Đứa Trẻ Bị Đánh Tráo Và Những Truyện Ngắn Khác

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Qua Phán Quyết Của Công Lý

❊ ❊ ❊

Tựa như đang bước vào một chốn lầu xanh nhơ nhớp, Matthew Kerrigan len lén rời chiếc xe taxi để đi vào sảnh của một tòa biệt thự cổ ở New York nay đã được cải tạo thành chung cư. Hắn đứng trước cửa, dáng người đẫy đà, ra vẻ ta đây, bận chiếc áo khoác lông thú sang trọng. Hắn bấm chiếc chuông có đề tên "Ông Sergius." Một người hầu trẻ tuổi người Nga ra mở cửa cho hắn.

Kerrigan kiêu căng tuyên bố: "Cứ báo là ông Smith." Phảng phất nét khinh miệt trên khuôn mặt sắc lạnh của thiếu niên người Nga. Cậu ta quay lại ngay lập tức và giữ cửa cho Kerrigan bước vào.

Kerrigan từng hình dung bên trong sẽ tăm tối, sực nức mùi nước hoa và có vẻ rẻ tiền như một phòng mạch của nhà tướng số; hoặc mang thứ huyền bí lừa bịp của một căn hộ bói toán với quả cầu thủy tinh đặt trên tấm nhung đã phai màu. Ngay cả bộ óc thô kệch mang đậm chất Broadway của Kerrigan cũng phải choáng ngợp trước phòng khách rộng lớn, u ám mà hắn được dẫn vào. Hắn cảm nhận được, hơn là hiểu hết, giá trị của những bức tranh, tấm rèm trang trí và chiếc trần nhà tuyệt mỹ. Chỉ trong sách vở và báo chí, hắn mới từng thấy thứ gì giống như con chó săn lông xù xứ Nga màu trắng muốt đang nằm trước lò sưởi bập bùng hệt như một con mèo hiền lành.

Người đàn ông mà hắn đến gặp đang ngồi bên lò sưởi; những nét mặt trắng bệch nổi bật trên nền áo đen. Gầy gò, hốc hác, với bộ râu đen rậm rạp, chiếc áo thầy tu màu đen và chiếc mũ trùm đầu cao màu đen của một tu sĩ Chính thống giáo, trông ông ta giống một cõi linh hồn hơn là xác phàm. Ông ta nhìn Kerrigan với sự ngạo mạn của một vị hoàng tước.

"Có chuyện gì?" Ông ta không mời Kerrigan ngồi.

Kerrigan từng chuẩn bị sẵn một bài phát biểu gãy gọn, có chút hài hước, yếm thế và bề trên, nhưng nó đã bay biến khỏi trí nhớ hắn. Hắn cảm thấy một nỗi sợ hãi mơ hồ, như thể người đàn ông này đang thấu suốt, chẳng cần mời mọc, vào tận tâm can và suy nghĩ của hắn.

Hắn lẩm bẩm: "Tôi nghe nói... ở khu phố dưới..."

Tu sĩ lạnh lùng bảo: "Được rồi! Ngươi muốn ta làm gì?"

– "Tôi tự hỏi, thưa ông... à, thưa ông..."

– "Huynh đệ Sergius!"

– "Tôi tự hỏi, thưa Huynh đệ Sergius, liệu có thể trò chuyện — hoặc gặp mặt — hoặc có sự liên lạc nào đó — một sự liên lạc chắc chắn nào đó — với một người đã khuất từ lâu, khoảng mười bốn năm về trước..."

Vị tu sĩ đang nhìn hắn chằm chằm đầy sắc bén. Con người làm ăn phương phi này, với bộ ria mép uốn lượn và khuôn mặt rõ ràng là đã qua chăm sóc bằng mỹ phẩm, thì có dính líu gì đến những cư dân mờ ảo của cõi Chết?

Tu sĩ Sergius hỏi: "Người đó chết như thế nào?"

Matthew Kerrigan đáp: "Do tai nạn. Hắn tự vẫn."

– "Ông có liên quan gì đến hắn?"

Giọng Kerrigan bỗng vỡ òa như thể hắn đang van xin trước tòa án: "Họ đồn hắn tự sát vì tôi! Không phải sự thật!"

– "Ngươi không biết đó là thật hay không sao?" Vị tu sĩ Chính thống giáo đang săm soi những nét mặt hoảng sợ của Kerrigan.

Kerrigan ngạc nhiên trước chính mình, không ngờ giọng hắn lại khàn đợt và nghe chân thành đến thế: "Tôi phải biết rõ chuyện này. Có thể làm được chứ?"

Tu sĩ gật đầu: "Làm được."

Kerrigan đề nghị: "Nếu có chi phí nào..."

Vị tu sĩ cười khinh bỉ: "Không có chi phí nào cả. Ta hành động vì lợi ích của các linh hồn, khi cần thiết." Ông ta chăm chú quan sát Kerrigan trong vài phút. "Vào sáng thứ Hai — lúc hai giờ sáng — nếu trời quang mây tạnh, ta sẽ cho người đón ông. Hãy để lại tên và địa chỉ của ông cho người hầu." Và ông quay lại với cuốn sách đang đọc, phớt lờ Kerrigan, hệt như một bậc quý tộc lớn coi thường kẻ nông dân đang đứng lóng ngóng và kinh hãi trước mặt mình.

Các nhà môi giới tài chính rất nể phục Matthew Kerrigan. Hắn là kiểu người chẳng bao giờ gây phiền toái cho họ. Họ niềm nở với hắn hơn cả các chủ ngân hàng lớn hay các nhân vật chóp bu ở Phố Wall. Bởi vì các vị chủ tịch ngân hàng lớn và những kẻ thao túng cổ phiếu thường phải trải qua những trận chiến khốc liệt và đầy bi tráng trên thương trường, và dù có những chiến thắng vang dội như Leipzig hay Jena, thì cũng có cả những thảm họa Waterloo. Nhưng Kerrigan thì an toàn. Hắn không chơi trò mạo hiểm. Các nhà máy của hắn ở Yonkers cứ âm thầm hoạt động ngày qua ngày, sản xuất hàng triệu chiếc móc cài áo corset đơn giản nhưng đã đem lại cho hắn khối tài sản kết xù.

Họ sẽ bảo bạn rằng: "Đó mới là cách kiếm tiền. Chỉ cần nghĩ ra một thứ gì đó đơn giản và thiết yếu, như chiếc kẹp tóc hay chiếc thìa xỏ giày mà chưa ai từng nghĩ tới. Sản xuất nó, bán cho công chúng và đem tiền gửi vào các loại chứng khoán hạng nhất. Hãy nhìn Matthew Kerrigan mà xem! Thế mà chưa đầy mười lăm năm trước, hắn chỉ là một nhân viên còm trong phòng kế toán."

Ngay dọc Đại lộ Broadway, hắn cũng rất có tiếng tăm trong cái vòng tròn dễ dãi gồm những diễn viên hạng bẫp, chủ tiệm buôn rượu và những ả khao khát bước lên sân khấu hay màn ảnh rộng. Các bồi bàn trưởng tỏ ra kính cẩn nhưng lại có chút khinh miệt hắn. Hắn tiêu tiền phóng tay, thế nhưng... Vẫn có điều gì đó ghê tởm, không lành mạnh trong cách hắn thưởng thức ăn uống và nhìn ngắm phụ nữ.

"Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét, và bảy điều mà Ngài gớm ghiếc": và đứng đầu là đôi mắt kiêu ngạo. Tôi không thể hiểu đó là thứ ánh sáng tỏa ra từ đôi mắt rạng ngời ý thức về dòng dõi cao sang quý phái, về những lý tưởng hào hiệp, về uy quyền chính trực. Tôi dịch nó qua đôi mắt của Matthew Kerrigan — đôi tròng mắt xám, đầy đặn ấy đảo quanh căn phòng như ngầm tuyên bố rằng chẳng có ai có mặt ở đây là kẻ ngang hàng hay bề trên của Kerrigan lúc này. Đôi mắt nói cho bạn biết rằng Kerrigan có tiền, và sẵn sàng chi tiền cho những gì hắn muốn. Bạn biết chắc kẻ đó sẽ nhận lại đủ đầy cho đồng tiền hắn bỏ ra — sự ranh mãnh và lọc lõi toát lên từ đó theo một vẻ thận trọng, đầy sát khí loài bò sát.

Morgenthal, gã môi giới bất động sản nhỏ con, tuyên bố tại Câu lạc bộ Elks: "Họ có thể gọi đây là Thành phố Nhà quê, nhưng này mấy bồ, có một gã trong thị trấn này mà đố ai lừa nổi hắn, chính là Kerrigan đấy. Hắn ranh lắm. Tôi nói thật đấy, anh bạn, hắn siêu lắm. Cậu có nghe về con mẻ ở Vườn Mùa Đông đã cố giở cái bài ca gia cảnh khốn khó với nó chưa? Chưa à? Chà, để tôi nói cho cậu nghe: Con mẻ đó tiêu đời rồi..."

Có một nơi khác mà bạn có thể thu thập các sự thật về Matthew Kerrigan, đó là những quán ăn trưa ở khu tài chính vùng hạ thành — những nơi chật chội, ồn ào, nơi bạn ngồi ăn trên chiếc ghế đẩu cao cạnh quầy và tính tiền bữa ăn với thu ngân khi bước ra. Ở đó có một thế hệ nhân viên văn phòng, những ông già ăn vận chải chuốt nhưng đã sờn cũ, mặt hóp lại, tóc điểm bạc, lưng còng xuống. Vài người trong số họ cay đắng và rất nhiều kẻ ba hoa. Họ chuyên môn nắm rõ quá khứ của những nhân vật nổi tiếng.

Họ sẽ kể cho bạn nghe về hầu hết những kẻ đó rằng: "Tôi nhớ hắn hồi còn là một tên lang thang đầu đường xó chợ; khi hắn chẳng có nổi một xu để đánh giày. Anh đã bao giờ nghe kể về cách hắn ngóc đầu lên chưa?" Và sau đó sẽ là một câu chuyện tồi tệ hoặc đầy tội ác. Và từ họ, bạn có thể biết được câu chuyện về Matthew Kerrigan và Leonard Holt.

Một người bạn làm cùng văn phòng từng kể cho Kerrigan nghe về một nhà phát minh kỳ quặc sống tại quê nhà Englewood của hắn, một gã thợ cơ khí nghèo xơ xác, lập dị, ngày ngày cặm cụi trong một căn nhà gỗ xiêu vẹo ở vùng ngoại ô Englewood để theo đuổi những giấc mơ vĩ đại nhưng ngớ ngẩn như máy bay và động lực vĩnh cửu. Khi Kerrigan về thăm quê, vào một buổi chiều mưa để giết thời gian tẻ nhạt, hắn đã đến thăm gã Holt này. Ngoài một vài chủ nợ thỉnh thoảng đến réo gọi rồi mỉa mai hắn, và vài người bạn nghèo tương tự thỉnh thoảng đến quở trách, giục giã hắn nhận lấy một công việc trong nhà máy, Holt chẳng giao du với ai cả. Và khi Kerrigan được giới thiệu, hắn ta nói năng hệt như một kẻ cuồng tín đang chết đói. Cao gầy, lêu khêu như thể các khớp xương chực rời ra; lưng gòng; với đôi bàn tay to bè dính đầy dầu mỡ; tóc màu cát; đôi mắt xanh rực lửa cùng chiếc trán cao, miệng và cằm buông thõng — ai đó hoàn toàn có thể được tha thứ khi tin rằng hắn chỉ là một kẻ ngốc không thực tế. Hắn chỉ cho xem một hệ thống lớn gồm các bánh xe, ròng rọc, trọng lượng và lò xo. Đó là mô hình động lực vĩnh cửu mà hắn đang chế tạo.

Kerrigan phản đối: "Nhưng tôi tưởng người ta đã từ bỏ động lực vĩnh cửu vì cho là bất khả thi rồi chứ?"

Holt đáp: "Họ đã có những bước tiến lớn hướng tới nó. Chiếc Struttapparat là một bước tiến vĩ đại. Dĩ nhiên cần một lượng nhỏ radium. Nhưng dẫu sao, năng lượng vẫn có thể — hoàn toàn có thể — được tạo ra bằng cơ học. Họ bác bỏ động lực vĩnh cửu bằng giả thuyết bảo toàn năng lượng, thứ vốn chưa được chứng minh..."

Và cứ thế hắn huyên thuyên với những câu nói cụt lủn, trong khi Kerrigan lắng nghe, tay cầm lên rồi lại thả xuống những món đồ với vẻ chán ngấy — một chiếc đèn Bunsen, một cái kìm, một chân máy — đủ thứ. Hắn nhấc hai miếng amiăng lên, được kẹp lạ lùng với nhau bởi hai thanh kim loại dẻo dài. Khi hắn nghịch ngợm, vật đó rời ra trong tay hắn. Một tiếng tách, và chúng lại dính chặt vào nhau. Kerrigan ngước lên đầy hứng thú.

– "Cái này dùng để làm gì?"

– "Một mẹo nhỏ để làm móc cài. Chẳng có mấy ích lợi thực tế — ngoại trừ, có lẽ là dùng cho corset của phụ nữ!" Holt cười. Kerrigan im lặng.

Hắn gợi ý sau một lát: "Đã đăng ký bằng sáng chế chưa?"

Holt đáp với chút tự hào: "Mọi thứ tôi có đều đã được cấp bằng sáng chế."

Kerrigan hỏi: "Tôi có thể mang nó đi — để cho một người bạn xem được không?"

Holt gật đầu: "Ồ, được chứ! Bây giờ, nếu anh hiểu rằng năng lượng phát triển theo cấp số nhân..."

Và Matthew Kerrigan đã rất tháo vát khi mang thiết bị cài áo của Holt cho người bạn của mình xem — một chủ ngân hàng nổi tiếng chưa từng nghe nói về Kerrigan trước đó, nhưng luôn có sẵn tiền để đầu tư, bằng một cái giá nào đó, vào những dự án xứng đáng. Kerrigan quay lại tìm Holt.

– "Món đồ nhỏ xíu của cậu có lẽ cũng có chút giá trị. Cậu có chịu bán đứt nó với giá một trăm đô la không?"

Nhưng trực giác đôi khi cảnh báo những kẻ không màng thế sự, cùng với sự bướng bỉnh cứng đầu mà một số đàn ông hay có, đã khiến Holt đòi một phần chia lợi nhuận, và dù không muốn chút nào, Kerrigan cùng đối tác của hắn vẫn phải chấp nhận.

Họ cay đắng phàn nàn với nhau: "Đúng là một vụ tống tiền, nhưng chúng ta chẳng làm gì được cả!"

Thế là Holt được chia lợi nhuận từ bằng sáng chế của mình, và có một dạo hắn mơ về một khối tài sản không tài nào kể xiết; một khối tài sản sẽ cho phép hắn gửi đứa con gái ba tuổi đã mất mẹ vào trường nội trú rồi đại học, đồng thời để hắn yên tâm nghiên cứu — với đầy đủ dụng cụ trong tay từ Stuttapparat cho đến radium và mọi thứ — cái bài toán đã làm đau đầu những kẻ mộng mơ khoa học kể từ buổi bình minh của trí tuệ.

Hắn tính toán: "Mô hình làm ở quy mô lớn sẽ tốn mười ngàn đô la..." và những viễn cảnh của hắn cứ tiếp diễn, không vụ lợi, vị tha và phi thực tế. Hắn muốn mang lại lợi ích cho thế giới bằng phát minh của mình — và nhận lấy một chút tán thưởng, một chút công nhận.

Tôi không biết họ làm những chuyện đó ra sao, nhưng họ đã làm thật, và hẳn là phải làm rất khéo léo, bởi họ lách được luật pháp, thứ luật pháp sắt đá đòi hỏi sự công bằng cho tất cả mọi người. Kerrigan đầy vẻ thông cảm đặt tay lên vai Holt.

Hắn cất giọng với vẻ nghẹn ngào chân thành: "Tôi rất tiếc, anh bạn ạ. Chúng ta đã tính toán sai. Nó không có tính thực tế."

Holt từng chịu đựng nhiều đòn giáng, và hầu như đã trơ lì trước chúng. Hắn mỉm cười buồn bã.

Kerrigan nói tiếp: "Có lẽ tôi vẫn làm được gì đó. Tôi có thể kiếm chút ít từ quyền sở hữu của anh bằng cách bán lại cho ai đó muốn liều lĩnh thử vận may. Tôi rất muốn anh nhận được chút tiền từ nó. Tôi đã khiến anh đặt quá nhiều hy vọng vào nó..."

Họ tỏ ra vô cùng hào phóng, bởi họ biết hàng triệu đô la đang chờ đón họ phía trước, thế nên họ đưa cho Holt một ngàn đô la, và hắn lại cặm cụi cày cuốc bên cỗ máy kỳ quái của mình. Vài tuần sau, một vị đạo đức tốt bụng nào đó đã nói cho hắn biết sự thật và buông những lời khen chê nhạt nhẽo về việc Holt ngốc nghếch ra sao. Đòn giáng cuối cùng là đòn chí mạng. Nó xé nát trái tim hắn thành hai mảnh.

Hắn cẩn trọng lo liệu cho con gái mình được nuôi dạy trong một tu viện, và để lại toàn bộ số tiền mình có cho mục đích đó. Hắn bắt chuyến tàu đến New York và khi qua phà liền trèo lên boong trên. Hắn ngồi co ro một góc, quần áo xám xịt và sờn cũ, khuôn mặt xám xịt và mệt mỏi, cho đến khi con tàu đi được nửa quãng đường. Hắn đứng phắt lên băng ghế rồi nhảy xuống, và tiếng động do cú nhảy của hắn đã chìm nghỉm trong tiếng khua nước của mái chèo.

Cao gầy, lêu khêu, hờ hững, phi thực tế — các nhà kinh tế học sẽ bảo với bạn rằng gã đó chẳng có chút giá trị gì đối với cộng đồng, và chết đi còn hơn. Còn người theo tôn giáo sẽ bảo bạn rằng tội tự sát đáng bị lửa hỏa ngục thiêu đốt. Nhưng chẳng hiểu sao tôi lại cảm thấy rằng đối với những con người khốn khổ với cái đầu nhẹ bẫng, thân hình gầy giơ xương và trái tim trĩu nặng ưu phiền ấy, đâu đó vẫn có Sự Thấu Hiểu và Lòng Trắc Ấn Vô Biên...

Tất cả những điều đó sẽ được kể cho bạn nghe bởi những ông già ba hoa và cay đắng, và trong khi họ nguyền rủa Kerrigan, bạn vẫn thấy thoáng qua trong mắt họ một tia ngưỡng mộ và ghen tị. Đấu trường Phố Wall chẳng khác là mấy so với đấu trường thành Rome dưới thời Nero; "vœ victis" (kẻ thua cuộc phải chịu tai ương) là châm ngôn và luật lệ của trò chơi ấy. Và trước khi bạn có thể rời bỏ họ với nỗi kinh hoàng đầy khinh miệt, họ sẽ vỗ vào đầu gối bạn, đầy vẻ kịch tính đến rợn ngợp.

– "Và giờ thì Kerrigan chuẩn bị cưới con gái của Holt đấy! Anh thấy thế nào? Anh có thấy chuyện này kinh thiên động địa không?"

Hắn đã đến — có lẽ vì tò mò, có lẽ bởi chiều sâu của sự ủy mị mà những kẻ thuộc tuýp như hắn luôn giấu kín đâu đó tận đáy lòng — cùng với người họ hàng là một vị linh mục mũm mĩm, đến dự lễ phát thưởng tại tu viện ở Newark. Giám mục đã có mặt ở đó, một vở kịch của Dunsany được trình diễn; vài bài thơ được ngâm và một hai bài hát được cất lên.

Xuyên suốt buổi lễ, ánh mắt hắn bị thu hút bởi một thiếu nữ cao ráo mặc chiếc váy trắng thắt dải lụa xanh — một cô gái mảnh mai với đôi mắt nâu nhạt và mái tóc nâu sáng, người mà nhìn từ xa có góc nghiêng khuôn mặt của một Thánh Cecilia — một Thánh Cecilia với cái miệng hơi rộng, bộc trực và hàm răng chắc khỏe.

Hắn nói với người họ hàng: "Đó là một cô gái cuốn hút."

Vị linh mục phúc hậu, kẻ vẫn luôn thầm lo lắng cho phần hồn của người em họ, cảm thấy vô cùng vui mừng. Ông vẫn thường mơ về việc cảm hóa được người anh họ Matthew nhờ ảnh hưởng của một người phụ nữ dịu dàng. Một nữ tu dòng Đa Minh đã dẫn cô ấy tới.

"Cô Holt, cô Agnes Holt." Kerrigan được giới thiệu với cô. Hắn nói những câu chuyện nhạt nhẽo với cô trong nửa giờ đồng hồ, trước khi cô ngượng ngùng xin phép rời đi, đỏ bừng mặt dưới những ánh nhìn của các bạn học. Khi chỉ còn lại một mình, Kerrigan mỉm cười kỳ lạ, với ánh nhìn đăm đăm hướng về cõi xa xăm.

Ở tuổi bốn mươi lăm, những người đàn ông thuộc tuýp của Kerrigan khi chớm có những sợi tóc bạc đều luôn nảy sinh nỗi sợ tuổi già. Sẽ có một ngày không thể tránh khỏi khi hắn không còn sức hút với phụ nữ nữa, và khi ngồi trong các quán bar hay quanh các câu lạc bộ, hắn sẽ bị gọi là một lão già thuộc thế hệ trước, và trong tâm trí hắn trỗi dậy nỗi sợ cô đơn ở tuổi năm mươi, sáu mươi, khi Cái Chết đang gấp gáp tiến sát hắn từng ngày. Điều duy nhất phải làm lúc đó là bắt đầu lại từ đầu với một người vợ trẻ, ở một nơi xa rời chốn đô thành náo nhiệt.

Họ bi ai thảm thiết nói: "Đó mới chính là cuộc sống; một người vợ và những đứa trẻ, một mảnh đất nhỏ ở đâu đó, tránh xa tất cả những thứ này." Và họ vẫy tay về phía những chiếc ly lấp lánh cùng những bức tranh trên tường quán bar. Họ quả quyết: "Chẳng có gì ghê gớm cả," rồi cạn sạch ly và gọi thêm ly nữa.

Hắn gặp vị nữ tu khi đang định ra về.

Hắn nói: "Cô Holt đó là một cô gái rất cuốn hút." Đó là tính từ duy nhất hắn biết để miêu tả về cô.

Nữ tu đồng tình: "Vâng. Tất cả chúng tôi đều quý con bé. Nó đã sống với chúng tôi hầu như suốt cả cuộc đời. Cha nó mất khi nó còn nhỏ. Ông ấy là một nhà phát minh; tên ông ấy là Leonard Holt."

Kerrigan chấn động nhưng khả năng tự kìm chế của hắn thì vô cùng tuyệt vời: "Cái tên nghe quen lắm. Qua đời sau một vài biến cố trong kinh doanh, nếu tôi nhớ không nhầm?"

Đôi mắt vị nữ tu nhỏ nhắn lóe lên vẻ uy nghiêm: "Ông ấy bị sát hại! Bị sát hại! Bằng thủ đoạn thương trường!"

Kerrigan từng nghe người ta dùng từ đó nói về cái chết của Holt không chỉ một lần. Nhưng mười bốn năm qua là khoảng thời gian bận rộn, và chuyện đó không làm hắn bận tâm mấy — những chuyện kiểu đó xảy ra như cơm bữa. Hơn nữa, điều đó không đúng. Sát hại thì phải có kẻ sát nhân, và hắn nào phải kẻ sát nhân. Tất cả chỉ là một thỏa thuận kinh doanh. Và gã đó không chịu nổi áp lực. Chỉ có vậy thôi!

Hắn nguyền rủa: "Toàn là mấy thứ nhảm nhí chết tiệt!" Nhưng chẳng hiểu sao, lần này, có lẽ vì cuộc gặp gỡ đầy kịch tính với cô con gái, ý nghĩ đó cứ bám chặt lấy đầu hắn không buông.

Và hình ảnh cùng suy nghĩ về Agnes Holt trong chiếc váy trắng thắt dải lụa xanh, với góc nghiêng khuôn mặt Thánh Cecilia của cô cũng chẳng tài nào phai mờ trong tâm trí hắn. Cô ám ảnh hắn ngày đêm. Vào thời kỳ ấy, một giai đoạn kỳ lạ ở đàn ông cũng giống như tuổi cận kề bốn mươi ở phụ nữ, hắn đã sa vào lưới tình, hoặc thứ gì đó có thể đóng vai tình yêu đối với hắn. Trong suốt sự nghiệp kinh doanh đầy ích kỷ của mình, hắn chưa từng thân thiết với người phụ nữ nào như thế, và vẻ trinh trắng xa cách, nguyên vẹn của cô giáng vào hắn như một tia chớp lóa mắt.

Hắn thốt lên theo cái cách quen thuộc của loại người như hắn: "Rốt cuộc thì, trên cõi đời này chẳng có gì sánh được với một người phụ nữ ngọt ngào, trong trắng!"

Và suốt nhiều ngày, hắn nghĩ về cô và về tình yêu, không phải theo cách của một người trẻ tuổi đang bốc cháy trong phương trình của những ngọn lửa sống, mà bằng thứ biểu tượng âm ỉ của tuổi trưởng thành, thứ vốn rất lâu để thiêu đốt và vô cùng khó dập tắt. Hắn sẽ rời bỏ Đại Broadway — "bỏ hết cái đám quái quỷ đó đi," theo cách gọi kỳ cục của hắn — và tậu một cơ ngơi ở Westchester hoặc Long Island, một ngôi nhà thực sự thoải mái có đất đai vườn tược. Họ sẽ chào đón hắn ở một cộng đồng như thế. Hắn sẽ trở thành một ủy viên hội đồng làng; ra tranh cử chức chủ tịch. Và hắn sẽ tạo dựng một cuộc đời mới ở đó với một cô dâu trẻ trung, xinh đẹp khiến ai nấy đều phải ghen tị. Sẽ có cả những đứa trẻ nữa. Chắc chắn là sẽ có trẻ con.

Hắn ranh mãnh nghĩ: "Con bé sẽ vui mừng khi được rời khỏi tu viện." Suy cho cùng, có lẽ hắn đã từng đối xử với Holt có phần tệ bạc. Hắn sẽ bù đắp điều đó bằng cách đối xử thật tốt với con gái ông. Cô ấy sẽ được đeo kim cương.

Một hôm, hắn nói với vị linh mục nhỏ tuổi: "Cha John à, tôi đang tính chuyện kết hôn và ổn định gia đạo."

Ông vừa xoa đôi bàn tay mũm mĩm vừa nói, khuôn mặt thiên thần rạng rỡ vẻ nhân từ: "Tôi rất vui khi nghe điều đó, anh em họ Matthew ạ. Tôi mừng lắm. Thật sự rất mừng!" Ông ra vẻ tinh nghịch đưa ngón tay trỏ lên. "Và tôi nghĩ mình cũng biết cô gái đó đấy."

– "Chính là cô bé Holt mà chúng ta đã gặp ở tu viện hôm đó."

Cha John lên kế hoạch: "Anh phải qua đây gặp lại con bé nhé. Tôi sẽ nói chuyện với Mẹ bề trên."

Và thế là, dưới sự giám sát chu đáo, Kerrigan đã gặp Agnes Holt vài lần, và mỗi lần hắn lại càng thêm ấn tượng với cô. Cô rất ít nói, chủ yếu chỉ đỏ mặt và nghịch món đồ gì đó trên đùi. Cô láng loáng hiểu ra rằng người đàn ông bệ vệ, có bộ ria mép này đang có ý định kết hôn với mình, nhưng điều đó chẳng mang lại ý nghĩa gì lớn lao đối với cô, bởi cuộc sống của cô từ trước đến nay chỉ quanh quẩn trong chốn tu viện khép kín.

Vâng, Không, hay Cảm ơn, gần như là toàn bộ vốn từ trong các cuộc trò chuyện của cô, và cô phải rất vất vả mới kìm được không thưa thêm chữ "thưa ông". Thỉnh thoảng cô cùng Cha John đi xem một buổi diễn kịch matinee ở New York để xem một tác phẩm gia đình được lựa chọn kỹ lưỡng, hoặc đi uống trà ở những nhà hàng ít mang màu sắc trần tục. Đôi khi cô thốt lên một câu cảm thán đầy ngây thơ.

Đó là kiểu câu cô thường bộc bạch: "Em từng đi xe buýt Đại lộ số 5 với Sơ Mary Joseph."

Cha John bảo: "Nếu anh không cưới con bé, nó sẽ gia nhập tu viện để trở thành một nữ tu phục vụ."

C càng gặp cô nhiều bao nhiêu, tâm trí Kerrigan lại càng bị ám ảnh bởi hình bóng người cha của cô bấy nhiêu. Đường nét khuôn mặt cô; một cái nhìn nào đó trong đôi mắt cô; ánh sáng lấp lánh trên mái tóc khi mặt trời chiếu vào, tất cả đều gợi nhắc về người nhà phát minh, và ngay lập tức trong lòng hắn trào lên một sự bất an mà hắn không tài nào xua đi được. Đã có lần hắn hỏi cô có nhớ gì về cha mình không.

Cô đáp: "Cha em mất khi em còn rất nhỏ, còn nhỏ lắm. Một tai nạn trên chuyến phà. Em đã dành cả đời mình sống với các sơ."

Trên đường ra vào tu viện, hắn thường gặp vị nữ tu từng nhắc đến cái chết của Holt như một vụ mưu sát. Và mỗi lần gặp bà, tâm trí hắn lại hướng về từ ngữ đầy u ám đó, để rồi hắn thấy mình đang tự biện hộ trong tâm tưởng, hệt như đang bào chữa trước tòa án. Hắn cố gắng xua đi tâm trạng ấy.

Hắn tức giận tự nhủ: "Đúng là thứ ngớ ngẩn hết chỗ nói!"

Nhưng ý nghĩ đó vẫn cứ đeo bám, và trở nên ám ảnh bệnh hoạn, hắn thấy mình chăm chú đọc những lời tuyên án của các thẩm phán trong các vụ án cố sát. Hắn đến thư viện công cộng để tra cứu về chủ đề này trong các bộ bách khoa toàn thư. Hắn đọc về sự công minh tuyệt vời trong các phiên tòa có bồi thẩm đoàn.

Hắn tự nhủ: "Chắc là ổn thôi. Chẳng có gì ghê gớm cả."

Tuy nhiên, hắn vẫn tiếp tục đọc, và rồi hắn bắt gặp phong tục cổ xưa là thử thách bằng phán quyết của công luận — phép thử sự vô tội của một người bằng cách chạm vào thi thể của một nạn nhân bị sát hại. Nếu kẻ bị tình nghi là có tội, máu sẽ rỉ ra từ tử thi. Một câu thơ của Shakespeare được trích dẫn — từ vở kịch "Richard III":

Điều đó khiến da gà da vịt hắn nổi rần rần. Hắn đọc về bài kiểm tra rợn người của bàn tay tử thi, cùng với thử thách bằng lửa và thử thách bằng độc dược.

Hắn tức giận lẩm bẩm: "Chẳng có lý lẽ gì sất!" và những giọt mồ hôi nhỏ lấm tấm trên trán hắn. Ngay cả người vô tội cũng sẽ dao động trước một phép thử như thế. Xử bằng bồi thẩm đoàn — đó mới là cách hợp lý.

Và rồi, vào một ngày nọ, trong căn phòng khách ảm đạm của tu viện, hắn ngỏ lời cầu hôn Agnes Holt.

– "Agnes..." hắn hắng giọng, và quả thực giọng hắn đã khàn đặc — "Anh nghĩ em cũng hiểu rằng những dự định của anh đối với em đều hướng đến một mái nhà chung. Anh có thể mang lại cho em rất nhiều hạnh phúc."

Cô đỏ bừng mặt, giọng nói lí nhí: "Em phải thưa chuyện với Mẹ bề trên đã."

Hắn cầm tay cô, mở một chiếc hộp nhỏ và đeo nhẫn vào tay cô.

Hắn bảo cô: "Chính anh đã nói chuyện với Mẹ bề trên rồi, và mọi chuyện đều ổn cả." Hắn kéo cô lại gần, hơi run rẩy, và dùng đôi môi có ria mép của mình đặt lên trán cô một nụ hôn. Đột nhiên hắn đứng lặng đi, cảm thấy lạnh buốt một cách kỳ lạ. Cái chạm vào làn da ấy gợi hắn nhớ đến cái bắt tay cuối cùng với Leonard Holt.

Đêm đó tại khách sạn của mình, hắn giận dữ tự nhủ: "Mình phải chấm dứt cái nỗi ám ảnh chết tiệt này thôi!" rồi tự rót cho mình những ly rượu Bourbon thật nặng đô. Có nên nói cho Cha John biết không? Không! hắn tự quyết định. Hắn biết rất rõ Cha John là họ hàng, là bạn bè và là một người bạn đồng hành vui tính với những lỗi lầm đáng yêu. Nhưng hắn cũng biết rằng vị linh mục nhỏ bé ấy có thể gầm thét với uy lực của đỉnh Sinai. Cưới con gái của một kẻ mà cái chết có bàn tay hắn nhúng vào ư? Cha John sẽ không bao giờ đồng ý. Vị tu sĩ ấy sẽ chẳng thể hiểu nổi. Một ông linh mục thì biết gì về kinh doanh chứ?

Kerrigan quyết định: "Gặp ông ta cũng chẳng ích gì."

Hắn khựng lại một lát, suy ngẫm. Và nửa buồn cười nửa lo lắng, hắn nhớ đến cuộc trò chuyện với một người bạn của mình, một nhà giao dịch vĩ đại ở Phố Wall, kẻ kết hợp sự ranh mãnh của đồng loại với sự mê tín của chúng, và thường tìm đến các nhà ngoại cảm cùng những lá bài tarot trong những thời khắc căng thẳng. Anh ta đã kể cho Kerrigan nghe về M. Sergius.

– "Ông ta là một tu sĩ Chính thống giáo Hy Lạp — bị trục xuất khỏi Núi Athos vì hành nghề ma thuật. Những gì lão ta có thể nói cho anh biết..."

– "Chắc điều tiếp theo anh định bảo tôi là lão ta gọi hồn được chứ gì."

– "Nghe đây! Anh cứ hỏi Cabot Montgomery xem họ tìm ra di chúc của Van Vleet bằng cách nào đi. Cứ hỏi anh ta xem."

Kerrigan cười lớn: "Lúc nào cũng có một kẻ ngốc sinh ra đời, và vài kẻ trong số đó vẫn sống nhăn."

Kerrigan được bảo rằng: "Nghe này huynh đệ, lão này làm việc đó miễn phí. Anh hiểu ý tôi không? Miễn phí! Nếu chuyện đó đủ quan trọng lão sẽ làm. Không thì biến. Đây không phải mấy trò bói quả cầu thủy tinh ở hội chợ quê đâu."

Trong thâm tâm Kerrigan cũng tồn tại thứ máu mê tín mà mọi người vẫn cười cợt nhưng ai nấy đều mang trong mình. Và ngay lúc này đây khi hắn đang ngồi giữa một cơn lốc xoáy về tinh thần và tâm linh, ký ức về cuộc trò chuyện đó hiện về như một chiếc phao cứu sinh. Rốt cuộc thì, nếu hắn đưa mọi chuyện ra thử thách — Dĩ nhiên là nó ngớ ngẩn; nó thật nực cười, nhưng mà... Dù thế nào đi nữa thì cũng chẳng có chuyện gì xảy ra được, thế nhưng...

Hắn cười khẩy: "Có hại gì đâu chứ?"

Hắn mỉm cười, ở độ tuổi này của mình mà lại phó thác bản thân vào tay một kẻ bịp bợm để gọi hồn người chết! Vào thế kỷ này, với chiếc điện thoại đầu giường, với ngọn đèn điện thắp sáng trên đầu, lại đi cưng chiều một tên thầy phù thủy đóng kịch! Sẽ chẳng có, và không thể có chuyện gì xảy ra cả.

Nhưng việc không có chuyện gì xảy ra ấy chính là câu trả lời cho hắn. Nó đồng nghĩa với việc cuộc đời hắn sẽ được giải thoát mãi mãi, được tẩy sạch khỏi những lời bóng gió ngớ ngẩn, những lời cáo buộc điên rồ từ kẻ ngoài; khỏi sự lo lắng bệnh hoạn trong tâm trí bất thường của chính hắn. Tự do tiến bước để kết hôn, và sống hạnh phúc mãi mãi về sau.

Khi người hầu lặng lẽ đến đón hắn trên chiếc xe limousine xanh to lớn vào một đêm đầy sao đẹp trời, hắn đã bước đi với một chút hồi hộp chạy dọc trong huyết quản. Cha John cùng các nữ tu hiền lành và cô vợ hứa hôn nhỏ bé của hắn sẽ nghĩ gì về chuyến điên rồ này đây? Chà, hắn đã ném chiếc găng thách thức với Định Mệnh, và hắn sẽ đi đến cùng, bất chấp kết quả trống rỗng ra sao. Một lời châm biếm chực trào trên môi hắn khi bước vào căn hộ; nhưng câu châm biếm ấy bỗng đông cứng lại.

Người hầu lặng lẽ dẫn hắn vào một căn căn phòng mờ ảo thắp ánh nến. Trong một góc phòng, Sergius và bốn thanh niên đang đứng lặng im. Giữa sàn nhà là một hình học kỳ lạ gồm các vòng tròn và ô vuông.

Kerrigan cảm thấy cần phải nói điều gì đó, dù có sáo rỗng thế nào đi nữa: "Người hầu của anh vừa mới đến đón tôi..." Bằng một nỗi kinh sợ nào đó, Kerrigan chú ý đến y phục màu trắng của cựu tu sĩ và các đệ tử của ông ta; những đôi giày trắng thêu chỉ đỏ; những chiếc vương miện trắng thêu các chữ cái tiếng Do Thái.

Người Nga hỏi hắn: "Anh vẫn muốn tiếp tục chuyện này chứ?"

Kerrigan thốt lên: "Tất nhiên rồi." Giọng nói của chính hắn nghe sao thật xa lạ bên tai.

Giọng nói của cựu tu sĩ mang theo một mối đe dọa khủng khiếp ẩn giấu bên trong: "Anh phải tuân theo mọi mệnh lệnh của ta trong tất cả mọi việc, và nếu anh bước ra khỏi vòng tròn đó, anh còn tồi tệ hơn cả một thây ma! Theo ta."

Họ tiến qua một lối mở bước vào hình học kỳ lạ ấy, và theo sát phía sau họ trên những bước chân vô thanh là bốn kẻ hộ tống. Kerrigan ngẩn ngơ nhận ra thanh gươm họ mang theo, chiếc kèn lệnh, cuốn sách và ngọn nến đang cháy. Xung quanh hắn, nằm bên ngoài vòng tròn là những ký hiệu bằng giấy kỳ lạ dường như cắt đứt hắn khỏi thế giới của những con người tỉnh táo và đang sống. Vị pháp sư thắp một vòng bình hương xung quanh ô vuông bên ngoài. Ông khép kín vòng tròn và giơ cao một lưỡi hương. Ông vung nó về phía bốn góc của ô vuông. Một người hầu đưa cho ông một thanh gươm. Ông cắm nó xuống đất. Người khác đưa cho ông một chiếc kèn. Ông thổi lên những âm thanh chát chúa.

– "Lạy Chúa! Xin hãy nghe lời cầu nguyện của con, và xin tiếng kêu của con thấu đến Ngài..."

Những làn khói xoắn ốc kỳ lạ bốc lên không trung từ các lưỡi hương. Các đệ tử đã lùi về bốn hướng của la bàn. Vị pháp sư giơ cao thanh gươm trần. Giọng ông vang lên trầm hùng như tiếng đàn phong cầm:

– "Hỡi các linh hồn! Ta triệu thỉnh các ngươi bằng quyền năng, sự khôn ngoan và đức hạnh của Thần Linh Chúa... bằng Thánh Danh Chúa Eheith... mà khi A-đam cầu khẩn, ngài đã đạt được sự hiểu biết về muôn loài thọ tạo... bằng danh vô hình Yod, mà giả sử A-bên từng cầu khẩn thì ngài đã có thể thoát khỏi tay Ca-in, người anh em của mình..."

Kerrigan đứng đó có cảm giác rằng xung quanh vòng tròn này có thứ gì đó không phải sự sống, và nó bị tách biệt khỏi sự an toàn của vạn vật bên ngoài hệt như một hòn đảo bị cô lập bởi biển nước. Xung quanh, làn khói hương bốc lên thành những hơi mờ ảo. Ánh sáng từ những ngọn nến trở nên nhạt nhòa thành một thứ vàng nhạt mỏng manh. Có điều gì đó thật khủng khiếp trong toàn bộ khung cảnh này. Hắn từng tưởng tượng đến một nghi thức bói toán lang băm ghê rợn, bệnh hoạn. Hắn hoàn toàn có thể đứng nhìn với nụ cười nhạo báng. Nhưng sự uy nghiêm lạnh lùng, cứng nhắc của nghi lễ lại khiến tim hắn thắt lại, hệt như cảm giác bị đè nén giữa gian chính tòa của một đại giáo đường lớn.

– "... Bằng Hai Bảng Đá Luật Pháp; bằng Bảy Ngọn Nến Cháy Sáng; bằng Nơi Chí Thánh nơi chỉ có Thượng Tế mới được bước vào..."

Hắn muốn cất cao giọng, bảo gã đàn ông đó dừng ngay trò hề này lại. Hắn muốn bước tới cửa, khập khiễng đóng sầm lại đầy khinh miệt, rồi thong thả đi bộ về nhà giữa bầu không khí trần tục mát mẻ. Đó sẽ là dấu chấm hết cho mọi sự bệnh hoạn này đối với hắn. Thế nhưng chẳng hiểu sao hắn lại không thể bước đi. Hắn như bị thôi miên giữ chặt lấy vị trí đó.

– "... Linh hồn từng được biết đến ở đây là Leonard Holt, và với người mà vì một lý do thỏa đáng, người đàn ông này muốn trò chuyện. Ta triệu thỉnh và gọi hồn người ấy nhân danh Chúa Adonai. Ta triệu thỉnh người ấy nhân danh vị thần El, đấng hùng mạnh và uy quyền..."

Nỗi sợ hãi trào lên trong lòng Kerrigan hệt như làn hơi lạnh buốt từ đầm lầy. Hắn đến đây trong một tâm thế kiêu ngạo thách thức số phận, đối mặt với một thứ mà bản chất và tên gọi hắn đều không rõ; đối mặt trực diện với nó, và chấp nhận kết quả cuối cùng. Nhưng giờ đây hắn có cảm giác mình giống như đang đứng trước vành móng ngựa, không phải để tranh luận mà để bị phán xét, bởi thứ mơ hồ mà hắn từng ném găng thách thức.

Vị pháp sư đã quỳ xuống. Trước mặt ông, một đệ tử đang cầm một cuốn sách mở rộng và một ngọn nến.

– "Nhân danh Đấng đã dựng nên trời đất, và Đấng đã đong lường chúng trong lòng bàn tay Ngài, bao bọc trái đất trong ba ngón tay của Ngài..."

Bên ngoài những vòng tròn ấy lúc này, Kerrigan tưởng tượng có những thứ đang bay lượn với sức mạnh tựa như một cơn cuồng phong. Chúng lao ầm ầm vào các ký hiệu huyền bí, đầy quyền năng hệt như những đạo quân xung trận trước một pháo đài bất khả xâm phạm. Hắn không còn chắc chắn rằng sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra nữa. Nếu trong một phút nữa, vào bất kỳ khoảnh khắc nào, Thứ đang được gọi hồn kia sẽ xuất hiện, không phải là một thân xác trống rỗng, phi thực tế, mà là một thực thể khủng khiếp mang theo uy quyền đáng sợ của người chết, đứng trước mặt hắn với ánh mắt buộc tội — đứng sừng sững như một thứ vũ khí rực lửa chắn ngang giữa Kerrigan và đứa con gái mang dòng máu của ông, người mà họ đồn là đã bị sát hại... Nếu thế! Nếu thế! Nếu thế! Nếu thế! Da thịt hắn co rút lại trong một cơn nổi da gà căng thẳng. Hơi thở hắn trở nên nông và dồn dập, giống như tiếng thở của một con chó bị vắt kiệt sức.

Vị pháp sư đứng thẳng người dậy. Thanh gươm lại lóe lên trong tay ông. Ông đặt tay lên ngực. Giọng ông vang lên đầy quyền năng. Các tu sĩ cúi đầu.

– "Đây là những biểu tượng của những bí ẩn — những cờ hiệu, những phướn lệnh, những huy hiệu của Chúa Tể Khải Hoàn; vũ khí của Đấng Toàn Năng để khuất phục các thế lực trên không trung. Ta tuyệt đối ra lệnh..."

Trong tâm trí Kerrigan, những suy nghĩ chạy đua như những con thỏ nhảy nhót; như những cuộn phim sống động. Hắn đang bị xét xử! Cổ tay hắn run lên khi dòng máu đập rần rật. Bị xét xử! Bị phán xét qua phán quyết của công lý! Bằng thứ đáng sợ khiến vết thương của người chết rỉ máu trở lại khi bạn chạm vào hắn ta. Qua phán quyết của công lý! Đúng là thế. Hắn cảm thấy mặt mình co rúm lại thành một biểu cảm ghê rợn. Qua phán quyết của công lý! Có một sức nặng đè lên lồng ngực hắn lớn như những khối đá hoa cương khổng lồ, lạnh buốt. Hắn không thể thở nổi. Chạy dọc qua trái tim hắn là một nỗi đau nhói lên tựa như dao đâm...

– "... Bằng uy quyền và đức hạnh của họ, hãy đến gần chúng ta, hiện diện trước mặt chúng ta dù người đang ở bất kỳ xó xỉnh nào trên thế giới này —"

– "Thưa Thầy!" Một đệ tử bước lên và chạm vào tay áo bằng lụa trắng của vị pháp sư. Cậu ta chỉ về phía hình hài đang co quắp trong vòng tròn. "Thưa Thầy, người đàn ông này đã chết!"

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.