Đứa Trẻ Bị Đánh Tráo Và Những Truyện Ngắn Khác

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nghị Viện Tại Thebes

❊ ❊ ❊

Xung quanh chúng ta lúc này là màn đêm huyền bí của xứ Ai Cập, và ta có cảm giác như mình đang ở một nơi từng quen thuộc trong những giấc mơ và hoài bão, hay có lẽ từng thấy qua bức vẽ trong cuốn sách nào thời thơ ấu. Trước mặt, ta cảm nhận được—chứ không nhìn thấy, bởi ánh trăng lẩn khuất sau những tầng mây cuồn cuộn chẳng chiếu rọi được bao nhiêu—một vùng cát mênh mông. Nơi này vài ngọn đồi nhỏ; nơi kia dập dờn sóng cát như biển khơi, chỗ là bậc thềm thô sơ, chỗ lại là vách đá tí hon. Khắp nơi chỉ toàn cát; cát sống chứ không phải cát chết. Và ta biết rằng, về phía tây, nó cứ tiếp tục cuộn trào như biển, trải dài suốt chiều rộng của châu Phi, băng qua Sahara, vươn tới Timbuktu, thành phố bí ẩn, rồi rừng rậm ôm trọn lấy đất đai, trải đến Bờ Biển Vàng, nơi đại dương gầm rú với những con sóng bạc đầu cuồn cuộn.

Và phía nam chúng ta cũng là châu Phi, là những vách đá Abyssinia, vành đai Rhodesia vĩ đại, những đồng bằng nơi người Kaffir đào tìm kim cương, những đồng cỏ mênh mông mà người Boer đã thu phục, Núi Bàn mà những nhà hàng hải xưa đều biết, cùng mũi đất được gọi là Hảo Vọng. Xa hơn về phía nam và phía đông là lớp sương mù mờ ảo như xà cừ của Madagascar.

Và phía bắc chúng ta, sa mạc thoải dần về phía Alexandria ngày xưa, về phía vùng Địa Trung Hải lặng yên không có thủy triều, nơi Tyre và Sidon từng phồn thịnh nay đã tàn lụi; nơi Carthage của người Phênicia từng đứng vững, từ đó Hannibal da ngăm đã xuất quân chống lại những con đại bàng của thành Rome—để rồi thất bại mà vẫn sống mãi, bởi tên tuổi ông quá đỗi vĩ đại. Nơi đây từng là đế quốc của người Moor, những con người mảnh khảnh mang làn giẻ đồng thau từng tấn công Tây Ban Nha tựa như một ngọn sóng phá hủy tột cùng, và cũng chính từ họ, Charlemagne đã giành lấy vinh quang trong chiến trận.

Tất cả giờ đây đã lụi tàn, và ánh trăng chiếu rọi những thành phố chết, những anh hùng đã khuất, cùng những đế quốc vĩ đại đã lịm tắt, bị chôn vùi dưới những triền cát bạc dịch chuyển. Nhưng mảnh đất chúng ta đang đặt chân tới không hề chết; đó là châu Phi vĩnh cửu, là Ai Cập trường tồn.

Và nơi ta đang đứng đây thật cổ xưa, nơi những biến cố lịch sử chỉ tựa như những chuyện cỏn con của một ngày hè. Ta cảm nhận được rằng Ai Cập còn cổ xưa hơn cả Muhammad, người có lời khải thị nay đã trở thành luật lệ nơi đây, cổ xưa hơn cả Vị Chúa Nhỏ từng trốn đến chốn này cùng Joseph và Mary, cổ xưa hơn những vị vua được tẩm liệm ngủ yên trong các kim tự tháp; cổ xưa hơn cả những kim tự tháp ấy; cổ xưa hơn người H hebrews từng góp sức xây nên chúng; cổ xưa hơn Moses, người từng nổi dậy và dùng hắc thuật chống lại Pharaoh thời bấy giờ; cổ xưa hơn truyền thống của những vị tư tế đầu trọc khoác áo vàng; cổ xưa hơn Isis và Osiris mà họ sùng bái với nghi lễ tôn nghiêm—cổ xưa hơn thế, và cũng trẻ trung hơn thế; một sự trường tồn vĩnh cửu.

Trên đầu chúng ta lúc này là những tia trăng thỉnh thoảng len lỏi chiếu xuống, và trước mặt là đồng bằng cát trải dài tận những gò đất nhỏ cùng vách đá tí hon do gió tạo hình. Phía sau ta là dòng sông Nile rộng và nông, nơi ta nghe tiếng sóng nhỏ vỗ oàm oạp từng hồi, và tiếng nước khua như thể có chú cá nhỏ quẫy mình. Lác đác đó đây là những hàng cọ đơn độc.

Khắp nơi chẳng có bóng người, nhưng lại thoang thoảng hơi hướng của con người. Ta biết rằng có người ở những thành phố phía bắc ta, những nam thanh nữ tú đang nhảy múa trong những khách sạn lộng lẫy ánh đèn, những người đàn ông trên những con tàu viễn dương hướng về phía đông qua kênh đào do De Lesseps tạo nên, những người đàn ông ở phía nam đang quây quần bên đống lửa trại trong rừng sâu, những người đàn ông ở phía tây trên các đoàn lữ hành hướng về Timbuktu. Nhưng ngay tại đây, và quanh đây, tuyệt chẳng có một bóng người.

Mây bỗng tan ra một khoảng quang đãng trong tích tắc và ánh trăng chiếu rọi, để rồi ta nhìn thấy trên đồng bằng trước mặt một hội nghị muôn loài mà chỉ có Noah từng thấy khi ông đưa muôn thú trên thế gian lên con tàu lớn của mình, từng đôi một và từng bảy con một. Chúng tề tựu trong một buổi họp ngăn nắp, nhẫn nại và lặng thinh. Gấu có mặt ở đó, gấu nâu và cả chú gấu đen nhỏ bé. Những chú ngựa rừng, loài hươu với cặp sừng lớn tựa những cánh buồm, những chú hươu nhỏ trong công viên, họ nhà mèo với bộ lông mượt mà và đôi mắt xanh lục, chú cáo với chiếc đuôi xù, chú thỏ rừng gầy gò mắt trố, cùng những đứa con nhà thỏ mà lũ trẻ vẫn thường yêu mến. Tất cả đều tề tựu đông đủ.

Những con bò trên đồng cỏ cũng ở đó, điềm tĩnh và có vẻ ngốc nghếch. Cả con quái vật vĩ đại của dòng sông là hà mã, cùng sinh vật mang lớp giáp sắt với chiếc sừng trên mõm. Những con trâu rừng cuối cùng. Cả sinh vật nhảy vọt vĩ đại của xứ Australia mang con trong chiếc túi trước bụng cũng có mặt ở đó. Và cả bầy cừu ngoan đạo.

Phía sau đó là vô số những sinh vật nhỏ bé, những sinh vật có bộ lông mềm mại trong rừng thẳm, sẵn sàng chuồn đi khi có kẻ đến gần. Chúng đều có tất cả ở đó. Hết thảy, hết thảy đều lặng thinh, nhẫn nại, và có chút bối rối, người ta thầm nghĩ thế.

Phía trước hội nghị ấy, nhích lên trên và tách ra một chút, là một phái đoàn. Sư tử, kẻ đi lại thong thả vòng quanh với ngọn lửa căm hờn trong ánh mắt. Con hổ lớn mang hai màu đen và hổ phách, vẫn đứng yên ngoại trừ cử động đầy ý nghĩa của chiếc đuôi dài ngoẵng, và con voi, trông tựa như một tác phẩm điêu khắc khổng lồ. Cá sấu nằm dài trên cát, hệt như khúc gỗ đen bị sóng biển đánh dạt vào bờ. Gấu Bắc Cực cũng có mặt với đôi mắt chỉ là hai chấm đen. Ngựa đứng lặng im như trong chuồng. Và ngồi cạnh voi chính là chú chó.

Tất cả chúng đều có mặt ở đó, tụ hội vì một lý do huyền bí nào đó, giữa màn đêm Ai Cập, dưới ánh chiều tà mờ ảo của vầng trăng bị mây che khuất.

Và một tia trăng nữa lại chiếu xuống, ta thấy Thiên sứ của Chúa đã xuất hiện từ chốn nào và đang đứng trước mặt chúng ta.

Khi nhìn thấy Thiên sứ của Chúa, một trong những ảo tưởng thời thơ ấu của ta vụt tan biến. Ngài không phải là một pho tượng sáng ngời mang theo uy quyền và sự sợ hãi. Thật vậy, ngài có đôi cánh, một thanh gươm, chiếc áo bào trắng, và vóc dáng vượt trên người phàm. Nhưng mặt khác, ngài lại có một bộ râu đỏ rực, và những ngón tay chai sần. Vẻ ngoài của ngài ẩn chứa sự rụt rè và nhân hậu. Phảng phất quanh ngài là một nét thất vọng nào đó. Người ta có ấn tượng rằng thuở trước ngài thực sự là một vị thiên sứ rất vĩ đại, nhưng qua những thế kỷ sau này, ngài đã trôi dạt vào một chốn nước đọng tầm thường.

Nếu ngài là một con người chứ không phải thiên sứ, với bộ râu đỏ, những ngón tay chai sần và cung cách rụt rè ấy, ngài có lẽ sẽ là một lão nông kiểu cũ, người quan tâm đến mảnh đất của mình hơn là giá cả lúa mì, kẻ không cho phép bất kỳ chiếc máy kéo hay thiết bị cơ khí nào xuất hiện trên điền trang, và vẫn đặt trọn niềm tin vào đôi tay vững chãi của những người thợ cùng sức mạnh và sự khôn ngoan của loài ngựa. Ngài rõ ràng đang lúng túng và có vẻ không được tự nhiên cho lắm, và dễ dàng nhận thấy ngài quen với việc ngắm nhìn vết nứt trên móng ngựa, chăm sóc những con cừu cái ốm yếu, hay chăn dắt những chú chó vô chủ hơn là đối mặt với một bầu không khí căng thẳng đầy cảm xúc như lúc này.

Ngài rụt rè bước tới, vầng trán nhăn lại trong một nụ cười bối rối. Và chú chó cười đáp lại ngài, há chiếc miệng tươi cười và nguẩy đuôi. Ngựa phát ra tiếng hứ nhẹ. Nhưng những con còn lại vẫn lặng thinh. Voi nhìn ngài với một vẻ khinh miệt dịu dàng, còn cá sấu quan sát ngài bằng sự hoài nghi lạnh lùng của loài bò sát. Riêng sư tử hừng hực ngọn lửa căm hờn và hổ lạnh lùng đầy nguy hiểm với mối thù ấy. Chú gấu trắng lớn thì tỏ ra nghiêm nghị.

Thiên sứ của Chúa cất lời. Giọng ngài dịu dàng và lời nói ngập ngừng. Và ta chợt cảm thấy một nỗi kinh hoàng buốt giá khi nhận ra giọng điệu của ngài phảng phất chất Ireland. Không hẳn là Ireland miền Nam, cũng chẳng rõ là Ireland miền Nam hay miền Bắc—một giọng Ireland trung tính.

"Ồ, chà, đây là một chuyện lạ lùng, một chuyện quái gở, ta có thể nói thế.... Ta... ta hy vọng tất cả các ngươi đều khỏe chứ?"

Có tiếng sột soạt phát ra từ bầy sinh vật nhỏ bé phía sau phái đoàn. Và trong vòng tròn trước mặt thiên sứ, chú chó đang nguẩy đuôi, còn ngựa ngẩng cao đầu. Nhưng tất cả vẫn chìm trong im lặng.

Này nhé, ta cho rằng hẳn có điều gì đang canh cánh trong lòng tất cả các ngươi! Nào, hãy mau lên tiếng để ta nghe xem đó là chuyện gì. Không phải thời tiết đâu: thời tiết tuyệt đẹp cơ mà. Và cũng chẳng thể là mùa màng. Tối qua ta vừa nói chuyện với Thiên sứ Mùa màng, và có quỷ mới biết từ đêm cơn bão lớn tới giờ chưa bao giờ hắn thấy một mùa vụ nào khá hơn thế."

Ngài chẳng nhận được câu trả lời nào.

Sao bỗng nhiên các ngươi lại lủi thủi và e thẹn thế kia. Mà sao lại phải e thẹn với ta cơ chứ? Từ xưa đến nay có bao giờ có điều gì đứng giữa chúng ta kể từ khi ta được đặt lên cai quản các ngươi đâu nào? Và chẳng phải ta luôn là bạn của các ngươi hay sao? Giờ thì hãy để một kẻ trong số các ngươi lên tiếng đi. Còn ngươi thì sao?" Ngài quay sang phía sư tử. "Họ gọi ngươi là chúa sơn lâm cơ mà. Hãy thay mặt mọi người mà lên tiếng đi nào."

Xung quanh chúng ta lúc này là màn đêm huyền bí của xứ Ai Cập. Cát sống và cơn gió thoảng qua những gò đất nhỏ, cùng dòng Nile cổ kính ở phía sau. Nơi đây chính là cội nguồn của ma thuật. Và nơi đây cũng là nơi đầu tiên những vị á thần được sùng bái dưới hình hài muôn thú; hình hài của mèo, của cá sấu, và của bao loài khác. Và nơi đây chính là đài kỷ niệm của vị á thần, nhân sư Sphinx, kẻ mang nửa hình người nửa thú, là vẻ đẹp và sự kinh hoàng.

Và khi ta lắng nghe, muôn thú cất lời, và qua cơ chế con người của chúng ta, những rung động sâu thẳm ấy được chuyển hóa thành âm thanh loài người, vang lên tiếng của sư tử tựa như giọng của một nhân vật vĩ đại trong giống loài chúng ta đang cất lên trong cơn phẫn nộ. Và trong tiếng gầm trầm đục ấy, ta nghe được tiếng sấm rền:

"Nơi ta sống bên hồ nước lớn gần đây có sự xuất hiện của một con người." Sư tử cất lời! "Hắn là một kẻ buôn bán. Chân hắn vòng kiềng. Hắn hiếm khi cạo râu. Buổi sáng mắt hắn lờ đờ. Hắn nheo mắt trước ánh sáng xanh lục của bình minh."

"Và trong trảng cỏ xanh lục nơi hắn đến, hắn đã dựng lên một ngôi nhà. Hắn rải rác mặt đất bằng những cành cây bị bẻ vụn, những mảnh giấy, những chiếc hộp thiếc đã cạn sạch thức ăn của hắn. Gió chẳng thể làm sạch nơi đó, và mưa cũng chẳng thể gột rửa đi thứ ô uế ấy."

"Và suốt cả ngày, gã đàn ông này ngồi sau quầy hàng trong cửa hiệu nhỏ để buôn bán với người da đen, đổi dao, hạt cườm và vải vóc lấy những tấm da của muôn thú mà số mệnh đã định đoạt cho người da đen săn sát hại. Hắn còn cho chúng uống rượu của người da trắng."

"Và người da trắng uống thứ rượu của chính mình, rồi khi lòng hắn dâng cao ngất trời, hắn xách súng đi tìm ta—bởi hắn buộc phải tìm ta; ta và mọi sinh vật trong sạch của vùng đất này đều lánh xa hắn, bởi hắn chẳng có chút họ hàng nào với chúng ta."

"Và nếu hắn giết ta vì trò tiêu khiển của hắn, sư tử cái của ta sẽ xuất hiện và hắn cũng sẽ giết luôn nàng, thế thì những đứa con màu nâu vàng bé bỏng của chúng ta sẽ ra sao?"

"Tại sao con người này lại đến vùng đất trong sạch của chúng ta, làm mất đi vẻ đẹp của những thung lũng, và rình rập ta để hắn có thể khoe khoang với những gã bợm nhậu khác rằng: 'Ta đã giết chết chúa sơn lâm'?"

"Ừ! Ừ!" Thiên sứ tỏ ra bực bội. "Hắn đúng là làm cho cảnh quan trông thật tệ hại. Và ngươi nói phải, hắn thực sự săn đuổi các ngươi. Ta hiểu. Ta hiểu hoàn toàn, nhưng mà—"

Và lúc này hổ đã đứng dậy, tiếng gầm của nó vang lên rít lên, kèm theo một tiếng gừ nhẹ:

"Những kẻ đi ngược dòng Hooghly đến đây không hề để râu xồm xoàm mà cạo gọt sạch sẽ. Chúng là những gã đàn ông điềm đạm, uể oải. Chúng đến xứ này để mưu cầu lợi lộc. Chúng không buôn bán trong các tiệm tạp hóa, nhưng lợi lộc tự khắc tìm đến chúng. Chúng cai trị, và để đổi lấy sự cai trị ấy, những người da ngăm ở Ấn Độ phải cống nạp và đóng thuế."

"Và khi những kẻ uể oải từ bên kia đại dương cảm thấy mệt mỏi với việc cai trị, chúng kéo nhau đi tìm phiêu lưu. Chúng sai những người da ngăm bản xứ đi bộ vào rừng để đánh thức ta khỏi giấc ngủ trong thung lũng. Và chúng theo sau với súng ống nhắm vào người anh em voi của chúng ta, rồi khi ta bị dồn ra khoảng trống, đứng ngây dại dưới ánh mặt trời, chúng giương súng bắn ta từ trên lưng của người anh em voi."

"Và có phải vì điều này mà ta được sinh ra, được ban cho đôi mắt lục bảo tuyệt đẹp, bộ da màu hổ phách với những sọc đen vằn vện, cơ bắp mượt mà như lụa, và móng vuốt tựa dao găm, để rồi bị dồn đuổi khỏi khu rừng xanh ấm áp ra dưới ánh mặt trời chói chang và bị bắn hạ bởi những kẻ uể oải ấy hay sao?"

"Ầy, nào, các ngươi biết họ nói gì rồi đấy; nếu họ không bắn ngươi, ngươi sẽ bắn họ."

"Ta đã giết bao nhiêu mạng người, ngoại trừ lúc tự vệ? Chẳng lẽ việc rời khỏi những trảng cỏ mát lạnh dưới ánh trăng để mò đến những thành phố nóng bức giết người là trò tiêu khiển cho ta chắc? Nếu muốn chiến đấu, chẳng lẽ không có lợn rừng và người anh em voi đó sao? Và nếu muốn kiếm ăn, con người có ngon lành bằng chú nai con chăng?"

"Ừ, có rất nhiều điều đáng suy ngẫm trong đó. Thế còn lời phàn nàn của ngươi thì sao?" Ngài quay sang con voi được khắc tạc vĩ đại.

"Ta là kẻ khôn ngoan nhất, mạnh mẽ nhất và uy nghiêm nhất trong tất cả. Ta sống bằng những chồi non của cây cối, thỉnh thoảng đột kích mùa màng, nhưng ta chẳng giết bất cứ sinh vật nào trừ khi vì hoảng sợ hoặc tự vệ. Thuở trước chúng từng lùng sục ta tận những chốn thâm sơn cùng cốc chỉ vì chiếc ngà voi trắng muốt, và khi ấy hiểm nguy chực chờ. Tình thế khi đó là một mất một còn."

"Và giờ đây chúng dùng mưu kế để bẫy ta. Lũ voi nô lệ được huấn luyện để dụ dỗ những anh huynh đệ nơi rừng sâu ấm áp, cùng những chiếc bẫy để giam cầm chúng ta. Khi đã bắt được chúng ta, chúng bỏ đói chúng ta một cách tàn nhẫn. Chúng đưa chúng ta băng qua biển cả để đem đi triển lãm, và gã hề cùng kẻ nhà quê bỏ ra những đồng xu lẻ để ngắm nhìn kẻ khôn ngoan và mạnh mẽ trong cảnh xiềng xích. Rồi một gã béo trục béo tròn đút túi đồng tiền công từ chốn ngục tù của chúng ta. Phải chăng chúng ta được sinh ra để trở nên thông thái, nhân hậu và mạnh mẽ là vì điều này sao?"

Thiên sứ vô cùng lúng túng. Ngài nhìn sang phải rồi sang trái. Ngài quay sang gã gấu trắng lớn với vẻ nhẹ nhõm:

"Nào, chà, ngươi có điều gì mà phải phàn nàn cơ chứ? Chẳng có ai thèm bắn ngươi từ trên lưng con voi cả. Và cũng chẳng có gã nào mở tiệm tạp hóa ở nơi ngươi sống. Cho ông quỷ sứ tha hồ, chắc chẳng có mấy vị khách ghé thăm ngoài lũ mòng biển đâu. Và bất cứ khi nào ngươi bị bắn chết, đó hoàn toàn là lỗi của chính ngươi. Chính sự tò mò đã đưa ngươi đến nơi chúng có thể giương súng bắn hạ ngươi đấy. Nếu ngươi cứ quẩn quanh bên những tảng băng trôi của mình thì đã tốt hơn rồi. Quả thực, ngươi tận hưởng cuộc sống chẳng khác nào phu nhân nhà quý tộc. Thế quái nào mà ngươi lại mò đến đây?"

"Ta đến vì những chú hải cẩu bé bỏng, và người chị em cá voi của chúng ta. Chúng chẳng thể đi lại được. Và chúng đang lâm vào cảnh khốn cùng."

"Ta biết. Ta biết chứ. Quả thực, lòng ta đang quặn thắt vì chúng đây."

"Hải cẩu túm tụm trên những mỏm đá cùng bầy con. Chúng túm tụm và run rẩy, mỗi chiếc thuyền hiểm ác trên vùng biển Bắc Cực đều là một mối đe dọa. Trong khi biển thì rộng lớn, mà lực lượng tuần tra lại quá ít ỏi."

"Ta biết. Ta biết mà."

"Những con thuyền đen xuất hiện, cùng những kẻ mang súng trường."

"Ôi, nào, đừng nhắc nữa! Ta há lại không biết sao!"

"Và người chị em cá voi của chúng ta đang ẩn nấp trong những vùng biển đen ngòm—nàng kẻ từng chào đón ánh mặt trời mỗi sớm mai. Thế mà giờ đây hiếm khi xuất hiện—hồi xưa nàng rất thích phơi mình sưởi nắng như mèo. Nàng bị săn đuổi ngay trong chính đại dương của mình đến mức chẳng dám trồi lên phun những cột nước bốc hơi. Và xét về giống loài, họ nhà nàng rất mảnh mai, và chẳng mấy chốc sẽ tuyệt diệt thôi."

"Quả là một mất mát lớn lao và khủng khiếp. Nào, ta đang cố quên đi, thế mà ngươi lại cứ gợi nhắc. Còn ngươi thì sao?"

"Ta chẳng có điều gì phàn nàn cả," cá sấu thốt lên. "Chúng hiếm khi dùng súng bắn ta. Chúng cũng hiếm khi bắt được ta. Và lúc nào cũng có những đứa trẻ da đen nhỏ xíu tắm táp dưới sông Nile. Thuyền bè thì thường xuyên lật úp. Ta chẳng có gì phải phàn nàn," hắn cười nhạt.

"Ngươi có biết không—" giọng thiên sứ trở nên nghiêm khắc—"ta chưa bao giờ ưa ngươi. Và việc ngươi có ích gì trên trái đất này là điều vượt quá tầm hiểu biết của ta. Ngươi có biết không," ngài nói, "ta suýt chút nữa có ý định dùng chân đá cổ ngươi trở lại xuống sông đấy. Ta thật sự có ý đó đấy. Nào, đây mới là kẻ có điều phàn nàn." Ngài quay sang con ngựa. Nhưng ngựa chỉ lắc đầu.

"Không phàn nàn sao, trong khi ngươi là kẻ làm việc vất vả nhất trong tất cả! Còn đám quỷ lười biếng kia chẳng làm gì ngoài việc nằm dài phơi nắng. Thế còn cưng của ta thì sao?"

Chú chó cất lên một tiếng sủa vui mừng.

"Ngươi cũng chẳng có điều gì phàn nàn nốt."

"Chỉ có điều," chú chó nài nỉ, "là họ không nên rọ mõm con trong những ngày nắng nóng."

"Nào, các chàng trai—" thiên sứ lúng túng dùng đôi tay ra hiệu—"ta cho rằng tất cả các ngươi đều có điều phàn nàn chống lại con người. Ta suy ra rằng các ngươi phản đối việc hắn dùng súng bắn hạ mình, ngoại trừ trường hợp hắn được quyền tự vệ chính đáng. Và ta cho rằng người bạn voi của chúng ta cũng phản đối việc bị đem đi triển lãm. Nhìn chung, các ngươi phản đối thái độ hiện tại của con người. Thế bây giờ các ngươi muốn ta phải làm gì đây?"

"Chúng tôi muốn ngài," sư tử nói, "bảo Thượng đế bắt con người ngừng tấn công chúng tôi."

"Ồ, chà—" thiên sứ chuyển trọng lượng từ chân này sang chân kia—"chà, các ngươi vừa chạm đến một tình huống vô cùng tế nhị. Tất nhiên, về mọi vấn đề, các ngươi sẽ thấy Thượng đế rất nhân hậu—ta có thể nói là đến mức độ nào đó. Nhưng chủ đề về Con người lại hơi nhạy cảm một chút."

"Thượng đế, các ngươi biết đấy, rất quan tâm đến Con người. Ngài đánh giá rất cao con người, và Ngài có xu hướng để con người được tự do hành động theo ý mình."

"Thế nên việc Ngài có lắng nghe lời khiếu nại chống lại con người hay không, ta cũng không dám chắc nữa. Cá nhân ta mà nói, giữa ta và các ngươi, ta nghĩ làm như vậy có thể rất nguy hiểm."

"Nhưng ta sẽ nói cho các ngươi nghe việc này ta sẽ làm. Ta sẽ chờ đến một ngày đẹp trời nào đó khi họ bảo với ta rằng Ngài đang có tâm trạng vui vẻ, khi Ngài cảm thấy hài lòng vì con người vừa nghĩ ra một kế sách hay ho nào đó, hoặc vừa có phát minh mới, rồi khi ấy ta sẽ tiếp cận Ngài, một cách thật nhẹ nhàng và êm thấm."

"Phải, ta sẽ đưa vấn đề này ra vào một ngày nào đó, và xem mình có thể làm gì. Ta chắc chắn rằng nếu chộp được lúc Ngài vui vẻ, ta thế nào cũng làm được điều gì đó. Thế đã thỏa mãn các ngươi chưa?"

"Chưa thỏa mãn đâu!" cá sấu nghiến răng.

"Vậy thì, các ngươi muốn ta làm gì nào?"

"Chúng tôi muốn ngài," tiếng gừ rít của hổ vang lên, "hãy rời khỏi chúng tôi để đến gặp Thượng đế ngay bây giờ, trong đêm nay."

"Trời ạ! Hãy dùng cái đầu mà suy nghĩ xem nào! Các ngươi không biết mình đang đòi hỏi điều gì đâu. Chắc các ngươi nghĩ ta chỉ việc gõ cửa rồi bảo Thượng đế ra ngoài trò chuyện, thỉnh thoảng mời Ngài một nhúm thuốc hít, rồi hỏi thăm xem thời tiết có hợp với Ngài không đấy phỏng? Các ngươi có biết trái đất bé nhỏ này chỉ là một trong số hàng triệu hành tinh không? Tất nhiên là các ngươi không thể hiểu nổi điều đó rồi, bởi các ngươi chỉ là loài vật và chẳng có lý trí."

Có tiếng gì đó tựa như tiếng khịt mũi phát ra từ con voi. Thiên sứ của Chúa liếc mắt một cách rụt rè về hướng đó, nhưng không nói gì. Thiên sứ có phần hơi nể sợ con voi, hệt như một người mẹ đối với đứa con thiên tài của mình. Ngài bèn chuyển sang một vấn đề khác:

"Hơn nữa, chắc các ngươi nghĩ ở trển chỉ có vài vị thiên sứ chúng ta thôi sao—ta này, rồi Thiên sứ Thay đổi Mùa màng, Thiên sứ Mùa màng Đâm chồi, Thiên sứ Sông ngòi Suối nguồn, và Thiên sứ Năm Đại dương. Nào, để ta nói cho mà biết, ở đó có các tổng lãnh thiên sứ, có các quyền năng và thống trị, có các thần xê-rub và sê-raph, và chúa mới biết còn gì nữa. Thậm chí có những vị thiên sứ mà các ngươi chưa từng nghe tên bao giờ: nào là Thiên sứ Tiến bộ Giáo dục, Thiên sứ Điều kiện Kinh tế, và Thiên sứ Năng lượng Nguyên tử. Toàn là những tay siêu phàm—những thiên tài, có thể nói thế. Rồi còn Thiên sứ Nghệ thuật và Thủ công mỹ nghệ, một tên trông lôi thôi lếch thếch mà ta thèm mở miệng nói chuyện cùng."

"Rồi còn những vị thiên sứ người Anh, trông ai nấy đều vô cùng trịch thượng; thiên sứ người Ý thì bóng bẩy thấy mệt; thiên sứ người Nga thì lúc nào cũng thở dài than vãn và uống trà; còn thiên sứ người Mỹ, những chàng trai lanh lẹ có thể thuyết phục ngay cả một kẻ sắp chết rằng hắn chính là hiện thân của quỷ vương về sức mạnh và sự năng nổ. Trong khi ta chẳng là gì ngoài một gã nhà quê nghèo hèn chẳng biết gì ngoài muôn thú; các ngươi thấy đấy, ta tốt hơn hết là nên ngậm chặt cái miệng lại trong cái hội nghị kiểu đó."

"Ta sẽ nói cho các ngươi biết ta sẽ làm gì. Ta sẽ hoàn thành công việc thật sớm, rồi tìm cách la cà quanh những quảng trường và khu vườn trên thiên đường, và thế nào cũng có ngày Bản thân Ngài Đại Đế Cả sẽ đi ngang qua và Ngài sẽ nhìn thấy ánh lấp lánh từ bộ râu đỏ cũ kỹ của ta, rồi Ngài sẽ cho dừng các tổng lãnh thiên sứ cùng các quyền năng thống trị lại, và bước đến, bởi Ngài vốn vô cùng nhân hậu."

"'Ngươi trốn đi đằng nào suốt bấy lâu nay thế, Michael John?' Ngài sẽ hỏi thế. 'Và đám cưng của ngươi dạo này thế nào rồi?'"

"'Chúng khỏe lắm ạ, thưa Ngài. Chúng tuyệt vời lắm,' ta sẽ đáp. 'Quả thực, chúng sung sướng chẳng kém gì hoàng hậu—chỉ ngoại trừ chút rắc rối cỏn con không đáng nhắc tới.'"

"'Và rốt cuộc là điều gì đang làm phiền lòng ngươi vậy, chàng trai tội nghiệp của ta?'"

"'Chẳng đáng để làm phiền đến Đấng Tối Cao của Ngài đâu ạ. Không đáng đâu ạ!'"

"'Khai mau ra nào, Michael John!' Bản thân Ngài sẽ nói thế."

"'Chỉ là bầy con bé bỏng của con, thưa Ngài, đang vô cùng lo lắng vì bị con người săn đuổi ráo riết quá, và nếu Ngài có thể chỉ đạo hắn nương tay một chút thôi'—và ta sẽ kể cho Ngài nghe mọi điều các ngươi vừa nói."

"Đó chẳng phải là một kế hoạch tuyệt vời sao? Đó chẳng phải là một diệu kế toàn diện hay sao?"

"Chúng tôi thấy nó thối tha thì có!" cá sấu nhai trệu trạo nói.

"Chà, đó là tất cả những gì ta có thể làm," thiên sứ bảo chúng. "Nếu các ngươi có kế hoạch nào khá hơn..."

"Chúng tôi đã quyết định," giọng sư tử trầm đục vang lên, "rằng nếu ngài chẳng làm được gì, thì chúng tôi sẽ tự làm. Chúng tôi có thể rình mò con người hệt như cách hắn rình mò chúng tôi. Chúng tôi sẽ không đợi hắn xuất hiện nữa; chúng tôi sẽ giáng xuống đầu hắn. Chúng tôi sẽ mai phục hắn trên đường đi. Ta sẽ đến các ngôi làng cùng bầy đàn của mình và những con báo đốm có tiếng gừ như tiếng trống trận, cùng loài rắn rít vằn vện; và tê giác sẽ lộc cộc giẫm đạp qua các đường phố, còn con mãnh thú sông ngòi sẽ không còn tránh né những chiếc thuyền mỏng manh của hắn nữa mà sẽ chủ động săn tìm chúng."

"Và người anh em voi của ta sẽ nghiền nát hắn dưới đôi đầu gối khủng khiếp của mình," hổ gầm rít lên, "và giày xéo những ngôi nhà nhỏ bé của hắn. Lợn rừng với cặp ngà sắc tựa dao găm sẽ lao vào hắn từ dưới mặt đất. Và từ trong rừng sâu ta sẽ bước ra dưới ánh trăng, để rồi khi bình minh ló dạng, sẽ chỉ còn những tiếng khóc than vang lên, nếu như còn kẻ nào sống sót để mà khóc than, và những sinh vật có cánh nhỏ bé trong rừng rậm sẽ tấn công hắn suốt ngày đêm, nỗi kinh hoàng sẽ bao trùm khắp xứ sở."

"Và nỗi kinh hoàng cũng sẽ bao trùm cả đại dương," gấu trắng tiên tri. "Người chị em cá voi của chúng ta sẽ không còn bỏ chạy mà sẽ chiến đấu, những cánh buồm trên tàu sẽ run rẩy và mạn thuyền sẽ rách nát. Chúng ta sẽ đẩy những tảng băng trôi vào con đường của những con tàu sắt. Hàng triệu triệu con cá trích và cá tuyết sẽ giúp sức. Cá kiếm sẽ đánh chìm những chiếc xuồng cứu sinh. Và từ trong độ sâu xám thẳm của biển khơi, con quái vật biển sẽ trỗi dậy, những chiếc xúc tu dài tìm kiếm của nó sẽ vắt qua mạn thuyền—"

"Ồ, các con ơi, hỡi những đứa con thân yêu!" thiên sứ nài nỉ.

"Và những người họ hàng loài chim của chúng ta sẽ giúp sức," sư tử tiếp tục bài kinh cầu. "Đại bang và diều hâu với sức mạnh của chúng, và thậm chí cả những chú sẻ nhỏ với số lượng đông đảo. Chúng sẽ vỗ cánh tấn công, chúng sẽ mổ bằng chiếc mỏ sắc nhọn, hỡi muôn vàn thần dân của bầu trời."

"Và từ phương Bắc," hổ hứa hẹn, "bầy sói sẽ kéo ra với đôi mắt đỏ ngầu, những chiếc răng nanh chảy dãi, và chú cáo cũng sẽ nổi dậy với hàm răng sắc như răng chó."

"Và muôn thú ngoài đồng cỏ sẽ nổi dậy," gấu tiếp lời, "những con bò nhẫn nại, cừu và dê, những chấn động của chiến trận sẽ gieo rắc sự hoảng loạn vào loài ngựa khiến nó phá vỡ dây cương bằng những móng guốc và đập nát đầu con người. Sự hỗn loạn sẽ khiến chú chó phát điên, để rồi nó sẽ tấn công chính những kẻ nó yêu thương."

"Vì Chúa, hỡi những đứa con thân yêu, các ngươi chịu ngừng xé nát trái tim ta chưa!"

"Cái chết và sự kinh hoàng trên cạn!" sư tử tiên tri.

"Cái chết và sự kinh hoàng ngoài biển!" gấu trắng lớn hứa hẹn.

"Hỡi các con yêu, các ngươi chịu để ta giảng giải cho nghe một chút lý lẽ không? Các ngươi chịu lắng nghe ta trong giây lát chứ?" thiên sứ nài nỉ. "Ta hỏi điều này vì chính lợi ích của các ngươi thôi mà. Các ngươi có chịu nghe không?"

"Rồi chuyện gì sẽ xảy ra với các ngươi nếu làm tất cả những điều này?"

"Các ngươi không biết rằng con người sẽ kéo đến chống lại các ngươi bằng mọi thứ vũ khí và thiết bị cơ khí của hắn, bằng khí độc và ngư lôi, rồi xóa sổ các ngươi khỏi bề mặt trái đất của chính mình sao? Hỡi các con thân yêu, các ngươi chẳng có chút khái niệm nào về việc hắn là một tên khủng khiếp thế nào đâu. Bản thân ta đây, dẫu là thiên sứ đi nữa, mỗi khi nhìn thấy mấy tên đó phóng bạt mạng trên xe hơi của chúng, ta đều nhảy nép qua một bên như thỏ đế, thật đấy. Và rất nhiều lần chân ta vẫn còn run lẩy bẩy suốt mấy tiếng đồng hồ sau đó. Ta nói thật đấy không giỡn đâu. Hắn sẽ giết các ngươi chắc chắn đấy, hỡi các con thân yêu ơi."

"Hắn sớm muộn gì cũng giết chúng tôi thôi," voi cất giọng lanh lảnh. "Hôm nay, ngày mai hay một thế kỷ sau thì có khác gì nhau? Đằng nào chúng ta cũng chết. Thế còn con hươu sừng tấm Ireland với cặp sừng tựa cờ xí, từng kiêu hãnh biết bao trên những thảm cỏ xanh kia thì sao? Thế còn con trâu rừng vĩ đại, chúa tể của những đồng bằng?—nó đang ở đâu? Nếu phải chết, hãy để chúng ta chết cùng nhau, vai kề vai chiến đấu!"

"Hơn nữa, biết đâu các ngươi còn gặp phải thứ tồi tệ hơn cả con người ấy chứ."

"Cái gì có thể tồi tệ hơn con người?"

"Biết đâu chính Thượng đế sẽ giáng xuống chống lại các ngươi, biết đâu đấy," giọng thiên sứ hạ xuống thành một lời thì thầm đầy thiêng liêng; "biết đâu Ngài sẽ hé lộ khuôn mặt của mình!"

Một làn sóng kính sợ hoặc kinh hoàng lan truyền trong bầy thú. Đám đông lặng thinh phía sau những kẻ phát ngôn xào xạc như lá cây. Sư tử cất lời:

"Ngay cả điều đó chúng ta cũng dám đương đầu, nếu không thể đòi lại công lý."

Trong chốc lát, chúng nhìn nhau trong sự căng thẳng đầy kính sợ. Lũ thú sợ hãi, thiên sứ cũng sợ hãi. Người ta có cảm giác chúng đang hoảng sợ trước sự táo tợn của chính mình, và đang chờ đợi tiếng sấm báo thù của Thượng đế. Thiên sứ lấy lại can đảm. Ngài phát ra một tiếng cười nhỏ đầy lo lắng.

Nào, bây giờ chúng ta ở đây, hỡi những đứa con bé bỏng thân yêu của ta, lại đang cư xử ngốc nghếch như mọi khi; để cảm xúc lấn át lý trí. Cứ như thể các ngươi đang ở trong một cuộc mít tinh chính trị vậy, với những bản tuyên ngôn và tối hậu thư được đưa ra, rồi lại đòi chết cho bằng được."

"Nào chúng ta hãy quay lại với thực tế. Hãy xem xét những gì chúng ta đang có trong tay, và rút ra kết luận."

"Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng chúng ta có mặt ở đây là nhờ sự thông thái của Thượng đế, và khi đã ở đây theo cách thông thái đó, chúng ta hoàn toàn tuân theo mong muốn của Ngài dưới mọi hình thức. Ngay cả lão Đi-qua-qua-lại-dưới-đất này—" ngài nhìn cá sấu—"cũng biết điều đó."

"Bây giờ, từ những gì ta nghe được từ các vị thiên sứ ở tầng cao hơn,—từ họ, ta xin nói cho các ngươi biết, những kẻ nắm rõ tường tận mọi chuyện bên trong,—Thượng đế có ý định tạo ra từ con người một sinh vật hoàn hảo. Ngài dự định kết hợp sự dũng cảm của ngươi—" ngài quay sang sư tử—"và sự khôn ngoan của ngươi—" hướng về voi—"với sắc đẹp của ngươi"; ngài đang nhắm vào con hổ.

"Còn ta thì sao?" cá sấu nhai trệu trạo.

"Och, mặc kệ ngươi chứ! Con người," ngài tiếp tục với giọng điệu ra điều giáo điều, "về bản chất là một sinh vật của sự tiến bộ. Hắn là sinh vật duy nhất biết xây nhà—"

Từ phía sau vang lên một tiếng chít lanh lảnh của con hải ly.

"Ý ta là những ngôi nhà có các phòng ốc—"

Có tiếng vo ve giận dữ của bầy ong.

"Ý ta là thế này: những ngôi nhà có lò sưởi, có nồi niêu xoong chảo và đủ thứ linh tinh. Không ai trong chúng ta có thể phủ nhận," ngài kết luận một cách yếu ớt, "sự tiến bộ to lớn của con người."

"Ta phủ nhận điều đó," sư tử phẫn nộ quát lên. "Làm sao ta có thể quên được những đạo quân da đen vĩ đại ở miền Nam, những con người lấp lánh với vòng tay bằng bạc và ngọn giáo ngắn sắc bén? Ngay cả ta mà họ cũng chẳng sợ hãi, những con người ấy! Tiếng trống của họ vang vọng khắp đồng cỏ và đồng bằng. Họ chỉ xin đất đai những gì họ cần cho cuộc sống tốt đẹp của mình. Và khi săn bắn, họ săn bắn một cách sòng phẳng. Họ đọ sức mạnh của mình với tốc độ của chúng ta. Đọ sự hiểu biết của họ với sự hiểu biết của chúng ta. Và ban đêm họ ca hát, nhảy múa dưới ánh trăng."

"Và giờ đây họ là những tá tùng làm thuê cho những kẻ từ bên kia đại dương đến. Họ không còn sạch sẽ như trước nữa. Những thân hình từng trần trụi và lấp lánh nay bị đóng cặn bùn và che phủ bởi những mảnh giẻ rách. Và một số người trong số họ bị đẩy xuống tận cùng lòng đất, bị tước đoạt ánh sáng mặt trời và ánh trăng mà họ sinh ra để được tận hưởng. Họ đào kim cương cho những kẻ chẳng bao giờ thỏa mãn với ánh sáng lấp lánh của các vì sao. Và những kẻ từng chiến đấu với ta ngoài bãi chiến trường bằng ngọn giáo nay lại lẩn lút với khẩu súng trên tay."

"Ta nhớ một nước Ấn Độ từng tồn tại," hổ gầm lên, "một vùng đất của các vị rajah và đền đài, của những vũ công da ngăm và những người thổi sáo nhỏ. Họ trồng mía xanh, và bông để có thể kéo sợi trên những cỗ xe bằng gỗ lớn. Thợ thủ công của họ gò đồng thau thành những hình thù cổ xưa kỳ lạ. Và họ sùng bái Thượng đế bằng tiếng ca tiếng hát cùng điệu múa trong những ngôi đền mát rượi."

"Các vị rajah giờ là gì, những kẻ từng là kỳ quan của thế giới, nếu không phải là những vị hoàng tử nô lệ nhỏ nhoi? Và các ranee—những bà hoàng da màu quế với những chiếc chuông bạc nhỏ xíu trên những ngón chân chúm chím như nụ hoa—chẳng qua chỉ là những người phụ nữ bản xứ bị khinh miệt? Các khu chợ có còn ngập tràn những món đồ thủ công kỳ lạ của thợ rèn nữa không? Không, mà ngập tràn những thứ đồ trang sức lòe loẹt của phương Tây. Và những gã mặc đồ đen tìm cách lôi kéo họ rời khỏi các vị thần bản xứ bất diệt. Cùng lúc đó, cỗ máy chiếu những bức ảnh do bọn hề múa rối tạo ra lại đang chống lại âm nhạc, điệu múa và tiếng chuông đền."

"Vẻ đẹp mà ta đại diện đang dần phôi pha."

"Ở Burma, nơi ta xuất thân," con voi lên tiếng, "có những khu rừng rậm sâu thẳm hơn cả rừng rậm châu Phi hay rừng Ấn Độ. Những cây cổ thụ phủ đầy rêu phong, những đóa hoa sặc sỡ, và những dòng sông nâu cuồn cuộn chảy ra biển. Người dân ở đó đẹp như phụ nữ, và phụ nữ thì đẹp như những đóa hoa."

"Thuở trước họ chèo thuyền độc mộc màu đen lướt đi trên dòng sông nâu vĩ đại. Họ thắt những chiếc khăn rực rỡ và ngậm một đóa hoa trên miệng hoặc cài hoa trên mái tóc. Họ khua chèo dưới bóng râm của những tán cây lớn. Và khi nhìn thấy ta, họ bày tỏ lòng thành kính, nói rằng: 'Chúa tể của chúng ta, ngài voi!' Họ tấu lên những khúc nhạc ngọt ngào, da diết bằng những ống sậy nhỏ."

"Và giờ đây những cây cổ thụ vĩ đại đang bị đốn hạ, trôi nổi trên bề mặt những dòng sông nâu đang oằn mình đau đớn. Sự yên bình của rừng rậm bị xáo trộn bởi tiếng ho khục khặc của xuồng máy, và dầu nhớt loang lổ làm nặng nề những mùi hương ấm áp của rừng sâu. Những người đàn ông đẹp như phụ nữ nay khoác lên mình những bộ y tế trắng bẩn thỉu; những thân hình tròn trịa như trẻ thơ của những người phụ nữ da ngăm oằn mình trong đống quần áo lùng bùng. Và khi ta bị phát hiện, người da trắng liền hỏi xin, đòi hỏi sự trợ giúp của những người đàn ông da ngăm nhỏ bé để săn lùng ta—những kẻ từng tỏ lòng thành kính với ta—và ta dường như chẳng còn được nghe thứ âm nhạc ngọt ngào da diết nào nữa."

"Từ dòng sông tĩnh lặng, ta từng nhìn thấy những chiếc sà lan rực rỡ của các đời Pharaoh lướt đi dưới những mái chèo của nô lệ da đen. Đầy màu sắc, uy quyền và trang nghiêm. Và các tư tế đầu trọc cất tiếng tụng kinh mỗi khi trăng thay đổi. Từ sa mạc Sahara, các bộ lạc sa mạc mang cống vật và kho báu đến Ai Cập, những người đàn ông cưỡi ngựa trắng mang lều đen. Cùng những con lạc đà một bướu và lạc đà hai bướu trĩu nặng tiếng chuông lục lạc. Các vị vua dựng lên những kim tự tháp, và đám đông người đàn ông đông như kiến cỏ lắng nghe lời cầu nguyện vĩ đại mang đậm tình huynh đệ vào lúc bình minh. Họ để lại nhân sư Sphinx để biểu thị cho sự huyền bí của mình. Và Cleopatra, hiện thân tái sinh của Lilith, đã đem thành Rome ra chơi đùa như một con búp bê."

"Tất cả những điều đó ta đều đã chứng kiến: phép thuật của vị đại vương Moses, cuộc trốn chạy của Vị Chúa Nhỏ xứ Galilee; những vị Pharaoh xức đầy nước hoa; những vị tư tế áo vàng đầy nham hiểm; những người thợ xây chai sần trong lời cầu nguyện bí mật; và Cleopatra da ngăm màu quả mọng, lộng lẫy tựa ngọc ngà, độc địa như loài rắn; cùng người thợ điêu khắc đang miệt mài bên bức tượng Sphinx."

"Và giờ đây khách du lịch đến bóc lớp băng quấn các vị vua vĩ đại, những kẻ buôn bán nhỏ mọn mặc cả ngay tại chốn mà xưa kia đoàn xe của các hoàng tử thương nhân thành Tyre từng đi qua, và chúng ta sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy một Cleopatra nào nữa."

"Nhưng ta không hề phàn nàn. Con người ngày nay bơi không giỏi bằng thời xưa, và cũng chẳng thể điều khiển thuyền bè vững vàng bằng."

"Ta chẳng biết gì về các vị Pharaoh rực rỡ," gấu trắng lớn lên tiếng, "cũng chẳng biết gì về các nữ hoàng Ấn Độ. Ở phương Bắc chẳng có vua chúa hay thợ xây nào cả, chỉ có ngày và đêm, băng giá, và một cộng đồng nhỏ bé. Mùa hè có ánh mặt trời rực rỡ, ánh sáng trắng ngần, những thảm cỏ xanh tươi trong chốc lát, tiếng gầm vang của những tảng băng nứt vỡ; còn mùa đông chẳng có mặt trời mà chỉ có ánh cực quang bùng cháy và những dặm trắng ngút ngàn!"

"Và cộng đồng người da ngăm nhỏ bé khi ấy từng rất hạnh phúc. Trong những đêm dài họ cất tiếng ca, cúi đầu sùng bái các vị thần ẩn trong tảng đá hay dòng suối, rồi chèo những chiếc xuồng kayak nhỏ bé ra vùng biển Bắc Cực để săn loài hải mã vĩ đại uy nghiêm, hoặc lao đi trên những chiếc xe trượt tuyết băng qua những vùng hoang mạc vô định. Họ là một dân tộc dũng cảm, một dân tộc khỏe mạnh."

"Rồi những con thuyền xuất hiện để săn đuổi người chị em cá voi của chúng ta, chính những con cá voi đã dạy cho cộng đồng người da ngăm nhỏ bé sự tiến bộ, và giờ đây đi đâu người ta cũng thấy họ xảo quyệt, đồi trụy, ngập chìm trong tội lỗi, rồi một căn bệnh dịch khủng khiếp khiến họ ho ra máu, suy kiệt tàn tạ và chết đi."

Tất cả nhìn sang con ngựa, nhưng ngựa vẫn im lặng.

"Hãy nhìn ngược lại vào những nếp gấp của ký ức," sư tử gợi nhắc. "Hãy nhìn lại cho thật kỹ! Ngươi không thể nhớ những cuộc đua vĩ đại trong rạp xiếc La Mã sao? Hãy lắng nghe một chút! Ngươi không thể nghe thấy tiếng kèn của Agincourt hay sao?"

"Và ngươi, em trai nhỏ—" gấu quay cái đầu nặng nề của mình về phía chú chó—"chẳng phải đã từng có thời gian ngươi nằm sưởi trước đống lửa trong một sảnh đường rải đầy cỏ sậy đó sao? Thế mà giờ đây những ngôi nhà lại quá nhỏ bé. Họ bảo với ta—ta không rõ lắm. Và chẳng phải đã từng có lúc ngươi chạy sủa vang đầy vui sướng bên cạnh con người trên lưng ngựa của hắn hay sao? Và giờ đây ngựa đã lỗi mốt rồi phải không, người anh em nhỏ bé?" Những chiếc xe chạy quá nhanh so với đôi chân ngắn ngủi của ngươi."

Lại một khoảng lặng bao trùm, và thiên sứ nhìn chúng với vẻ mặt đầy thương cảm.

"Ta ước gì Thượng đế cho ta vài tên thông thái ở đây để tranh luận với các ngươi. Dù sao đi nữa, từ trước đến nay ta chưa bao giờ giỏi tranh luận cả, vì có được học hành gì đâu. Nhưng để ta nói cho mà nghe, có những vị thiên sứ có thể chứng minh cho các ngươi thấy rằng tất cả các ngươi đều đã sai. Ta ước gì họ đến đây và trò chuyện với các ngươi, nhưng ta không nghĩ họ lại quan tâm lắm đến chúng ta và những chuyện cỏn con này. Tuy nhiên—nhưng còn âm nhạc thì sao," ngài ấp úng gợi ý, "và thơ ca? Ừ, cả thơ ca nữa chứ."

"Nói về âm nhạc—" voi hếch chiếc vòi lên với vẻ khinh bỉ—"thứ âm nhạc nào hắn có thể tạo ra sánh được với loài chim vào mùa hè—khi mặt trời lặn, mỗi chú chim cất lên một khúc ca riêng biệt, hòa quyện thành một bản giao hưởng ngập tràn sắc màu dịu nhẹ, kèm theo tiếng sóng vỗ rì rào và tiếng lá cây xào xạc trong làn gió chiều buông?"

"Ừ, nhưng còn thơ ca thì sao."

"Cần phải có thơ ca," sư tử gầm vang, "nhiều thơ ca hơn mức có thể được viết ra trên đời này, mới bù đắp nổi cho việc làm xấu đi của trái đất. Những vách đá hùng vĩ bị làm cho ô nhục bởi những ngôi nhà tầm thường, những trảng cỏ lộng lẫy bị tàn phá chỉ để đường ray tàu hỏa chạy qua. Cửa sông bị làm cho vẩn đục bởi xỉ than của các nhà máy. Những cây cổ thụ cao quý bị đốn hạ không thương tiếc. Phải trả bao nhiêu sử thi cho cái chết của một khu rừng lớn hả người chăn cừu? Phải trả bao nhiêu bài thơ trữ tình cho một cái cây nơi những chú chim non ngây thơ từng làm tổ?"

Thiên sứ buông thõng hai tay một cách đột ngột.

"Các ngươi thắng rồi," ngài nói. "Các ngươi đã đánh bại ta!"

Ngài xốc lại quyết tâm, đứng thẳng người hết cỡ, và bỗng chốc toát lên một vẻ cao quý.

"Nào, quyết định thế nào đây?" ngài hỏi. "Các ngươi sẽ theo kế hoạch của ta, hay khăng khăng đòi ta đi ngay lập tức?"

"Chúng tôi khăng khăng đòi đi."

Ngài ngập ngừng trong giây lát.

"Được thôi. Ta sẽ đi," ngài nói. "Ta sẽ đi."

Ngài đảo mắt nhìn khắp hội nghị. Bất chấp quyết định và vẻ kiên định vừa rồi, một cảm xúc mãnh liệt đang dâng trào trong lòng ngài.

"Nào, trước khi đi, để ta dặn dò vài điều cho một số ngươi. Này Philip—" ngài quay sang gấu—"hãy mau chóng quay về phương Bắc nhanh nhất có thể đi. Tội nghiệp ngươi, chắc ngươi sắp chết ngột vì cái nóng này mất thôi, trong khi lại mang trên mình bộ lông dày xứ Bắc Cực. Ngươi sẽ cảm lạnh mà chết ở đây mất. Còn ngươi nữa," ngài cảnh báo cá sấu, "đừng có bướng bỉnh thế chứ, hãy là một cậu nhóc ngoan nào! Cứ ở yên dưới nước, ngươi sẽ ổn thôi. Chỉ khi ngươi mò lên cạn, họ mới có thể săn đuổi ngươi được. Còn những người bạn hải ly bé nhỏ của ta đâu rồi—họ ở đâu nhỉ? Hỡi các con, các ngươi có nghe ta nói không?"

"Nhưng tất cả chuyện này là sao chứ?" voi hỏi.

"Chỉ là ta sợ mình không quay trở lại nữa thôi."

"Nhưng sao ngài lại không quay về?" sư tử gầm gừ.

"Och, chỉ là một linh tính thôi mà. Bầy hải ly có ở đó không hở giời?"

"Không, đợi chút đã!" Hổ đã vùng đứng dậy. "Tôi muốn nghe thêm về chuyện này. Ý ngài linh tính là sao? Ngài không định bỏ chúng ta đấy chứ?"

Có một sự náo động nhanh chóng, một tiếng rùng mình khẽ khàng lan qua tất cả loài thú ở phía sau.

"Nào, chà—" thiên sứ bối rối—"đây là một sứ mệnh khó khăn đang chờ ta phía trước, và kết cục của chương truyện này ra sao thì chẳng ai biết được. Ta đi tranh luận với Đấng Tối Cao, đòi lại quyền lợi cho các ngươi, rồi Ngài nổi giận với ta—chẳng thể lường trước điều gì đâu. Thế nên để cho chắc ăn, ta cứ nói lời tạm biệt với các ngươi ngay bây giờ cho rồi. Biết bao giờ phút vui vẻ chúng ta từng trải qua khi mùa xuân đến, bao nhiêu ngày tháng nhỏ bé chúng ta gắn bó bên nhau khi mùa đông gầm thét qua bầu không khí giá lạnh."

"Nhưng Ngài có bao giờ nổi giận đâu, phải thế không? Ngài lúc nào cũng ôn hòa mà."

"Ồ, hỡi các con thân yêu, các ngươi biết gì đâu! Các ngươi đều biết Gã Đàn Lông Đen đó chứ, mỗi khi cảm thấy cơn gió lạnh từ sự xuất hiện của hắn, các ngươi đều co giò chạy trốn. Hắn từng là một vị thiên sứ, người vĩ đại nhất trong tất cả. Lucifer, họ gọi hắn thế, ta từng nghe các vị thiên sứ già kể lại như vậy, và từ ngữ tiếng Hebrew hay đại loại thế dùng để chỉ Đấng mang lại ánh sáng, một vị thiên sứ lộng lẫy biết bao. Nhưng rồi một ngày nọ, hắn và một số tay chân bắt đầu tranh cãi với Đấng Tối Cao, và khi những lời còn chưa kịp thốt ra hết khỏi miệng thì chúng đã rơi tõm qua khoảng không xanh thẳm của các vì sao, bị kết án chịu ngọn lửa địa ngục vĩnh hằng. Các ngươi chắc chắn đã tự mình nhìn thấy chúng vào đêm Hallowe'en, khi chúng gầm rú khắp thế gian và réo rắt muốn xé toạc bầu trời rồi đấy thôi."

Một tiếng rên rỉ kinh hoàng chạy dọc qua đám đông muôn thú. Chú chó ngẩng đầu lên và hú dài.

"Và vị á thần bé nhỏ mà chúng ta đều biết, kẻ mang cặp sừng dê, kẻ thổi sáo trong những thung lũng mùa xuân—hắn chắc chắn từng là một vị thiên sứ. Nhưng có điều gì đó đã chống lại hắn, và giờ đây hắn chẳng dám lộ diện trên thiên đường hay trần gian, mà phải ẩn mình trong những tán cây hoang dã như một chú sóc."

Và một thoáng rùng mình đầy thương cảm dấy lên.

"Ừ, và còn những kẻ khác nữa. Có một đám những gã liều lĩnh sống vào thời kỳ trước trận lụt—hoặc sau nó; ta chẳng nhớ rõ nữa—và chúng từ thiên đường đến để tán tỉnh những người con gái của loài người, những phụ nữ tuyệt vời làm sao vào thời đại đó. Và Chúa Trời đã nghe thấy chuyện đó, Ngài đứng dậy nhìn họ, và chỉ phán đúng một từ. Kể từ đó chẳng ai còn nghe tung tích gì về họ nữa. Phút trước họ còn ở đó, phút sau chỉ là sự trống rỗng."

"Hãy nhớ cho kỹ, ta không hề nói chuyện tương tự sẽ xảy ra với mình đâu, vì Bản thân Ngài luôn đối xử tử tế với ta. Lúc nào cũng là 'Ngươi khỏe không, Michael John?' và 'Ngươi không bao giờ chịu nghỉ ngơi chút nào sao?' cùng 'Có dịp ta sẽ phải dành một ngày ghé xuống thăm ngươi và bầy trẻ mới được!' Nhưng chỉ là, nếu ta không trở về, đừng vội nghĩ rằng ta đã kiếm được công việc béo bở hơn. Quả thực, ta sẽ chẳng bao giờ bỏ rơi các ngươi đâu, những cưng bé bỏng của ta ạ. Chỉ là có lẽ ta đang chịu chút kỷ luật nào đó thôi."

"Tôi nghĩ rằng—" giọng voi có vẻ khàn đặc ở cổ họng—"kế hoạch của chính ngài có lẽ là tốt nhất—chờ đợi cơ hội rồi nhẹ nhàng gợi ý."

"Tốt hơn là đừng nói gì sất," sư tử gầm gừ.

"Không, các con thân yêu; ta nghĩ cứ tiến hành thì hơn. Ta phải thú nhận rằng việc không dám đi ngay từ đầu là sự nhút nhát của ta. Ta chỉ mải nghĩ đến bộ da già cỗi của mình, và ta thật nên cảm thấy hổ thẹn vì điều đó mới phải. Chắc chắn rồi, việc đòi lại sự công bằng chẳng có gì là hổ thẹn cả, trong khi các ngươi đã phải chịu đựng biết bao cay đắng. Ta sẽ đi."

"Không, không, không!" lũ thú kêu la thảm thiết.

"Không, kế hoạch của chính ngài mới là khôn ngoan," voi nài nỉ. "Nếu có chuyện gì xảy ra với ngài, chúng tôi sẽ ra sao?"

"Phải, chúng tôi sẽ ra sao chứ?" bầy thú nhỏ cất tiếng khóc than.

"Các ngươi thực sự nghĩ kế hoạch của ta khôn ngoan hơn sao? Các ngươi không nói thế chỉ để cứu ta khỏi phiền phức đấy chứ?"

"Chúng tôi không có ý đó," sư tử nói. "Tất nhiên là không rồi," hổ bồi thêm.

"Cứ lồng một vài câu vào khi có cơ hội là được," voi góp ý.

"Thành thật mà nói, làm vậy là tốt nhất." Thiên sứ thở phào nhẹ nhõm. "Ta có thể nói về lòng trung thành của các ngươi; và tất nhiên, ta có thể nhắc Ngài nhớ về đàn bò từng che chở cho Vị Thân Nhân Nhỏ Bé ở Bethlehem, và chú lừa từng kiêu hãnh cõng trọng lượng của Ngài; ta cũng sẽ nhắc Ngài rằng từ trước đến nay ta chưa từng xin xỏ một ân huệ nào, và nếu Ngài có thể châm chước..."

"Chà," voi lẩm bẩm trong miệng, "tôi phải quay về Burma đây."

"Tôi đi cùng đường với anh," hổ nói.

"Chẳng có gì giữ tôi ở lại đây nữa," sư tử bảo.

"Ta vô cùng biết ơn tất cả các ngươi—" thiên sứ ngượng ngùng vì quá xúc động—"vì đã không khăng khăng ép buộc. Và ta thật may mắn," ngài nói, "khi được đối phó với những con thú tử tế thay vì con người. Bởi con người thể nào cũng khăng khăng bắt ta đi cho bằng được, và chẳng thèm bận tâm đến việc quái quỷ gì sẽ xảy ra với ta đâu."

"Ừ, con người đấy!" gấu trắng lớn mỉa mai.

"Vì Chúa, Philip, anh có chịu cút về nhà tránh xa chốn này trước khi tôi phải phát mệt vì chăm sóc anh không! Còn ngươi nữa, Lão-đi-dưới-đất, hãy quay về sông ngay lập tức nếu không ta sẽ dẫm nát cái đuôi ngươi đấy. Đi mau lên! Biến đi cho khuất mắt ta!"

Có tiếng sột-sột-sột vang lên trên mặt cát khi bầy thú tản ra, kẻ đi hướng đông, người hướng bắc, tây và nam. Thiên sứ đứng dõi theo bóng chúng khuất dần. Chỉ còn lại ngựa và chó, ngựa dùng mõm khều nhẹ lên vai ngài, còn chó áp chiếc mũi lạnh ngắt vào lòng bàn tay ngài.

"Och, những đứa con cưng của ta!"

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.