – chỉ một lát nữa thôi...»
Và giờ thì màn đêm đã buông xuống, những ngọn đèn nhỏ ở Gaza đang cháy sáng rực rỡ trong lớp màn xanh mềm mại. Mặt trời đã lặn ở phương tây, và lưỡi trăng bạc cũng suýt sửa khuất theo. Đê-li-la cảm thấy lạnh ngắt và cứng đờ, sâu thẳm trong tim là những giọt nước mắt nghẹn ngào chẳng tài nào trào ra đôi mắt để tìm sự giải thoát. Nỗi nặng trĩu của một nỗi buồn xưa cũ chưa bao giờ phai nhạt, và nàng cũng chẳng biết mình có muốn nó phai đi hay không... Nàng đứng dậy để bước vào trong nhà.
«Đê-li-la, ả kỹ nữ lớn», một giọng lè nhè ré lên đầy thù hận từ góc phố tối thui. «Ả đã quyến rũ chúa tể của chúng ta và bắt ngài ngủ trên đùi mình – ả cứ nài nỉ ngải ngày này qua ngày khác bằng những lời lẽ ép uổng cho đến khi tâm hồn ngài kiệt quệ đến chết –»
Nàng khựng lại và lắng nghe. Những nọc độc căm phẫn đang được phun vào người nàng từ ngoài phố. Lòng căm thù trào dâng cao tựa một cột trụ. Bỗng nhiên nước mắt tuôn rơi, những giọt nước mắt chào đón và dòng biết ơn bắn vút đi như một luồng sáng trắng từ trái tim nàng hướng về phía những gã đàn ông cay độc ngoài kia, vì điều này: rằng sau ngần ấy năm trời, đại trượng phu Sam-sôn vẫn chưa bị lãng quên, rằng ông vẫn đang sống trong tâm trí và trái tim họ, hệt như trong tim nàng vậy.