Đứa Trẻ Bị Đánh Tráo Và Những Truyện Ngắn Khác

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Changeling

❊ ❊ ❊

Nhìn bề ngoài, toàn bộ quang cảnh phòng xử án thật ảm đạm và tầm thường. Đó là một căn phòng hình chữ nhật ngột ngạt, tối mờ trong ánh chạng vạng tháng Giêng, mặc dù những ngọn đèn điện vẫn tỏa thứ ánh sáng lờ mờ, yếu ớt. Có vị thẩm phán khoác áo choàng ngồi sau bục của tòa. Có những bồi thẩm viên mặt mày nghiêm nghị như đang ở nhà thờ. Có các thư ký tòa án hói đầu, thoăn thoắt như loài kiến. Có những phóng viên nhật báo với vẻ xa cách và ra dáng phán xét hơn cả thẩm phán. Có đám đông tò mò khoác lác, rướn người lên phía trước chẳng khác nào vận động viên sẵn sàng lao đi ở vạch xuất phát. Có cảnh sát, nhân viên tòa án và đủ loại người khác, thân thể thả lỏng nhưng ánh mắt tập trung cao độ, bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật như một con chó nhà bảo vệ dinh cơ của chủ nhân. Qua những ô cửa sổ phòng xử án, người ta có thể nhìn thấy tòa nhà Tombs sừng sững, nặng nề, tuyệt vọng và ghê rợn đúng như cái tên lạnh lẽo mà nó mang.

Vụ án nhân dân kiện Anna Janssen vì tội sát hại Alastair de Vries cứ thế diễn ra đều đều đến phát chán.

Viện kiểm sát, một người còn trẻ, mảnh khảnh, uyển chuyển và có đôi chút nét hiểm độc — gợi liên tưởng đến hình ảnh một con chó săn — đang thẩm vấn nhân chứng, một kẻ có khuôn mặt giống loài chuột, trông phảng phất dáng dấp của một tay pha chế rượu kỳ cựu hoặc thám tử tư.

"Nhiệm vụ của anh, với tư cách là nhân viên phục vụ tại Vườn phương Đông, là bảo đảm trật tự được duy trì phải không?"

"Vâng, thưa ngài."

"Hoàn toàn không có dấu hiệu mất trật tự nào cho đến khi anh nghe thấy tiếng súng nổ chứ?"

"Vâng, thưa ngài."

"Ông De Vries ngồi cùng một bàn với một nhóm người phải không?"

"Vâng, thưa ngài."

"Anh nghe thấy tiếng súng và thấy ông De Vries gục ngã về phía trước?"

"Vâng, thưa ngài. Kiểu như gập người lại ấy ạ."

"Rồi anh chạy đến chỗ ông ấy?"

"Vâng, thưa ngài."

"Anh thấy người phụ nữ tên Janssen ở phía sau phòng với một khẩu súng lục?"

"Vâng, thưa ngài."

"Cô ta đang làm gì?"

"Cô ta đang cười."

"Cô ta say rượu à?"

"Tiếng cười nghe giống như say rượu."

"Cô ta có chịu ảnh hưởng nặng của men rượu không?"

"Chắc chắn là không rồi, bằng không thì cô ta đã chẳng bỏ trốn được."

"Anh chắc chắn đó là bị cáo chứ?"

Tất cả ánh mắt trong phòng xử án đều đổ dồn về phía bị cáo đang đứng ở vành móng ngựa. Và bao trùm lấy phòng xử án đầy nhơ nhớp ấy là một cảm giác xao động lạ thường trong không gian, dẫu rằng từ tâm trí và cá tính của tất cả những kẻ có mặt tại đó, những sợi khói xám của sự hoài nghi, lòng vô tín và sự huyền bí cứ thế bốc lên mịt mờ.

Cô ngồi đó trong vành móng ngựa, giữa căn phòng xử án tồi tàn, giữa đám quan chức kệch cỡm và công chúng lố nhố, chẳng khác nào bức tượng ở một quảng trường nào đó sừng sững vượt lên trên đám đông ô hợp. Trưởng thành và lộng lẫy, bị cáo trông gần giống như một vị nữ thần bước ra từ thần thoại Bắc Âu.

Trước hết, màu da kỳ lạ của cô khiến tất cả mọi người phải nín thở. Gương mặt cô rám nắng với sắc vàng ròng tuyệt mỹ, và từ lớp vỏ bọc bằng đồng tinh tế ấy hiện lên hai đôi mắt điềm tĩnh, tự tin, xanh thẳm như nước biển. Lông mày và mái tóc cô bị ánh mặt trời tẩy trắng đến độ đôi lông mày tựa như hai vầng trăng khuyết bằng bạc, còn mái tóc mang sắc vàng nhạt đẹp đẽ của mật ong trong những chùm ánh sáng tối mờ và biến thành những sợi bạc sống động, rực rỡ khi ánh sáng chiếu vào. Cô mang vẻ đẹp kỳ lạ, ngoại lai của những người phụ nữ đảo Saba, thuộc địa cổ xưa của các thủy thủ Hà Lan và những mỹ nhân da đỏ Carib, một chấm nhỏ ở vùng Tây Ấn nơi có thị trấn nằm trên đỉnh núi, và cuộc sống tựa như chốn vườn Hesperides thanh bình.

Không chỉ có màu da hay khuôn mặt tuyệt mỹ ấy. Tỏa ra từ cô là một thứ hào quang sức khỏe và sức mạnh tinh thần mạnh mẽ đến mức dường như không thể tin nổi người phụ nữ này lại chính là cô vũ nữ Janssen từng là nhân tình bị ruồng bỏ của gã ăn chơi phóng đãng De Vries, từng say xỉn và lui tới các quán cabaret cùng đám thương gia buôn rượu và những bóng hồng đất Broadway. Người phụ nữ này ư! Thật không thể tin nổi! Trong ánh mắt điềm tĩnh của chính cô dường như còn ẩn chứa một cái nhìn mang ý nghĩa sâu xa hơn: "Thật nực cười. Tôi không thể làm chuyện này. Tại sao tôi lại ở đây? Tại sao họ không đứng dậy và để tôi đi chứ?"

Ngay cả nhân chứng mặt chuột cũng phải bối rối.

"Bị cáo ở vành móng ngựa ấy ạ?" hắn lên tiếng với vẻ ngạc nhiên khó hiểu. "Bị cáo ở vành móng ngựa ư?"

"Thôi, đừng bận tâm đến bị cáo ở vành móng ngựa nữa. Đó chính là người phụ nữ tên Janssen mà anh đã thấy."

"Tôi chắc chắn điều đó."

"Anh rất quen thuộc với ngoại hình của cô ta. Anh không thể nhầm lẫn chứ?"

"Vâng, thưa ngài, tôi không thể nhầm được. Cô ta thường xuyên có mặt ở quán Oriental cùng ông De Vries. Thỉnh thoảng là mỗi đêm suốt cả tuần liền. Tôi không thể nhầm lẫn được.Chính cô ta đã bắn ông De Vries."

Viện kiểm sát ngồi xuống, tay ra hiệu hướng về phía Howard Donegan, luật sư của bị cáo. Với thân hình đồ sộ, chiếc đầu to lớn cùng khuôn mặt của một nhà luân lý cay nghiệt, Howard Donegan chính là một phần sức hút đối với công chúng chẳng kém gì bị cáo, sự nổi tiếng của vụ án mười năm về trước, hay cuộc bắt giữ đầy lãng mạn đối với Annette Janssen. Vị luật sư gốc Ireland-Mỹ vĩ đại này chính là luật sư hình sự hàng đầu thời bấy giờ, gần như bách chiến bách thắng khi bào chữa cho bất kỳ người đàn ông hay phụ nữ nào còn chút hy vọng thoát tội, lại thêm lẽ phải đứng về phía ông ta. Với tư cách là một luật sư xét hỏi chéo, ông ta bị coi là nỗi kinh hoàng như dịch hạch. Công chúng sẽ được phen mãn nhãn khi chứng kiến một màn trình diễn tàn nhẫn đến mức tuyệt đỉnh và tráng lệ khi Donegan đứng lên. Ngay lúc này đây, nhân chứng mặt chuột cũng run lẩy bẩy như bị sốt rét khi Donegan hờ hững quay sang nhìn hắn bằng đôi mắt trùm kín dưới hàng mi. Thế nhưng Donegan lại lắc đầu. Ông không muốn xét hỏi chéo.

Ngay cả vị thẩm phán cũng ngạc nhiên.

"Ta nghe có đúng không vậy?" Ông chồm người về phía trước, khuôn mặt mang nét huyền bí đầy vẻ hoài nghi và lo lắng. "Luật sư của bị cáo không muốn xét hỏi chéo ư?"

"Thưa Tòa, ngài nghe hoàn toàn chính xác. Tôi sẽ không xét hỏi chéo."

Khắp căn phòng lớn rộ lên những tiếng xì xào bàn tán, hoài nghi và gần như kinh hãi. Chẳng lẽ không còn cách nào cứu lấy người phụ nữ này sao? Thậm chí dù cô ta có thực sự giết De Vries đi chăng nữa, hãy cho cô ta một cơ hội sòng phẳng để giữ lấy mạng sống chứ! "Donegan đang làm cái quái gì thế nhỉ?" công chúng, các nhân viên tòa án và phóng viên báo chí tự hỏi bản thân với sự hoài nghi. Phải chăng ông ta đang bán đứng cô ta?

Bầu không khí trong phòng xử án trở nên căng cứng, nghẹt thở như trong một vở kịch. Ngay lúc ấy, trong huyết quản lạnh giá của mỗi người đã dâng lên cảm giác về chiếc ghế điện ghê rợn. Thế nhưng Donegan vẫn chỉ dửng dưng lim dim.

"Anh có thể lui," Tòa bảo nhân chứng.

Gã mặt chuột lủi thủi bước xuống khỏi bục nhân chứng, mặt cắt không còn giọt máu, vẫn run lẩy bẩy vì sợ hãi ánh mắt của Donegan. Hắn cố tìm một chỗ ngồi trên các hàng ghế băng, nhưng chẳng ai chịu nhường chỗ cho hắn. Và dẫu rằng hắn chỉ làm tròn bổn phận của mình, và điều đó lại tuân theo mệnh lệnh của pháp luật, thế nhưng bao trùm lấy hắn khi hắn lủi thủi rời khỏi phòng xử án chính là vẻ mặt của kẻ có biệt danh Iscariot lúc gã lê bước rời khỏi khu vườn trên núi Ô-liu vào buổi bình minh bi thảm nhất nhân gian... Tựa như một câu chuyện trích ra từ cuốn sách cũ, lịch sử về Anna Janssen của mười, mười hai hay mười lăm năm về trước được lật giở trước mắt công chúng, đặt trong một thành phố New York mà chúng ta không còn nhận ra nữa, bởi nó đã đổi thay quá nhiều trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy. Thuở ấy, đó là một nơi ăn chơi trác táng, một chốn hoang phí huy hoàng, điên cuồng dữ dội nhưng lại có điều gì đó đáng yêu, để rồi giờ đây nó đã trở thành một chư hầu tôn kính với đầy đủ những phẩm hạnh của tầng lớp tư sản.

Và đôi mắt của những con người trong phòng xử án bỗng ánh lên khi những cái tên cũ kỹ hiện về như những bóng ma thời Falstaff. Quán Poodle Dog, Ngôi làng Đức, khách sạn Holland, khách sạn Knickerbocker. Rực rỡ, phơi phới, chúng trỗi dậy từ một quá khứ mờ mịt trong khoảnh khắc. Quán của Nam tước Wilkins và của Nigger Mike. Và thoang thoảng tiếng ly chén chạm vào nhau vang lên qua những quầy bar đã chìm vào quên lãng. Rồi vào lúc ba giờ sáng, cái nêm xông pha tại quán của Pat lại quẳng một vị khách hung hăng ra vỉa hè. Và những tên côn đồ thời đó đích thực là côn đồ, chứ không phải bọn phá rối các cuộc đình công.

Những ngày tháng cũ, những ngày tháng hào hùng, thế mà mới chỉ cách đây có mười mấy năm thôi. Khi ấy John Barrymore chưa phải là Richard III mà chỉ là danh hài trong vở "Are You a Mason?" Khi ấy ông Chambers vừa viết xong tác phẩm "The Danger Mark", và Trung úy Becker vẫn còn tuần tra trên các con phố. Khi ấy Mannie Chappelle và Diamond Jim vẫn còn sống và vui vẻ cười đùa, dẫu giờ đây họ đã hóa thành tro bụi, xin Chúa hãy rủ lòng thương độ lượng cho linh hồn họ! Khi ấy cảnh sát còn ăn hối lộ và chính giới thì thối nát, theo đúng truyền thống cũ kỹ và thú vị ấy. Và từ cánh cửa hông của các quán rượu, những kẻ nghiện rượu kiểu cũ bước ra, để rồi cùng với câu chuyện ma kiểu cũ và Lễ Giáng sinh kiểu cũ, họ đã vĩnh viễn chìm vào giấc ngủ ngàn thu. Và tiếng vang của Tiến sĩ Parkhurst vẫn còn văng vẳng khắp xứ sở này.

Ichabod! Vinh quang nay còn đâu!

Cuối đời sống về đêm ở Paris náo nhiệt đến mức cuồng loạn. Đời sống về đêm ở Berlin nặng nề và có chút gì đó hiểm độc. Thế nhưng, đầy xa hoa, hoang phí, lúc vui tươi, lúc rùng rợn, tựa như thứ bọt bèo của thứ rượu mạnh Tân thế giới, đời sống về đêm của New York thách thức cả bầu trời bằng những tia sáng rực rỡ, chỉ chịu lùi bước trước ánh bình minh trinh nguyên và vững chãi như được mặc giáp. Tựa như một tập Nghìn lẻ một đêm của một nhà văn bình dân, nó thách thức trí tưởng tượng, đầy lôi cuốn mà cũng đầy xua đuổi. Không ít lần quá đà, thường mang những "gu" thẩm mỹ tồi tệ, thế nhưng đầy nam tính, thô kệch và chẳng màng che đậy, nó đòi hỏi sự thừa nhận bằng những tiếng gào thét trơ trẽn.

Và trên sân khấu ấy, với phông nền ấy, khi thì đóng vai người phụ nữ dẫn lối cho De Vries, khi lại được chống lưng bởi một đám người ăn chơi trác táng, môi giới chứng khoán và những kẻ hay la cà phố thị, Anna Janssen, Người đẹp Thụy Điển, xuất hiện. Được nhào nặn theo vóc dáng của một nữ thần Bắc Âu, thừa sức cho những bản anh hùng ca vĩ đại, cô lại chỉ là một diễn viên quần chúng trong một gánh xiễu đồi trụy. Đôi mắt cô, vốn xanh thẳm như đại dương và đáng lẽ phải tinh khôi, dạt dào tình cảm như biển cả, nay lại ngập chìm trong men rượu, và đôi môi cô với những đường nét thanh tú như phụ nữ trong tranh của họa sĩ Zorn, vốn dĩ phải cứng cáp như nụ hoa hé nở, nay lại lơi lỏng và ướt át vì những nụ hôn.

Một người phụ nữ của khu Broadway, kẻ được thèm khát nhưng rồi cũng bị khinh miệt, lẽ ra cô đã có thể đi theo con đường mòn quen thuộc dẫn từ sự lộng lẫy huyên náo của đại lộ Broadway đến sự im lặng ghê rợn của Nghĩa trang Potter. Cô đã có thể trượt dài theo con dốc quen thuộc hướng tới cái chết nhơ nhớp ấy, và sẽ chẳng có lấy một ai cố gắng níu kéo hay giúp đỡ. Để rồi cái kết sẽ đến. Và kết quả duy nhất chỉ là một chút se lạnh trong trái tim của những Người đẹp mới nổi ở Broadway, một bóng ma thì thầm trong lòng họ câu biểu ngữ khủng khiếp nhất: Tiền công của tội lỗi chính là cái chết. Chỉ trong khoảnh khắc mà thôi. Và một nhân vật nổi tiếng nào đó ở Broadway có thể cảm thấy chạnh lòng trong chốc lát với thứ tình cảm ủy mị dễ dãi: "Tội nghiệp Anna! Tôi từng quen cô ấy khi cô ấy còn đeo kim cương, và cả thành phố New York này phải ngả quỳ dưới chân cô ấy!" Hoặc một công dân đáng kính nào đó trong căn nhà ấm cúng của mình có thể cất giữ những ký ức thầm kín, hổ thẹn và chẳng bao giờ dám thú nhận. Hoặc ai đó thậm chí có thể tìm đến ngôi mộ của cô để thầm thì một lời cầu nguyện vội vã và đặt một nhành hoa dâng mộ. Để rồi tất cả sẽ chìm vào tĩnh lặng.

Thế nhưng ngặt nỗi, trong một cơn say hờn giỗi, cô đã nổ súng bắn chết Alastair de Vries!

Về cuộc đời cô, chẳng có mấy điều để bàn. Đó là một cuộc đời mà hàng ngàn cô gái đã từng trải qua. Hãy thừa nhận những bằng chứng đã làm hài lòng vị thẩm phán trong một phiên tòa xét xử tội mưu sát, và mọi thứ thu gọn lại thế này: Là con gái của một thợ máy ở Brooklyn, cô kiếm được một chân trong dàn đồng ca của một vở nhạc kịch lớn, rồi được đám công tử bột ở Broadway tán tỉnh, cưng chiều. Và kẻ mà cô sa chân vào lưới tình chính là Alastair de Vries, kẻ đã rời bỏ Đại lộ số Năm để dấn thân về phía tây tới Broadway. Thuộc dòng dõi quý tộc đời đầu từng đặt nền móng cho New Amsterdam và làm chủ các điền trang dọc theo sông Hudson trước khi người Anh đặt chân đến, vốn là những chủ ngân hàng và thương gia, binh lính và nhà thám hiểm, thế mà tất cả những gì còn sót lại từ huyết thống ấy chỉ là một gã công tử lắm tiền, kẻ chỉ tìm thấy sự phiêu lưu trong việc hủy hoại cuộc đời những con gái nhà buôn, trong khi tổ tiên hắn tìm thấy nó qua việc khai phá định mệnh của một Tân thế giới.

Tóc vàng, trông có vẻ phúng phính, chưa tròn ba mươi tuổi, Alastair de Vries đã sớm có một cuốn tiểu sử dài dằng dặc trên các trang báo chủ nhật và tuần báo lá cải ở New York. Annette Janssen có lẽ chỉ là một trong số khoảng hai mươi cuộc chinh phục của hắn và cô không phải là kẻ cuối cùng. Cô suýt soát là người cuối cùng mà thôi.

Hắn lôi cô ra khỏi dàn đồng ca, ban cho cô mọi thứ cô khao khát, biến cô thành nữ hoàng nửa năm của Broadway trong quãng đời ngắn ngủi ấy.

Và rồi một cô nàng tóc nâu nấm lùn xuất hiện, được tôn vinh là Nữ hoàng của đám tiểu thư dàn đồng ca, và quay phắt lại như chớp, De Vries vội vã đi chinh phục bóng hồng mới nổi. Thế rồi Anna bắn chết hắn, chẳng phải vì ghen tuông, chẳng phải vì cô yêu hắn, mà chỉ cốt để gây rắc rối.

Cuộc đời cô ta là vậy đấy. Những sự thật chói lóa về thời kỳ làm nữ hoàng Broadway của cô ta chỉ có ngần ấy thôi. Chúng hiện lên ở đó, chẳng còn chút vẻ lấp lánh hay lãng mạn nào nữa. Qua thứ ma thuật đen tối của Con hẻm Tội ác, chúng tỏa sáng như những con đom đóm, thế nhưng dưới ánh ban ngày tỉnh táo và điềm tĩnh, chúng chẳng là gì ngoài những sinh vật bò trườn nhơ nhớp mà ta phủi phắt khỏi lòng bàn tay với một vẻ mặt đầy ghê tởm...

Ngày qua ngày tiếp nối, nhân chứng này rồi nhân chứng khác lên tiếng, và từng chi tiết một của bản mớ niên giám nhơ nhớp ấy dần được viết nên. Mỗi sự kiện đều được xác thực và chứng minh làm hài lòng tòa án, làm hài lòng công chúng. Đó tựa như một cuộc hành trình hướng tới một mục tiêu xác định — một cuộc hành trình mà công chúng được mời đến để chứng kiến Công lý lắng nghe tiếng gọi từ người dân Tiểu bang New York.

Chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Một cách lạnh lùng, vô cảm, chỉ vì một cơn bốc đồng, trong phút chốc dỗi hờn, một cô vũ nữ đã bắn chết một người đàn ông.

Và rồi trong tâm trí của mỗi người hiện lên, khi nó tiến lại gần hơn cho đến khi những đường nét kinh hoàng cùng hào quang đáng sợ của nó lộ diện rõ mồn một — đích đến của cuộc hành trình chính là chiếc ghế điện khủng khiếp.

"Sao Donegan không làm gì đi chứ? Tại sao? Tại sao? Sao ông ta không chịu mở một trận chiến ra hồn cơ chứ?"

Thế nhưng Donegan vẫn tiếp tục lim dim ngủ gục. Chỉ khi bị cáo ở vành móng ngựa ném cho ông một cái nhìn cầu cứu tha thiết, điều mà cô thỉnh thoảng làm mỗi khi có một chi tiết chết người nào đó bị khui ra, ông mới đánh rơi chiếc mặt nạ bằng đá granite ấy. Thỉnh thoảng khuôn mặt cô lại tái đi dưới lớp da rám nắng, và đôi môi mím chặt. Và rồi một điều kỳ diệu sẽ xuất hiện ở Donegan. Những nét mặt thô kệch, dữ tợn như chó sục ấy giãn ra, đôi mắt lóe sáng mở bừng lên, và trên khuôn mặt bị căm ghét ấy sẽ thoáng nở một nụ cười — ồ, từ tận bốn mươi năm về trước — khi ông chỉ là một thiếu niên người Ireland vô tội, đáng mến, chứ chưa phải là một đại luật sư mà sự giao du với những mặt tối của pháp luật, những trận chiến vì sự sống và tự do, cùng sự thấu hiểu về những tầng sâu kỳ lạ trong tâm trí con người — thứ mà chẳng ai nên biết — đã biến ông thành một thiên thần hắc ám với thanh gươm bừng cháy bảo vệ lẽ phải.

Thế nhưng nụ cười ấy chẳng thể trấn an được công chúng.

"Ừ đấy, ông ta đang cười. Ông ta tự tin lắm chứ bộ. Thế nhưng sao ông ta chẳng chịu hành động gì cả vậy?"

Giá như những con người trong phòng xử án đọc được về phiên tòa này ngay tại nhà của họ — đọc những sự thật trần trụi, lời khai của các nhân chứng — thì chẳng có lấy một ai thèm hoài phí dù chỉ một giây suy nghĩ cho Anna Janssen. Có lẽ trong thâm tâm của một hoặc hai người sẽ còn vương vấn cảm giác rằng việc cô ta bị trói giật cánh khuỷu vào chiếc ghế điện rùng rợn kia là điều không đúng đắn. Thế nhưng đó là lòng trắc ẩn, chứ không phải công lý. Hết thảy mọi người sẽ cùng đồng thanh: "Đó chính là mục đích của án tử hình — để loại bỏ khỏi xã hội loài người một kẻ không còn quyền được hưởng ánh nắng mặt trời của Chúa, kẻ đã cả gan tước đoạt quyền năng của Đấng Tạo hóa, tự ý định đoạt mạng sống con người. Trùm khăn che mặt ả ta lại. Tống cổ ả đi nhanh lên. Phóng điện rồi vùi thây ả trong vôi sống đi. Cuộc đời này không dành cho những kẻ như ả!"

Thế nhưng giữa người phụ nữ mà các nhân chứng đã phác họa qua những nét bút đen tối, ghê rợn và quý cô đang đứng ở vành móng ngựa kia lại là một trời một vực khác biệt. Quả thật, cô có cùng chiều cao, cùng vóc dáng ấy, chỉ là đã trải qua quá trình phát triển khỏe mạnh của những năm tháng qua đi. Quả thật, những dấu vết nhận dạng mà cô vũ nữ Anna Janssen từng có, người ta vẫn có thể tìm thấy trên cơ thể của người phụ nữ đang đứng trước vành móng ngựa.

Thế nhưng cơ thể của cô vũ nữ Anna Janssen thì mềm mại, trắng trẻo và sinh ra để phục vụ cho những cuộc ái ân tội lỗi, trong khi cơ thể của người phụ nữ trong vành móng ngựa lại khỏe mạnh, săn chắc và rám nắng, theo đúng hình mẫu của Eva, người được chính Chúa Trời tạo ra trong khu vườn địa đàng. Và dáng đi của Anna Janssen từng uốn éo lẳng lơ đầy vẻ từng trải xảo quyệt, trong khi tư thế của người phụ nữ này lại thẳng thắn và mang một phẩm giá cao quý. Và đôi mắt của cô vũ nữ thuở ấy tràn ngập những hiểu biết tội lỗi cùng ngọn lửa bệnh hoạn, thế nhưng đôi mắt của người phụ nữ này lại phảng ph́t nét u buồn và một vẻ huyền bí lạ kỳ.

Và trong sâu thẳm trái tim mỗi người bỗng dâng lên một tiếng thét: "Đây không phải là cùng một người phụ nữ. Đây là một người phụ nữ lương thiện!"

Tồn tại một lý thuyết của một trường phái y học cổ xưa mà tên gọi của nó — dù sao thì điều đó cũng chẳng quan trọng — tôi lấy làm tiếc vì đã quên mất tiêu rồi. Và học thuyết ấy như sau: cứ mỗi bảy năm, cơ thể con người lại thay đổi một lần. Chúng ta không mang cùng bộ xương, chẳng có cùng làn da hay thớ cơ ở tuổi ba mươi lăm so với khi ở tuổi hai mươi tám. Chúng đã mòn mỏi và bị đào thải, rồi những mô tế bào mới sẽ thay thế vào đó. Học thuyết ấy có thể sai, nhưng lại vô cùng cuốn hút. Nó giải thích cho chúng ta hiểu vì sao một vận động viên điền kinh của những năm về trước nay lại trở thành một lão già bụng phệ, hói đầu và gớm ghiếc ở hiện tại. Nó giải thích vì sao một quý ông phong lưu, ăn diện lại có thể biến thành một tu sĩ với khuôn mặt khắc khổ. Nó giải thích cho chúng ta hiểu vì sao cô vũ nữ mềm mại, mang vẻ đẹp ma mị của cả chục năm về trước nay lại lột xác thành một nữ chiến binh Amazon lẫy lừng như Anna Janssen của ngày hôm nay.

Thế nhưng điều này có lẽ sai lầm khi áp dụng lên thể xác. Còn về tâm trí (nơi phản ánh con người bên trong của bạn) thì có một điều chắc chắn, không phải là lý thuyết mà là một sự thật hiển nhiên — rằng con người ta thay đổi hoàn toàn. Tâm trí tựa như chiếc bảng đen của đứa trẻ, nơi muôn vàn điều được viết lên. Khi trẻ, người ta dễ dàng chấp nhận mọi thứ như hiển nhiên; khi già, người ta thấu hiểu. Và họ kiêu hãnh ghi nhận điều này là chân lý, điều kia là giả dối. Thế nhưng ngày qua ngày, họ sống và trải nghiệm, đúng như câu tục ngữ cổ. Những phương trình đơn giản trở thành phương trình bậc hai. Và những con chữ viết trên tấm bảng ấy thay đổi theo từng tháng năm, khi những yếu tố mới của cuộc sống dần được ngộ ra. Tất cả chỉ là sự điều chỉnh và tự hoàn thiện.

Quá trình này diễn ra từ từ, thế nhưng thỉnh thoảng, cực kỳ hiếm hoi, nhờ vào một cơn đại hồng thủy về mặt tinh thần hoặc tâm linh mà toàn bộ những gì viết trên tấm bảng ấy bị xóa sạch trơn. Và một sự khởi đầu mới mẻ, sửng sốt sẽ thay thế vào đó. Giống như chúng ta thấy trong nhân cách bên trong của Anna Janssen, sự chuyển biến từ thứ toán học vụn vặt chốn Broadway, những con tính nhơ nhớp, gian lận ở Con hẻm Tội ác, vươn lên tầm vóc tính toán vĩ đại của cuộc đời đúng như cách mà Chúa Trời đã hình dung khi Ngài nặn ra con người từ bụi đất, rồi hà hơi sống vào mũi con người; và con người trở thành một sinh linh có sự sống...

Viện kiểm sát quay người từ vị nhân chứng cuối cùng hướng về phía mười hai người đàn ông trong bồi thẩm đoàn. "Thưa các quý ông," hắn cất giọng theo phong cách của một thợ thủ công vô cùng mãn nguyện với tiến độ công việc đang tiến hành, "tôi đã chứng minh được tội ác và chỉ ra thủ phạm, hoàn cảnh, bối cảnh cũng như động cơ gây án. Chỉ còn một việc duy nhất cần phải làm nữa thôi để đóng đinh vụ án này chắc chắn như chiếc đinh đóng vào móng ngựa. Bây giờ là mười năm kể từ thời điểm vụ án mạng này xảy ra cho đến khi đưa bị cáo ra trước vành móng ngựa của công lý. Chỉ còn một việc duy nhất phải làm để loại bỏ dù chỉ là một chút hoài nghi nhỏ nhoi rằng bị cáo đứng trước tòa và Anna Janssen, người tình của Alastair de Vries, chính là một và cùng một người. Và để chứng minh điều này, tôi xin triệu tập lên bục nhân chứng vị thám tử đã bắt giữ Anna Janssen ở Tahiti, người đã giữ giam bị cáo từ ngày đó cho đến khi cô ta bị đưa ra trước công lý tại đây — tổng cộng là chín năm bốn tháng."

"Viên chức Thomas McCarthy!"

"Mời viên chức Thomas McCarthy lên bục nhân chứng."

Công chúng rướn người về phía trước, và với thứ âm thanh xột xoạt kỳ lạ biểu thị sự quan tâm tột độ, họ ổn định lại chỗ ngồi để lắng nghe lời kể của viên thám tử. Đây chính là điểm thu hút lớn nhất của phiên tòa — câu chuyện về McCarthy và Anna Janssen đơn độc trên một hòn đảo hoang, một nữ sát nhân và vị cảnh sát đã tóm gọn cô ta. Vượt lên trên sự tò mò bệnh hoạn về vụ sát hại De Vries, vượt lên trên câu chuyện thực tế về một New York cổ kính thuở nào, vượt lên trên cảnh tượng một người phụ nữ đang đánh cược cả sinh mạng, vượt lên trên viễn cảnh được chứng kiến Donegan, vị luật sư hình sự vĩ đại nhất, hành hạ tòa án, đập nát những nhân chứng tơi tả và cuối cùng có khả năng cao sẽ giải cứu bị cáo như trong một cuộc giải thoát kinh điển từ pháp trường Tyburn, chính là lời hứa hẹn về bản tường thuật về cuộc phiêu lưu giữa vùng biển Nam Đảo cô tịch. Đã từng có một bài báo lãng mạn kể về chuyện này trên mặt báo suốt một ngày, rồi sau đó biệt tăm, bởi lẽ đề tài này chắc chắn sẽ khơi dậy những bình luận dữ dội từ dư luận, khơi gợi lòng thương cảm hoặc sự căm hận, trong khi vụ án vẫn đang trong quá trình thụ lý.

Thế nhưng câu chuyện đơn độc ấy đã khuấy động trí tưởng tượng của công chúng. Và câu chuyện nhơ nhớp kể về một người phụ nữ sát hại gã tình nhân bội bạc trong một cơn hờn giỗi đã phai nhạt dần vào làn sương vàng rực rỡ của sự lãng mạn. Hương thơm ngào ngạt của miền nhiệt đới sực nức trong lồng ngực họ, và đôi mắt họ nhìn thấy những bãi cát vàng óng ánh cùng những vùng biển phát quang. Và ở đó, những hàng dừa xào xạc thứ âm thanh tựa như tiếng lụa là xứ lạ, và loài Chim thiên đường tung cánh bay rực rỡ sắc màu qua lớp hoàng hôn mờ ảo ở quần đảo Marquesas. Và linh hồn của những vị thần kỳ lạ lướt qua trên mặt nước...

Đây quả là một bối cảnh xứng tầm cho Scheherazade và những nhân vật dành cho một nhà văn bậc thầy: một viên cảnh sát tuần tra ở New York, trẻ tuổi, khỏe mạnh, chưa bị vấy bẩn, đầy khôn ngoan với sự hiểu biết về thành phố quê hương, dũng cảm theo đúng cái cách mà chỉ hạng người như anh ta mới có được; và ở đây là một người phụ nữ bước ra từ vũng bùn lầy lội của khu Tenderloin, một mỹ nhân được thừa nhận, một nữ sát nhân đã thành danh.

Vở kịch nào đã diễn ra trên hòn đảo của những giấc mơ ấy, trong suốt quãng thời gian dài đằng đẵng chín năm trời? Và liệu cô ta có yêu hắn, hay cô ta căm ghét hắn? Và liệu hắn có khuất phục trước cô ta, giống như Adam trước Lilith ở Vườn Địa đàng trước khi Eva xuất hiện? Hay hắn đã chống cự lại cô ta như Antonius ở Ai Cập chống lại nữ quỷ trong sa mạc gần Fayum? Và cô ta đã phỉnh nịnh hắn bằng những lời ngọt hơn mật ong? Hay cô ta đã nguyền rủa hắn bằng những lời báng bổ đen tối kỳ lạ? Hay đó chỉ là một chuỗi những đêm dài canh thức trong im lặng đầy căm hận? Hay họ đã trở thành bạn bè, kẻ săn đuổi và con mồi, giờ đây bị bỏ lại trên những hòn đảo của những vị thần chết chóc xa lạ?

Lạy Chúa, rốt cuộc là chuyện gì đã xảy ra?

Dù sao đi nữa, họ cũng sẽ sớm được tỏ tường.

"Viên chức Thomas McCarthy, mời lối này!"

Rồi bỗng nhiên, Howard Donegan đứng vụt dậy. Vị thẩm phán trên bục cao, các bồi thẩm viên, viên công tố, toàn thể tòa án, và ngay cả bản thân bị cáo, tất cả đều nhìn ông với vẻ ngạc nhiên ngập ngừng. Hành động của ông mang một vẻ kịch tính đến ngỡ ngàng. Ông chầm chậm đứng dậy và chẳng nói gì, chỉ đảo mắt nhìn quanh. Vào giữa vở kịch tội ác và lãng mạn ấy, một yếu tố mới đã được tiêm vào, đầy sức mạnh, chậm rãi nhưng vô cùng chắc chắn.

"Nếu Tòa cho phép," giọng ông trầm đục và mang nhiều hàm ý vang lên, "tôi xin được nói vài lời?"

"Điều đó hầu như không đúng thủ tục vào lúc này, thưa ông Donegan," vị thẩm phán bối rối nói. "Chắc chắn ông sẽ có cơ hội vào lúc khác."

"Cơ hội chỉ thực sự thích hợp vào lúc này thôi." Vị đại luật sư vóc dáng đồ sộ trông chẳng khác nào một bức tượng quỷ gargoyle kỳ lạ trong một ngôi nhà thờ cổ. Đôi mắt ông, ẩn dưới cặp chân mày nặng trịch như mái hiên che, đen láy và tròn vo như mắt của một sinh vật hiểm độc trong rừng rậm. Miệng ông, một đường rạch mỏng và rộng, trề ra như miệng cá. Thân hình tĩnh tại của ông to lớn và kỳ dị tựa như một con quái vật trong bức vẽ của một họa sĩ điên. Giọng nói của ông cọt kẹt như cỗ máy lâu ngày không được tra dầu. Thế nhưng — lạy Chúa! — sức mạnh tiềm ẩn trong đó mới lớn lao làm sao!

"Thưa Tòa, thưa các bồi thẩm viên, và thưa ngài Viện kiểm sát, bất kỳ lúc nào tôi cũng có thể cản trở tiến trình của phiên tòa này cho đến khi tất cả các vị phải mỏi nhừ người trên ghế. Tôi có thể làm lu mờ các sự thật, động cơ và lời khai cho đến khi các vị hoang mang về chân lý chẳng khác nào tổng đốc Philatô. Người phụ nữ tên Wilkins — tôi hoàn toàn có thể chứng minh rằng lời nói của ả ta chẳng đáng tin bằng lời của một đứa ngốc trong làng. Ông Howland Christy, họ hàng của De Vries — tôi có thể chất vấn ông ta trên bục nhân chứng cho đến khi ông ta phải hoài nghi về lời khai của chính mình, bởi ông ta là một người trung thực. Và tay gã phục vụ ở quán cabaret — nếu tôi tập trung vào hắn, tôi có thể khiến bộ não ngập chìm trong rượu whisky ấy, ý chí đã vụn vỡ ấy, phải mâu thuẫn với mọi điều hắn từng khai báo.

"Thế nhưng tôi đã không làm bất kỳ điều nào trong số đó. Tôi không tạo ra màn sương hoang mang nào từ những sự thật rành rành. Tại sao ư? Bởi vì những sự thật ấy hoàn toàn chính xác. Tôi sẵn sàng thừa nhận chúng!"

Căn phòng rộ lên tiếng xào xạc và những lời xì xào. Công chúng bỗng trở nên kinh hãi. Donegan đang định giở trò gì thế này? Đã ai từng nghe thấy chuyện một luật sư lại đi thừa nhận những điều như thế bao giờ chưa? Lạy Chúa! Gã đàn ông này đang mưu tính cái quái gì vậy? Những tiếng xì xào vẫn tiếp tục vang lên bất chấp tiếng búa gõ của thẩm phán và tiếng hô giữ trật tự của các nhân viên.

Donegan quét ánh nhìn đen tối, đe dọa khắp căn phòng, và những tiếng xì xào lập tức im bặt.

"Thưa Tòa, thưa ngài Viện kiểm sát, thưa các bồi thẩm viên, một tội ác không phải là một hành động diễn ra trong tích tắc. Những gì diễn ra trước tội ác là quan trọng, và những gì xảy ra sau đó cũng không kém phần quan trọng. Liệu vụ việc ấy đã được nung nấu trong đầu, hay nó là kết quả của một phút bốc đồng nhất thời, và hành động đó đã được nhìn nhận với sự thỏa mãn tự mãn hay với nỗi kinh hoàng run rẩy?

"Và điều này đã tạo ra tác động gì đối với bị cáo, đối với thế giới, đối với thời đại của chúng ta? Có rất nhiều thứ cần phải được cân nhắc khi chúng ta phán xét về một tội ác.

"Thưa các quý ông, luật pháp và tố tụng pháp lý vốn dễ hiểu như một cuốn sách vỡ lòng của trẻ nhỏ. Nhiệm vụ của viện kiểm sát là đảm bảo kẻ phạm pháp phải đền tội trước công lý. Nhiệm vụ của bồi thẩm đoàn là quyết định hành động đó có thực sự xảy ra hay không. Mục đích của thẩm phán là cân nhắc, phán quyết và nhân danh nhân dân tuyên bố phải xử lý thế nào đối với một thành viên trong cộng đồng kẻ đã xâm phạm lợi ích cộng đồng bằng hành vi của mình. Trách nhiệm của luật sư bào chữa là đảm bảo thân chủ của mình không bị vu khống bởi những nhân chứng gian dối, hay quyền tự do bị đe dọa bởi những điều không có thật.

"Thế nhưng mục đích tối thượng của tất cả những ai có mặt trong phòng xử án này là đảm bảo công lý được thực thi, dẫu cho bầu trời có sụp đổ đi chăng nữa.

"Tôi đã không thẩm vấn bất kỳ nhân chứng nào. Và tôi cũng sẽ không thẩm vấn ai cả. Thế nhưng tôi xin khẩn khoản đề nghị Tòa, trong phạm vi quyền hạn và nhân danh thứ Công lý mà tất cả chúng ta đều là tôi tớ — từ chính bản thân tôi, luật sư bào chữa cho bị cáo, cho đến viện kiểm sát đại diện cho người dân Tiểu bang New York, hội đồng bồi thẩm đoàn, và vị thẩm phán trên bục cao — rằng nhân chứng tiếp theo, Thomas McCarthy, hãy được phép tự do kể câu chuyện của chính mình theo cách riêng của anh ta, thuật lại những sự việc có vẻ không liên quan trực tiếp đến vụ án, nhưng mà tôi khẳng định là thiết thực chẳng kém gì khẩu súng dùng để gây án hay chính bản thân thi thể nạn nhân. Tôi xin khẩn cầu điều này từ Tòa và mong Tòa ra chỉ thị chấp thuận."

"Việc này hầu như không đúng lệ thường, thưa ông Donegan."

"Tôi khẩn khoản xin điều này nhân danh Công lý!"

"Đây là một tòa án của Công lý, ông Donegan." Giọng điệu của vị thẩm phán mang một chút khiển trách nhẹ nhàng. "Nhưng nếu viện kiểm sát không có ý kiến phản đối..."

Viện kiểm sát, có chút bực bội nhưng lại tỏ ra e dè trước mục đích to lớn của Donegan, bèn nhún vai.

"Được rồi, thưa ông Donegan," vị thẩm phán gật đầu. "Viện kiểm sát..." Donegan quay sang hướng bồi thẩm đoàn — "đang triệu tập Thomas McCarthy để chứng minh danh tính của Anna Janssen. Anh ta là một viên chức của Thành phố New York, là nhân chứng của Tiểu bang New York. Viện kiểm sát đã triệu tập anh ta để chứng minh rằng bị cáo đứng trước vành móng ngựa chính là Anna Janssen. Tôi sẽ không xét hỏi anh ta. Thế nhưng khi anh ta đưa ra lời khai cho viện kiểm sát, đồng nghĩa với việc anh ta đã khai báo cho chính tôi.

"Và tôi sẽ chứng minh được rằng cô vũ nữ từng ra tay sát hại Alastair de Vries hoàn toàn không phải là người phụ nữ đang đứng ở vành móng ngựa kia!"

Từ phòng xử án phát ra một tiếng thở dài nhẹ nhõm, một sự chùng xuống trong giây lát. Vậy là Donegan đã chiến đấu và thắng lợi trong trận chiến đầu tiên của mình, và giờ đây họ sắp được nghe Câu chuyện về Những Hòn Đảo Thơm Ngát. Giờ đây toàn bộ sự huyền bí bao trùm lấy phòng xử án như màn sương của một bậc thầy phù thủy sẽ được kéo lên.

"Triệu tập Thomas McCarthy!" Donegan gằn giọng từ khóe miệng.

"Viên chức Thomas McCarthy."

"Mời Thomas McCarthy lên bục nhân chứng!"

Khi bước lên bục nhân chứng, McCarthy dường như sừng sững chiếm trọn không gian căn phòng. Nếu Anna Janssen mang lại cảm giác lấp đầy phòng xử án về mặt tinh thần, thì anh ta lại lấp đầy nó về mặt thể xác. Những luồng sóng sức mạnh, những năng lượng uy mãnh tỏa ra từ cơ thể anh ta tựa như dòng điện phóng ra từ một bình ắc-quy. Anh ta không cao tới sáu sải tay, thế nhưng dáng đứng thẳng tắp cùng tư thế hiên ngang khiến anh ta trông như vượt trội hơn hẳn mọi người trong phòng xử án. Anh ta không phải là một gã đàn ông to lớn kềnh càng, thế nhưng lại mang đến ấn tượng về một sức mạnh phi thường, khi chỉ qua những cử động nhỏ nhất, các thớ cơ dưới lớp áo của anh ta cũng đủ gợn sóng nhịp nhàng. Mang nước da rám nắng như đồng thau, khuôn mặt McCarthy không vương vẻ huyền bí kỳ lạ như Anna Janssen, bởi vì đôi mắt và mái tóc anh ta đen tuyền, trong khi cô lại có mái tóc và làn da sáng màu. Dẫu vậy, ở anh ta vẫn có điều gì đó thật khác lạ.

Điều đó chủ yếu xuất phát từ việc anh ta trông có vẻ lạc lõng trong bộ đồ thành phố đang mặc. Người ta có thể dễ dàng tưởng tượng ra anh ta như một vận động viên trẻ tuổi trong các kỳ vận hội Olympic, có lẽ đang ném đĩa tạ, hoặc tung người vượt qua xà cao. Hoặc người ta có thể chấp nhận anh ta trong trang phục mùa hè ở miền quê với chiếc cổ áo mềm mại buông lơi và chiếc áo khoác thể thao rộng rãi. Thế nhưng trong bộ "vest công sở" mua ở trung tâm thương mại nào đó, anh ta trông giống như một diễn viên bị sắp xếp bởi một đạo diễn sân khấu tồi tệ. Trông thật kỳ cục làm sao, khi một chiếc huy hiệu cảnh sát lại được ghim lên ve áo khoác của anh ta.

Khi anh bước lên bục, Anna Janssen quay phắt về phía anh với ánh mắt đong đầy cảm xúc tuôn trào mãnh liệt. Đó có thể là sự quan tâm, nhưng nồng nàn hơn cả sự quan tâm. Đó có thể là sự cầu khẩn, nhưng lại tự tin hơn cả sự cầu khẩn.

"Anh là cảnh sát mặc thường phục Thomas McCarthy phải không?" viện kiểm sát tiến hành xét hỏi.

"Vâng, thưa ngài. Số hiệu tám nghìn chín trăm mười bảy."

"Trực thuộc trụ sở cảnh sát phải không?"

"Vâng, thưa ngài."

"Hãy kể cho chúng tôi nghe những tình tiết khi anh bắt giữ bị cáo."

"Đại úy — vị Đại úy..." McCarthy bắt đầu nói, ngập ngừng, rồi bỗng đột ngột im bặt.

"Vâng, ngài Đại úy..."

Thế nhưng McCarthy dường như bị tấn công bởi một cơn hoảng loạn bất chợt.

"Đúng thế, đúng thế!" viện kiểm sát bắt đầu đâm ra cáu kỉnh. "Ngài Đại úy..." Hắn gõ gõ ngón tay lên mặt bàn.

Donegan đứng dậy.

"McCarthy," ông dịu dàng giải thích, "đã suốt bảy năm trời không hề trò chuyện với bất kỳ ai ngoài thân chủ của tôi. Cậu ấy thấy khó khăn để thốt ra cho đúng từ ngữ. Cứ thong thả thôi, McCarthy," ông nói với nhân chứng. "Nhắm mắt lại đi. Cứ nói như thể cậu đang lẩm bẩm với chính mình vậy."

Bị cáo ném cho ông một cái nhìn đầy biết ơn.

"Tôi thuộc đội đặc nhiệm chống tệ nạn dưới quyền Thanh tra O'Gara," cuối cùng nhân chứng cũng tìm lại được lời nói. "Có một buổi sáng, ngài Đại úy cho gọi tôi lên. Đó là lúc vụ bê bối về tiền hối lộ tại các khách sạn theo đạo luật Raines đang bùng nổ. Ngài Đại úy nhìn tôi chằm chằm với vẻ mặt cứng ngắc.

'Cậu có làm ăn đàng hoàng không đấy, McCarthy?' ông ấy hỏi.

'Vâng, thưa Đại úy, tôi luôn làm ăn đàng hoàng,' tôi đáp.

'Lạ thật đấy, thời buổi này mà vẫn có đứa dám vỗ ngực tự nhận làm ăn đàng hoàng cơ à,' ngài Đại úy cười nhạt một tiếng đầy vẻ mỉa mai.

'Nói cho ta nghe xem, McCarthy, cậu đã từng vướng vào lưới tình với mả đàn bà nào chưa?' Tôi bỗng thấy lạnh toát cả người, vì nghĩ rằng có kẻ đang chơi khăm hòng gài bẫy mình.

'Thưa ngài, chưa bao giờ,' tôi đáp.

'Thế sao cậu lại chưa từng?' "

'Tôi cũng chẳng biết nữa,' tôi đáp, 'chắc là vì gia đình tôi là người gốc Ireland và nuôi dạy tôi theo cách riêng của họ. Hồi còn là một đứa nhóc, thưa Đại úy, tôi có thể đi xưng tội mà chẳng phải giấu giếm điều gì, và tôi đoán là bây giờ mình vẫn giữ được thói quen đó.'

'Ồ, ra cậu là một trong số những tên cảnh sát gốc Ireland đạo đức đấy nhỉ,' hắn khinh khỉnh chế nhạo. 'Ta nghe thiên hạ đồn đại về bọn họ nhiều rồi, nhưng chưa từng gặp mặt ngoài đời bao giờ.'

'Vâng, thế thì giờ ngài đang được diện kiến rồi đây.' Tôi trừng mắt nhìn thẳng vào hắn bằng ánh mắt lạnh lùng. Để rồi sau đó tôi lại thấy hối hận, vì nhận ra hắn chẳng có ý gì xấu cả. Hắn chỉ đang bực bội mà thôi.

'Được rồi, viên cảnh sát đàng hoàng,' hắn nói, 'ta có việc này giao cho cậu. Anna Janssen đã bị tìm ra. Một gã nhà giàu che giấu ả ta và đưa ả đến Tahiti trên du thuyền của hắn. Ả ta đang ở trển. Chính quyền Pháp,' hắn nói, 'đã ban lệnh bắt giữ. Cứ đi mà tóm lấy ả đi.'

'Tuân lệnh,' tôi đáp rồi quay lưng bỏ đi.

'Khoan đã nào, McCarthy,' hắn gọi giật lại. 'Ta bảo này: "Hãy tóm lấy ả." Cậu hiểu chứ? Hãy tóm lấy ả. Và giữ chặt lấy ả. Giả dụ như có tên nào định tẩu thoát khỏi tay cậu, thì cậu sẽ xử lý thế nào?'

'Tôi sẽ nổ súng,' tôi đáp. 'Tôi sẽ áp giải ả ta về đây, dù là sống hay chết.'

'Được rồi, thế thì hãy bắn hạ ả ta đi.'

'Ôi trời ơi, thưa sếp!' tôi kêu lên. 'Tôi không thể nổ súng bắn một người phụ nữ được.'

'Vậy thì, tự bắn vào đầu cậu đi,' hắn lạnh lùng tuyên bố. 'Bằng bất cứ giá nào, nếu cậu dám lết cái xác về một mình, thì hãy về trong hòm đá lạnh đi. Ta sẽ thanh toán cước phí vận chuyển. Cuộc trao đổi đến đây là hết,' hắn phất tay.

Tôi lên đường đến Paris, rồi từ Paris tới Marseille..."

"Thôi đủ rồi, McCarthy," viện kiểm sát phất tay ngắt lời. "Việc cậu đi bằng phương tiện gì không quan trọng. Hãy kể cho chúng tôi nghe chuyện gì đã xảy ra ở Tahiti đi."

"Đến Tahiti, trực giác mách bảo tôi rằng mọi chuyện không hề ổn thỏa. Con tàu thủy tôi đi cập cảng vào buổi sáng và rời đi vào chiều hôm đó, và tôi hy vọng kịp bắt chuyến tàu ấy cùng với Janssen. Có lẽ vì tôi không tài nào hiểu nổi thứ tiếng Pháp của bọn chúng trong khi lãnh sự quán của chúng ta lại chẳng có lấy một vị quan chức khỏe mạnh nào ra hồn, nên họ cứ dây dưa trì hoãn tôi cho đến khi con tàu nhổ neo khuất dạng, để rồi tôi bị bỏ lại ở cái xứ quái quỷ đó trong cảnh trắng tay. Họ bảo giấy tờ dẫn độ phải hoàn toàn hợp lệ. Thế nhưng có quá nhiều trò lố bịch xung quanh cái danh xưng mỹ nhân phạm tội này.

Thế rồi, mọi thủ tục cũng xong xuôi và họ dẫn tôi đến gặp ả ta. 'Nào, cô Janssen,' tôi nói, 'chúng tôi đã tóm được cô rồi đấy.' 'Giờ các người tóm được tôi rồi thì định làm gì nào?' ả ta cười phá lên; và tất cả mọi người ở đó đều cười theo. Ngay lập tức tôi nhận ra bọn chúng đều đứng về phía ả ta, và tụi nó ghét tôi hệt như tụi nghiện rượu ghét nước lọc vậy.

Thành thật mà nói, thưa Tòa, tôi cũng chẳng trách gì bọn chúng. Chẳng có mấy phụ nữ da trắng ở cái xó xỉnh đó đâu, mà dẫu có đi chăng nữa, thì nhan sắc của họ cũng chẳng có gì nổi bật. Còn mấy cô gái bản địa Kanaka, dẫu xinh đẹp như tranh vẽ thật đấy, nhưng họ lại chẳng phải là con người theo cách nghĩ của chúng ta và cơ thể họ cũng chẳng hề khỏe mạnh theo quan niệm của người da trắng chúng ta. Anna quả thực sở hữu dung mạo xuất chúng, lại là người da trắng, hơn nữa lại có thừa sự hoạt bát, nên ai nấy đều mê mẩn ả ta như điếu đổ. Đám đàn ông Pháp thì cuồng phụ nữ đến mụ mị cả người, và bọn chúng chẳng hề mảy may bận tâm đến chuyện một người phụ nữ nổ súng bắn chết đàn ông — hoàn toàn không mảy may bận tâm điều gì hết.

Thế là bọn chúng cười tủm tỉm với tôi và bảo rằng: 'Anh phải đi ngắm nghía hòn đảo xinh đẹp của chúng tôi trước khi giương buồm khởi hành cùng vị mỹ nhân phạm tội chứ!'

'Hòn đảo của các người rất tuyệt,' tôi đáp, 'và xin lỗi không có ý mạo phạm đâu nhé, nhưng nó chẳng thấm tháp gì so với đảo Manhattan đâu. Còn về phần vị mỹ nhân phạm tội ấy á,' tôi tiếp lời, 'bộ các người quên mất điều gì rồi hay sao? Nữ quái này đích thực là một ả sát nhân cộm cán khét tiếng nhất mà tôi từng thấy đấy.'

'Đó chỉ là một vụ án do cơn bộc phát tình cảm nhất thời thôi mà,' bọn chúng vừa nói vừa nhún vai dửng dưng.

'Cứ đi mà nói điều đó với vị thẩm phán đi,' tôi đáp. 'Tôi đây chỉ là một gã cảnh sát quèn thôi.'

'Chà,' bọn chúng bảo, 'đáng tiếc là ngài Monsieur đây sẽ phải thưởng ngoạn hòn đảo của chúng tôi trong ba tuần rồi. Chuyến tàu biển tiếp theo phải tận lúc đó mới cập bến cơ.'

'Ồ thế cơ à?' tôi cười nhạt. 'Thế thì để tôi nói cho các người biết cái này nhé. Trong lúc mấy gã đang săm soi giấy tờ cho vị mỹ nhân phạm tội của các người, thì tôi đã kịp lượn một vòng thám thính quanh bến cảng rồi. Và có một chiếc tàu buồm đang chuẩn bị khởi hành đi San Francisco vào tối nay đấy. Tôi đoán là chuyến đó sẽ ổn thỏa đối với tất cả chúng ta đấy.'

'Không thể nào!' Bọn chúng kêu lên hoảng loạn. 'Một quý cô thì không thể đi du lịch...'

'Dẹp ngay cái trò quý cô quý cậu đi,' tôi quát lên. 'Ả ta là tù nhân của tôi.'

Đó là một chiếc tàu buồm chở hàng chuyên buôn bán cùi dừa, cam, bông gòn, ngọc trai và những mặt hàng tương tự như thế, nhưng chắc chắn thuở trước nó từng là một chiếc du thuyền sang trọng. Trên tàu vẫn còn những phòng riêng cho hành khách, dẫu giờ đây chúng đã bị nhét đầy những thứ đồ phế liệu dùng để trao đổi buôn bán, thế nhưng tôi đã đạt được thỏa thuận với viên thuyền trưởng và hắn đã dọn sạch một phòng để sửa sang lại cho Janssen ở. Và rồi tôi áp giải Janssen xuống bến tàu.

Thưa Tòa, ngài sẽ phải nghĩ rằng ả ta vừa cứu cả giang sơn chứ không phải vừa sát hại De Vries cơ đấy, qua cái cách mà bọn chúng đối xử với người phụ nữ đó. Tất cả đàn ông và rất nhiều phụ nữ ở Papeete đã xếp hàng dài trên bến cảng. Và họ ca hát, nhảy múa rồi tiễn biệt ả. 'Khi nào được thả, nhớ quay lại đây nhé,' bọn họ dặn với theo ả. Bọn chúng làm tôi phát điên lên được, suýt chút nữa thì tôi đã buột miệng cười ruồi khi nghe tụi nó thốt ra cái câu được thả với chả không thả ấy.

Janssen nhìn con tàu, rồi lại nhìn đám đông. Và ả ta bỗng phát điên lên. 'Mẹ kiếp các người, đồ khốn kiếp!' Ả quay phắt lại trút giận lên tôi. 'Chỉ tại anh mà tôi mới phải quay về đấy!'

'Ừ, đúng thế, chỉ tại tôi đấy,' tôi đáp, 'nếu không vì tôi thì cô đã chẳng bắn chết De Vries rồi. Hóa ra tất cả là lỗi tại tôi tuốt cả chứ gì, hả? Giờ thì nghe đây, Janssen. Cô là tù nhân của tôi, và cô sẽ mãi là tù nhân của tôi. Cô đã dám chơi thì phải dám chịu, câm cái miệng hô hào đó lại đi. Cô và tôi cùng chung một thành phố, và tôi hiểu rõ con người cô. Lẽ ra cô nên biết một chút về tôi mới phải. Người ta đã chẳng thèm cử tôi đi bắt cô nếu tôi không có khả năng tự lo liệu cho bản thân mình. Toàn bộ đám bạn bè người Pháp của cô sẽ chẳng thể cứu nổi cô khỏi một tay cảnh sát New York một khi hắn đã quyết tâm tóm cổ cô đâu. Cô thua rồi, Janssen ạ,' tôi bảo ả; 'cô tốt hơn hết là nên đầu hàng số phận đi thôi.'

Ả ta trân trân nhìn tôi hồi lâu.

'Tôi vẫn chưa thua đâu,' ả đáp.

Viên thuyền trưởng thông báo với chúng tôi rằng hắn sẽ ghé qua đảo Nukahivo cùng một vài hòn đảo khác để bốc hàng lên tàu. Hắn là một lão già cáo già nhưng rất thực tế, và Janssen thì tìm mọi cách nịnh bợ lão ta hòng tìm đường trốn thoát, thế nên tôi không dám lơ là chút nào mà luôn kè kè bám sát bên cạnh. Dẫu cho lão ta là một gã già chẳng có chút tham vọng nào đi nữa, thế nhưng ngặt nỗi chẳng có ai ưa nổi một tay cảnh sát cả, và ai nấy đều căm ghét cảnh chứng kiến một tù nhân bị áp giải về quê nhà, nhất là khi kẻ đó lại là phụ nữ. Do đó tôi không đời nào cho phép Janssen và lão ta có cơ hội riêng tư trò chuyện với nhau. Một khi đã ra khơi xa khỏi đám đảo này, tôi nghĩ mọi chuyện sẽ ổn thỏa. Janssen thừa hiểu tính toán của tôi.

'Anh chẳng thèm cho tôi chút cơ hội nào để trò chuyện với lão già đó nhỉ.'

'Không đâu, thưa cô,' tôi cười nhạt. 'Đó là việc của cô. Còn tôi thì không đời nào buông lơi đâu. Cô thua rồi, Janssen ạ. Cố lừa phỉnh bản thân làm gì nữa chứ?'

'Ồ, tôi vẫn còn một con á giấu trong tay áo cơ mà. Tôi chưa thua cuộc đâu nhé!'

Ả ta đi ngủ sớm. 'Chắc anh định khóa cửa phòng lại chứ gì?' Ả hỏi tôi.

'Khóa làm gì cho nhọc xác? Vẫn còn những chiếc chìa khóa khác cơ mà. Các hòn đảo đang ở ngay gần kề kia kìa, và tụi nó có thể tống cô xuống một chiếc thuyền nhỏ bất cứ lúc nào. Tôi sẽ không khóa cửa đâu,' tôi bảo ả, 'nhưng tôi sẽ nằm ngủ ngay bên ngoài cửa phòng, tựa lưng sát vào cánh cửa. Cánh cửa này mở hất ra ngoài, và bất kỳ cử động nhỏ nào cũng sẽ đánh thức tôi dậy ngay lập tức. Cô thua chắc rồi đấy.'

'Được thôi! Tôi thua rồi đấy,' ả nói rồi chui vào giường nằm.

Tôi ngả lưng tựa vào cánh cửa và thiếp đi trên boong tàu. Có lẽ chỉ khoảng mười phút sau đó, hoặc thực ra là hàng tiếng đồng hồ đã trôi qua, cánh cửa bỗng bật mở. Lúc đó là giữa đêm khuya, bởi vì các vì sao trên trời đang treo lơ lửng ở vị trí cao nhất, chẳng có bóng dáng thứ gì khác ngoài mặt biển với những con sóng vỗ ì oạp vào mạn chiếc tàu buồm khi nó chòng chành nhấp nhô uyển chuyển như một chú ngựa đang phi nước đại. Và bỗng nhiên tôi giật mình tỉnh giấc, cảm thấy cô độc và ướt đẫm sương đêm. Tôi ngẩng đầu lên và thấy Janssen đang đứng sừng sững ngay phía trên tôi, vóc dáng cao lớn uy nghi cùng đôi mắt sáng rực như những vì sao.

'Nằm ngủ ở đó chắc chẳng thoải mái gì đâu nhỉ, McCarthy,' ả thì thầm.

'Tôi chẳng dám nhận là mình đang nằm trên giường hoa hồng đâu,' tôi đáp.

'Sao anh không bước vào trong này cơ chứ?'

'Tôi chẳng hiểu cô đang ám chỉ điều gì cả,' tôi lạnh lùng đáp.

'Cần gì phải bận tâm tôi ám chỉ điều gì chứ,' ả cười khẩy. 'Vào đây đi nào.'

'Tôi nghĩ mình cứ ở yên chỗ này thì hơn,' tôi đáp cộc lốc.

'Tôi vốn chẳng quen với việc những lời mời mọc kiểu này bị khước từ đâu đấy.' Giọng ả bỗng vương vất một chút bực bội khó chịu.

'Có rất nhiều thứ cô vốn chẳng hề quen thuộc, nhưng tốt hơn hết là nên tập quen dần đi cho kịp thời gian,' tôi đáp. 'Cô vốn quen sống trong các khách sạn sang trọng. Giờ thì cô phải tập làm quen với nhà tù Tombs thôi. Cô vốn quen nằm dài trên những chiếc đi văng êm ái. Giờ thì cô phải tập quen với việc ngồi thật thẳng lưng trên chiếc ghế ở nhà tù Sing Sing rồi đấy.' Thưa Tòa, tôi không hề muốn tỏ ra tàn nhẫn với ả ta đâu, thế nhưng tôi không muốn ả ta tiếp tục giở những trò gạ gẫm lẳng lơ ấy với tôi nữa.

Những lời ả thốt ra với tôi sau đó là gì, thưa Tòa, tôi chẳng thể nào nhắc lại nổi. Thế nhưng ả sập cửa cái rầm một tiếng thật mạnh và bỏ mặc tôi ở đó.

Tôi để ý thấy gió bắt đầu nổi lên thổi mạnh dần, và khi chiếc tàu buồm tròng cành thì nó rung bần bật, dòng nước chảy xiết ào ào trôi qua rất nhanh dưới ánh đèn xanh ở mạn phải của con tàu. Con tàu nghiêng hẳn sang một bên, đám thủy thủ lướt qua tôi nhanh như chớp trong khi gió rít lên trong các giăng buồm nghe hệt như tiếng đàn vĩ cầm đứt dây, thế nhưng át đi tất cả những âm thanh đó, tôi vẫn nghe thấy tiếng Janssen đang nguyền rủa trong khoang của mình, rủa xả hệt như một...

Khi viên chức McCarthy khựng lại trong giây lát giữa câu chuyện, dường như toàn bộ ánh mắt trong phòng xử án đều đồng loạt hướng về phía Anna Janssen đang đứng ở vành móng ngựa. Bồi thẩm đoàn nhìn cô với đôi chân mày chau lại; công chúng nhìn bằng những ánh mắt đầy bối rối. Thật khó lòng tin nổi rằng một nhân vật điềm tĩnh, uy nghi này đã từng có lúc đóng vai một ả siren chốn phố thị đối với viên cảnh sát áp giải cô ta rời khỏi chốn dung thân ở Tahiti. Bất động, có điều gì đó thật tinh khôi, với một phẩm giá siêu phàm kỳ lạ, cô không hề đỏ mặt, cũng chẳng mỉm cười. Chỉ có một bóng hình mờ nhạt của nỗi đau vương vấn quanh đôi mắt cô, hệt như thứ ẩn hiện nơi khóe mắt của những ai đang hoài niệm về những chuyện đau thương cũ kỹ, tưởng chừng đã chìm vào quên lãng từ những chặng đường đời đã qua.

Liệu từ đôi môi firm mọng hồng thắm ấy có thể thốt ra những lời báng bổ trong một dòng chảy dâm ô, ì ạch hay không? Liệu từ chiếc cổ rám nắng tuyệt mỹ ấy, vốn xứng đáng để cất lên những khúc ca ngợi ca Magnificat, có thể phát ra âm thanh gì? Xem chừng điều đó thật hoang đường, và hoàn toàn bất khả thi.

Vị thẩm phán nhìn cô với đôi mắt đầy cảm thông và thấu hiểu. Viện kiểm sát liếc nhìn cô với những ánh mắt đăm chiêu khó hiểu. Donegan chẳng thèm nhìn cô, cũng chẳng nhìn bất cứ thứ gì khác. Ông ta chỉ lim dim ngủ gục như một con chó...

"Suốt cả ngày hôm sau," McCarthy tiếp tục thuật lại, "cơn bão ngày càng dữ dội hơn. Bọn họ hạ bớt buồm cho đến khi chúng tôi lao đi vút qua với chỉ hai lá buồm đỉnh và buồm trước. Điều buồn cười là bầu trời chỗ này chỗ kia vẫn xanh ngắt. Cứ như thể mọi thứ sẽ trở lại quang tảng chỉ trong một hai tiếng nữa thôi, thế mà chẳng có chuyện đó xảy ra. Và viên thuyền trưởng đứng cạnh người cầm lái với vẻ mặt đầy lo lắng.

Anh phải hét lên thì người ta mới nghe thấy được. 'Trời sắp tạnh chưa hả thuyền trưởng?' tôi hỏi.

'Tôi chịu thôi,' lão đáp. 'Tôi cầu xin Chúa hãy đưa tôi thoát khỏi đám đảo này mau đi. Nếu tôi chỉ có một mình giữa lòng Thái Bình Dương, tôi chẳng màng quái gì đâu, thế nhưng lũ côn trùng san hô này chứ lị,' lão nói, 'chúng cứ xây tổ mãi, và chúng thực sự làm tôi phát bực. Và mấy tấm hải đồ về quần đảo Marquesas này nữa chứ,' lão càu nhàu, 'chẳng đáng một xu cắc ké nào cả. Tôi ước gì mình mau chóng thoát khỏi đám đảo quỷ quái này, thực sự là như thế.'

'Ồ, rồi ngài sẽ ổn cả thôi, thuyền trưởng,' tôi bảo.

'Cậu cút ngay lên mũi tàu cho tôi,' lão quát vang lên.

'Tôi sẽ quay lại tính sổ với ngài vụ này sau,' tôi nói, nhưng rồi cũng lảng đi chỗ khác vì thấy lão ta đang thực sự lo lắng.

Thứ duy nhất chúng tôi có lót dạ ngày hôm đó chỉ là một tách cà phê và một chiếc bánh mì kẹp. Rồi màn đêm buông xuống và chúng tôi vẫn tiếp tục lao đi trong giông bão.

Và rồi chúng tôi nghe thấy tiếng sấm sét.

Janssen nhất quyết không chịu đi ngủ. Ả ta bảo mình sợ lắm, và cứ bám lấy tôi kè kè. Và tiếng sấm cứ vang rền không dứt, tiến sát lại gần hơn, và bóng tối bao trùm đặc quánh.

'Kia là cái gì thế?' Janssen cất giọng hỏi.

'Tôi thấy nó chẳng phải sấm sét gì sất. Hình như có chiếc tàu nào đang gặp nạn bắn pháo hiệu cứu hộ thì phải,' tôi đáp. 'Tiếc thật vì chúng ta chẳng thể làm gì giúp họ được. Nhưng tôi nghĩ mình chẳng can thiệp nổi đâu.'

'Tôi sợ lắm, McCarthy ơi,' Janssen thốt lên. 'Đó không phải là tiếng súng hiệu đâu.'

'Chắc là cả một loạt súng liên thanh ấy chứ,' tôi bảo. 'Có lẽ là hải quân Pháp đang tập trận chăng. Chọn đúng ban đêm để diễn tập thật đúng là rảnh rỗi hết chỗ nói,' tôi lẩm bẩm.

'Tôi sợ lắm, McCarthy,' ả rên rỉ rồi xích lại gần tôi hơn.

'Chúng ta sẽ bình an vô sự thôi,' tôi trấn an ả.

'Tôi sợ lắm,' ả khóc lóc. 'Hãy vòng tay ôm lấy tôi đi, McCarthy, xin anh đấy.'

'Thôi ngay cái trò đó đi!' tôi quát. Trò mèo đó không lừa được tôi đâu, Janssen ạ. Dở trò đó làm gì nữa chứ?'

'Tôi sợ thật mà, thề có Chúa. Sắp có chuyện chẳng lành xảy ra rồi.' Con tàu thực hiện một cú nhảy nhót hệt như điệu nhảy jazz, và tiếng súng nổ chát chúa vang lên sát ngay bên tai chúng tôi. Và ở phía trên đầu, thưa Tòa, những vì sao vẫn lấp lánh tỏa sáng. 'Xin anh hãy ôm tôi vào lòng đi, McCarthy — hệt như tôi là em gái ruột của anh vậy.'

'Này nhé, cô chẳng giống em gái ruột của tôi tẹo nào đâu. Và đã có quá nhiều vòng tay ôm lấy cô rồi nên tôi không dại gì dâng tay mình ra nữa đâu. Nhưng cô muốn bám vào tôi thì cứ việc,' tôi nói.

Và rồi hàm răng tôi va vào nhau một cái thật mạnh khiến phần xương sống gần như đâm thấu qua hộp sọ, và có thứ gì đó đập mạnh vào đầu tôi. Rồi toàn bộ nước trên thế gian này đổ ập lên người tôi. Để rồi tôi chẳng còn biết trời đất là gì nữa."

Nhân chứng, dường như lúc này đang trải qua một sự biến đổi đầy kịch tính kỳ lạ. Cho đến tận lúc này trong phần tường thuật, câu chuyện của anh ta vẫn là một câu chuyện mà ai nấy đều có thể hiểu được, một câu chuyện của cảnh sát, được kể bằng giọng điệu cảnh sát, qua những từ ngữ của cảnh sát. Đối với căn phòng xử án, anh ta là một nhân vật thuộc tầm hiểu biết của họ, một con người đủ sức sưởi ấm trái tim của tầng lớp thị dân. Thật thà, bình dị, nói năng bằng phương ngữ, anh ta hiện lên trong mắt họ như hình mẫu điển hình và đáng tự hào của người bảo vệ các gia đình và mái ấm thành phố. Những con người vĩ đại làm sao! Họ biến sự anh hùng thành những điều bình dị thường nhật. Chúng ta có thể gọi cảnh sát New York là những kẻ ăn hối lộ; chúng ta có thể gọi họ là lũ vũ phu và bạo chúa; chúng ta có thể gọi họ là cặn bã của Ireland. Thế nhưng chúng ta không bao giờ có thể gọi họ là những kẻ hèn nhát!

Trong lịch sử từng ghi chép lại trường hợp của — tôi có nên gọi tên O'Kelly không nhỉ? Một gã cuồng sát, vũ trang tận răng, trốn xuống một căn hầm. "Rồi sau đó thế nào?" — "Tôi bước xuống dưới căn hầm đó và lôi cổ hắn ra." — "Lạy Chúa! Ngươi dám một mình bước xuống cái hổng tối tăm đó sau khi..." — "Ồ, có gì ghê gớm đâu; hắn dễ xơi lắm!"

Các người có thể tự hào về những trung đoàn lẫy lừng — Cận vệ già tại Waterloo; Biệt kích Rough Riders tại San Juan Hill, trung đoàn Black Watch, lính đánh thuê Bashi-Bazouks; hay binh đoàn Bersaglieri. Thế nhưng đối với tôi, hãy trao cho tôi lực lượng cảnh sát New York!

Cho đến lúc này, McCarthy vẫn chỉ là một viên cảnh sát New York, kể lại một cách khô khan các tình tiết của vụ án. Thế nhưng một phẩm giá mới bỗng vươn lên trong con người anh ta một cách đột ngột. Anh ta không còn đương đầu với những thủ tục trong nghề nghiệp của mình nữa mà đang đối mặt với những hiện tượng lớn lao của nhân loại. Cho đến nay, anh ta vẫn tỏ ra cung kính trước tòa án và các quan chức, chỉ là mộth bánh răng trong cỗ máy pháp lý. Thế nhưng bỗng chốc anh ta mang lấy cá tính, sự điềm tĩnh và phẩm giá riêng. Anh ta trở nên vĩ đại hơn cả nhân sự của vụ án, to lớn ngang bằng với người phụ nữ đang đứng trong vành móng ngựa. Và thật kỳ lạ làm sao, ngôn ngữ của anh ta thay đổi để phù hợp với cá tính mới mẻ ấy, chuyển từ thứ tiếng lóng vỉa hè New York sang cái mà chúng ta gọi bằng cụm từ cổ xưa mang đầy vẻ trang nghiêm: Tiếng Anh chuẩn của Hoàng gia.

"Tôi tỉnh lại," anh tiếp lời. "Ban đầu trước mắt tôi chỉ là một màn đen đặc quánh cùng cơn đau đầu như búa bổ, và ý nghĩ lóe lên trong não bộ: 'Janssen đâu rồi? Mình làm mất dấu Janssen rồi.' Và rồi đầu óc tôi tỉnh táo dần, mắt tôi mở ra. Tôi đang nằm trên một bãi cát lúc bình minh ló dạng, và Janssen đang nhẹ nhàng lau vết thương trên đầu cho tôi.

'Thì ra anh đây rồi!' tôi nói.

Và rồi tôi sực nhớ ra. Con tàu đâu rồi?

Tôi chống khuỷu tay vùng dậy đảo mắt nhìn quanh. Chúng tôi đang ở trên một dải bờ cát, phía sau là những hàng cây rậm rạp còn phía trước là một vùng vịnh nhỏ với mặt trời vừa ló rạng, sáng rực rỡ như một đồng tiền vàng ròng. Ngay trước mặt chúng tôi là một vũng vịnh nơi làn nước phẳng lặng và lấp lánh ánh kim, hệt như thứ rượu vang đang sủi tăm. Và rồi tôi phóng tầm mắt nhìn ra xa hơn nữa. Có một dạng tường thành chắn bằng các khối đá lởm chởm nằm giữa vũng vịnh và đại dương, và ở phía bên kia bức tường ấy, những con sóng biển đang gầm thào, đập ầm ầm, đập liên hồi như một gã điên vì thị nộ. Tõm! Rầm! Ầm! Và rồi tôi để ý thấy những mảnh vỡ gỗ, một kiện hàng, một mảnh vải trôi nổi bập bềnh trong đầm phá.

Con tàu buồm đã biến mất, tôi hiểu ngay ra cơ sự. Đã xảy ra một vụ đắm tàu.

'Mọi người đâu hết rồi?' tôi hỏi Janssen.

'Chẳng còn ai khác đâu.' Ả dang rộng hai tay. 'Chỉ có anh và tôi mà thôi!'

Rồi một lúc sau tôi cất giọng: 'Chúng ta đang lâm vào tình cảnh vô cùng ngặt nghèo đây — bị đắm tàu; chẳng có lấy một hạt cơm ăn; với tỷ lệ vô cùng mong manh được cứu sống. Chúng ta đang bị dồn vào chân tường rồi. Thậm chí còn chẳng có cả nước ngọt nữa.'

Thế nhưng ả chỉ bật cười.

'Tình hình không đến nỗi tồi tệ như anh tưởng đâu,' ả nói. 'Vẫn có nước ngọt đấy chứ. Tôi tìm thấy nó lúc đi kiếm đồ để lau rửa vết rách trên đầu cho anh đấy. Còn về khoản thức ăn, tôi từng sống ở mấy hòn đảo này một thời gian trước khi bọn họ tống tôi vào cái — nơi quái quỷ đó — ở Papeete. Có chuối này, có dừa này, và cả bánh mì nữa. Và cái vũng vịnh nhỏ kia thì đầy ắp cá.'

'Làm sao mà ăn cá sống được cơ chứ,' tôi đáp.

Lúc đó tôi đang lật giở mấy chiếc túi quần áo của mình, bày biện mọi thứ ra phơi dưới ánh nắng mặt trời cho khô ráo — khẩu súng lục của tôi, với mấy viên đạn được xếp thành một hàng ngay ngắn; chiếc đồng hồ đeo tay; con dao găm; chiếc ví đựng tiền. Ả chỉ tay về phía chiếc đồng hồ.

'Anh có thể dùng mặt kính của nó để tạo ra lửa đấy,' ả nói. 'Mấy quả chuối kia sẽ tạm đủ dùng cho lúc này. Tôi sẽ đi kiếm thêm ít đồ ăn nữa. Anh không cần phải lo lắng đâu,' ả nói khi nhận ra tôi đang nhìn chằm chằm vào mình. 'Tôi có trốn đi đằng giời cũng chẳng thể rời khỏi hòn đảo này được.'

Một lát sau ả quay trở lại và ngồi xuống bên cạnh.

'Anh có biết bằng cách nào mà mình dạt được vào bờ biển này không, McCarthy?'

'Tôi chịu,' tôi đáp. 'Tôi chẳng nhớ nổi gì sất.'

'Lúc con tàu đâm vào rạn san hô,' ả kể cho tôi nghe, 'anh và tôi đã bị những con sóng cuốn trôi qua khỏi rạn đá ngầm. Có vật gì đó đập trúng đầu anh. Thế nhưng chính tôi đã kéo anh lên bờ đấy, McCarthy ạ. Anh chìm lỉm xuống nước. Anh bất tỉnh nhân sự hoàn toàn. Tôi cũng vất vả lắm đấy nhé,' ả cười khúc khích đầy căng thẳng. 'Tóc của anh ngắn quá cơ.'

'Thế thì tôi phải cám ơn cô rồi,' tôi nói.

'Khỏi cần phải cảm ơn tôi làm gì,' ả đáp. 'Hãy trả lời tôi câu này đi!' Gương mặt ả bỗng trở nên vô cùng nghiêm túc. 'Anh không nghĩ rằng một mạng người đổi lấy một mạng người là công bằng hay sao?'

Tôi im lặng trước câu hỏi đó.

'Không đúng thế sao, McCarthy?' ả nài nỉ.

'Tôi rất tiếc,' tôi bảo ả. 'Tôi thực sự, thực sự rất tiếc, thế nhưng tôi buộc phải áp giải cô về đấy.'

'Anh là một gã đàn ông cứng nhắc thật đấy, McCarthy.'

'Tôi không phải là kẻ cứng nhắc. Tôi chỉ là một con người đã tuyên thệ hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tôi chỉ là kẻ được trao phó một sứ mệnh lớn lao, và tôi không được phép phụ lòng tin đó. Này cô em, cô đã bỏ lỡ mất cơ hội của mình rồi đấy,' tôi bảo ả. 'Lẽ ra cô nên để mặc tôi chìm xuống nước lúc thấy tôi sắp ngộp thở. Khi đó thì cô đã được tự do rồi. Lẽ ra cô nên đứng ngoài cuộc và để mặc tôi chết đuối mới phải.'

'Ồ, tôi không thể làm thế được!' ả nói.

'Tôi cũng chẳng thể để cô trốn thoát được!'

Vào buổi chiều, tôi đi một vòng quanh hòn đảo để thám thính xem chúng ta đang ở nơi quái quỷ nào. Thế nhưng từ bất kỳ góc độ nào tôi cũng chẳng thể nhìn thấy đất liền hay cánh buồm nào xuất hiện cả. Chúng ta chỉ đang kẹt trên một trong số những hòn đảo san hô vòng ở Thái Bình Dương, cách xa mọi tuyến đường giao thông ngoại trừ mấy con tàu buôn đi lại giữa các hải đảo. Tôi đảo mắt nhìn khắp nơi — bắc, đông, nam và tây — và chẳng có gì ngoài biển khơi cuồn cuộn sóng trắng, đục ngầu, với những đàn chim đang chao lượn hoặc bồng bềnh trôi trong không trung.

Bản thân hòn đảo rộng chưa đầy mười dặm vuông và có các khối đá nằm rải rác khắp nơi ngoại trừ khu vực xung quanh vũng vịnh nơi chúng ta cập bến, vốn được chắn bởi một đê chắn sóng san hô. Cát sáng lóa và có màu vàng rực rỡ như vàng mới luyện, và trên hòn đảo phủ một màu xanh lục đậm gần như chuyển sang đen. Và bạn có thể nhìn thấy những cây dừa, cây chuối và cả những cây cam nữa. Và trong lúc tôi đang đứng đó, một chú heo con bất ngờ chui vù qua bụi rậm nhìn tôi chằm chằm, rồi ré lên bỏ chạy mất tăm. Và trong một khoảnh khắc, tim tôi đập thình thịch vì tưởng rằng có bóng người trên hòn đảo này. Loài heo là loài vật gần gũi với con người. Từ xưa đến nay chúng luôn gắn bó với con người đến mức bản thân chúng cũng gần giống con người. Thế nhưng chỉ một khoảnh khắc sau, có thứ gì đó mách bảo tôi rằng chẳng có bóng ma nào ở đây cả. Nó cùng những con vật khác đã được thả lên hòn đảo này từ những chuyến tàu săn cá voi cổ xưa giờ đã không còn nữa.

Tôi nhìn quanh và thấy hòn đảo, bờ cát vàng óng ả, cơn gió trong lành, làn nước trong vũng vịnh trong vắt như nước trong ly thủy tinh; những chú cá bơi lội dưới dòng nước và muông thú trên đảo, cùng hoa trái trĩu nặng trên cành. Và ánh mặt trời rực rỡ, ấm áp tràn đầy nhựa sống, và ở đằng xa tôi có thể nhìn thấy Janssen. Ả ta đã buông xõa mái tóc dài phủ xuống tận đầu gối tựa như một tấm áo choàng lấp lánh kỳ diệu, hệt như một chiếc áo lông thú lộng lẫy nào đó.

Và tôi thầm nghĩ: Có biết bao nhiêu viên cảnh sát kỳ cựu ở New York — có biết bao nhiêu triệu phú nữa chứ — sẵn sàng đánh đổi để được kết thúc cuộc đời mình một mình trên hòn đảo thiên đường này, tránh xa mọi phiền muộn lo âu và có trong tay mọi thứ cần thiết dưới ánh nắng ấm áp tựa rượu vang hơn là ánh sáng thông thường, lại thêm Janssen ở bên cạnh khi ả buông xõa mái tóc dài.

Thế nhưng tôi tự nhủ với lòng mình: Ngươi đừng có mà mơ mộng hão huyền kiểu đó. Ngươi chưa già, cũng chẳng phải kẻ thất chí. Ngươi không có lý do gì để lãng phí cuộc đời mình cả. Ngươi đang gánh vác một nhiệm vụ trên vai. Ngươi là một thám tử, và ngươi đang giữ một tù nhân, và ngươi phải áp giải cô ta về nhà!

Tôi quay trở lại chỗ Janssen đang ngồi bên vũng vịnh và tìm kiếm con dao, đồng hồ cùng khẩu súng của mình. Thế nhưng khẩu súng đâu mất tiêu rồi.

'Cô có biết khẩu súng của tôi đâu rồi không?'

Ả quay phắt người lại đối mặt với tôi và chĩa thẳng nó vào đầu tôi.

'McCarthy,' ả nói, 'lời hứa của anh rất có trọng lượng với tôi. Hoặc là anh nói ngay bây giờ rằng sẽ thả cho tôi đi khi chúng ta được giải cứu, bằng không tôi sẽ bắn chết anh.'

'Tôi không thể,' tôi đáp. 'Tôi không đời nào làm thế. Giờ thì trả lại súng cho tôi và cư xử cho ra hồn đi.'

'Tôi nói thật đấy nhé,' ả tuyên bố. 'Thả tôi ra hoặc tôi sẽ cho anh một phát đạn.'

'Tôi không phải là kẻ đầu tiên đâu.'

'Anh có đồng ý không?'

'Không đời nào!' tôi đáp.

Tôi chăm chú quan sát khẩu súng, chực chờ chộp lấy nó nếu có cơ hội. Để rồi tôi nhìn thấy một tia lửa lóe lên hệt như người ta quẹt diêm. Sau đó có thứ gì đó bỏng rát bên tai tôi hệt như thanh sắt nung đỏ. Tôi nghe thấy tiếng súng nổ. Cơ thể tôi bật ngửa xoay nửa vòng.

Tôi đứng thẳng người lên đối diện.

'Cô nhắm chuẩn hơn vụ xử De Vries đấy chứ,' tôi nói với vẻ đần độn.

Tôi cứ đinh ninh rằng ả sẽ bồi thêm phát kết liễu đời mình, thế nhưng ả bước đến gần và trao trả khẩu súng cho tôi. Ả lặng lẽ nhìn tôi, cổ họng nghẹn ngào, rồi bất chợt từ khóe mắt ả hai giọt nước mắt lớn lăn dài xuống khóe môi khiến tôi phải quay mặt đi nơi khác.

'Tôi sẽ đi dựng cho anh một chiếc giường bằng lá chuối, rồi sau đó tôi sẽ nhóm lửa. Hãy quên đi mọi phiền muộn trong chốc lát đi. Cứ coi như đây là một chuyến đi dã ngoại đi vậy.'

Thế nhưng dòng nước mắt vẫn tiếp tục tuôn rơi trên khuôn mặt ả và ả chẳng nói thêm lời nào nữa. Tôi lảng đi làm việc bận rộn vì không thể chịu đựng nổi cảnh tượng đó. Bản thân tôi lúc này cũng chẳng cảm thấy hài hước chút nào.

'Đêm đó chúng tôi ngồi bên đống lửa trên bãi biển, khi vầng trăng non mỏng manh đang nhô lên cao. Một cơn gió nhẹ thổi từ phía bờ biển vào. Bỗng nhiên ả quay sang phía tôi.

'Anh là một người có đạo đức tín ngưỡng phải không, McCarthy?' ả hỏi.

'Tôi cũng chẳng hẳn là người sùng đạo gì cho cam,' tôi đáp. 'Tôi cũng giống như bao người khác thôi, tôi đoán thế.'

'Anh có tin vào Chúa Trời không, McCarthy?'

Chẳng ai thích bàn chuyện sâu xa về những chủ đề kiểu đó cả. Bạn có thể suy ngẫm về chúng, nhưng chẳng mấy khi thốt thành lời. Và đặc biệt là bạn sẽ chẳng đời nào đem những chuyện đó ra trò chuyện với một phạm nhân đang đối mặt với tội danh mưu sát, trừ phi bạn thuộc nhóm mấy gã đạo đức giả chuyên đạo lý.

'Ai mà chẳng tin chứ?' tôi lảng tránh.

'Anh có tin rằng — giọng ả bỗng trở nên vô cùng nghiêm túc — Chúa Trời đang che chở cho anh, đang chăm sóc cho tôi trên hòn đảo này không?'

Đó là điều mà người ta hay nói vậy thôi.

'Anh có tin rằng, McCarthy, Ngài biết rõ về tôi, đang che chở và quan tâm đến tôi không?'

Tôi im lặng — bởi vì tôi không tài nào nhìn nhận được điều đó. Ả ta đã nằm ngoài vòng luân hồi cứu rỗi rồi. Tôi rất muốn nói với ả lời 'có'. Thế nhưng tôi không thể thốt ra được.

'Thế ra anh không tin sao, McCarthy — giọng ả chỉ còn là một tiếng thì thầm khản đặc — rằng có bất kỳ sự quan tâm nào dành cho tôi ở bất cứ nơi đâu trên cõi đời này.'

'Ồ, bận tâm đến chuyện đó làm quái gì cơ chứ?'

'Thế ra anh không tin thật đấy à,' ả nói. 'Anh nghĩ tôi quá tồi tệ để mà... ngay cả chuyện đó... cũng không xứng đáng nhận được sao.'

Tôi đứng dậy tự phủi người. 'Biết đâu rốt cuộc chẳng có chuyện đó thật ấy chứ,' tôi bảo ả. Thế nhưng bỗng nhiên ả gục xuống khóc nức nở, vùi mặt vào lớp cát trên bãi biển, hệt như thể trái tim ả đang tan vỡ từng mảnh.

Tôi bước tránh ra chỗ khác, bởi vì tôi chẳng thể giúp ích gì cho ả, rồi thẫn thờ đi dọc theo bãi cát. Làn nước vỗ ì oạp vào bờ cát, thì thầm qua những hàng cây, thế nhưng tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng khóc nghẹn ngào của Janssen.

Tôi cứ bước đi mãi, đi mãi. Tôi nghe thấy tiếng đại dương gầm rú trên các mảng đá ngầm, và tiếng xào xạc của hàng cây lớn dần. Một chú rùa bò lộc cộc xuống nước, và một quả dừa rơi bịp một tiếng xuống đất, thế nhưng át đi tất cả những âm thanh đó, tôi vẫn nghe thấy tiếng khóc của Janssen, những tiếng khóc xé lòng, hệt như những mảnh lụa đang bị xé rách khỏi tấm vải lớn với thứ bi kịch đầy tiếng rít phản kháng. Nó gợi cho tôi cảm giác chính ả đang tự cào xé trái tim mình bằng những nhát roi tàn nhẫn, và mỗi mảnh thịt đỏ hỏn đều đang rên rỉ phản đối: 'Đừng mà, đừng, đừng thế nữa!'...

"Vầng trăng non rồi tròn vành vạch rồi lại khuyết đi và lụi tàn," McCarthy tiếp tục kể. "Thế nhưng chẳng có sự trợ giúp nào xuất hiện cả.

Chẳng có việc gì để làm ngoài việc chờ đợi, và một viên cảnh sát thì chẳng màng gì đến việc chờ đợi. Toàn bộ cuộc đời anh ta là những chuỗi ngày chờ đợi, ngoại trừ một vài khoảnh khắc hành động lóe lên đây đó. Thế nhưng tôi lo lắng cho Janssen.

Janssen chẳng hề gây ra rắc rối nào cho tôi cả. Chúng tôi trò chuyện hệt như những người lạ mặt thân thiện đang đứng chờ tàu trên sân ga. Ả đi hái chuối, dừa và bánh mì, thu lượm chúng khi chúng rụng xuống. Tôi xoay sở bắt được một chú heo sữa ăn thịt dỗ bữa thỉnh thoảng, và tự chế một chiếc cần câu từ đoạn dây thừng tước ra từ đống phế liệu trôi dạt vào từ vụ đắm tàu, cùng chiếc kim khâu do Janssen đưa cho.

Chẳng có việc gì tôi thích làm hơn là đi câu cá, và tôi cứ ngồi đó thả câu rồi miên man suy nghĩ suốt thời gian dài. Và những chuyện nhỏ nhặt về cuộc sống ở New York lại hiện về trong đầu tôi, khiến tôi phiền muộn. Tôi chưa bao giờ là kẻ ăn hối lộ. Tôi chưa từng nhận lấy dù chỉ một xu của bất kỳ ai khi còn làm trong đội chống tệ nạn dưới danh nghĩa tiền bảo kê, thế nhưng có những chuyện vụn vặt cứ ám ảnh tâm trí tôi. Chẳng hạn như khi tôi bước vào một quán rượu để uống nước, họ chẳng bao giờ thu tiền của tôi cả. Khi một nghi phạm bị bắt giữ, đôi khi tôi tìm giúp một người bảo lãnh cho kẻ đó, và họ gửi tặng tôi chút đỉnh như một cách thể hiện ân huệ. Hoặc tôi nhận bán vé cho buổi gây quỹ này hay buổi khác, chẳng ai muốn mua cả, nhưng chẳng một ai dám từ chối. Và tôi ngồi đó giữa vài mẫu đất san hô ở Thái Bình Dương trong khi mặt trời mọc ở đằng đông phía trên New York, và mặt trăng lặn ở đằng tây hướng về đất Trung Hoa. Và gió thổi hướng nam từ Nhật Bản hoặc hướng bắc từ tận cùng thế giới. Và tôi ngẫm nghĩ: Mọi thứ thật nhỏ bé làm sao. Chẳng đáng để một người lao tâm khổ tứ.

Và trong lúc tôi đang ngẫm nghĩ thì Janssen cũng đang suy tư. Thế nhưng ả đang nghĩ gì, tôi tài nào đoán nổi. Ả rất ít nói. Và có những lúc nét mặt ả chẳng hề cứng nhắc chút nào, đôi mắt cũng vậy. Và khi ả cất lời, ánh mắt hướng xuống mặt đất với vẻ vô cùng nghiêm túc.

'Cô đang nghĩ ngợi gì thế, Janssen?' tôi cất tiếng hỏi.

'McCarthy,' ả đáp, 'anh đã bao giờ, sau một ngày làm việc vất vả, đầy thất vọng, bám đầy bụi bẩn, bước vào nhà rồi bật vòi sen nước lạnh lên để rồi bỗng cảm thấy dễ chịu hơn, sạch sẽ hơn — và lại tìm thấy niềm hạnh phúc chưa?'

'Đó là điều duy nhất phải làm vào một ngày tồi tệ như thế.'

'Chà, tôi có cảm giác,' ả nói, 'giống như hòn đảo này chính là bồn tắm gột rửa sau chuỗi ngày tồi tệ kinh khủng trong cuộc đời tôi vậy.'

Đôi khi chính tôi cũng thầm nghĩ, nơi này chắc đang làm tổn hại đến thần kinh của ả đây. Ả sẽ thèm khát những ánh đèn rực rỡ, sự nhộn nhịp vui tươi, đám đông người qua lại, dẫu chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi trước khi phải đối mặt với phiên tòa xét xử. Thậm chí chiếc ghế điện có lẽ còn tốt hơn cho ả so với việc phải mỏi mòn chờ đợi thế này, tôi thầm nghĩ.

'Cô không thấy cô độc sao, Janssen?' tôi hỏi. 'Nơi này không làm cô phát điên lên à — khi chẳng có lấy một ai để trò chuyện?' Chúng tôi chẳng bao giờ đả động gì đến vụ án mạng hay phiên tòa nữa.

'Ồ, không đâu, McCarthy!'

'Tôi cứ ngỡ rằng,' tôi nói, 'sau cuộc sống náo nhiệt từng trải qua, cô sẽ thấy nơi này là một thử thách khủng khiếp lắm chứ.'

'McCarthy,' ả bỗng cất lời, 'anh đã từng đến Saranac bao giờ chưa?'

'Tôi từng đi ngang qua đó.'

'Anh đã từng thấy những con người khốn khổ ở đó chưa, họ thật yên tĩnh, kiên nhẫn chờ đợi, vui mừng vì được sống, chỉ để được chữa lành vết thương? Chà, tôi cũng giống như họ vậy.'

Tôi không nhận ra sự thay đổi đang dần diễn ra ở Janssen trong suốt một thời gian dài. Tôi chỉ nhìn nhận con người qua bề nổi bên ngoài. Tôi không nhìn thấu tâm can họ. Tôi là một thám tử. Tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng có lẽ ả đang buồn chán. Có lẽ ả đang lo lắng. Thế nhưng vào một buổi chiều nọ, ả đến tìm tôi và tung ra một điều bất ngờ.

'McCarthy,' ả bảo, 'mỗi buổi chiều anh có phiền không nếu tránh đi chỗ khác khoảng một tiếng hoặc hơn thế nữa tính từ khu vực vũng vịnh này?'

'Có ý đồ gì đây?' tôi hỏi.

'À, tôi từng là một kình ngư cừ khôi,' ả nói, 'và tôi sắp luyện tập bơi lội trở lại, mà tôi lại chẳng có lấy một bộ đồ bơi nào cả, thậm chí cả quần áo bó sát cũng không có. Thế nên anh tốt hơn hết là hãy lánh mặt đi.'

Tôi tự nhủ thầm: 'Đây quả là điều kỳ quặc đối với một kẻ cứng đầu cứng cổ như thiên hạ đồn đại về Janssen.' Và tôi tự hỏi liệu ả có đang ngầm ý muốn ngược lại với những gì ả vừa thốt ra hay không. Ý tôi là ả muốn tôi cứ lảng vảng ở quanh đây. Và biết đâu ả nghĩ tôi sẽ sập bẫy tình. Và nếu tôi sập bẫy, ả sẽ tóm được tôi, tôi tự nhủ.

Và rồi tôi ngước lên nhìn ả, bắt gặp ánh mắt của ả, và chưa bao giờ trong đời tôi cảm thấy xấu hổ đến thế, dù là trước đây hay tận bây giờ.

'Được rồi, tùy cô thôi, Janssen,' tôi đáp.

'Cảm ơn anh nhé, McCarthy!'

Một tuần sau, ả mượn con dao của tôi.

'Quần áo của tôi tả tơi hết cả rồi, McCarthy,' ả nói, 'thế nên đành quay về thời Vườn Địa đàng đối với tôi vậy. Tôi phải bận đồ giống như mấy cô nàng wahini ở dưới này thôi. Đừng có mà cười nhạo tôi đấy nhé, McCarthy; hãy hứa với tôi là không được cười đấy.'

'Đừng có quá đà theo kiểu Vườn Địa đàng đấy nhé,' tôi cảnh cáo.

'Đừng lo!' ả cười phá lên. Và sáng hôm sau bạn có thể dùng một cọng rơm hất ngã tôi xuống đất luôn, theo đúng cách người ta vẫn nói. Ả đã dùng sợi thực vật kết những chiếc lá chuối lớn lại với nhau để làm thành một chiếc váy dài đến đầu gối. Và khoác quanh vai cùng ngực ả là một chiếc áo chẽn nhỏ làm bằng lá cây, cùng tấm áo choàng bằng mái tóc vàng rực rỡ của ả buông xõa bồng bềnh, lấp lánh gợn sóng.

'Trông tôi thế nào hả, McCarthy?'

'Cô trông tuyệt lắm,' tôi bảo ả. 'Trông cô hệt như trong tranh vẽ vậy, thực sự là như thế. Cô có thể đóng vai trong một vở kịch sân khấu ấy chứ, chỉ có điều cô quá đỗi thanh tao và đoan trang.' Ả đỏ bừng mặt thẹn thùng hệt như một cô thiếu nữ mười sáu tuổi, khiến tôi giật mình nhớ ra rằng ả vốn là phạm nhân bị giam giữ vì tội mưu sát. Và tôi cúi xuống nhìn bản thân mình, sờ cằm, ngắm nghía bộ đồ đang mặc trên người. 'Cô làm tôi thấy mình chẳng khác nào một gã vô gia cư rách rưới.'

Các tháng ngày trôi qua và có hai chuyến tàu lướt ngang qua.

Một chuyến tôi nhìn thấy vào lúc chạng vạng tối. Vài đám mây mỏng tang lướt qua lướt lại trước mặt trời, và biển khơi nhuốm một màu tía sẫm, còn bãi cát chuyển sang một sắc trầm hệt như màu của đồng tiền vàng đã qua lưu thông nhiều năm tháng, vừa chín muồi vừa hơi ngả đỏ. Và sắc xanh của những hàng cây rậm rạp đến mức bạn có thể cảm nhận rõ rệt bằng xúc giác. Và ở đường chân trời xuất hiện một chiếc thuyền của người bản địa với cánh buồm hình tam giác màu cam rực rỡ.

Tôi nhìn thấy nó. Tôi chẳng thèm nhúc nhích. Tôi chẳng thể làm gì được cả. Thế nhưng tôi có cảm giác nó thật phi thực tế. Nó không hề tồn tại ở đó. Nó chỉ là một giấc mơ. Nó cũng ảo ảnh hệt như hòn đảo này đối với tôi, ảo ảnh hệt như cuộc đời cũ kỹ của tôi, ảo ảnh hệt như vạn vật trên đời — ngoại trừ Janssen.

Thế nhưng một tuần sau, một con tàu khác lại xuất hiện, và lần này nó không hề phi thực tế chút nào. Lùn lùn và kềnh càng, đó là một chiếc tàu chở hàng cồng kềnh đang xu hướng hướng về vùng New Zealand. Nó lướt qua cách bờ chưa đầy ba dặm, trông vô cùng thô kệch trên mặt biển, với ống khói phun ra những cuộn khói đen ngòm hệt như một sự sỉ nhục đối với vùng biển lấp lánh ánh quang. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng một đống lửa và chạy đến đó dùng thấu kính hội tụ nhóm lửa. Và Janssen đứng thẫn thờ bên cạnh nhìn tôi.

'Tôi buộc phải quay về thật sao, McCarthy?' ả hỏi.

'Cô buộc phải quay về để đối mặt với sự thật thôi, Janssen.' Và tôi châm lửa đốt đống củi.

Tôi chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ để lên tàu, thế nhưng chiếc tàu chở hàng chẳng hề mảy may chú ý. Chúng cứ thế tiến thẳng về phía trước. Có lẽ chúng nghĩ đó chỉ là mấy nhóm người bản địa đốt lửa, nhưng dù thế nào đi nữa chúng cũng chẳng thèm quay đầu hay giảm tốc. Tôi chạy ra mép nước hét lớn về phía chúng. Tôi lội ùm xuống nước ngập đến ngang thắt lưng, huýt sáo, búng tay và gọi giật chúng lại hệt như gọi một con chó, thế nhưng chúng phớt lờ tất cả. Để rồi cuối cùng tôi đành tuyệt vọng buông xuôi.

'Tôi rất tiếc, McCarthy,' Janssen nói.

'Cô tiếc cái quái gì chứ?' tôi hỏi ả. 'Lẽ ra cô phải vui mừng mới đúng chứ.'

'Tôi vui chứ,' ả đáp. 'Tôi mừng cho bản thân mình, thế nhưng tôi lại thấy tiếc cho anh, McCarthy ạ. Tôi thực sự rất tiếc.'

Có một đêm chúng tôi ngồi bên đống lửa dưới ánh trăng rọi sáng, và tôi đang cố mày mò xem người bản địa làm thế nào để dựng những căn lều, bởi vì tôi muốn cất một gian cho Janssen. Thời tiết ở mấy hòn đảo này có những trận mưa kỳ quặc lắm. Đôi khi giữa bầu trời trong vắt bỗng xuất hiện một đám mây bay qua rất cao, rất nhanh, và những hạt mưa trút xuống ào ào như đạn bắn. Bạn có thể nghe thấy tiếng mưa rào rào quất lên những tán lá, và gõ lốp bốp trên mặt biển hệt như tiếng súng lục. Và chẳng mấy chốc nó sẽ tạnh ngay thôi, thế nhưng Janssen vẫn cần phải có một chỗ trú ẩn khi những trận mưa ấy kéo đến.

Và Janssen cứ ngồi lặng im thế đấy, dùng tay vẽ những hình thù vẩn vơ trên bãi cát và chẳng nói năng gì. Rồi ả quay sang nhìn tôi.

'McCarthy,' ả hỏi, 'liệu tôi có thực sự là kẻ đã ra tay sát hại Alec de Vries không?'

'Cô đã bắn hắn chết ngắc rồi còn gì.'

'Mọi chuyện cứ ngỡ như một giấc mơ, một cơn ác mộng trong đêm vậy.'

'Giá mà lúc đó cô chịu ở lại và ngắm nhìn cái xác ấy, cô đã biết chắc đó không phải là giấc mơ.'

'Và chỉ vì tôi đã tước đoạt mạng sống của một kẻ chẳng đem lại ích gì cho ai mà tôi phải quay về chịu tội sao.'

'Cô buộc phải quay về thôi, đúng thế đấy,' tôi bảo ả.

'Chà, ngẫm cho kỹ thì điều đó hoàn toàn công bằng thôi,' ả nói. 'Chính anh là người gảy đàn và khiêu vũ theo giai điệu đó, thì anh phải trả tiền cho nhạc công thôi. Thế nhưng tôi sợ lắm, McCarthy. Tôi sợ vô cùng. Sẽ rất dễ dàng để tôi tự gieo mình xuống biển hoặc mượn khẩu súng của anh vào một đêm nào đó. Hãy nghĩ mà xem. Bọn họ sẽ tròng những vòng sắt vào chân anh và trói chặt anh vào một chiếc ghế, rồi chụp một chiếc mũ trùm lên đầu. Và rồi một gã đàn ông, cũng mang thân xác bằng xương bằng thịt hệt như anh, sẽ gạt cần công tắc, và hệt như cách người ta tắt đi một ngọn đèn, hắn sẽ dập tắt sự sống của cuộc đời anh, chính thứ ánh sáng đang tồn tại trong huyết quản của hắn... Và tất cả diễn ra trong một buổi sáng lạnh lẽo, xám xịt...'

'Để tôi nói cho cô nghe cái này nhé, cô em —' chuyện này tôi đã nung nấu trong đầu từ lâu rồi. 'Tôi không nghĩ họ sẽ thiêu hủy cô đâu. Chúng ta sẽ thuê cho cô một vị luật sư cừ khôi khi quay về, và cô sẽ chỉ phải chịu án tù giam dài hạn trên trại giam phía thượng nguồn mà thôi.'

'Thế nhưng anh không hiểu sao, McCarthy,' ả cười căng thẳng, 'điều đó còn tồi tệ hơn gấp bội. Một con người gây ra tội ác, như những gì tôi đã làm, bởi vì tâm trí và bản ngã của kẻ đó — đầy ắp những ngóc ngách bụi bặm và mạng nhện, những cảm xúc tồi tệ, những dục vọng thấp hèn. Và rồi kẻ đó bỏ trốn. Và biết đâu trong sa mạc hay giữa núi non hùng vĩ, một cơn gió lớn sẽ thổi tới gột rửa sạch sẽ con người đó. Và kẻ ấy sẽ hàn gắn lại phần bản ngã đã vỡ vụn của mình.

Thế nhưng đám thẩm phán ngốc nghéc và lũ cảnh sát ngu ngốc lại truy cùng diệt tận, rồi tống kẻ đó vào ngục tối, và kẻ ấy cứ ngồi lủi thủi trong bóng tối ấy trong khi những bánh răng trong đầu cứ quay cuồng. Và những mạng nhện lại giăng đầy, và thứ bụi bẩn từ những con người khác lại bám dính lấy y. Và cuối cùng y còn trở nên tồi tệ hơn cả điểm xuất phát ban đầu.

Tôi thà chết còn hơn, McCarthy ạ — chết đi, tất cả diễn ra trong buổi sáng lạnh lẽo xám ngắt ấy.'

Một tháng sau chuyện đó, Janssenổm lăn ra ốm. Có lẽ vì cơn mưa bất chợt nào đó đã làm ả nhiễm lạnh. Có lẽ do mấy loại quả mọng hay món cá hoặc thứ gì khác. Thế nhưng dù thế nào đi nữa, ả vẫn nằm bẹp dí ở đó, mặt cắt không còn giọt máu và gần như cận kề cái chết, mọi sức sống dường như đã cạn kiệt khỏi cơ thể ả. Chẳng có việc gì tôi có thể làm cho ả ngoài việc cố gắng động viên tinh thần và xốc người ả dậy mỗi khi ả mỏi mệt vì phải nằm lì một tư thế.

'Cô phải mau chóng khỏe lại chứ, Janssen,' tôi bảo ả. 'Cô phải cố gắng lên chứ.'

'Nhưng cố gắng để làm gì cơ chứ?' ả hỏi ngược lại. 'Sao tôi không chết quách đi cho rồi?'

'Đó không phải là cách nói năng đúng đắn đâu.'

'Cuộc đời này còn lại gì cho tôi nữa chứ?' ả hỏi với giọng cay đắng. 'Chiếc ghế điện ư?'

'Cô chẳng có gì phải bận tâm lo lắng cả,' tôi an ủi. 'Chỉ vài năm bóc lịch trên trại giam phía thượng nguồn rồi lại được thả ra thôi, và chúng ta sẽ lại có những ngày tháng tươi đẹp cũ.'

'Tôi sẽ chẳng sống nổi đến ngày đó đâu,' ả đáp.

'Này, nghe đây,' tôi đùa cợt với ả. 'Cô không đời nào bắt tôi lặn lội vượt nửa vòng trái đất vì cô để rồi lại bỏ dở giữa chừng không thèm về nhà đâu đấy. Cô không được phép chơi khăm tôi kiểu đó đâu, cô em ạ; hãy tỏ ra kiên cường lên chứ.'

'Tôi rất muốn làm hài lòng anh lắm chứ, McCarthy,' ả mỉm cười; 'thế nhưng ngay cả vì lý do đó tôi cũng không đời nào chịu sống tiếp đâu. Anh không thể nghĩ ra lý do nào khác thuyết phục hơn sao?'

'Sẽ cô đơn lắm đấy, nếu như cô cứ thế bỏ đi,' tôi nói; và đó thực lòng là những gì tôi suy nghĩ. 'Cô đơn, thực sự rất cô đơn. Tôi đang bắt đầu có tình cảm sâu sắc với cô rồi đấy, Janssen.'

'Nghe lọt tai hơn rồi đấy,' ả nói rồi vỗ nhẹ lên bàn tay tôi.

Bên ngoài, màn sương chạng vạng của tháng Giêng đã len lỏi vào những hẻm núi của thành phố New York, phủ lên những con đường chật hẹp, những tòa nhà cao tầng trổ cửa sổ hình răng cưa, những chiếc xe tải đang di chuyển và đám đông người đi bộ một vẻ phi thực tế, hệt như thể họ đang được nhìn qua làn sương mờ do một gã phù thủy tạo ra theo tiếng gọi của một kẻ khốn khổ. Qua những khung cửa sổ của phòng xử án, tòa nhà Tombs vẫn hiện rõ mồn một, thế nhưng công trình ấy dường như đã trở nên vô thực. Nó hệt như tòa lâu đài của loài yêu tinh trong câu chuyện cổ tích dành cho trẻ nhỏ, trông vô cùng đáng sợ, thế nhưng lại chẳng hề tồn tại thực sự.

Vị thẩm phán, bồi thẩm đoàn, các nhân viên tòa án, toàn bộ căn phòng xử án dường như đã đánh mất đi tư cách thực thể của một phiên tòa. Nơi này chẳng còn giống một phòng xử án nữa mà giống như bối cảnh một ngôi nhà trong vở kịch. Nó chỉ là một thứ công thức rập khuôn bao trùm lấy khoảng một trăm con người có mặt. Và người ta cũng có cảm giác rằng nơi này không nằm ở New York. Chẳng có lấy một bầu không khí nào của New York ở đây cả. Thành phố New York có thể chỉ là một lớp áo khoác ngoài và bộ đồ ngụy trang, thế nhưng tâm trí và bản ngã của tất cả mọi người đều đang đặt trọn trên một hòn đảo vàng óng giữa vùng biển ngời sáng.

Và họ chẳng còn nhìn thấy McCarthy trên bục nhân chứng, cũng chẳng thấy Janssen trong vành móng ngựa nữa, mà thay vào đó là bên vũng vịnh nơi làn nước trong vắt đến mức người ta có thể nhìn thấu sâu xuống tận những tầng đáy sâu thẳm, nơi những chú cá cầu vồng đang bơi lội tung tăng dưới đó...

"Ả khỏe lên từng ngày, và tôi vui mừng đến mức suýt cất tiếng hát," viên cảnh sát tiếp tục, cất giọng trôi chảy hơn nhờ sự luyện tập sau bảy năm trời im lặng. "Ả ngồi trên bãi biển và sức khỏe tràn về với từng cơn gió biển, để rồi từng chút một, sắc hồng rạng rỡ trở lại trên đôi má ả, nhựa sống căng trào, và mái tóc vốn dĩ bết bát nay bồng bềnh gợn sóng, hệt như mặt biển tĩnh lặng bỗng xao động trước ngọn gió lướt qua. Và chẳng mấy chốc ả lại quay trở lại bơi lội. Thế nhưng chẳng còn lại mấy nét của ả Janssen thuở trước nữa. Mọi cử chỉ của ả đều trở nên điềm tĩnh. Thỉnh thoảng Ả ngồi ngẩn ngơ suy tư, và vầng trán nhíu lại vì những dòng suy nghĩ miên man. Những lúc khác Ả lại mỉm cười. Chỉ là một nụ cười nhỏ đầy đoan trang."

"Và chẳng lâu sau khi khỏe lại, Ả lại cứu mạng tôi thêm một lần nữa.

Chuyện xảy ra thế này đây. Hôm đó tôi đang đi câu cá thì dây và lưỡi câu bị vướng kẹt sâu vào các rạn san hô. Mà tôi thì không muốn mất cái lưỡi câu ấy chút nào. Lưỡi câu đâu phải dễ chế tạo. Thế nên tôi tự nhủ: 'Mình sẽ lặn xuống đó gỡ cái lưỡi câu lên.'

Tôi lao ùm xuống nước lặn ngụp xuyên qua làn nước trong vắt, bám một tay vào khối san hô và dùng tay còn lại gỡ lưỡi câu ra. Tôi chuẩn bị ngoi lên mặt nước thì bỗng nhìn thấy trong làn nước giữa tôi và ánh mặt trời một chiếc bóng đen lướt qua hệt như một chiếc thuyền. Trong khoảnh khắc tôi đinh ninh đó là một chiếc thuyền, bèn vội vã ngoi lên thật nhanh. Thế nhưng mới ngoi lên được nửa đường thì tôi nhận ra đó hoàn toàn không phải thuyền. Và trong làn nước ấm áp, cơ thể tôi bỗng lạnh toát hệt như cục nước đá.

Tôi đã ngoi lên vượt quá nửa quãng đường rồi, và chẳng còn cơ hội để la hét, đập nước hay tạo ra tiếng động lớn hòng dọa chúng bỏ đi nữa. Và bỗng nhiên tôi nhận ra gã khổng lồ đó đã phát hiện ra mình. Tôi có thể cảm nhận rõ rệt chấn động từ cú quẫy đuôi của nó trong nước khi nó quay ngoắt đầu hướng về vị trí có thể lao thẳng tới chỗ tôi.

'Thôi đời mình tiêu rồi, McCarthy ơi!' tôi tự nhủ và quay người lại đối mặt với nó. Và rồi tôi nghe thấy tiếng tõm nhảy ùm xuống nước đúng thời điểm nó chuẩn bị xoay người lao tới chỗ tôi. Và Janssen lao vút xuống dưới làn nước.

Ả cầm theo một viên đá hoặc vật gì đó vung tay ném thẳng vào đúng phần điểm mềm trên mũi con cá mập, đó là chỗ duy nhất có thể làm tổn thương loài sinh vật ấy. Chỉ một cú đánh duy nhất! Và gã hèn nhát to lớn đó liền quay ngoắt đầu cụp đuôi lủi thủi bỏ đi hệt như một con chó bị đá đòn.

Lúc lên đến bờ tôi giận điên người lên được. Ý tôi là sao ả lại dám đánh cược liều lĩnh như thế chứ!

'Bộ cô mất hết khôn ngoan rồi hay sao hả?' tôi quát mắng ả một trận. 'Cô định giở trò gì khi dám liều mạng kiểu đó hả? Cô tưởng con cá mập là con cá thu chắc? Chắc cô tưởng nó sẽ không dám đụng đến cô đâu nhỉ? Cô tưởng nó là một quý ông chắc? Không đời nào đâu. Nếu khôn ngoan đổi được ra tiền,' tôi cằn nhằn, 'tôi chắc cô chẳng đủ tiền mua nổi một tấm vé tàu điện ngầm ấy chứ. Đừng bao giờ dại dột làm thế hay bất cứ trò liều lĩnh nào tương tự thế nữa nghe chưa! Lo mà quản cho tốt việc của mình đi!'

Thế nhưng ả vừa khóc vừa cười nức nở. Ả quay lưng bỏ đi, lúc thì nức nở sụt sùi, lúc lại khúc khích cười. Tôi vội vã đuổi theo sau ả.

'Không phải từ tận đáy lòng tôi không biết ơn cô đâu, thế nhưng cô tuyệt đối không được phép...'

Thế nhưng ả vừa cười vừa sụt sùi nói:

'Đi đi, McCarthy. Đi đi mà. Xin anh hãy đi đi!'

Suốt khoảng thời gian đó, tôi thừa biết mình đã có tình cảm sâu sắc với Janssen, và linh cảm mách bảo tôi rằng Janssen cũng có tình cảm với tôi, dẫu Chúa mới biết lý do tại sao. Thế nhưng chúng tôi chẳng mở miệng nói câu nào. Có những lúc thật khó để thốt nên lời. Và tôi nhìn ngắm ả rồi thầm nghĩ. Giá như mọi thứ khác đi, tôi có thể yêu thương người con gái ấy biết nhường nào! Thế nhưng ngặt nỗi cô ấy là một phạm nhân, còn tôi là người canh giữ cô ấy. Thật đáng tiếc làm sao. Thậm chí thật đáng tiếc khi cô ấy đã thay đổi. Điều đó làm mọi chuyện trở nên vô cùng khó khăn cho tôi.

Thế nhưng tôi chẳng tài nào rời mắt khỏi ả được. Ả đứng trên bãi biển, ngọn gió đùa giỡn làm rung chuyển chiếc áo bằng lá cây và làm bồng bềnh mái tóc. Vô cùng xinh đẹp. Và một chú bướm nhỏ xíu, từ chốn nào Chúa mới biết, đang chao lượn bay lượn xung quanh ả. Lúc thì nó đậu trên mái tóc, lúc lại lượn lờ quanh cổ áo ả. Và thật kỳ lạ làm sao, nó hạ cánh đậu ngay trên đôi môi ả.

'Trông cô xinh đẹp lắm đấy, Janssen,' tôi nói, 'với chú bướm đậu ở đó.'

Ả mỉm cười nhìn tôi với ánh mắt lạ lùng.

'Anh là một người dũng cảm, McCarthy,' ả nói, 'là người đàn ông dũng cảm nhất mà tôi từng biết. Anh mạnh mẽ. Anh vĩ đại. Đúng vậy, anh rất dũng cảm. Thế nhưng chú bướm nhỏ bé này, dẫu trong toàn bộ cơ thể nó chẳng có nổi sức mạnh bằng một sợi tóc trên đầu anh, dẫu sinh mệnh ngắn ngủi của nó chỉ vỏn vẹn trong một ngày, lại dũng cảm hơn anh nhiều, McCarthy ạ, dũng cảm hơn anh gấp bội.'

'Tôi không hiểu ý cô đang nói gì cả, Janssen.'

Thế nhưng thực lòng tôi hiểu rất rõ ý ả.

Và những ngày tháng cứ thế trôi qua, trôi qua, chẳng có điều gì thay đổi, chẳng có vị cứu tinh nào đến với chúng tôi cả. Lần này hay lần khác chúng tôi nhìn thấy những cánh buồm. Có lần một chiếc tàu buồm ba cột với các cột buồm trơ trụi giương buồm chạy trước cơn bão lớn. Và có lần ở đằng xa chúng tôi trông thấy một chiếc tàu buồm đang nghiêng mình trước ngọn gió lướt đi.

Chúng tôi chẳng trò chuyện mấy với nhau. Bầu không khí bao trùm một sự xa cách lạ kỳ. Và vào ban đêm tôi cảm thấy bồn chồn lo lắng. Những rặng cây xào xạc. Những con sóng vỗ ì oạp. Bóng tối bao trùm đặc quánh. Và dẫu chúng tôi là hai con người duy nhất ở trên hòn đảo đó, thế nhưng vào ban đêm tôi cứ có cảm giác chúng tôi không hề đơn độc. Những con người vô hình, mờ ảo đang vây quanh chúng tôi, ẩn hiện trong lòng đại dương, trong bầu không khí. Từng có hàng triệu người sinh sống trên những hòn đảo này để rồi giờ đây chỉ còn lại lác đác vài người. Thuở trước họ từng là một tộc người hùng mạnh vĩ đại, để rồi nay chỉ còn lại một nhúm người rụt rè. Và tôi tưởng tượng rằng trong những đêm trăng mật tối mịt mờ, những bộ lạc da nâu lại tề tựu tụ họp và giương buồm ra khơi trên những chiếc ca-nô chiến trận, rồi dạo bước trên những bãi biển tuyệt mỹ tựa Thiên đàng.

Và trên những hòn đảo này có những ngôi đền vĩ đại, thế nhưng các vị thần của họ nay chẳng còn tồn tại nữa. Và liệu có khi nào họ cũng dạo bước vào ban đêm với những bước chân lặng lẽ đầy đáng sợ hay không?

Thánh Giá Chúa Kitô đứng giữa tôi và mọi tai ương hiểm họa. Tôi tin điều đó, và tôi biết rõ điều đó, thế nên tôi chẳng hề sợ hãi. Dẫu vậy, lòng tôi vẫn thấy bất an.

Và nếu như tôi cảm thấy bất an, thì còn Janssen thì sao, người mở tráo đôi mắt thao láo suốt cả đêm dài?

Cuối cùng vào một đêm nọ, tôi lấy hết can đảm của mình. Janssen đang ngồi dưới ánh trăng bên vũng vịnh, và lần đầu tiên trong đời tôi nghe thấy Ả cất giọng hát khe khẽ một khúc ca ngắn. Giọng ca của ả nghe thoang thoảng giống như giọng của một thiếu niên.

'Janssen!' tôi đứng lặng người ngắm nhìn Ả.

'Vâng, McCarthy.' Ả quay đầu lại nhìn tôi.

'Janssen, khi chúng ta quay về,' tôi nói, 'và khi những gì phải đến rồi sẽ hoàn tất, và khi mọi chuyện qua đi, vào buổi sáng ngày cô được tự do, tôi sẽ đứng chờ cô ở cổng. Tôi muốn cô kết hôn với tôi và về chung một nhà với tôi.'

'Anh yêu tôi thật chứ, McCarthy?'

'Đúng vậy,' tôi đáp, 'tôi yêu cô, Janssen.'

'Tôi cũng yêu anh, McCarthy. Chắc anh cũng thừa biết điều đó rồi.'

Suốt quãng thời gian đó Ả chẳng hề nhìn tôi lấy một lần, mà cứ hướng ánh mắt ra vùng vũng vịnh ngập tràn ánh trăng.

'Thế nhưng nếu chúng ta chẳng bao giờ rời khỏi hòn đảo này được,' ả nói sau một lát trầm ngâm, 'thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ kết hôn cả.'

'Làm sao mà cưới được cơ chứ?' tôi nói. 'Làm gì có vị mục sư nào ở đây để làm lễ cưới cho chúng ta.'

Ả đang cất giọng chậm rãi, nghiêm túc dưới ánh trăng, và từng lời ả thốt ra đều nặng trĩu sự chân thành.

'Anh có tin rằng, McCarthy, nhà thờ cùng tất cả mọi người ở đó cùng tiếng đàn organ và lễ gieo lúa nếp mới tạo nên một đám cưới không? Tất cả những thứ đó có thực sự cần thiết không, McCarthy? Xin hãy trả lời tôi đi.'

'Không.' Tôi suy nghĩ kỹ càng rồi đáp. 'Người duy nhất cần thiết chính là vị mục sư.'

'Bởi vì ông ấy là đại diện của... Chúa Trời?'

'Đúng vậy,' tôi đáp sau một thoáng ngập ngừng, 'bởi vì ông ấy có mặt ở đó nhân danh... Chúa Trời.'

'Thế nhưng chẳng phải Chúa Trời hiện hữu ở khắp mọi nơi ư? Thấu suốt tất cả? Nhìn thấu mọi thứ? Đọc vị tận tâm can sâu thẳm trong lòng chúng ta dễ dàng hệt như vị mục sư đọc khuôn mặt chúng ta vậy sao?'

'Đó là những gì người ta vẫn thường nói, Janssen ạ. Đó là... những gì... chúng ta vẫn hằng tin tưởng...'

Sự im lặng bao trùm. Rồi Ả quỳ sụp xuống bãi cát dưới ánh trăng.

'Hãy quỳ xuống đi, McCarthy, và trao đôi tay anh cho tôi.' Tôi quỳ xuống và đưa hai tay cho Ả chẳng chút phản kháng — giọng điệu của Ả mang một sức mạnh sai khiến quá đỗi chân thành. Và lúc này giữa chúng ta tồn tại một điều kỳ lạ. Suốt khoảng thời gian trước đó, mỗi lần chạm vào Ả là tôi lại cảm thấy luồng sinh khí truyền từ người mình sang người Ả, thế nhưng đêm nay khi tôi nắm lấy đôi tay Ả, giữa chúng tôi là một sự cân bằng tuyệt đối.

'Nếu Chúa Trời muốn lắng nghe chúng ta tối nay, thì chúng ta chính thức là vợ chồng.'

'Thế nhưng,' tôi nói, 'Janssen, làm sao chúng ta biết được Ngài có lắng nghe chúng ta hay không, có ban ân chuẩn hay không chứ?'

Ánh mắt Ả đảo quanh hòn đảo, hướng ra ngoài biển khơi. Ả đột ngột chỉ tay về phía đầm phá.

'Nhìn kìa, McCarthy. Nhìn kìa, dưới ánh trăng kia, chú rùa lớn kìa. Nó đang phân vân không biết nên bơi đi đâu.' Tôi nhìn theo hướng tay chỉ và thấy cái đầu nhỏ màu đen nhô lên mặt nước như một dấu chấm lửng cùng những gợn sóng lan rộng khi nó bơi vòng quanh. 'Hãy nhìn tảng đá của loài chim hải âu đi.' Tôi nhìn thấy bề mặt phẳng lì hình vuông nằm trong vũng vịnh. 'Nếu nó bơi đến và leo lên tảng đá đó, thì đó sẽ là dấu hiệu cho thấy lời thỉnh cầu của chúng ta đã được lắng nghe và... Ngài đã ban sự chấp thuận.'

'Thế nhưng nó sẽ chẳng bao giờ bơi đến tảng đá đó đâu, Janssen thân mến ạ,' tôi nói. 'Nó đang bơi ra ngoài theo dòng thủy triều rồi kìa.'

'McCarthy,' Ả cất giọng với chút ít vẻ khinh miệt nhẹ nhàng, 'anh là người đàn ông tốt đạo, kẻ chưa từng vấy bẩn, người được nuôi dưỡng để biết tin tưởng, thế mà giờ lại chẳng tin. Còn tôi, một ả đàn bà hư hỏng, một nữ sát nhân, thậm chí tội lỗi hơn cả Ma-đơ-len bởi vì tôi chưa từng biết yêu cho đến ngày hôm nay, lại tin tưởng. Tôi tin và tôi thấu rõ điều đó.'

Và rồi niềm tin của Ả truyền sang tôi khiến tôi quay đầu nhìn về phía chú rùa lớn. Nó cứ bơi vòng quanh hết vòng này đến vòng khác và ánh trăng chiếu rọi làm lấp lánh những gợn sóng nhỏ hệt như những dải lụa phát quang. Và cuối cùng tôi không thể chịu đựng nổi nữa bèn cúi gằm mặt xuống; thế nhưng Janssen vẫn ngẩng cao đầu dõi theo không chớp mắt. Và tôi có thể cảm nhận đôi tay Ả run lên bần bật, rồi siết chặt lại, rồi lại run rẩy, để rồi bất chợt trở nên cứng cáp, thon gọn và tràn đầy sức mạnh.

'Nhìn kìa, McCarthy, nhìn kìa!' Giọng Ả vang lên trong trẻo như tiếng chuông ngân. 'Nó đã đến... nó đã leo lên tảng đá rồi kìa.'

"Và tôi cũng ngẩng đầu lên, và tôi đã chứng kiến Phép màu của Chú rùa....

"Và cứ thế chúng tôi chính thức kết hôn, và chung sống hạnh phúc hết mức có thể, cho đến khi chiếc tàu buồm brig Angela Scofield cập bến lấy nước ngọt và giải cứu chúng tôi, để rồi tôi đưa Janssen quay trở lại vành móng ngựa của công lý, đúng như nghĩa vụ đã tuyên thệ mà tôi buộc phải tuân thủ."

Đến đây McCarthy dừng lời, và tất cả mọi người đều hiểu anh ta sẽ chẳng nói thêm gì nữa. Quả thực, trông anh ta có vẻ như không còn đủ sức lực thể chất để thốt thêm lời nào, bởi người đàn ông này dường như đã hoàn toàn kiệt sức. Toàn bộ sự căng thẳng trong người anh ta đã biến mất, và cả anh lẫn bị cáo đều nhìn nhau bằng một ánh mắt kỳ lạ, đầy vẻ xót xa và tin tưởng, mỉm cười với đôi môi khô khốc và khóe mắt đẫm lệ. Tất cả những người có mặt trong phòng xử án bỗng cảm thấy hổ thẹn, tựa như sự hổ thẹn của một kẻ hoài nghi khi đứng trước ánh mắt ngây thơ của một đứa trẻ.

Và bỗng nhiên trong tâm trí mỗi người tự động chuyển ngữ những lời lẽ mộc mạc của anh ta — "Và cứ thế chúng tôi chính thức kết hôn, và chung sống hạnh phúc hết mức có thể" — thành những bức tranh không phải là tranh vẽ mà là những hợp âm, sự hòa âm và đối âm, không dành cho cặp mắt trần tục mà dành cho cảm xúc của trái tim. Họ có thể hình dung ra cảnh hai con người ấy bên vũng vịnh trên Hòn đảo Thiên đàng, yêu nhau không phải bằng sự cuồng nhiệt hân hoan mà bằng sự giản dị, chân thành cùng một sức mạnh vĩ đại.

Họ có thể nhìn thấy hai con người ấy, mạnh mẽ và tuyệt mỹ, bên làn nước trong vắt của vũng vịnh, dưới ánh nắng vàng rực rỡ trên những bãi cát vàng, tại một nơi đẹp đẽ hệt như khu vườn mà Chúa Trời từng trồng ở Địa đàng. Và hệt như khu vườn đầu tiên thuở ấy, bao trùm lên khu vườn này cũng là một cơn giông bão đang lờ mờ vây lấy hệt như một con cú mèo.

Biết bao nhiêu nỗi kinh hoàng mà Ả phải trải qua, với cánh cửa nhà tù cứ hiện lên ám ảnh trước mắt! Biết bao nhiêu cám dỗ mà anh ta phải đương đầu khi người vợ kề cận bên mình, cùng ý nghĩ đau đáu trong đầu rằng sẽ có ngày anh ta phải áp giải cô ta trở lại để đối mặt với phiên tòa xét xử tội sát hại một con người!

Lạy Chúa, biển khơi ngời sáng và bãi cát vàng óng, những rặng cây xanh biếc hệt như những lá cờ xanh, ánh trăng thiên đàng và những cơn gió nhiệt đới ngào ngạt hương thơm rốt cuộc có ý nghĩa gì đối với họ, trong khi thảm kịch vẫn lơ lửng trong không khí, điện giật hệt như một cơn bão dữ?

"Anh có thể lui, McCarthy," viện kiểm sát cất tiếng. Và quay về phía tòa án, hắn dang rộng hai tay.

"Viện kiểm sát xin khép lại hồ sơ vụ án."

"Bị cáo Anna Janssen xin khép lại phần bào chữa," Howard Donegan lập tức bồi tiếp.

Khoảng không gian im lặng kéo dài một hồi lâu, bị đẩy lên cao trào thành một sự căng thẳng khó chịu bởi tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ trong phòng xử án. Tựa như một vị thiên sứ của sự tĩnh lặng đang lướt qua. Bồi thẩm đoàn trông có vẻ bứt rứt không yên. Viện kiểm sát cắn móng tay. Công chúng nhìn nhau với sự hoang mang tột độ về mặt nhận thức. Đây có lẽ là phiên tòa đầu tiên trong lịch sử tư pháp không có tiền lệ để noi theo, không có bộ quy tắc nào áp dụng, khi toàn bộ cỗ máy bỗng ngưng trệ đột ngột đến vậy. Chỉ có điều Howard Donegan vẫn lim dim ngủ gục...

Vị thẩm phán là người đầu tiên lấy lại tinh thần. Ông sột soạt lật giở giấy tờ. Ông gõ búa giữ trật tự. Ông quay người nhìn về phía bồi thẩm đoàn.

"Thưa các vị bồi thẩm đoàn," ông bắt đầu, "viện kiểm sát đã khép lại hồ sơ vụ án và luật sư bào chữa cũng đã khép lại phần của mình. Giờ đây đã đến lúc đưa ra phán quyết cuối cùng.

Các vị bồi thẩm viên chỉ có duy nhất một nhiệm vụ phải thực hiện, và đó là một nghĩa vụ ràng buộc bắt buộc. Các vị phải quyết định một sự thật duy nhất. Liệu Anna Janssen có thực sự sát hại Alastair de Vries hay không?

Cho dù Anna Janssen đứng trước các vị đây, là kẻ đê tiện nhất trong những kẻ đê tiện, nhơ nhớp bùn lầy, hiểm độc, là mối đe dọa cho cộng đồng, thế nhưng nếu Ả không ra tay sát hại De Vries, thì các vị buộc phải đưa ra phán quyết 'không có tội', bất chấp các vị căm hận Ả đến nhường nào đi nữa. Cho dù hiện tại Ả đứng trước các vị là ai đi chăng nữa, bất chấp sự thương cảm mà các vị dành cho Ả ra sao, các vị vẫn buộc phải tuyên bố 'có tội' nếu các vị chắc chắn Ả đã giết Alastair de Vries.

Thưa các vị, đến đây thì chẳng còn chút hoài nghi hợp lý nào có thể đặt ra nữa. Thậm chí ngay cả bản thân bị cáo cũng đã thừa nhận điều đó. Do đó tôi buộc phải hướng dẫn các vị đưa ra phán quyết có tội."

Bồi thẩm đoàn nhìn nhau đầy kinh ngạc, có chút sợ sệt. Họ quay sang nhìn vị hội thẩm trưởng, một nhân vật lịch lãm, phương phi với bộ râu màu đỏ hình rẻ quạt, một người có vẻ như luôn đủ bản lĩnh đối phó với mọi tình huống. Họ hướng về ông ta hệt như cách một bầy cừu nhìn con cừu đầu đàn đeo chuông. Ông ta đứng vùng dậy.

"Thế nhưng người phụ nữ này đã thay đổi rồi cơ mà,' ông ta phản bác. 'Cô ta không còn là con người thuở trước...'

"Điều đó nằm ngoài phạm vi chức trách của các vị," vị thẩm phán nghiêm khắc ngắt lời. "Các vị cân nhắc các sự thật. Còn tôi cân nhắc công lý. Việc của các vị chỉ nằm giữa Alastair de Vries và Anna Janssen. De Vries giờ đây đã nằm trong tay Chúa Trời của hắn. Còn Janssen đang nằm trong tay tôi. Dẫu tôi là kẻ phân xử theo hình thức pháp lý, thế nhưng đồng thời tôi cũng là hiện thân của Sự Công bằng. Chúa Trời đã phán xét De Vries; còn tôi, với tiếng nói của Chúa, sẽ phán xét Anna Janssen. Hãy cân nhắc phán quyết của các vị đi."

"Nếu chúng tôi đưa ra phán quyết 'không có tội' —" vị hội thẩm trưởng gợi ý.

"Nếu các vị làm thế —" giọng vị thẩm phán lạnh lùng như thép nguội — "các vị đã phạm phải một tội ác không thể dung tha. Các vị đã phản bội lại người dân New York, những người mà các vị là đại diện. Các vị đã bôi nhọ nền luật pháp của thành phố mình. Và phụ nữ sẽ ngang nhiên sát hại đàn ông với hy vọng nhận được những phán quyết lỏng lẻo. Hơn thế nữa, dựa trên các căn cứ pháp lý, tôi sẽ tuyên bố phiên tòa này vô hiệu. Và bị cáo sẽ phải trải qua toàn bộ quá trình xét xử đau khổ này một lần nữa từ đầu."

"Chà, nếu mọi chuyện là thế..." Vị hội thẩm trưởng bối rối nhìn quanh đám bồi thẩm đoàn. Dường như hội đồng bồi thẩm đoàn đặt trọn niềm tin tuyệt đối vào ông ta. "Chúng tôi sẽ không cần phải rời khỏi bồi thẩm đoàn để nghị án đâu!"

"Thư ký Tòa án," vị thẩm phán cất giọng triệu tập...

"Bị cáo, hãy nhìn về phía bồi thẩm đoàn. Hỡi bồi thẩm đoàn, hãy nhìn về phía bị cáo. Các vị tuyên bố thế nào, các vị đã đi đến phán quyết chung chưa?"

"Chúng tôi đã có phán quyết."

"Các vị tuyên bố thế nào: bị cáo có tội hay không có tội?"

"Chà, người phụ nữ này đã sát hại De Vries, thế nhưng..."

"Có tội hay không có tội?" vị thẩm phán gằn giọng đòi câu trả lời.

"Có tội!"

"Bị cáo —" vị thẩm phán quay sang nhìn Janssen — "cô đã phạm tội mưu sát. Cô đã bị hội đồng bồi thẩm đoàn ngang hàng tuyên án có tội.

Giờ đây đến lượt bổn phận của tôi là tuyên án cô một hình phạt không phải để phù hợp với tội ác mưu sát mà phù hợp với những hoàn cảnh trước và sau vụ án nằm trong phạm vi tiên liệu của Sự Công bằng. Cô đã tước đoạt một mạng sống và mạng sống của cô chính là vật thế thân cho luật pháp.

Giờ đây quyền định đoạt thuộc về tôi xem tôi sẽ làm gì với sinh mệnh đang nằm trong tay tôi và đã bị tước đoạt bởi công lý của cộng đồng; không chỉ đâu là điều tốt nhất cho cộng đồng, mà còn đâu là điều tốt nhất cho chính bản thân cô. Liệu tôi có nên tước đoạt đi sự sống ấy, để cô không còn là mối đe dọa cho những người đang sống, mối đe dọa cho chính linh hồn bất tử của cô nữa hay không? Hay tôi nên định đoạt nó theo một hướng khác, đúng như linh cảm mách bảo?

Bị cáo, tôi trả lại cho cô sinh mệnh đó, thế nhưng tôi tuyên án cô mức án tù giam chung thân cho đến hết quãng đời tự nhiên của mình."

Cả phòng xử án chìm vào sự im lặng nghẹt thở trong khoảnh khắc. Rồi một tiếng vo ve trầm đục bỗng vang lên đầy phẫn nộ. Bất chợt cảnh hỗn loạn bùng nổ. Bị cáo ngả rạp người. Bồi thẩm đoàn đứng vùng dậy phản đối. Khán giả đồng loạt đứng lên với những bước chân đe dọa.

Vị thẩm phán giơ tay ra hiệu. Khoảnh khắc ấy ông bỗng khoác lên mình sự uy nghi của vua Solomon.

"Bị cáo, ta đã tiến hành tìm hiểu và được biết chồng cô vẫn còn khoản tiền lương trong mười năm qua chưa được thanh toán, anh ta sẽ nhận lại đầy đủ. Sau đó anh ta sẽ đón cô đi và làm thủ tục hợp pháp hóa cuộc hôn nhân này theo đúng luật định. Kế đó anh ta sẽ đưa cô rời khỏi chốn cô đang đứng hiện tại để trở về nơi cô từng xuất phát, trở về hòn đảo của cô ở tận miền Nam Thái Bình Dương, và hai người sẽ chung sống ở đó, hạnh phúc mãi mãi về sau, đó chính là nguyện vọng của tòa án công lý này."

Từ cổ họng của tất cả mọi người bỗng bật ra một tiếng hò reo vang dội. Trong chốc lát đám nhân viên trật tự cố gắng vãn hồi trật tự, thế nhưng họ nhanh chóng bỏ cuộc, tự mình hòa chung vào bầu không khí náo nhiệt vui mừng ấy. Tiếng réo hò vang lừng từ phòng xử án lan ra tận ngoài đường phố. Những người đi bộ dừng chân và những con ngựa cất tiếng hí vang. Ai nấy đều nhìn nhau ngỡ ngàng. Từ trong phòng xử án của bi kịch giờ đây lại bung nở một lễ hội mùa xuân rực rỡ. Người ta cứ ngỡ bất cứ khoảnh khắc nào cũng có thể nghe thấy tiếng chuông ngân vang.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.