Chữ Khâu Đỏ

Lượt đọc: 58 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nhà Hải Quan

❊ ❊ ❊

Thật có đôi chút kỳ lạ khi—dù vốn không thích bày tỏ quá nhiều về bản thân và chuyện riêng tư bên ngọn lửa sưởi hay với bạn bè thân thiết—mà một thôi thúc tự truyện lại có đến hai lần trong đời chiếm lĩnh lấy tôi mỗi khi tôi cất tiếng nói trước công chúng. Lần đầu tiên là cách đây ba bốn năm, khi tôi trót ban phát cho độc giả—một cách vô lối và chẳng vì bất kỳ lý do chính đáng nào mà một độc giả dễ dãi hay một tác giả xấcược có thể tưởng tượng nổi—một bản mô tả về lối sống của mình trong chốn thâm nghiêm tĩnh mịch của một Ngôi nhà Mục sư Cũ. Và giờ đây—bởi vì, vượt quá cả những gì tôi đáng được hưởng, tôi đã may mắn tìm được dăm ba người lắng nghe trong dịp trước—tôi lại một lần nữa níu lấy vạt áo công chúng để kể lể về ba năm kinh nghiệm làm việc tại một Sở Hải Quan. Gương của nhân vật trứ danh “P. P., Thư ký của Giáo xứ này” chưa bao giờ được tuân thủ một cách trung thành hơn thế. Tuy nhiên, sự thật dường như là, khi tung những trang viết của mình vào gió, người tác giả không hướng tới số đông những kẻ sẽ vứt quách cuốn sách của anh ta đi hoặc chẳng buồn cầm lấy nó, mà hướng tới số ít những người sẽ thấu hiểu anh ta hơn cả phần lớn bạn đồng môn hay bạn đồng hành trên đường đời. Quả thực, một số tác giả còn làm nhiều hơn thế rất nhiều, họ chìm đắm trong những tầng sâu kín của sự bộc bạch tâm sự, thứ chỉ có thể phù hợp để sẻ chia độc nhất và riêng tư với một trái tim, một tâm trí hoàn toàn đồng điệu; tựa như thể cuốn sách in ấn, được tung ra chốn trần gian rộng lớn, chắc chắn sẽ tìm thấy mảnh ghép còn thiếu trong bản ngã của chính người viết, và hoàn thiện vòng tròn sinh tồn của anh ta bằng cách mang lại sự giao cảm với mảnh ghép ấy. Dù vậy, việc bộc bạch tất cả dường như là điều thiếu tế nhị, ngay cả khi chúng ta nói một cách khách quan. Thế nhưng, vì những ý nghĩ sẽ đóng băng và lời nói sẽ tê liệt, trừ khi người nói đứng trong một mối quan hệ chân thực với thính giả của mình, nên có lẽ sẽ được dung thứ nếu ta tưởng tượng rằng một người bạn—một người bạn tử tế và thấu cảm, dẫu chưa phải là thân thiết nhất—đang lắng nghe câu chuyện của chúng ta; và rồi, khi sự dè dặt bẩm sinh được làm cho tan chảy bởi ý thức thân thiện ấy, chúng ta có thể huyên thuyên về những hoàn cảnh xung quanh mình, thậm chí về cả bản thân mình, nhưng vẫn giữ lại cái Tôi sâu kín nhất phía sau lớp màn che. Đến mức độ này, và trong những giới hạn ấy, thiết nghĩ một người mà viết tự truyện thì có thể làm được, mà không hề vi phạm quyền lợi của độc giả lẫn của chính mình.

Cũng sẽ thấy rằng, bức họa về Nhà Hải Quan này mang một sự thỏa đáng nhất định, theo một cách vốn luôn được công nhận trong văn chương, đó là giải thích cách mà một phần lớn những trang sách tiếp theo đã lọt vào tay tôi, đồng thời cung cấp những bằng chứng về tính xác thực của câu chuyện được chứa đựng trong đó. Điều này, thực chất—một mong muốn đặt bản thân vào đúng vị trí của một biên tập viên, hoặc hơn kém chẳng là bao, đối với tập truyện rườm rà nhất trong số những tác phẩm cấu thành nên cuốn sách của tôi—điều này, chứ không phải bất kỳ lý do nào khác, chính là nguyên nhân thực sự khiến tôi đảm nhận mối quan hệ cá nhân với công chúng. Để hoàn thành mục đích chính ấy, có vẻ như sẽ là hợp lý nếu thông qua một vài nét chấm phá bổ sung, tôi phác họa một cách mờ ảo về một lối sống chưa từng được miêu tả trước đây, cùng với một số nhân vật sinh hoạt trong đó, mà tình cờ tác giả cũng là một thành viên.

Tại thị trấn Salem quê hương tôi, ngay đầu của một bến tàu từng tấp nập vào nửa thế kỷ trước, dưới thời Vua Derby già—nhưng giờ đây đã trĩu nặng những nhà kho bằng gỗ mục nát và hầu như chẳng còn chút dấu hiệu nào của đời sống thương mại; ngoại trừ, có lẽ, một chiếc thuyền buồm hay tàu brigg đang nằm lưng chừng đoạn bến ảm đạm ấy để dỡ da thuộc; hoặc gần hơn một chút, một chiếc tàu schooner từ Nova Scotia đang trút đống hàng củi đốt của mình xuống—ngay đầu của cái bến tàu xập xệ này, nơi thủy triều thường ngập tràn, và dọc theo đó, ở phần chân và phía sau dãy nhà, dấu vết của bao năm tháng đìu hiu hằn lên thành một dải cỏ cằn cỗi—tại đây, với tầm nhìn từ những ô cửa phía trước phóng dọc theo khung cảnh chẳng lấy gì làm phấn khởi này, và băng qua cả vến cảng, sừng sững một tòa nhà gạch rộng lớn. Từ điểm cao nhất trên mái nhà của nó, đúng trong ba tiếng rưỡi của mỗi buổi sáng, lá cờ của nước cộng hòa tung bay hoặc rũ xuống, dù có gió hay lặng gió; nhưng với mười ba sọc được quay theo chiều dọc thay vì chiều ngang, qua đó cho thấy một cơ quan dân sự chứ không phải quân sự của chính phủ Bác Sam được thiết lập tại đây. Mặt tiền của nó được trang trí bằng một mái hiên chống đỡ bởi nửa tá trụ cột bằng gỗ, bên dưới là một ban công, và một dãy bậc thềm đá hoa cương rộng dẫn xuống đường phố. Ngửng cao trên lối vào là một biểu tượng khổng lồ của loài đại bàng Mỹ, với đôi cánh giang rộng, một chiếc khiên trước ngực, và nếu tôi nhớ không lầm, là một chùm tia sét xen lẫn mũi tên ngạnh ở mỗi bên vuốt. Với bản tính cáu kỉnh thông thường vốn đặc trưng cho loài sinh vật bất hạnh này, qua vẻ hung dữ của chiếc mỏ cùng đôi mắt, và thái độ nghênh ngang nói chung, nó có vẻ như đang đe dọa gây gổ với cộng đồng vô hại; và đặc biệt là cảnh báo tất cả những công dân nào coi trọng sự an toàn của bản thân chớ có bén mảng đột nhập vào khuôn viên mà nó đang che chở bằng đôi cánh của mình. Thế nhưng, dẫu trông có vẻ đanh đá là thế, rất nhiều người ngay vào lúc này vẫn đang tìm cách ẩn nấp dưới đôi cánh của con đại bàng liên bang; chắc hẳn họ tưởng tượng rằng bộ ngực của nó mềm mại và êm ái như một chiếc gối lông nhung. Tuy nhiên, nó chẳng có chút dịu dàng nào ngay cả trong những khoảnh khắc tâm trạng tốt nhất, và sớm muộn gì—thường là sớm hơn muộn—nó cũng sẵn sàng hất văng những đứa con nuôi của mình bằng một cú cào, một cú mổ, hoặc một vết thương nhức nhối từ chùm mũi tên ngạnh.

Phần vỉa hè xung quanh tòa nhà nói trên—mà chúng ta có thể gọi thẳng tên ngay từ đầu là Sở Hải Quan của cảng biển—có đủ cỏ mọc trong các khe nứt để cho thấy rằng nơi đây, trong những ngày gần đây, không hề bị mòn gót bởi bất kỳ đám đông tấp nập nào vì mục đích kinh doanh. Dù vậy, vào một số tháng trong năm, thường vẫn có những buổi sáng mà công việc trôi đi với nhịp điệu rộn ràng hơn. Những dịp như thế có thể gợi cho những bô lão trong thành phố nhớ về thời kỳ trước cuộc chiến tranh cuối cùng với Anh quốc, khi Salem là một cảng biển độc lập; không bị khinh rẻ như hiện nay bởi chính các thương gia và chủ tàu của mình, những kẻ đang để cho các bến tàu của thành phố mục nát tơi bời trong khi các chuyến mạo hiểm của họ lại đi làm phình to một cách vô ích và vô hình dòng lũ thương mại hùng mạnh ở New York hay Boston. Vào những buổi sáng như thế, khi có ba hoặc bốn con tàu tình cờ cập cảng cùng lúc—thường đến từ châu Phi hoặc Nam Mỹ—hoặc sắp sửa khởi hành đi những nơi đó, người ta sẽ nghe thấy tiếng chân qua lại ron rẻn, tấp nập ngược xuôi trên những bậc thềm đá hoa cương. Ngay tại đây, trước cả khi được vợ mình chào đón, bạn có thể chào đón người thuyền trưởng vừa dính đầy hơi muối biển mới cập cảng, kẹp dưới nách giấy tờ tàu nằm trong một chiếc hộp thiết đã hoen ố. Cả chủ tàu của anh ta cũng đến đây, người thì vui vẻ, kẻ thì ảm đạm, người niềm nở kẻ cau có, tùy theo việc kế hoạch cho chuyến hải trình vừa hoàn thành đã mang lại hàng hóa có thể nhanh chóng đổi ra vàng, hay đã vùi dập ông ta dưới một đống hàng hóa cồng kềnh mà chẳng ai thèm giúp ông tống khứ đi. Cũng tại đây—mầm mống của người thương gia mặt chằng chịt nếp nhăn, râu ria xồm xoàm, mang nặng ưu tư—ta bắt gặp cậu nhân viên trẻ tuổi láu lỉnh, kẻ sớm nếm trải mùi vị của buôn bán chẳng khác nào con sói non nếm mùi máu, và đã sớm hùn vốn buôn bán trên những con tàu của chủ nhân, trong khi lẽ ra cậu ta nên thả những chiếc thuyền đồ chơi trên ao nước máy. Một gương mặt khác trong khung cảnh ấy là người thủy thủ chuẩn bị ra khơi đang tìm giấy chứng nhận bảo vệ; hoặc người vừa mới đặt chân đến, xanh xao và yếu ớt, đang tìm giấy phép vào bệnh viện. Và chúng ta cũng không thể quên những vị thuyền trưởng của các chiếc tàu schooner nhỏ rỉ sét chuyên chở củi từ các tỉnh thuộc địa của Anh; một đám người thô ráp mặc áo vải dầu, không có sự nhanh nhẹn của người xứ Yankee, nhưng lại đóng góp một phần không hề nhỏ cho nền thương mại đang lụi tàn của chúng ta.

Hãy gom tất cả những con người ấy lại với nhau, như họ đôi khi vẫn vậy, cùng với những thành phần tạp nhảm khác để làm phong phú thêm nhóm người, và vào khoảnh khắc ấy, nó biến Nhà Hải Quan thành một khung cảnh náo nhiệt. Thế nhưng, thường xuyên hơn là khi bước lên các bậc thềm, bạn sẽ nhận ra—ở lối vào nếu là mùa hè, hoặc trong các căn phòng tương ứng nếu là mùa đông hay thời tiết khắc nghiệt—một hàng những nhân vật đáng kính, ngồi trên những chiếc ghế kiểu cũ được ngả hai chân sau tựa vào tường. Phần lớn thời gian họ ngủ gật, nhưng thỉnh thoảng người ta vẫn nghe thấy họ trò chuyện với nhau bằng những giọng nói nằm lửng lơ giữa lời nói và tiếng ngáy, với cái vẻ thiếu sinh lực vốn là đặc điểm của những kẻ ở tế bần và tất cả những sinh vật phơ phơ khác sống dựa vào lòng bố thí, vào lao động độc quyền, hay bất cứ thứ gì khác ngoài sức lao động độc lập của chính họ. Những cụ ông này—ngồi tựa như Matthew tại trạm thu thuế, nhưng không dễ gì bị gọi đi như ông để làm những sứ mệnh tông đồ—đều là những nhân viên Hải Quan.

Hơn nữa, phía bên trái khi bạn bước qua cửa chính, là một căn phòng hoặc văn phòng nhỏ, rộng khoảng mười lăm foot vuông, trần cao lộng lẫy, với hai trong số những ô cửa sổ hình vòm có tầm nhìn bao quát bến tàu xập xệ đã nói ở trên, và chiếc cửa sổ thứ ba nhìn ngang qua một con hẻm nhỏ dọc theo một đoạn phố Derby. Cả ba đều hé lộ những khung cảnh của các tiệm tạp hóa, tiệm làm ròng rọc, tiệm bán quần áo rẻ tiền và hàng hải cụ, quanh ngưỡng cửa thường tụ tập từng đám thủy thủ già cười nói rôm rả, cùng những kẻ ăn mày bến tàu la cà quanh khu Wapping của một thành phố cảng. Bản thân căn phòng thì giăng đầy mạng nhện và tối mù vì lớp sơn cũ kỹ; sàn nhà rải đầy cát xám theo một kiểu mốt từ lâu đã không còn được dùng ở nơi nào khác; và thật dễ dàng để kết luận từ vẻ lếch thếch chung của căn phòng rằng đây là một chốn thánh đường mà phái nữ, cùng với những công cụ ma thuật của họ là chổi và giẻ lau, rất hiếm khi đặt chân tới. Về mặt đồ đạc, có một chiếc lò sưởi với ống khói đồ sộ; một chiếc bàn giấy bằng gỗ thông cũ cạnh chiếc ghế đẩu ba chân; hai hoặc ba chiếc ghế gỗ đít lõm đã vô cùng xiêu vẹo, rệu rã; và—để không quên thư viện—trên vài chiếc kệ là vài chục cuốn Sách Đạo luật của Quốc hội cùng một bản Tóm tắt Luật Thuế vụ dày cộm. Một ống dẫn bằng thiếc vươn thấu qua trần nhà, tạo thành phương tiện truyền thông điệp bằng giọng nói với các khu vực khác trong tòa nhà. Và tại đây, khoảng sáu tháng trước—đi qua đi lại từ góc này sang góc khác, hoặc thõng thượt trên chiếc ghế đẩu chân dài với khuỷu tay chống lên bàn giấy và mắt đảo qua các cột của tờ báo buổi sáng—quý độc giả kính mến hẳn đã nhận ra chính con người đã chào đón bạn vào căn phòng học nhỏ ấm cúng của mình, nơi ánh nắng mặt trời lấp lánh thật dễ chịu qua những nhành liễu ở phía tây của Ngôi nhà Mục sư Cũ. Nhưng giờ đây, nếu bạn có đến đó để tìm ông ấy, bạn sẽ chỉ hoài công hỏi thăm về vị Thanh tra thuộc phái Locofoco mà thôi. Chiếc chổi cải cách đã quét ông ra khỏi văn phòng, và một người kế nhiệm xứng đáng hơn đang khoác lên mình chiếc áo uy quyền cùng khoản bổng lộc của ông.

Thị trấn Salem cổ kính này—quê hương tôi, dù tôi đã sống xa nơi này trong cả thời niên thiếu lẫn những năm tháng trưởng thành—vẫn giữ, hoặc từng giữ, một sức hút đối với tình cảm của tôi, thứ sức mạnh mà tôi chưa bao giờ nhận ra trọn vẹn trong suốt những mùa sống thực tế tại đây. Quả thực, xét về mặt diện mạo vật lý với bề mặt phẳng phiu, đơn điệu, chủ yếu bao phủ bởi những ngôi nhà gỗ mà hầu như chẳng có chút nét đẹp kiến trúc nào—với sự xộc xệch chẳng hề mang tính đẹp như tranh vẽ hay cổ kính, mà chỉ thấy sự tẻ nhạt—với con đường dài lười biếng uể oải trải dài suốt chiều dài bán đảo, kết thúc bằng Đồi Gallows và New Guinea ở một đầu, và tầm nhìn về phía nhà tế bần ở đầu kia—với những đặc điểm như vậy của thị trấn quê hương, việc hình thành một mối gắn bó tình cảm với nó chẳng khác nào đem lòng yêu một bàn cờ bị xáo trộn. Thế nhưng, dù luôn cảm thấy hạnh phúc nhất khi ở những nơi khác, trong tôi vẫn tồn tại một tình cảm dành cho Salem Cũ, mà nếu thiếu một cụm từ hay hơn, tôi đành phải gọi nó là lòng ái mộ. Tình cảm ấy có lẽ bắt nguồn từ những cội rễ sâu xa và lâu đời mà gia đình tôi đã cắm xuống mảnh đất này. Đã ngót nghé hai thế kỷ mười bốn năm kể từ khi người Anh nguyên thủy, vị di dân đầu tiên mang họ của tôi, xuất hiện tại khu định cư hoang dã viền quanh bởi rừng rậm nay đã trở thành một thành phố. Và chính tại nơi đây, các thế hệ con cháu của ông đã sinh ra, qua đời, và hòa lẫn phần thể xác trần thế của mình vào đất mẹ, cho đến khi một phần không nhỏ của thổ nhưỡng ấy ắt hẳn phải có họ hàng với cái khung xương phàm trần mà tôi đang dùng để dạo bước trên những con phố trong một khoảng ngắn ngủi này. Do đó, một phần tình cảm mà tôi đang nói đến chỉ đơn thuần là sự đồng cảm xác thịt giữa bụi trần và bụi trần. Ít có người đồng hương nào của tôi có thể hiểu được điều đó; và vì sự di dời thường xuyên có lẽ tốt hơn cho dòng giống, họ cũng chẳng cần phải coi đó là điều đáng mong ước.

Nhưng tình cảm ấy đồng thời cũng mang phẩm chất đạo đức. Hình bóng của vị tổ tiên đầu tiên ấy, được khoác lên bởi truyền thuyết gia đình một vẻ vĩ đại mờ ảo và u sấm, vẫn hiện diện trong trí tưởng tượng thời thơ ấu của tôi tận sâu ký ức mà tôi còn nhớ được. Nó vẫn đeo bám tôi, và mang lại một thứ cảm giác ấm cúng như ở nhà đối với quá khứ, điều mà tôi hầu như không thể cảm nhận được đối với giai đoạn hiện tại của thị trấn. Tôi dường như có một mối liên hệ mạnh mẽ hơn để sinh sống tại đây chính là nhờ vị tổ tiên nghiêm nghị, để râu, khoác áo choàng đen và đội mũ chóp nhọn này—người đã đến từ rất sớm với Kinh Thánh và gươm giáo, sải bước trên con đường còn hoang sơ với dáng vẻ đường bệ nhường ấy, và để lại một hình ảnh lớn lao như một người của chiến tranh và hòa bình—một mối liên hệ mạnh mẽ hơn so với chính bản thân tôi, kẻ có tên tuổi ít ai nghe tới và gương mặt hầu như chẳng ai hay biết. Ông là một người lính, nhà lập pháp, thẩm phán; ông là một thủ lĩnh trong Giáo hội; ông mang đầy đủ các đặc tính Thanh giáo, cả tốt lẫn xấu. Ông đồng thời cũng là một kẻ bức hại cay độc; có thể làm chứng bằng những người theo phái Quaker, những người đã ghi nhớ ông trong lịch sử của họ và kể lại một sự cố về sự tàn nhẫn cứng rắn của ông đối với một phụ nữ thuộc giáo派 của họ, điều mà e rằng sẽ còn lưu danh lâu hơn bất kỳ ghi chép nào về những việc làm tốt đẹp của ông, mặc dù chúng vốn rất nhiều. Con trai ông cũng kế thừa tinh thần bức hại đó, và đã tự làm cho mình trở nên nổi bật trong cuộc thảm sát những kẻ phù thủy, đến mức máu của họ hoàn toàn có thể coi là đã để lại một vết nhơ trên người ông. Một vết nhơ sâu đậm đến nỗi những khúc xương khô khốc của ông trong nghĩa trang phố Charter chắc chắn vẫn còn lưu giữ nó, nếu chúng chưa tan rã hoàn toàn thành bụi! Tôi không biết liệu những bậc tiền bối này của tôi có từng suy nghĩ để ăn năn và cầu xin sự tha thứ từ Thiên đàng cho những tàn ác của họ hay không; hay liệu giờ đây họ đang rên rỉ dưới những hậu quả nặng nề của chúng ở một cõi sống khác. Dù thế nào đi nữa, tôi, người viết hiện tại, với tư cách là hậu duệ của họ, xin gánh lấy sự hổ thẹn thay cho họ, và cầu mong rằng bất kỳ lời nguyền nào do họ gây ra—như tôi từng nghe, và như tình trạng ảm đạm, kém phát triển của dòng họ suốt bao năm dài dặc có thể biện minh cho sự tồn tại của nó—nay và từ nay về sau sẽ được tháo gỡ.

Thế nhưng, chắc chắn là bất kỳ vị Thanh giáo nghiêm nghị và mặt mày bặm trợn nào trong số đó cũng sẽ cho rằng đó là sự trừng phạt đủ cho tội lỗi của mình khi mà, sau một khoảng thời gian dài đằng đẵng như vậy, cái thân cây già cỗi của gia phả với biết bao rêu phong đáng kính lại sinh ra trên cành cao nhất của nó một kẻ nhàn rỗi như tôi. Bất kỳ mục tiêu nào tôi từng ấp ủ cũng sẽ không được họ công nhận là đáng ca ngợi; bất kỳ thành công nào của tôi—nếu cuộc đời tôi, vượt ra ngoài phạm vi gia đình, từng được chiếu rọi bởi thành công—sẽ bị họ coi chẳng khác nào vô giá trị, nếu không muốn nói là đáng hổ thẹn một cách rõ ràng. “Nó là đứa nào thế?” Một cái bóng xám xịt của tổ tiên tôi thì thầm với kẻ kia. “Một kẻ viết truyện! Cái nghề nghiệp gì ở đời—cách tôn vinh Chúa hay phục vụ nhân loại nào trong thời đại của nó—mà lại thế hả? Chà, cái thằng đốn mạt ấy thà làm một tay kéo đàn vĩ cầm khéo còn hơn!” Những lời tán dương qua lại giữa các cụ kỵ và tôi là như thế đấy, băng qua cả vực thẳm của thời gian! Thế nhưng, cứ để họ khinh miệt tôi tùy thích, những đặc tính mạnh mẽ trong bản chất của họ đã hòa quyện chặt chẽ vào bản chất tôi.

Được cắm sâu vào thuở hồng hoang và thời thơ ấu của thị trấn bởi hai con người quả quyết và đầy năng lượng ấy, dòng họ đã sinh tồn tại đây kể từ đó cho đến nay; luôn luôn, thưa rằng, trong sự đáng kính; chưa bao giờ, theo như tôi được biết, bị bôi nhọ bởi một thành viên bất xứng nào; nhưng mặt khác, sau hai thế hệ đầu tiên, hiếm khi hoặc chưa bao giờ làm được một chiến công đáng nhớ nào, hay thậm chí đưa ra dù chỉ là một yêu sách để được công chúng chú ý. Dần dần, họ chìm khuất gần như khỏi tầm mắt; giống như những ngôi nhà cổ, đây đó trên các phố phường, bị che khuất đến tận mái hiên bởi sự bồi tụ của lớp đất mới. Từ đời cha truyền con nối, suốt hơn một trăm năm, họ gắn bó với biển cả; một vị thuyền trưởng tóc điểm bạc, ở mỗi thế hệ, lại lui về từ đài chỉ huy để về với tổ ấm, trong khi một cậu nhóc mười四 tuổi bước vào vị trí thừa kế trước mũi tàu, đương đầu với bọt muối và những cơn cuồng phong từng gào thét chống lại cha và ông của cậu. Cậu bé đó, cũng đúng lúc, lại chuyển từ boong tàu lên khoang cabin, trải qua những năm tháng thanh xuân giông tố, rồi trở về từ những chuyến phiêu lưu vòng quanh thế giới để già đi, chết đi, và hòa quyện tro cốt của mình vào lòng đất mẹ. Sự gắn bó lâu dài của một gia đình với một địa điểm, coi đó là nơi sinh ra và chôn nhau cắt rốn, tạo nên một mối thân tộc giữa con người và vùng đất ấy, hoàn toàn độc lập với bất kỳ vẻ đẹp phong cảnh hay hoàn cảnh đạo đức nào xung quanh. Đó không phải là tình yêu mà là bản năng. Cư dân mới—kẻ tự thân đến từ một vùng đất lạ, hay có cha hoặc ông đến từ nơi khác—hầu như chẳng có tư cách gì để được gọi là một người Salem; hắn không thể hình dung nổi thứ sự bám víu dai dẳng như con hàu mà một cư dân lâu năm, kẻ đang bước sang thế kỷ thứ ba của đời mình, dành cho nơi chốn mà qua đó các thế hệ nối tiếp của dòng họ ông đã cắm rễ. Chẳng hề gì nếu nơi đó chẳng mang lại niềm vui cho ông; rằng ông đã mệt mỏi với những ngôi nhà gỗ cũ kỹ, bùn đất và bụi bặm, sự bằng phẳng đến chết lặng của cảnh quan và tình cảm, ngọn gió đông lạnh lẽo, và bầu không khí xã hội lạnh lẽo nhất;—tất cả những điều đó, và bất kỳ lỗi lầm nào khác mà ông có thể nhìn thấy hoặc tưởng tượng ra, đều chẳng ảnh hưởng gì đến mục đích ấy. Bùa chú vẫn tồn tại, và mạnh mẽ chẳng khác gì khi nơi sinh thành là một thiên đường trần gian. Trường hợp của tôi cũng y như vậy. Tôi cảm thấy gần như đó là một định mệnh khi chọn Salem làm chốn dung thân; để rồi cái khuôn mặt và nét tính cách vốn dĩ đã quen thuộc ở đây—luôn luôn, khi đại diện này của dòng họ nằm xuống trong mồ, thì một đại diện khác lại bước lên, tựa như đang thực hiện cuộc tuần tra dọc theo con đường chính—vẫn có thể, trong khoảng đời ngắn ngủi của tôi ở cái thị trấn cổ kính này, được nhìn thấy và nhận ra. Dẫu vậy, chính thứ tình cảm này lại là bằng chứng cho thấy mối liên hệ vốn đã trở nên không lành mạnh cuối cùng cũng cần phải được cắt đứt. Bản chất con người sẽ không thể sinh sôi nảy nở, cũng giống như củ khoai tây, nếu nó cứ được trồng đi trồng lại trong suốt một chuỗi quá nhiều thế hệ trên cùng một mảnh đất đã bạc màu. Các con tôi đã có những nơi sinh khác, và chừng nào vận mệnh của chúng còn nằm trong tầm kiểm soát của tôi, chúng sẽ cắm rễ xuống những vùng đất lạ lẫm.

Khi bước ra từ Ngôi nhà Mục sư Cũ, chính thứ tình cảm kỳ lạ, uể oải và chẳng lấy gì làm vui thú đối với quê hương này đã đưa tôi đến để lấp đầy một vị trí trong tòa nhà gạch của Bác Sam, trong khi lẽ ra tôi có thể đến một nơi nào khác, hoặc tốt hơn thế. Số phận đã trói buộc tôi. Đó chẳng phải lần đầu tiên, cũng chẳng phải lần thứ hai, tôi rời đi—có vẻ như là vĩnh viễn—thế nhưng lại quay về, giống như đồng xu giả xui xẻo, hoặc như thể Salem đối với tôi là tâm điểm không thể tránh khỏi của vũ trụ. Thế là, vào một buổi sáng đẹp trời, tôi bước lên những bậc thềm đá hoa cương với bức ủy nhiệm của Tổng thống trong túi, và được giới thiệu với đội ngũ những quý ông sẽ hỗ trợ tôi trong trách nhiệm nặng nề với tư cách là viên chức hành pháp đứng đầu của Sở Hải Quan.

Tôi rất nghi ngờ—hay đúng hơn là tôi chẳng mảy may nghi ngờ gì—về việc liệu có bất kỳ công chức nào của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, dù là ngạch dân sự hay quân sự, từng có dưới quyền mình một đội ngũ cựu binh mang tính gia trưởng như tôi hay không. Vị trí của Người cao tuổi nhất lập tức được xác định khi tôi nhìn vào họ. Trong suốt hơn hai mươi năm trước thời kỳ này, vị thế độc lập của viên Tổng thu thuế đã giúp Sở Hải Quan Salem tránh được chảo lửa của những biến động chính trị, thứ vốn khiến cho nhiệm kỳ công chức thường trở nên vô cùng mong manh. Là một người lính—người lính kiệt xuất nhất của New England—ông đứng vững vàng trên bệ đài của những chiến công hào hùng; và bản thân được bảo vệ bởi sự rộng lượng khôn ngoan của các đời tổng thống kế tiếp mà ông từng phục vụ, ông đã là chổ dựa an toàn cho các cấp dưới của mình qua bao giờ phút hiểm nghèo và hoảng loạn. Tướng Miller là một người bảo thủ tận gốc; một con người mà bản tính nhân hậu của ông bị ảnh hưởng không nhỏ bởi thói quen; ông gắn bó sâu sắc với những gương mặt quen thuộc, và rất khó bị lay chuyển để thay đổi, ngay cả khi sự thay đổi ấy có thể mang lại những cải thiện không thể chối cãi. Do đó, khi tiếp quản bộ phận của mình, tôi chẳng thấy ai ngoài những cụ già. Phần lớn họ là những vị thuyền trưởng già dặn, sau khi đã bị quăng quật trên mọi vùng biển và hiên ngang chống chọi lại những ngọn cuồng phong giông tố của cuộc đời, cuối cùng đã dạt vào góc nhỏ yên bình này, nơi mà với rất ít thứ quấy rầy ngoài những nỗi kinh hoàng định kỳ của cuộc bầu cử Tổng thống, tất cả bọn họ đều được ban cho một cơ hội sống thứ hai. Dù không hề ít nguy cơ mắc phải tuổi già và bệnh tật hơn những người đồng loại, họ rõ ràng sở hữu một thứ bùa hộ mệnh nào đó giúp giữ Thần Chết ở khoảng cách an toàn. Hai hoặc ba người trong số họ, như tôi được bảo đảm, vì mắc bệnh gút và thấp khớp, hoặc có lẽ phải nằm liệt giường, chưa bao giờ mơ tới việc xuất hiện tại Sở Hải Quan trong suốt phần lớn thời gian của năm; nhưng sau một mùa đông tê liệt, họ sẽ bò ra cái nắng ấm áp của tháng Năm hoặc tháng Sáu, lười biếng làm cái việc mà họ gọi là nhiệm vụ, rồi theo sự rảnh rỗi và thuận tiện của riêng mình, họ lại lên giường đi ngủ. Tôi phải nhận tội về hành vi rút ngắn hơi thở công chức của hơn một trong số những vị đầy tớ đáng kính này của nền cộng hòa. Theo sự trình bày của tôi, họ được phép nghỉ ngơi sau những lao động vất vả, và ngay sau đó—như thể nguyên tắc sống duy nhất của họ chính là lòng nhiệt thành vì sự nghiệp của đất nước—điều mà tôi thực sự tin là như thế—họ đã rút lui về thế giới bên kia. Đó là một sự an ủi mang tính tôn giáo đối với tôi khi biết rằng, thông qua sự can thiệp của mình, tôi đã cho phép họ có đủ thời gian để ăn năn về những hành vi xấu xa và đồi bại mà, như một lẽ tất yếu, bất kỳ nhân viên Hải Quan nào cũng bị cho là sẽ mắc phải. Cả lối đi phía trước lẫn phía sau của Sở Hải Quan đều không hề mở ra con đường dẫn đến Thiên đảng.

Phần lớn các nhân viên của tôi thuộc đảng Whig. Thật may mắn cho hội anh em đáng kính của họ khi vị Thanh tra mới không phải là một chính trị gia, và dẫu là một người theo đảng Dân chủ trung thành về nguyên tắc, ông không hề nhận hay giữ chức vụ của mình dựa trên bất kỳ dịch vụ chính trị nào. Nếu sự việc không phải thế—nếu một chính trị gia tích cực được đưa vào vị trí có ảnh hưởng này, để gánh vác nhiệm vụ dễ dàng là đối đầu với một vị Tổng thu thuế thuộc đảng Whig, người mà bệnh tật khiến ông không thể trực tiếp quản lý văn phòng của mình—thì chắc chắn không một ai trong bộ ngũ già cỗi ấy còn duy trì được hơi thở của đời sống công chức trong vòng một tháng sau khi vị thiên sứ diệt vong bước lên những bậc thềm của Sở Hải Quan. Theo bộ luật được thừa nhận trong những vấn đề như vậy, sẽ chẳng có gì khác ngoài bổn phận của một chính trị gia khi đưa từng cái đầu bạc phơ ấy lên máy chém. Thật dễ dàng để nhận thấy rằng mấy ông già khốt ta giài ấy rất sợ hãi trước một sự bất nhã như vậy từ phía tôi. Tôi vừa cảm thấy đau lòng, vừa buồn cười khi chứng kiến sự hoảng sợ đi kèm với sự xuất hiện của mình, khi thấy một gò má nhăn nheo, sương gió bởi nửa thế kỷ giông tố, bỗng tái xanh trước cái nhìn của một cá nhân vô hại như tôi; khi phát hiện ra, hết người này đến người khác cất lời với tôi, tiếng run rẩy của một chiếc giọng mà trong những ngày xa xưa từng thét qua chiếc loa phóng thanh, khàn đục đủ để dọa cho cả thần Boreas phải câm lặng. Những con người lớn tuổi tuyệt vời ấy thừa biết rằng, theo mọi quy luật được thiết lập—và xét về một số người trong số họ, được cân đong bằng sự thiếu hiệu quả trong công việc của chính họ—họ đáng lẽ phải nhường chỗ cho những người trẻ tuổi hơn, chính thống hơn về mặt chính trị, và hoàn toàn phù hợp hơn họ để phục vụ người Bác chung của chúng ta. Bản thân tôi cũng biết điều đó, nhưng chưa bao giờ thực sự đủ nhẫn tâm để hành động theo sự hiểu biết ấy. Do đó, điều đó mang lại tiếng xấu cho tôi một cách xứng đáng và đáng kể làm tổn hại đến lương tâm công chức của tôi, họ vẫn tiếp tục, trong suốt nhiệm kỳ của tôi, lê lết quanh các bến tàu và la cà ngược xuôi trên những bậc thềm của Sở Hải Quan. Họ cũng dành rất nhiều thời gian để ngủ gật trong những góc quen thuộc của mình, với những chiếc ghế ngả ngược vào tường; tuy nhiên, họ thức giấc một hoặc hai lần vào buổi sáng, để tra tấn lẫn nhau bằng hàng nghìn lần lặp lại những câu chuyện biển cả cũ rít và những trò đùa mốc meo, những thứ đã trở thành mật khẩu và khẩu hiệu giữa họ với nhau.

Tôi tưởng tượng rằng chẳng mấy chốc người ta đã phát hiện ra vị Thanh tra mới chẳng có chút hại gì. Thế nên, với tâm hồn nhẹ nhõm và ý thức hạnh phúc vì được làm việc hữu ích—ít nhất là cho chính họ, nếu không phải vì đất nước yêu quý của chúng ta—những cụ ông tốt bụng này đã trải qua các thủ tục hành chính khác nhau. Một cách khôn ngoan sau cặp kính, họ nhìn trộm vào khoang tàu. Sự om sòm của họ về những vấn đề nhỏ nhặt thật lớn lao, và đôi khi sự đần độn để cho những vấn đề lớn hơn lọt qua kẽ tay của họ cũng thật kỳ diệu!

Trừ khi con người ta khó chịu hơn mức bình thường, đó là thói quen ngớ ngẩn của tôi là kết thân với họ. Phần tốt đẹp hơn trong tính cách của người bạn đồng hành của tôi, nếu nó có phần tốt hơn, là phần thường nổi lên trong sự quan tâm của tôi và tạo thành hình mẫu để tôi nhận diện con người ấy. Vì hầu hết các nhân viên Hải Quan già này đều có những đức tính tốt, và vị thế của tôi đối với họ, mang tính cha con và bảo bọc, rất thuận lợi cho sự nảy nở của những tình cảm thân thiện, nên chẳng mấy chốc tôi bắt đầu yêu mến tất cả bọn họ. Thật dễ chịu vào những buổi sáng mùa hè—khi cái nóng gay gắt gần như làm tan chảy phần còn lại của nhân loại, chỉ truyền một sự ấm áp dễ chịu vào hệ thống đã nửa tê liệt của họ—thật dễ chịu khi nghe họ trò chuyện ở lối đi phía sau, một hàng người đều ngả ghế vào tường như thường lệ; trong khi những lời châm biếm đông cứng của các thế hệ trước được làm cho tan chảy, và trào ra thành những tiếng cười sủi bọt trên đôi môi họ. Về mặt biểu hiện bên ngoài, niềm vui của những người già có rất nhiều điểm chung với sự vui tươi của trẻ em; trí tuệ, cũng giống như một ý thức sâu sắc về sự hài hước, chẳng dính líu gì nhiều đến vấn đề này; ở cả hai, đó là một tia chớp vui đùa trên bề mặt, và mang lại một vẻ tươi sáng, vui vẻ cho cả cành lá xanh lẫn thân cây già cỗi, mục rữa. Tuy nhiên, trong một trường hợp, đó là ánh nắng thực sự; trong trường hợp kia, nó giống ánh sáng lân quang của gỗ mục hơn.

Độc giả phải hiểu rằng, sẽ là một sự bất công đáng buồn nếu miêu tả tất cả những người bạn già tuyệt vời của tôi đều đã lú lẫn. Trước hết, các đồng nghiệp của tôi không phải lúc nào cũng già; trong số họ có những người đang ở độ tuổi sung sức và đỉnh cao, sở hữu năng lực và sự sắc sảo rõ rệt, hoàn toàn vượt trội so với lối sống uể oải và phụ thuộc mà những vì sao xấu số đã ném họ vào. Hơn nữa, những lọn tóc bạc của tuổi già đôi khi lại là mái tranh che chở cho một ngôi nhà trí tuệ vẫn còn kiên cố. Nhưng xét về phần đa số trong đội ngũ cựu binh của tôi, sẽ không có gì là oan uổng nếu tôi mô tả chung họ là một đám những linh hồn già nua tẻ nhạt, những kẻ chẳng thu lượm được gì đáng để bảo tồn từ trải nghiệm phong phú về cuộc đời. Họ dường như đã vứt bỏ hết hạt lúa vàng của sự khôn ngoan thực tế mà họ từng có rất nhiều cơ hội để gặt hái, và cẩn trọng nhất là nhét đầy trí nhớ của mình bằng những lớp vỏ trấu. Họ nói về bữa sáng buổi sáng, hay bữa tối của ngày hôm qua, hôm nay, hoặc ngày mai với sự hứng thú và say sưa hơn nhiều so với thảm họa đắm tàu từ bốn mươi hay năm mươi năm trước và tất cả những kỳ quan của thế giới mà họ từng chứng kiến bằng đôi mắt thuở trẻ.

Cha đẻ của Sở Hải Quan—vị gia trưởng, không chỉ của tiểu đội nhân viên nhỏ bé này, mà tôi dám nói là của cả đoàn thể đáng kính gồm những nhân viên tuần tra thuế khắp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ—chính là một vị Thanh tra thường trực nào đó. Ông thực sự có thể được gọi là một người con hợp pháp của hệ thống thuế vụ, nhuộm tận gốc, hay đúng hơn là sinh ra trong nhung lụa; bởi vì thân sinh của ông, một đại tá trong cuộc Cách mạng và từng là tổng thu thuế của cảng, đã tạo ra một chức vụ cho ông và bổ nhiệm ông vào đó từ thời kỳ nguyên thủy mà ngày nay ít người sống sót còn nhớ được. Vị Thanh tra này, khi tôi mới biết ông, là một người khoảng tám mươi tuổi, và chắc chắn là một trong những mẫu vật bách niên kỳ diệu nhất mà bạn có thể tìm thấy trong suốt một đời tìm kiếm. Với đôi má hồng hào, thân hình gọn gàng được khoác lên chiếc áo xanh khuy sáng, sải bước nhanh nhẹn, mạnh mẽ, cùng diện mạo khỏe khoắn, cường tráng, toàn bộ con người ông trông có vẻ—thực ra không phải trẻ trung—mà giống như một phát minh mới nào đó của Mẹ Thiên nhiên dưới hình hài một con người, kẻ mà tuổi già và bệnh tật chẳng có lý do gì để chạm tới. Giọng nói và tiếng cười của ông, vang dội mãi trong Sở Hải Quan, không hề mang chút âm hưởng run rẩy và cục cục của tuổi già; chúng cất lên dõng dạc từ lồng ngực ông, giống như tiếng gáy của một chú gà trống hay tiếng kèn xung trận. Chỉ nhìn ông thuần túy dưới góc độ một sinh vật—và chẳng còn gì nhiều để nhìn ngắm ngoài điều đó—ông là một đối tượng vô cùng mãn nguyện, từ sự khỏe mạnh và lành mạnh toàn diện của hệ thống cơ thể ông, cho đến khả năng tận hưởng ở độ tuổi cao chót vót ấy tất cả, hoặc gần như tất cả, những niềm vui mà ông từng nhắm tới hay hình dung ra. Sự an toàn vô tư trong cuộc đời ông tại Sở Hải Quan, với mức thu nhập cố định và rất ít mối bận tâm thỉnh thoảng mới có về việc bị sa thải, chắc chắn đã góp phần khiến thời gian trôi qua nhẹ nhàng đối với ông. Tuy nhiên, những nguyên nhân nguyên thủy và mạnh mẽ hơn lại nằm ở sự hoàn hảo hiếm có của bản chất sinh vật ở ông, tỷ lệ trí tuệ vừa phải, và sự pha trộn rất không đáng kể các thành phần đạo đức và tâm linh; thực ra, những phẩm chất sau này chỉ ở mức vừa đủ để ngăn cụ già đi bằng bốn chân. Ông không sở hữu bất kỳ năng lực tư duy nào, không có chiều sâu cảm xúc, không có những sự nhạy cảm phiền toái: ngắn gọn là chẳng có gì ngoài một vài bản năng thông thường, được hỗ trợ bởi tính khí vui vẻ nảy sinh một cách tất yếu từ sự khỏe mạnh về thể chất của ông, làm tròn nhiệm vụ một cách đáng kính và được công chúng chấp thuận, thay cho một trái tim. Ông từng là chồng của ba người vợ, tất cả đều đã qua đời từ lâu; là cha của hai mươi đứa con, hầu hết trong số chúng, ở mọi lứa tuổi thơ ấu hay trưởng thành, cũng đã trở về với cát bụi. Ở đây, người ta có thể cho rằng chừng đó nỗi đau cũng đủ để nhuộm đẫm ngay cả một tâm hồn rực rỡ nhất bằng một sắc màu u sấm. Không phải vậy với vị Thanh tra già của chúng ta. Một tiếng thở dài ngắn ngủi là đủ để rũ sạch toàn bộ gánh nặng của những hồi ức ảm đạm ấy. Khoảnh khắc tiếp theo, ông lại sẵn sàng nô đùa như bất kỳ đứa trẻ chưa cởi tã nào: sẵn sàng hơn rất nhiều so với cậu nhân viên trẻ của Tổng thu thuế, người ở tuổi mười chín lại là một kẻ già dặn và nghiêm nghị hơn hẳn so với hai người bọn họ.

Tôi từng theo dõi và nghiên cứu nhân vật mang tính gia trưởng này với, tôi nghĩ, sự tò mò sống động hơn bất kỳ hình thái nhân sinh nào khác hiện diện trước mắt tôi ở đó. Quả thực, ông là một hiện tượng hiếm có; quá hoàn hảo, từ một góc nhìn; quá nông cạn, quá ảo tưởng, quá vô hình—một sự không tồn tại tuyệt đối—ở mọi góc nhìn khác. Kết luận của tôi là ông không có linh hồn, không có trái tim, không có tâm trí; như tôi đã nói, chẳng có gì ngoài bản năng; thế nhưng, bên cạnh đó, những nguyên liệu ít ỏi trong tính cách của ông lại được ráp nối khéo léo đến mức người ta không hề cảm thấy sự thiếu hụt đau đớn nào, mà ngược lại, tôi hoàn toàn hài lòng với những gì tìm thấy ở ông. Có thể thật khó—và quả thực là thế—để tưởng tượng cách ông sẽ tồn tại ở thế giới bên kia, khi mà ông có vẻ quá trần tục và cảm tính; nhưng chắc chắn sự tồn tại của ông ở đây, giả sử nó sẽ chấm dứt bằng hơi thở cuối cùng, đã được ban tặng không hề tàn nhẫn; với những trách nhiệm đạo đức chẳng cao hơn loài thú đồng cỏ, nhưng với phạm vi tận hưởng lớn hơn chúng, và với tất cả đặc ân miễn nhiễm khỏi sự ảm đạm và u tối của tuổi già mà chúng có được.

Một điểm mà ông chiếm ưu thế vượt trội so với những người anh em bốn chân của mình chính là khả năng hồi tưởng lại những bữa ăn ngon lành từng chiếm một phần không nhỏ trong hạnh phúc cuộc đời ông. Thói sành ăn của ông là một đặc điểm vô cùng thú vị; và việc nghe ông bàn về thịt quay gợi cảm giác thèm thuồng chẳng khác gì một món dưa chua hay hàu sống. Vì ông không sở hữu thuộc tính nào cao siêu hơn, và không hề hy sinh hay làm vẩn đục bất kỳ ân sủng tâm linh nào bằng cách cống hiến toàn bộ năng lượng và sự khéo léo để phục vụ cho sự vui sướng và lợi lộc của cái bao tử, nên tôi luôn cảm thấy thích thú và thỏa mãn khi nghe ông hào hứng bàn luận về cá, gia cầm, thịt mổ, cùng những phương pháp tối ưu nhất để chế biến chúng cho bàn ăn. Những hồi ức của ông về những bữa tiệc tùng ngon lành, dù thời điểm của bữa tiệc thực tế có cổ xưa đến đâu, dường như vẫn mang hương vị của thịt heo hay gà tây đến sát ngay lỗ mũi người nghe. Có những hương vị trên vòm họng ông đã lưu luyến ở đó không dưới sáu bảy mươi năm, và rõ ràng vẫn tươi ngon như miếng sườn cừu mà ông vừa mới nuốt chửng cho bữa sáng. Tôi từng nghe ông chép chép miệng vì những bữa tối mà tất cả các vị khách dự tiệc ngoại trừ ông đều đã trở thành mồi cho giun dế từ lâu. Thật kỳ diệu khi quan sát cách mà những bóng ma của những bữa ăn quá khứ liên tục hiện lên trước mắt ông—không phải trong sự tức giận hay báo thù, mà như thể đang biết ơn sự trân trọng trước đây của ông, và tìm cách nhân lên một chuỗi tận hưởng vô tận, vừa mơ hồ vừa mang tính xác thịt: một phần thăn bò, một khoảnh đùi bê, một dải sườn heo, một con gà cụ thể, hay một con gà tây đáng được ca ngợi hết lời từng làm rạng danh bàn ăn của ông vào thời của các đời tổng thống Adams, đều được nhớ lại; trong khi toàn bộ trải nghiệm tiếp theo của nhân loại chúng ta, cùng tất cả những sự kiện làm rạng rỡ hay u ám sự nghiệp cá nhân của ông, đã trôi qua mà không để lại tác động lâu dài nào đáng kể ngoài một cơn gió thoảng. Sự kiện bi thảm chính trong cuộc đời cụ ông, theo như tôi có thể phán đoán, chính là vụ tai nạn của ông với một con ngỗng nào đó, sống và chết từ khoảng hai mươi hay bốn mươi năm trước: một con ngỗng có vóc dáng đầy hứa hẹn, nhưng khi lên mâm lại dai đến mức dao thái thịt chẳng thể để lại chút ấn tượng nào trên thân xác nó, và chỉ có thể xẻ đôi bằng một chiếc rìu và cưa tay.

Nhưng đã đến lúc phải khép lại bức chân dung này; mặc dù tôi rất sẵn lòng đi sâu vào nó dài dòng hơn nữa, bởi vì trong số tất cả những người tôi từng biết, con người này là kẻ phù hợp nhất để làm một nhân viên Hải Quan. Hầu hết mọi người, do những nguyên nhân mà tôi có lẽ không đủ không gian để hé lộ, đều chịu tổn hại về mặt đạo đức từ lối sống đặc biệt này. Vị Thanh tra già thì miễn nhiễm với điều đó; và nếu ông tiếp tục tại vị cho đến tận cùng thời gian, ông vẫn sẽ tốt đẹp y như lúc đó, và ngồi vào bàn ăn với một sự thèm ăn tuyệt vời chẳng kém.

Có một bức chân dung, nếu thiếu nó thì bộ sưu tập các nhân vật Hải Quan của tôi sẽ trở nên vô cùng thiếu sót, nhưng cơ hội quan sát tương đối ít ỏi của tôi chỉ cho phép tôi phác họa nó ở những nét đại cương nhất. Đó chính là bức chân dung của vị Tổng thu thuế, vị Tướng già dũng cảm của chúng ta, người sau những chiến công quân sự huy hoàng, tiếp theo đó là việc cai quản một vùng lãnh thổ miền Tây hoang dã, đã đến đây từ hai mươi năm trước để trải qua quãng đời xế chiều của một cuộc đời đầy biến động và đáng kính.

Người chiến sĩ dũng cảm ấy đã suýt soát, hoặc vừa tròn, bảy mươi tuổi, và đang tiếp tục chặng đường trần thế còn lại của mình, mang trên vai gánh nặng bệnh tật mà ngay cả tiếng kèn xung trận của những hồi ức đầy phấn khích trong tâm hồn ông cũng chẳng thể giúp làm nhẹ bớt là bao. Bước chân giờ đây đã run rẩy, thứ từng đi đầu trong những cuộc xung phong. Chỉ với sự hỗ trợ của một người hầu, và bằng cách bám thật chặt tay lên lan hoa sắt, ông mới có thể chậm chạp và đau đớn bước lên những bậc thềm của Sở Hải Quan, rồi lê bước nhọc nhằn qua sàn nhà để đến được chiếc ghế quen thuộc cạnh lò sưởi. Ở đó, ông thường ngồi, nhìn đăm đăm với một vẻ thanh thản có phần mờ ảo vào những bóng người đến rồi đi, giữa tiếng sột soạt của giấy tờ, tiếng tuyên thệ, những cuộc thảo luận công việc, và câu chuyện phiếm ngẫu nhiên trong văn phòng; tất cả những âm thanh và hoàn cảnh ấy dường như chỉ tác động mờ nhạt đến các giác quan của ông, và hầu như chẳng thể lọt vào thế giới chiêm nghiệm nội tâm của ông. Gương mặt ông, trong sự tĩnh lặng này, thật ôn hòa và nhân hậu. Nếu có ai tìm kiếm sự chú ý của ông, một biểu hiện lịch thiệp và quan tâm sẽ bừng sáng trên các nét mặt của ông, chứng minh rằng vẫn có ánh sáng bên trong ông, và chỉ có phương tiện ngoại cảnh của ngọn đèn trí tuệ mới cản trở những tia sáng truyền đi. Càng thấu hiểu sâu sắc bản chất tâm trí ông, nó càng tỏ ra vững vàng. Khi không còn phải cất lời hay lắng nghe—cả hai hoạt động đều đòi hỏi ở ông một nỗ lực rõ ràng—gương mặt ông sẽ nhanh chóng chìm lại vào vẻ tĩnh lặng không kém phần vui tươi trước đó. Nhìn nét mặt ấy chẳng có gì là đau đớn cả; bởi vì dẫu mờ ảo, nó không mang sự lú lẫn của tuổi già đang lụi tàn. Khung sườn bản chất của ông, vốn ban đầu mạnh mẽ và đồ sộ, vẫn chưa bị vò nát thành đống đổ nát.

Tuy nhiên, việc quan sát và định nghĩa tính cách của ông dưới những bất lợi như vậy là một nhiệm vụ khó khăn chẳng kém gì việc dò tìm và xây dựng lại trong trí tưởng tượng một pháo đài cổ, như Ticonderoga, từ khung cảnh những đổ nát xám xịt và vỡ nát của nó. Đây đó, có lẽ, những bức tường vẫn còn gần như nguyên vẹn; nhưng ở những nơi khác chỉ toàn là một gò đất vô định hình, cồng kềnh chính vì sự kiên cố của nó, và bị bao phủ qua bao năm tháng hòa bình và lãng quên bởi cỏ dại cùng những thực vật xa lạ.

Dù vậy, khi nhìn người chiến binh già với lòng trìu mến—vì dẫu sự giao tiếp giữa chúng tôi rất ít ỏi, cảm giác của tôi dành cho ông, giống như tất cả mọi động vật hai chân và bốn chân từng biết ông, gọi thế không có gì là không thỏa đáng—tôi vẫn có thể nhận ra những điểm chính trong bức chân dung của ông. Nó được ghi dấu bởi những phẩm chất cao cả và anh hùng, cho thấy việc ông giành được một tên tuổi lừng lẫy không phải là một sự tình cờ ngẫu nhiên, mà là điều hoàn toàn xứng đáng. Tôi cho rằng tinh thần của ông chưa bao giờ mang đặc điểm của sự bồn chồn hiếu động; ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời, nó chắc chắn phải cần đến một cú hích để khiến ông chuyển động; nhưng một khi đã được khuấy động, với những chướng ngại vật cần vượt qua và một mục tiêu xứng đáng cần đạt được, con người ấy không bao giờ chịu lùi bước hay thất bại. Ngọn lửa từng bao trùm bản chất ông, và nay vẫn chưa tắt hẳn, chưa bao giờ là kiểu lóe lên bập bùng trong ngọn lửa lớn; mà рад là một thứ ánh sáng đỏ thẳm, giống như thanh sắt trong lò nung. Nặng nề, vững chãi, kiên định—đó là biểu hiện trong sự tĩnh lặng của ông, ngay cả trong sự suy tàn đã sớm đeo bám ông vào thời điểm mà tôi đang nhắc đến. Nhưng ngay cả lúc đó, tôi vẫn có thể tưởng tượng rằng, dưới một sự kích thích nào đó đi sâu vào ý thức của ông—được đánh thức bởi một tiếng kèn lệnh, đủ lớn để đánh thức tất cả những năng lượng chưa chết mà chỉ đang ngủ quên của ông—ông vẫn có khả năng rũ bỏ bệnh tật của mình như chiếc áo choàng của người bệnh, vứt bỏ cây gậy của tuổi già để chộp lấy thanh gươm chiến trận, và vùng dậy một lần nữa như một dũng tướng. Và trong khoảnh khắc mãnh liệt ấy, phong thái của ông vẫn sẽ điềm tĩnh. Dù vậy, một sự thể hiện như thế chỉ có thể được vẽ ra trong tưởng tượng; không thể đoán trước, cũng chẳng nên mong đợi. Những gì tôi nhìn thấy ở nơi ông—rõ ràng chẳng kém gì những chiến lũy không thể phá hủy của pháo đài Ticonderoga cổ kính, từng được viện dẫn làm hình ảnh so sánh thích hợp nhất—chính là những nét của sự bền bỉ lì lợm và nặng nề, thứ hoàn toàn có thể biến thành sự bướng bỉnh trong những năm tháng trẻ tuổi của ông; của sự chính trực, vốn giống như hầu hết các ân huệ khác của ông, nằm ở một khối lượng có phần nặng nề và khó uốn nắn hay quản lý chẳng khác gì một tấn quặng sắt; và của lòng nhân ái, mà dẫu ông có dẫn đầu những làn lê xung phong tại Chippewa hay Fort Erie một cách dữ dội đến đâu đi nữa, tôi cho rằng nó vẫn mang một dấu ấn chân thực chẳng kém gì bất kỳ nhà từ thiện tranh biện nào của thời đại này. Ông từng tự tay giết người, nếu tôi biết chắc—chắc chắn là họ đã ngã xuống như những ngọn cỏ trước nhát lưỡi liềm của cuộc xung phong mà tinh thần ông truyền cho nó năng lượng khải hoàn—nhưng dù thế nào đi nữa, trong trái tim ông chưa bao giờ có sự tàn nhẫn đủ để phủi bay lớp phấn trên cánh một con bướm. Tôi chưa từng biết người nào mà tôi lại có thể tự tin đặt niềm tin và khẩn cầu lòng nhân hậu bẩm sinh của ông đến thế.

Nhiều đặc điểm—và cả những đặc điểm góp phần tạo nên sự tương đồng trong một bức phác họa một cách mạnh mẽ nhất—hẳn đã biến mất hoặc bị lu mờ trước khi tôi gặp vị Tướng. Tất cả những thuộc tính mang tính duyên dáng thuần túy thường là những thứ dễ tàn phai nhất; thiên nhiên cũng chẳng trang trí cho tàn tích con người bằng những bông hoa mang vẻ đẹp mới, thứ có cội rễ và dinh dưỡng riêng nằm trong các khe nứt của sự mục rữa, giống như cách bà gieo những bông hoa tường vi trên pháo đài đổ nát Ticonderoga. Mặc dù vậy, ngay cả xét về mặt duyên dáng và vẻ đẹp, vẫn có những điểm rất đáng ghi nhận. Đôi khi, một tia hài hước vẫn lách qua lớp màn che khuất mờ ảo và lấp lánh dễ chịu trên gương mặt chúng ta. Một nét thanh lịch bẩm sinh, hiếm khi thấy ở phái nam sau thời thơ ấu hoặc đầu thanh niên, được thể hiện qua sở thích của vị Tướng đối với vẻ đẹp và hương thơm của các loài hoa. Một người lính già có thể được cho là chỉ quý trọng vòng nguyệt quế đẫm máu trên trán mình; nhưng đây lại là một con người dường như có sự cảm nhận tinh tế như một thiếu nữ đối với các loài hoa.

Ở đó, bên cạnh lò sưởi, vị Tướng già dũng cảm vẫn thường ngồi; trong khi vị Thanh tra—dù hiếm khi, trừ khi không thể tránh khỏi, tự gánh vác nhiệm vụ khó khăn là lôi kéo ông vào cuộc trò chuyện—lại thích đứng từ xa và ngắm nhìn gương mặt tĩnh lặng và gần như đang ngủ gật của ông. Ông có vẻ như đang ở một nơi cách xa chúng tôi, dẫu chúng tôi thấy ông chỉ cách đó vài thước; xa xôi dẫu chúng tôi bước sát qua chiếc ghế của ông; không thể chạm tới dẫu chúng tôi có thể vươn tay ra và chạm vào bàn tay ông. Có lẽ ông đang sống một cuộc đời chân thực hơn trong những suy nghĩ của mình so với giữa môi trường không phù hợp của văn phòng Tổng thu thuế. Những cuộc diễn tập duyệt binh; sự hỗn loạn của chiến trận; âm thanh rộn rã của những bản nhạc anh hùng cổ xưa, được nghe từ ba mươi năm trước—những khung cảnh và âm thanh đó, có lẽ, vẫn sống động trong giác quan trí tuệ của ông. Trong khi đó, các thương gia và thuyền trưởng, những cậu nhân viên bảnh chọe và những tên thủy thủ thô kệch, cứ bước vào rồi lại bước ra; sự hối hả của đời sống thương mại và Hải Quan vẫn duy trì tiếng vo ve nho nhỏ xung quanh ông; và dường như vị Tướng chẳng có chút mối liên hệ xa xôi nào với cả những con người lẫn công việc của họ. Ông lạc lõng chẳng khác nào một thanh gươm cũ—giờ đã rỉ sét, nhưng từng lóe sáng nơi tuyến đầu chiến trận và vẫn để lại một vệt sáng chói lọi dọc theo lưỡi kiếm—đặt giữa những lọ mực, dao dọc giấy và thước gỗ gụ trên bàn làm việc của Phó Tổng thu thuế.

Có một điều đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc tái hiện và khôi phục người chiến sĩ kiên cường của vùng biên giới Niagara—con người của năng lượng chân thực và giản dị. Đó chính là hồi ức về câu nói đáng nhớ của ông—“Tôi sẽ thử, thưa Ngài”—được thốt ra ngay bên bờ vực của một chiến dịch liều lĩnh và anh hùng, mang hơi thở và tinh thần của sự gan góc xứ New England, thấu suốt mọi hiểm nguy và đương đầu với tất cả. Nếu ở đất nước chúng ta, lòng dũng cảm được thưởng bằng danh hiệu tước hiệu, thì câu nói này—thứ có vẻ rất dễ thốt ra, nhưng chỉ có ông, với một nhiệm vụ nguy hiểm và vinh quang như thế trước mắt, mới từng nói ra—sẽ là phương châm tốt nhất và phù hợp nhất cho chiếc khiên gia huy của vị Tướng.

Việc kết giao thói quen với những cá nhân không giống mình, những kẻ ít quan tâm đến theo đuổi của mình và có bầu trời cùng năng lực mà mình phải bước ra khỏi bản thân mới có thể trân trọng được, đóng góp rất lớn cho sức khỏe tinh thần và trí tuệ của một con người. Những ngẫu nhiên trong cuộc đời tôi thường mang lại cho tôi lợi thế này, nhưng chưa bao giờ đầy đủ và phong phú hơn trong thời gian tôi tại nhiệm. Có một người đặc biệt, việc quan sát tính cách của ông đã mang lại cho tôi một ý tưởng hoàn toàn mới về tài năng. Các ân huệ của ông mang rõ nét của một con người của công việc; nhanh nhẹn, sắc sảo, minh mẫn; với một đôi mắt nhìn thấu mọi rắc rối, và một khả năng sắp xếp khiến chúng biến mất tựa như một cái phất tay của phù thủy. Được nuôi dưỡng từ thuở nhỏ trong Sở Hải Quan, đó chính là sân chơi hoạt động đích thực của ông; và vô số sự rắc rối của công việc, vốn gây mệt mỏi cho kẻ ngoại đạo, lại hiện diện trước mắt ông với sự đều đặn của một hệ thống được hiểu rõ hoàn hảo. Trong sự chiêm nghiệm của tôi, ông đứng như hình mẫu lý tưởng của tầng lớp mình. Quả thực, ông chính là Sở Hải Quan thu nhỏ; hoặc ít nhất, là cỗ lò xo chính giữ cho những bánh xe chuyển động đa dạng của nó hoạt động; bởi vì trong một cơ chế như thế này, nơi các nhân viên được bổ nhiệm để phục vụ lợi ích và sự tiện lợi của chính họ, chứ hiếm khi gắn liền với sự phù hợp của họ đối với nhiệm vụ phải thực hiện, họ buộc phải tìm kiếm ở nơi khác sự khéo léo mà bản thân không có. Do đó, theo một sự tất yếu không thể tránh khỏi, giống như nam châm hút mạt sắt, người của công việc của chúng ta đã thu hút về phía mình những khó khăn mà mọi người đều vấp phải. Với một thái độ nhún nhường dễ dãi và sự kiên nhẫn tử tế đối với sự ngu ngốc của chúng ta—thứ mà, đối với tầng lớp trí tuệ của ông, có lẽ chẳng khác gì tội ác—ông sẽ lập tức, chỉ bằng một cái chạm tay nhẹ nhàng, làm cho những điều không thể hiểu nổi trở nên sáng tỏ như ban ngày. Các thương gia coi trọng ông chẳng kém gì chúng ta, những người bạn thâm giao của ông. Sự chính trực của ông là hoàn hảo; đó là một định luật tự nhiên đối với ông hơn là một sự lựa chọn hay nguyên tắc; và đối với một trí tuệ nổi bật sự rạch ròi và chính xác như ông, điều kiện cốt lõi để điều hành công việc một cách trung thực và ngăn nắp không thể là gì khác. Một vết nhơ trên lương tâm ông, đối với bất cứ điều gì nằm trong phạm vi nghề nghiệp của ông, sẽ làm phiền con người ấy theo cách tương tự, dù ở mức độ lớn hơn rất nhiều, như một lỗi trong bảng cân đối tài khoản, hay một vết mực trên trang sạch của một cuốn sổ ghi chép. Nói tóm lại—và đó là một trường hợp hiếm hoi trong cuộc đời tôi—tôi đã gặp được một cá nhân hoàn toàn thích ứng với vị trí mà ông nắm giữ.

Đó là một số con người mà tôi thấy mình gắn bó lúc bấy giờ. Tôi đón nhận nó như một ân huệ từ Định mệnh khi được ném vào một vị trí ít liên quan đến thói quen quá khứ của mình; và nghiêm túc bắt tay vào việc thu lượm từ đó bất kỳ lợi ích nào có thể đạt được. Sau tình đồng chí lao động và những kế hoạch viển vông với những người anh em mơ mộng tại Brook Farm; sau khi sống ba năm dưới ảnh hưởng tinh tế của một trí tuệ như Emerson; sau những ngày tháng tự do, hoang dã bên dòng Assabeth, đắm chìm trong những suy đoán kỳ quái cạnh đống lửa cành cây rụng cùng Ellery Channing; sau khi trò chuyện với Thoreau về những cây thông và di tích thổ dân trong túp lều ẩn dật của ông ở Walden; sau khi trở nên khó tính vì sự đồng điệu với nét tinh tế cổ điển từ văn hóa của Hillard; sau khi thấm nhuần tinh thần thi ca bên lò sưởi của Longfellow—đã đến lúc tôi nên rèn luyện các năng lực khác trong bản chất của mình, và nuôi dưỡng bản thân bằng thứ thức ăn mà trước đây tôi hiếm khi có cảm giác thèm muốn. Ngay cả vị Thanh tra già cũng đáng giá, như một sự thay đổi khẩu vị, đối với một người từng quen biết Alcott. Tôi xem đó như bằng chứng, ở một mức độ nào đó, về một hệ thống tự nhiên cân bằng tốt và không thiếu bất kỳ phần thiết yếu nào của một tổ chức toàn diện, rằng với những đồng nghiệp như vậy để nhớ về, tôi có thể hòa nhập ngay lập tức với những con người có phẩm chất hoàn toàn khác biệt, và không hề càu nhàu về sự thay đổi ấy.

Văn học, những nỗ lực và mục tiêu của nó, giờ đây chẳng còn mấy quan trọng trong sự quan tâm của tôi. Vào giai đoạn này, tôi chẳng màng gì đến sách vở; chúng nằm ngoài tầm với của tôi. Tự nhiên—ngoại trừ bản chất con người—tự nhiên được phát triển trong đất và bầu trời, theo một nghĩa nào đó, đã bị che giấu khỏi tôi; và tất cả niềm vui tưởng tượng từng thổi hồn vào nó đã trôi tuột ra khỏi tâm trí tôi. Một ân huệ, một năng lực, nếu chưa mất đi hẳn thì cũng đã bị đình chỉ và vô tri bên trong tôi. Sẽ có điều gì đó buồn bã, buồn tẻ khôn tả trong tất cả những điều này, nếu tôi không nhận thức được rằng việc triệu hồi lại bất cứ điều gì có giá trị trong quá khứ hoàn toàn nằm trong quyền lựa chọn của mình. Có lẽ đúng là đây là một cuộc sống không thể kéo dài quá lâu mà không trả giá đắt; nếu không, nó có thể biến tôi vĩnh viễn thành một kẻ khác với trước kia, mà chẳng chuyển hóa tôi thành bất kỳ hình hài nào đáng để tôi khoác lấy. Nhưng tôi chưa bao giờ coi nó là một cuộc sống gì khác ngoài sự tạm bợ. Luôn luôn có một bản năng tiên tri, một tiếng thì thầm nho nhỏ bên tai tôi rằng trong một thời gian ngắn nữa thôi, và bất cứ khi nào một sự thay đổi thói quen mới trở nên thiết yếu cho sự tốt lành của tôi, sự thay đổi sẽ đến.

Trong khi đó, tôi ở đó, một Thanh tra Thuế vụ và, theo như tôi có thể hiểu được, cũng là một Thanh tra tốt như bất kỳ ai cần có. Một con người của tư duy, tưởng tượng và sự nhạy cảm (dù có gấp mười lần tỷ lệ các phẩm chất đó của một Thanh tra), bất cứ lúc nào cũng có thể trở thành một con người của công việc, miễn là anh ta chịu bỏ ra chút phiền toái. Các đồng nghiệp của tôi, cùng các thương gia và thuyền trưởng mà nhiệm vụ công vụ đưa tôi vào bất kỳ hình thức kết nối nào, nhìn nhận tôi không dưới ánh sáng nào khác, và có lẽ cũng chỉ biết tôi trong tư cách đó. Tôi đoán rằng chưa một ai trong số họ từng đọc lấy một trang sách do tôi viết ra, hay thèm quan tâm dăm ba xu nếu họ đọc hết tất cả; và tình hình cũng chẳng khá khẩm hơn chút nào nếu những trang sách vô tích sự ấy được viết ra bằng ngòi bút của Burns hay Chaucer, những người từng là nhân viên Hải Quan vào thời của họ, cũng như tôi. Đó là một bài học hay—dù thường là một bài học cay đắng—cho một con người từng mơ mộng về danh tiếng văn học, và về việc tạo dựng cho mình một chỗ đứng giữa những nhân vật quyền thế của thế giới bằng những phương tiện đó, khi bước ra khỏi vòng tròn chật hẹp nơi những thành quả của mình được công nhận và nhận ra rằng tất cả những gì mình đạt được và hướng tới hoàn toàn trống rỗng ý nghĩa khi vượt ra ngoài vòng tròn ấy. Tôi không biết liệu mình có thực sự cần bài học đó hay không, dưới hình thức cảnh báo hay khiển trách; nhưng dù sao đi nữa, tôi đã học được nó một cách triệt để: và tôi lấy làm vui mừng khi ngẫm lại rằng, chân lý ấy khi thấm sâu vào nhận thức của tôi chưa từng gây ra cho tôi một nỗi đau nhói nào, hay đòi hỏi phải được trút ra bằng một tiếng thở dài. Về mặt trò chuyện văn chương, đúng là Viên chức Hải quân—một anh chàng tuyệt vời, người bước vào văn phòng cùng lúc với tôi và chỉ rời đi muộn hơn chút ít—thường lôi kéo tôi vào một cuộc thảo luận về một trong những chủ đề yêu thích của anh ta, Napoleon hoặc Shakespeare. Cậu nhân viên trẻ của Tổng thu thuế—một thanh niên trẻ tuổi mà người ta thì thầm rằng thỉnh thoảng phủ kín những trang giấy viết thư của Bác Sam bằng thứ (từ khoảng cách vài thước) trông rất giống thơ—cũng thỉnh thoảng nói chuyện với tôi về sách vở, như những vấn đề mà tôi có thể quen thuộc. Đó là toàn bộ sự giao lưu văn chương của tôi; và nó hoàn toàn đủ cho nhu cầu của tôi.

Không còn tìm kiếm hay quan tâm việc tên tuổi của mình được phô trương trên những trang bìa sách nữa, tôi mỉm cười khi nghĩ rằng giờ đây nó có một thứ mốt khác. Người đóng dấu của Sở Hải Quan đã in nó, bằng một tấm khuôn và mực đen, lên các bao tải tiêu, các giỏ hạt điều, các hộp xì gà, và các kiện hàng đủ loại hàng hóa chịu thuế, như một bằng chứng cho thấy những mặt hàng này đã nộp thuế quan và đi qua văn phòng một cách chính thức. Được chuyên chở trên một phương tiện kỳ quặc như thế của sự nổi tiếng, sự hiểu biết về sự tồn tại của tôi, theo cách mà một cái tên truyền tải, đã được đưa đến những nơi chưa từng đến trước đây, và tôi hy vọng sẽ không bao giờ quay lại đó nữa.

Nhưng quá khứ không hề chết. Thỉnh thoảng, những suy nghĩ từng có vẻ đầy sức sống và hoạt bát, nhưng lại được đặt vào giấc ngủ một cách yên bình nhường ấy, lại trỗi dậy. Một trong những dịp đáng chú ý nhất khi thói quen của những ngày tháng qua đánh thức trong tôi, chính là dịp đưa tôi vào khuôn khổ của sự đúng mực văn học để dâng hiến cho công chúng bản phác thảo mà tôi đang viết lúc này.

Trên tầng hai của Sở Hải Quan có một căn phòng lớn, nơi phần gạch xây và những thanh xà trần chưa bao giờ được che phủ bằng vách gỗ hay thạch cao. Tòa nhà—ban đầu được thiết kế theo quy mô phù hợp với tinh thần thương mại cũ của cảng, và với ý niệm về sự thịnh vượng sau này định sẵn sẽ không bao giờ thành hiện thực—chứa đựng nhiều không gian hơn mức mà những người chiếm giữ nó biết phải làm gì với chúng. Do đó, căn sảnh thoáng đãng này, nằm phía trên các căn hộ của Tổng thu thuế, vẫn để nguyên trạng cho đến ngày nay, và bất chấp những mạng nhện già nua giăng đầy trên những thanh xà tối màu của nó, vẫn có vẻ như đang chờ đợi công việc của người thợ mộc và thợ xây. Ở một đầu phòng, trong một góc khuất, là một số thùng gỗ chồng chất lên nhau, chứa đựng các bó tài liệu chính thức. Một lượng lớn những thứ rác rưởi tương tự nằm ngổn ngang chiếm đầy sàn nhà. Thật đáng buồn khi nghĩ đến biết bao ngày, tuần, tháng và năm lao động đã bị lãng phí trên những giấy tờ mốc meo này, thứ giờ đây chỉ là một gánh nặng trên mặt đất, và bị giấu kín trong góc lãng quên này, không bao giờ còn bị ánh mắt con người dòm ngó tới nữa. Nhưng rồi, biết bao nhiêu ram bản thảo khác—không chứa đựng sự tẻ nhạt của các thủ tục hành chính, mà chứa đầy tư duy của những bộ óc sáng tạo cùng dòng cảm xúc phong phú của những trái tim sâu sắc—cũng đã rơi vào quên lãng tương tự; và hơn thế nữa, lại chẳng phục vụ được mục đích nào trong thời đại của chúng, như những xấp giấy chất đống này, và—buồn nhất là—không mang lại cho những người viết chúng cái sinh kế thoải mái mà các nhân viên của Sở Hải Quan đã kiếm được nhờ những nét quẹt bút vô giá trị này. Tuy nhiên, có lẽ chúng không hoàn toàn vô giá trị, với tư cách là những tư liệu về lịch sử địa phương. Tại đây, chắc chắn người ta có thể khám phá ra những thống kê về thương mại trước kia của Salem, và những kỷ vật về các nhà thương gia vương giả của cô ấy—vua Derby già—Billy Gray già—Simon Forrester già—và rất nhiều nhân vật lớn khác trong thời đại của ông, người mà mái tóc điểm phấn, thế nhưng, vừa mới nằm xuống mồ thì ngọn núi tài sản khổng lồ của ông đã bắt đầu teo tóp. Những người sáng lập phần lớn các gia đình hiện cấu thành nên tầng lớp quý tộc của Salem có thể được truy nguyên tại đây, từ những khởi đầu nhỏ bé và mờ mịt trong công việc buôn bán của họ, vào những thời điểm thường muộn hơn rất nhiều so với cuộc Cách mạng, vươn lên tới mức mà con cháu họ xem là địa vị đã được thiết lập lâu đời.

Trước cuộc Cách mạng, có một sự thiếu hụt các hồ sơ; các tài liệu và văn khố trước đó của Sở Hải Quan có lẽ đã bị mang đi mất tới Halifax, khi tất cả các quan chức của nhà vua đi theo quân đội Anh trong cuộc trốn chạy từ Boston. Đó thường là một điều khiến tôi tiếc nuối; bởi vì quay trở lại, có lẽ đến thời kỳ của Nhiếp chính công, những giấy tờ đó hẳn đã chứa đựng nhiều tham chiếu về những con người đã bị lãng quên hoặc còn được nhớ đến, cùng những phong tục cổ xưa, thứ sẽ mang lại cho tôi niềm vui tương tự như khi tôi nhặt những mũi tên da đỏ ngoài đồng gần Ngôi nhà Mục sư Cũ.

Nhưng, vào một ngày mưa gió nhàn rỗi, tôi may mắn có được một phát hiện có chút ít thú vị. Khi đang lục lọi và bới móc đống rác rưởi chất đống trong góc, mở ra từng tài liệu này đến tài liệu khác, và đọc tên những con tàu từ lâu đã đắm ngoài khơi hay mục nát tại các bến tàu, cùng tên của những thương gia mà ngày nay chẳng ai còn nghe nói đến trên sàn giao dịch, cũng như chẳng dễ gì đọc được trên những tấm bia mộ rêu phong của họ; liếc nhìn những vấn đề đó với sự quan tâm buồn bã, mệt mỏi và nửa miễn cưỡng mà chúng ta dành cho cái xác của một hoạt động đã chết—và vận dụng trí tưởng tượng vốn đang lười biếng vì ít sử dụng của mình để dựng lên từ những khúc xương khô này hình ảnh về diện mạo rực rỡ hơn của thị trấn cổ, khi Ấn Độ còn là một vùng đất mới và chỉ có Salem biết đường đến đó—tôi tình cờ chạm tay vào một gói nhỏ, được bọc cẩn thận trong một mảnh da cừu cũ kỹ ngả vàng. Lớp vỏ bọc này mang dáng dấp của một hồ sơ chính thức từ một thời kỳ xa xưa nào đó, khi các thư ký viết những nét chữ cứng nhắc và trang trọng của họ trên những vật liệu bền chắc hơn hiện nay. Có điều gì đó trong đó đã thúc đẩy sự tò mò bản năng, và khiến tôi tháo dỡ dải băng lụa đỏ đã phai màu buộc gói tài liệu ấy, với cảm giác rằng một kho báu sắp được đưa ra ánh sáng. Uốn cong những nếp gấp cứng nhắc của lớp vỏ da cừu, tôi phát hiện ra đó là một bức ủy nhiệm, dưới chữ ký và con dấu của Thống đốc Shirley, ban cho một người tên là Jonathan Pue, giữ chức Thanh tra Hải quan Hoàng gia tại Cảng Salem, thuộc Tỉnh Vịnh Massachusetts. Tôi nhớ mình từng đọc (có lẽ trong cuốn “Annals” của Felt) một thông báo về sự qua đời của ông Thanh tra Pue, cách đây khoảng tám mươi năm; và tương tự, trên một tờ báo gần đây, là tường thuật về việc đào bới hài cốt của ông trong nghĩa trang nhỏ của Nhà thờ St. Peter trong đợt trùng tu ngôi nhà thờ đó. Không có gì, nếu tôi nhớ không lầm, còn sót lại từ vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, ngoại trừ một bộ xương không hoàn chỉnh, vài mảnh trang phục, và một bộ tóc giả uốn xoăn bồng bềnh, thứ không giống như cái đầu từng mang nó, vẫn được bảo quản rất đáng hài lòng. Nhưng khi kiểm tra các giấy tờ mà bức ủy nhiệm bằng da cừu bọc lại, tôi lại tìm thấy nhiều dấu vết về phần tinh thần của ông Pue và những hoạt động nội tâm trong đầu óc ông hơn là những gì bộ tóc giả uốn xoăn chứa đựng bên trong chiếc hộp sọ đáng kính ấy.

Nói tóm lại, đó không phải là những tài liệu chính thức, mà mang tính chất riêng tư, hoặc ít nhất, được viết với tư cách cá nhân của ông, và rõ ràng bằng chính nét chữ của ông. Tôi chỉ có thể giải thích việc chúng nằm trong đống rác rưởi của Sở Hải Quan bằng thực tế là cái chết của ông Pue xảy ra đột ngột, và những giấy tờ này, thứ mà ông có lẽ giữ trong bàn giấy làm việc chính thức của mình, chưa bao giờ đến tai những người thừa kế của ông, hoặc được cho là liên quan đến công việc thuế vụ. Khi chuyển giao các văn khố sang Halifax, gói tài liệu này, vì tỏ ra không có mối quan tâm công cộng nào, đã bị bỏ lại phía sau và vẫn chưa được mở ra kể từ đó.

Vị Thanh tra cổ đại—có lẽ ít bị quấy rầy bởi công việc liên quan đến chức vụ của mình vào thời kỳ ban đầu đó—dường như đã dành một số giờ rảnh rỗi phong phú của mình cho các nghiên cứu về nhà cổ học địa phương và những cuộc điều tra tương tự khác. Những điều này cung cấp nguyên liệu cho một hoạt động nhỏ nhặt đối với một tâm trí mà nếu không có chúng thì đã bị rỉ sét ăn mòn. Tiện thể, một phần các sự kiện của ông đã giúp ích rất nhiều cho tôi trong việc chuẩn bị bài viết mang tựa đề “PHỐ CHÍNH,” được đưa vào tập sách hiện tại. Phần còn lại có lẽ sẽ được áp dụng cho những mục đích có giá trị tương đương trong tương lai, hoặc không loại trừ khả năng sẽ được nhào nặn thành một lịch sử chính thức của Salem, miễn là lòng tôn kính của tôi đối với mảnh đất quê hương thúc đẩy tôi đến một nhiệm vụ đạo đức như thế. Trong khi đó, chúng sẽ nằm dưới quyền điều khiển của bất kỳ quý ông nào có hứng thú và đủ năng lực để gánh vác phần lao động vô ích này thay cho tôi. Như một sự sắp xếp cuối cùng, tôi dự định sẽ ký gửi chúng cho Hiệp hội Lịch sử Essex. Nhưng đối tượng thu hút sự chú ý của tôi nhiều nhất đối với gói tài liệu bí ẩn chính là một mảnh vải đỏ mịn nào đó, đã cũ và phai màu. Vẫn còn những dấu vết thêu vàng trên đó, tuy nhiên đã bị sờn và phai mờ nghiêm trọng, đến mức chẳng còn lại chút ánh kim nào hoặc rất ít. Nó đã được dệt, như dễ dàng nhận thấy, bằng kỹ thuật thêu thùa tuyệt vời; và đường kim mũi chỉ (như tôi được đảm bảo bởi những quý bà am hiểu về những điều kỳ diệu đó) là bằng chứng cho thấy một nghệ thuật nay đã bị lãng quên, không thể khám phá ngay cả bằng quy trình gỡ từng sợi chỉ ra. Mảnh giẻ vải đỏ rực ấy—vì thời gian, sự hao mòn và một con nhọt mối mọt báng bổ thần linh đã biến nó chẳng khác gì một miếng giẻ—sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, mang hình dáng của một chữ cái.

Đó là chữ cái in hoa A. Bằng phép đo chính xác, mỗi nét đều dài đúng ba inch một phần tư. Không còn nghi ngờ gì nữa, nó từng được định dùng như một vật trang trí trên trang phục; nhưng nó được mang thế nào, hay phẩm giá, vinh quang và tôn nghiêm nào trong quá khứ được biểu thị bởi nó, lại là một câu đố (vì các xu hướng thời trang trên thế giới trong những chi tiết này trôi qua rất nhanh) mà tôi thấy ít hy vọng giải đáp. Thế nhưng nó lại thu hút tôi một cách kỳ lạ. Đôi mắt tôi dán chặt vào chữ cái đỏ cũ kỹ ấy, và không tài nào rời đi được. Chắc chắn có một ý nghĩa sâu xa nào đó trong đó rất đáng để diễn giải, và như thể nó tỏa ra từ biểu tượng huyền bí ấy, truyền tải một cách tinh tế vào các giác quan của tôi, nhưng lại né tránh sự phân tích của tâm trí tôi.

Khi đang bối rối như thế—và suy ngẫm, giữa các giả thuyết khác, liệu chữ cái đó có phải là một trong những vật trang trí mà người da trắng thường tạo ra để thu hút ánh mắt của người da đỏ—tôi tình cờ đặt nó lên ngực mình. Tôi cảm thấy—độc giả có thể mỉm cười, nhưng không được nghi ngờ lời tôi—lúc đó tôi cảm thấy một cảm giác không hẳn là vật lý, nhưng gần như thế, giống như sức nóng rực cháy, và như thể chữ cái ấy không làm bằng vải đỏ, mà bằng sắt nung đỏ. Tôi rùng mình, và vô tình để nó rơi xuống sàn nhà.

Trong sự chiêm nghiệm say đắm về chữ cái đỏ, trước đó tôi đã bỏ quên việc kiểm tra một cuộn giấy nhỏ ngả màu, thứ mà nó từng được quấn quanh. Giờ đây tôi mở nó ra, và hài lòng khi thấy được ghi chép bởi ngòi bút của vị Thanh tra già, một lời giải thích tương đối hoàn chỉnh cho toàn bộ câu chuyện. Có vài tờ giấy khổ lớn, chứa đựng nhiều chi tiết về cuộc đời và chuyện trò của một người phụ nữ tên là Hester Prynne, người dường như là một nhân vật khá đáng chú ý theo quan điểm của tổ tiên chúng ta. Bà đã sống trong giai đoạn giữa những năm tháng ban đầu của Massachusetts cho đến cuối thế kỷ mười bảy. Những người già còn sống vào thời của ông Thanh tra Pue, và từ lời khai truyền miệng của họ mà ông đã chắp bút nên câu chuyện của mình, vẫn nhớ về bà trong thời trẻ của họ như một phụ nữ rất già, nhưng không đến nỗi lụ khụ, mang vẻ ngoài đường bệ và trang nghiêm. Thói quen của bà, từ một thời điểm gần như không thể nhớ nổi, là đi khắp vùng đất như một thứ y tá tình nguyện và làm bất kỳ việc thiện tạp nhảm nào; đồng thời tự gánh vác việc đưa ra lời khuyên trong mọi vấn đề, đặc biệt là những vấn đề của trái tim, qua đó—như một người có những khuynh hướng như vậy chắc chắn sẽ gặp phải—bà giành được từ nhiều người sự kính trọng dành cho một thiên thần, nhưng tôi tưởng tượng rằng cũng có những kẻ nhìn nhận bà như một kẻ xâm nhập và một mối phiền toái. Đào sâu hơn vào bản thảo, tôi tìm thấy ghi chép về những hành động và đau khổ khác của người phụ nữ kỳ lạ này, phần lớn trong số đó xin độc giả tham khảo câu chuyện mang tựa đề “CHỮ CÁI ĐỎ”; và cần phải ghi nhớ cẩn thận rằng các tình tiết chính của câu chuyện đó được ủy quyền và xác thực bởi tài liệu của ông Thanh tra Pue. Các tài liệu gốc, cùng với chính chữ cái đỏ—một di vật vô cùng tò mò—vẫn đang nằm trong quyền sở hữu của tôi, và sẽ được trưng bày tự do cho bất kỳ ai, bị thu hút bởi sự hấp dẫn lớn lao của câu chuyện, có mong muốn được tận mắt chứng kiến chúng. Không được hiểu rằng trong việc tô vẽ cho câu chuyện, và tưởng tượng ra những động cơ cùng phương thức cảm xúc đã chi phối các nhân vật xuất hiện trong đó, tôi luôn luôn tự giới hạn bản thân trong giới hạn nửa tá tờ giấy khổ lớn của vị Thanh tra cũ. Ngược lại, đối với những điểm đó, tôi đã cho phép bản thân mình tự do gần như, hoặc hoàn toàn, giống như thể các tình tiết hoàn toàn là do tôi tự sáng tác ra. Điều tôi khẳng định chính là tính xác thực của khung sườn.

Sự cố này đã đưa tâm trí tôi quay trở lại phần nào với lối đi cũ của nó. Dường như có nền móng của một câu chuyện ở đây. Nó gây ấn tượng với tôi như thể vị Thanh tra cổ xưa, trong bộ trang phục từ một trăm năm trước và đội chiếc tóc giả bất tử của ông—thứ được chôn cùng ông nhưng không hề mục rữa trong mồ—đã gặp tôi trong căn phòng vắng tanh của Sở Hải Quan. Trong dáng đi của ông mang phẩm giá của một kẻ từng mang bức ủy nhiệm của Nhà Vua, và do đó được soi sáng bởi một tia chớp từ sự lấp lánh tỏa ra rực rỡ xung quanh ngai vàng. Thật khác biệt làm sao với vẻ mặt cụp đuôi của một công chức cộng hòa, kẻ với tư cách là người đầy tớ của nhân dân, cảm thấy mình nhỏ bé hơn cả những kẻ nhỏ bé nhất, và thấp kém hơn những kẻ thấp kém nhất trong các ông chủ của mình. Bằng chính bàn tay hồn ma của mình, bóng hình mờ ảo nhưng uy nghiêm ấy đã trao cho tôi biểu tượng màu đỏ và cuộn giấy bản thảo giải thích nhỏ bé. Bằng chính giọng nói hồn ma của mình, ông đã khuyên rủ tôi, dựa trên sự cân nhắc thiêng liêng về bổn phận hiếu thảo và sự kính trọng đối với ông—người hoàn toàn có thể coi mình là bậc tiền bối chính thức của tôi—hãy mang những tác phẩm nghiên cứu mốc meo và mối mọt của ông ra trước công chúng. “Hãy làm điều này,” bóng ma của ông Thanh tra Pue cất lời, gật đầu dứt khoát cái đầu trông thật uy nghi bên trong bộ tóc giả đáng nhớ của ông; “hãy làm điều này, và lợi lộc sẽ thuộc về riêng anh. Anh sẽ sớm cần đến nó; bởi vì thời đại của anh không giống như thời của tôi, khi chức vụ của một người là hợp đồng trọn đời và thường là vật gia truyền. Nhưng ta ra lệnh cho anh, trong vấn đề về mụ Prynne già này, hãy trao cho ký ức của vị tiền nhiệm sự tín nhiệm mà nó hoàn toàn đáng được hưởng.” Và tôi nói với bóng ma của ông Thanh tra Pue—“Tôi sẽ làm.”

Do đó, tôi đã dành rất nhiều suy ngẫm cho câu chuyện của Hester Prynne. Nó là chủ đề cho những suy tư của tôi trong suốt nhiều giờ, khi tôi đi qua đi lại căn phòng của mình, hoặc sải bước với hàng trăm lần lặp lại trên suốt đoạn đường dài từ cửa trước của Sở Hải Quan đến lối vào bên hông, rồi lại quay ngược trở lại. Sự mệt mỏi và phiền toái của vị Thanh tra già cùng các nhân viên cân đo là rất lớn, những giấc ngủ của họ bị quấy rầy bởi tiếng bước chân kéo dài không thương tiếc của tôi khi đi qua đi lại. Nhớ lại thói quen trước đây của chính họ, họ thường nói rằng vị Thanh tra đang đi tuần trên đài chỉ huy. Họ có lẽ tưởng tượng rằng mục đích duy nhất của tôi—và thực sự là mục đích duy nhất khiến một kẻ tỉnh táo có thể tự nguyện di chuyển—là để lấy cảm giác thèm ăn cho bữa tối. Và nói thật lòng, một cảm giác thèm ăn được mài giũa bởi ngọn gió đông thường thổi dọc theo lối đi là kết quả giá trị duy nhất từ ngần ấy bài tập thể dục không mệt mỏi. Bầu không khí của một Sở Hải Quan vốn không thích hợp chút nào cho mùa màng tinh tế của trí tưởng tượng và sự nhạy cảm, đến mức nếu tôi tiếp tục ở lại đó qua mười nhiệm kỳ Tổng thống nữa, tôi nghi ngờ rằng câu chuyện về “Chữ Cái Đỏ” liệu có bao giờ được đưa ra trước mắt công chúng hay không. Trí tưởng tượng của tôi là một chiếc gương mờ. Nó không thể phản chiếu, hoặc chỉ phản chiếu với độ mờ ảo thảm hại, những hình bóng mà tôi đã cố hết sức để lấp đầy nó. Các nhân vật trong câu chuyện không chịu sưởi ấm và trở nên uốn nắn bởi bất kỳ ngọn lửa nào mà tôi có thể nhóm lên tại lò rèn trí tuệ của mình. Chúng không mang lại vẻ rực rỡ của cảm xúc hay sự dịu dàng của tình cảm, mà giữ nguyên vẹn độ cứng nhắc của những cái xác chết, và trừng trừng nhìn vào mặt tôi với một nụ cười toe toét cố định, ghê rợn đầy thách thức khinh miệt. “Anh có liên quan gì đến chúng tôi chứ?” Biểu hiện đó dường như muốn nói. “Chút quyền lực ít ỏi mà anh từng sở hữu đối với bộ tộc những thực thể hư ảo ấy đã mất rồi! Anh đã đánh đổi nó lấy một ít vàng cắc công cộng. Vậy thì đi đi, và kiếm lấy tiền công của mình đi!” Nói tóm lại, những sinh vật gần như tê liệt từ trí tưởng tượng của tôi chế giễu sự bất lực của tôi, và không phải là không có cơ sở hợp lý.

Không chỉ trong suốt ba tiếng rưỡi mà Bác Sam đòi hỏi như phần chia trong đời sống hằng ngày của tôi, sự tê liệt khốn khổ này mới chiếm lĩnh lấy tôi. Nó đi theo tôi trong những chuyến dạo bước bên bờ biển và những chuyến đi lang thang về miền quê, bất cứ khi nào—vốn là điều hiếm hoi và miễn cưỡng—tôi cựa quậy để tìm kiếm thứ sức hút tiếp thêm sinh lực của Tự nhiên, thứ từng mang lại cho tôi sự tươi mới và hoạt bát trong tư duy ngay từ khoảnh khắc tôi bước qua ngưỡng cửa của Ngôi nhà Mục sư Cũ. Sự tê liệt tương tự, xét về năng lực nỗ lực trí tuệ, đã đi theo tôi về nhà, và đè nặng lên tôi trong căn phòng mà tôi một cách ngốc nghếch gọi là phòng làm việc. Nó cũng chẳng rời bỏ tôi khi, vào đêm muộn, tôi ngồi trong phòng khách vắng vẻ, chỉ được thắp sáng bởi ánh than hồng lung linh và ánh trăng, cố gắng phác họa những khung cảnh tưởng tượng, mà ngày hôm sau có thể tuôn trào trên trang giấy đang sáng dần bằng những mô tả đa sắc màu.

Nếu năng lực tưởng tượng từ chối hoạt động vào một giờ như thế, thì nó hoàn toàn có thể được coi là một trường hợp vô vọng. Ánh trăng trong một căn phòng quen thuộc, chiếu trắng phau lên tấm thảm, và thể hiện rõ mồn một tất cả các họa tiết của nó—làm cho mọi đối tượng trở nên cực kỳ rõ ràng, nhưng lại không giống chút nào với tầm nhìn ban ngày hay ban trưa—là một môi trường thích hợp nhất để một nhà viết tiểu thuyết làm quen với những vị khách ảo ảnh của mình. Có khung cảnh gia đình nhỏ bé của căn phòng quen thuộc; những chiếc ghế, mỗi chiếc mang một cá tính riêng; chiếc bàn giữa phòng, nâng đỡ một chiếc giỏ đựng đồ khâu vá, một hai cuốn sách và một cây đèn đã tắt; chiếc ghế sô-bà; chiếc tủ sách; bức tranh trên tường—tất cả những chi tiết này, được nhìn thấy trọn vẹn, lại được thổi hồn bởi thứ ánh sáng bất thường đến mức chúng dường như mất đi bản chất thực tế, và trở thành những thực thể của trí tuệ. Không có gì là quá nhỏ nhặt hay tầm thường để trải qua sự thay đổi này, và qua đó đạt được phẩm giá. Một chiếc giày trẻ em; con búp bê ngồi trong chiếc xe mây nhỏ của nó; con ngựa gỗ—nói tóm lại, bất cứ thứ gì đã được sử dụng hoặc chơi đùa trong ngày giờ đây được khoác lên một phẩm chất xa lạ và cách biệt, dù vẫn hiện diện sống động gần như dưới ánh ban ngày. Do đó, sàn nhà trong căn phòng quen thuộc của chúng ta đã trở thành một lãnh thổ trung lập, nằm đâu đó giữa thế giới thực và xứ sở thần tiên, nơi Thực tại và Điều tưởng tượng có thể gặp gỡ, và mỗi bên thấm đượm bản chất của bên kia. Những hồn ma có thể bước vào đây mà không làm chúng ta hoảng sợ. Sẽ rất phù hợp với khung cảnh để gây ngạc nhiên, nếu chúng ta nhìn xung quanh và phát hiện ra một hình bóng, từng được yêu thương nhưng nay đã đi khuất, giờ đây đang ngồi lặng lẽ trong một vệt ánh trăng ma thuật này, với một vẻ mặt khiến chúng ta nghi ngờ liệu nó vừa trở về từ chốn xa xôi, hay chưa từng rời khỏi ngọn lửa sưởi của chúng ta dù chỉ một lần.

Đống than hồng có phần mờ ảo đóng vai trò thiết yếu trong việc tạo ra hiệu ứng mà tôi muốn miêu tả. Nó tỏa ra sắc thái kín đáo khắp căn phòng, với một ánh đỏ mờ nhạt trên tường và trần nhà, cùng một tia phản chiếu trên lớp đánh bóng của đồ đạc. Thứ ánh sáng ấm áp này hòa quyện với vẻ tâm linh lạnh lẽo của những tia trăng, và truyền tải, có lẽ vậy, một trái tim và sự nhạy cảm của lòng trắc ẩn con người vào những hình bóng được trí tưởng tượng triệu hồi lên. Nó chuyển hóa chúng từ những bức tượng tuyết thành con người bằng xương bằng thịt. Khi liếc nhìn vào chiếc gương soi, chúng ta nhìn thấy—sâu thẳm trong viền gương bị ám ảnh của nó—ánh sáng âm ỉ của than cốc sắp tàn, những tia trăng trắng xóa trên sàn nhà, và sự lặp lại của toàn bộ ánh sáng và bóng tối của khung cảnh, với một bước tiến xa hơn khỏi thực tại và tiến gần hơn đến trí tưởng tượng. Khi ấy, vào một giờ như thế, và với khung cảnh này trước mặt, nếu một con người ngồi một mình mà không thể mơ những điều kỳ lạ, và khiến chúng trông giống như sự thật, thì anh ta không bao giờ cần cố gắng viết tiểu thuyết nữa.

Nhưng đối với bản thân tôi, trong suốt trải nghiệm tại Sở Hải Quan, ánh trăng, ánh nắng và ánh than hồng đều hoàn toàn giống nhau đối với tôi; và không một thứ nào trong số chúng hữu ích hơn dù chỉ một chút so với ánh sáng leo lét của một cây nến mỡ cừu. Toàn bộ một loại nhạy cảm, và một ân huệ gắn liền với chúng—không mấy phong phú hay giá trị, nhưng là thứ tốt nhất tôi có—đã rời bỏ tôi.

Tuy nhiên, tôi tin rằng nếu tôi thử một thể loại sáng tác khác, các năng lực của tôi sẽ không đến nỗi cùn mòn và vô hiệu lực đến thế. Ví dụ, tôi có thể tự bằng lòng với việc viết ra những câu chuyện của một vị thuyền trưởng già dặn, một trong các Thanh tra, người mà tôi sẽ là kẻ vô ơn nếu không nhắc đến, vì hầu như không có ngày nào mà ông không khuấy động tiếng cười và sự ngưỡng mộ của tôi bằng những năng lực tuyệt vời trong việc kể chuyện. Nếu tôi có thể giữ lại sức mạnh mang tính hội họa trong phong cách của ông và sắc thái hài hước mà thiên nhiên dạy ông cách thổi vào các mô tả của mình, kết quả, tôi thực sự tin tưởng, sẽ là một điều gì đó mới mẻ trong văn học. Hoặc tôi hoàn toàn có thể tìm thấy một nhiệm vụ nghiêm túc hơn. Thật là một sự dại dột, khi tính chất vật chất của đời sống hằng ngày này cứ ép uổng xâm nhập vào tôi, lại cố gắng quăng mình trở lại một thời đại khác, hay khăng khăng tạo ra vẻ bề ngoài của một thế giới từ vật chất hư không, khi mà vào mọi khoảnh khắc, vẻ đẹp vô hình của bong bóng xà phòng của tôi lại bị phá vỡ bởi sự va chạm thô bạo của một hoàn cảnh thực tế nào đó. Nỗ lực khôn ngoan hơn sẽ là khuếch tán tư duy và trí tưởng tượng qua chất liệu đục ngầu của ngày hôm nay, và qua đó biến nó thành một lớp trong suốt rạng rỡ; để thổi hồn vào gánh nặng bắt đầu đè nặng trĩu; để tìm kiếm một cách kiên quyết giá trị chân thực và không thể tusy hủy nằm ẩn giấu trong những sự cố vụn vặt, tẻ nhạt và những nhân vật bình thường mà tôi đang giao thiệp lúc bấy giờ. Lỗi là ở tôi. Trang sách cuộc đời được trải ra trước mắt tôi có vẻ tẻ nhạt và bình thường chỉ vì tôi chưa dò thấu ý nghĩa sâu xa hơn của nó. Một cuốn sách hay hơn bất kỳ cuốn sách nào tôi sẽ viết đều ở đó; từng trang từng trang hiện ra trước mắt tôi, đúng như cách nó được viết ra bởi thực tại của khoảnh khắc trôi qua, và biến mất nhanh chóng như khi được viết, chỉ vì bộ não của tôi thiếu đi sự thấu suốt, và bàn tay tôi thiếu đi sự khéo léo để chép lại nó. Vào một ngày nào đó trong tương lai, có lẽ, tôi sẽ nhớ lại một vài mảnh vỡ tản mác và những đoạn văn đứt quãng, rồi viết chúng xuống, để rồi thấy những con chữ hóa thành vàng trên trang giấy.

Những nhận thức này đã đến quá muộn. Ngay vào khoảnh khắc ấy, tôi chỉ nhận thức được rằng thứ từng là niềm vui giờ đây lại là một công việc vô vọng. Chẳng có dịp nào để than vãn quá nhiều về tình trạng này. Tôi đã ngừng làm một người viết những câu chuyện và tiểu luận tầm thường, và đã trở thành một vị Thanh tra Hải Quan khá tốt. Chỉ có thế thôi. Tuy nhiên, việc bị ám ảnh bởi sự nghi ngờ rằng trí tưởng tượng của mình đang teo tóp dần, hoặc đang bay hơi mà bản thân không hề hay biết, giống như ete bay hơi khỏi lọ; để rồi ở mọi cái nhìn, bạn lại tìm thấy một phần cặn bã nhỏ hơn và kém bay hơi hơn, thì quả thực chẳng có gì là dễ chịu cho lắm. Về thực tế đó thì không thể nghi ngờ gì, và khi kiểm tra bản thân cùng những người khác, tôi đã đi đến những kết luận liên quan đến tác động của chức vụ công đối với tính cách, không mấy thuận lợi cho lối sống đang bàn tới. Trong một hình thức khác, có lẽ tôi sẽ phát triển những tác động này trong tương lai. Ở đây chỉ cần nói rằng một nhân viên Hải Quan lâu năm khó có thể là một nhân vật đáng ca ngợi hay đáng kính, vì nhiều lý do; một trong số đó là nhiệm kỳ mà ông ta giữ vị trí của mình, và một lý do khác là chính bản chất công việc của ông—dù tôi tin rằng đó là một công việc trung thực—lại thuộc loại mà ông ta không hề chia sẻ chung nỗ lực với nhân loại.

Một tác động—mà tôi tin rằng có thể quan sát thấy, ít nhiều, ở mọi cá nhân từng chiếm giữ vị trí đó—là trong khi anh ta nương tựa vào cánh tay hùng mạnh của nước Cộng hòa, sức mạnh thực sự của chính anh ta lại rời bỏ anh ta. Anh ta mất đi, ở một mức độ tương phản với sự yếu đuối hay mạnh mẽ trong bản chất ban đầu của mình, năng lực tự lập. Nếu anh ta sở hữu một phần năng lượng bẩm sinh phi thường, hoặc sự ma thuật làm tê liệt của chức vụ không tác động quá lâu lên anh ta, những sức mạnh đã bị tước đoạt của anh ta có thể được khôi phục. Người nhân viên bị sa thải—may mắn nhờ cú húc không mấy thân thiện đẩy anh ta ra ngoài từ sớm, để đấu tranh giữa một thế giới đang đấu tranh—có thể quay về với chính mình, và trở lại tất cả những gì anh ta từng có. Nhưng điều này hiếm khi xảy ra. Anh ta thường bám trụ ở vị trí đó vừa đủ lâu để tự hủy hoại bản thân, rồi bị đẩy ra với gân cốt rệu rã, để lê lết dọc theo con đường mòn khó khăn của cuộc đời bằng tất cả khả năng có thể. Nhận thức được sự yếu đuối của chính mình—rằng thanh thép được tôi luyện và độ đàn hồi của anh ta đã mất đi—anh ta mãi mãi về sau cứ tha thiết ngó nghiêng xung quanh để tìm kiếm sự hỗ trợ bên ngoài bản thân mình. Niềm hy vọng bao trùm và liên tục của anh ta—một sự ảo tưởng, đối mặt với mọi sự nản lòng và coi nhẹ mọi điều bất khả thi, ám ảnh anh ta suốt cuộc đời, và tôi tưởng tượng rằng, giống như những cơn co giật của bệnh tả, nó hành hạ anh ta một khoảnh khắc ngắn sau khi chết—chính là cuối cùng, và trong thời gian không lâu nữa, bằng một sự trùng hợp hạnh phúc của các hoàn cảnh, anh ta sẽ được phục chức. Niềm tin này, hơn bất cứ điều gì khác, rút cạn phần cốt lõi và tính khả dụng ra khỏi bất kỳ dự án nào mà anh ta mơ tưởng thực hiện. Tại sao anh ta phải vất vả cực nhọc, và chịu bao rắc rối để tự vực dậy khỏi bùn lầy, khi mà chẳng bao lâu nữa, cánh tay mạnh mẽ của Bác nhà sẽ nâng đỡ anh ta lên? Tại sao anh ta phải làm việc kiếm sống ở đây, hay đi đào vàng ở California, khi mà anh ta sắp sửa được làm cho hạnh phúc, cứ theo chu kỳ hằng tháng, bằng một đống tiền xu lấp lánh từ trong túi của Bác? Thật kỳ lạ và đáng buồn khi quan sát thấy chỉ một hương vị nhỏ nhoi của chức vụ cũng đủ để lây nhiễm cho một anh chàng tội nghiệp căn bệnh kỳ lạ này. Vàng của Bác Sam—không có ý thiếu tôn trọng vị cụ ông đáng kính—về mặt này mang một chất lượng ma thuật giống như tiền công của quỷ dữ. Bất kỳ ai chạm vào nó đều nên tự cẩn trọng lấy thân, kẻo anh ta sẽ thấy thương vụ kết thúc thật cay đắng, liên quan đến, nếu không phải linh hồn của anh ta, thì là rất nhiều phẩm chất tốt đẹp hơn của nó; sức mạnh kiên cường, lòng dũng cảm và sự kiên định, sự chân thật, lòng tự lực, và tất cả những gì tạo nên điểm nhấn cho tính cách nam tính.

Đó là một viễn cảnh tuyệt vời ở phía trước. Không phải là vị Thanh tra đã mang bài học đó áp dụng cho chính mình, hay thừa nhận rằng ông có thể bị hủy hoại hoàn toàn đến thế, dù là do tiếp tục tại vị hay bị sa thải. Thế nhưng những suy ngẫm của tôi không phải là thoải mái nhất. Tôi bắt đầu trở nên u sầu và bồn chồn; liên tục soi mói tâm trí mình, để khám phá xem tính chất tồi tệ nào trong số đó đã mất đi, và mức độ tổn hại nào đã giáng xuống phần còn lại. Tôi cố gắng tính toán xem mình còn có thể ở lại Sở Hải Quan bao lâu nữa, mà vẫn có thể bước ra ngoài như một người đàn ông. Thật lòng mà nói, nỗi sợ lớn nhất của tôi—vì việc sa thải một cá nhân yên lặng như tôi sẽ chẳng bao giờ là một biện pháp chính trị khôn ngoan; và việc từ chức thì hầu như không nằm trong bản chất của một công chức—do đó nỗi bận tâm lớn nhất của tôi là tôi có nguy cơ trở nên già nua và lụ khụ trong chiếc ghế Thanh tra, và biến thành một loài sinh vật y hệt như vị Thanh tra già. Liệu có phải, trong quãng thời gian dài dập dềnh của đời sống công chức nằm trước mặt tôi, cuối cùng mọi chuyện sẽ xảy ra với tôi giống như người bạn đáng kính này—biến giờ ăn tối thành trung tâm của ngày, và dành phần thời gian còn lại, giống như một con chó già, ngủ gật trong ánh nắng hoặc trong bóng râm? Một viễn cảnh ảm đạm làm sao, đối với một người cảm thấy rằng định nghĩa tuyệt vời nhất về hạnh phúc là được sống trong toàn bộ phạm vi các năng lực và sự nhạy cảm của mình. Nhưng, trong suốt thời gian đó, tôi đang tự chuốc lấy sự hoảng sợ không cần thiết cho lắm. Định mệnh đã an sắp cho tôi những điều tốt đẹp hơn nhiều so với những gì tôi có thể tưởng tượng cho chính mình.

Một sự kiện đáng chú ý trong năm thứ ba tôi làm Thanh tra—nếu dùng giọng điệu của “P. P.”—chính là việc tướng Taylor đắc cử Tổng thống. Điều cốt yếu, để đưa ra một đánh giá hoàn chỉnh về những lợi ích của đời sống công chức, là phải quan sát người đang tại nhiệm khi một chính quyền thù địch bước lên nắm quyền. Vị trí của ông ta khi ấy là một trong những vị trí kỳ lạ nhất gây khó chịu, và trong mọi khả năng xảy ra, là tồi tệ nhất mà một kẻ phàm trần khốn khổ có thể chiếm giữ; hiếm khi có sự lựa chọn thay thế tốt đẹp nào ở cả hai phía, mặc dù điều hiện diện trước mắt ông ta như một sự kiện tồi tệ nhất rất có thể lại là điều tốt nhất. Nhưng đó là một trải nghiệm kỳ lạ, đối với một con người kiêu hãnh và nhạy cảm, khi biết rằng lợi ích của mình nằm trong quyền kiểm soát của những cá nhân không yêu thương cũng chẳng thấu hiểu anh ta, và bởi những kẻ đó, vì một trong hai điều chắc chắn phải xảy ra, anh ta thà bị đối xử tệ hại còn hơn mang ơn. Thật cũng kỳ lạ, đối với một người giữ được sự bình tĩnh trong suốt cuộc tranh đấu, khi quan sát sự khát máu bộc lộ vào giờ phút khải hoàn, và nhận thức được rằng bản thân mình nằm trong số những mục tiêu của nó! Có ít đặc tính nào của con người tồi tệ hơn xu hướng này—điều mà tôi chứng kiến ở những kẻ chẳng tệ hơn hàng xóm của họ—là trở nên tàn nhẫn, đơn thuần vì họ sở hữu quyền lực gây tổn hại. Nếu máy chém, khi được áp dụng cho các công chức, là một thực tế theo nghĩa đen, chứ không phải là một trong những ẩn dụ thích hợp nhất, thì tôi tin chắc rằng các thành viên tích cực của đảng chiến thắng đã đủ hào hứng để chặt đứt đầu tất cả chúng ta và tạ ơn Trời vì cơ hội đó! Đối với tôi—một kẻ quan sát điềm tĩnh và tò mò, trong cả chiến thắng lẫn thất bại—dường như tinh thần ác độc và thù hận dữ dội, cay đắng này chưa bao giờ là đặc điểm trong nhiều chiến thắng của đảng tôi như trong chiến thắng hiện tại của đảng Whig. Theo quy luật chung, những người Dân chủ nhận chức vụ vì họ cần chúng, và vì thói quen lâu năm đã biến nó thành luật của chiến tranh chính trị, thứ mà trừ khi một hệ thống khác được tuyên bố, việc càu nhàu về nó là sự yếu đuối và hèn nhát. Nhưng thói quen chiến thắng lâu ngày đã làm cho họ trở nên rộng lượng. Họ biết cách dung thứ khi thấy có dịp; và khi họ ra đòn, lưỡi rìu có thể rất sắc bén, nhưng cạnh rìu hiếm khi bị tẩm độc bởi ác ý; cũng không phải là phong tục của họ khi hèn hạ đá vào cái đầu mà họ vừa chặt đứt.

Nói tóm lại, dẫu hoàn cảnh của tôi tồi tệ đến đâu đi nữa, tôi vẫn thấy có rất nhiều lý do để tự chúc mừng rằng mình đứng ở phe thua cuộc thay vì phe chiến thắng. Nếu trước đây tôi không phải là một kẻ nhiệt tình nhất trong phe phái, thì giờ đây, vào mùa dã chiến và nghịch cảnh này, tôi bắt đầu nhận thức khá sắc sảo rằng sự ưu ái của mình nghiêng về phe nào; và không thiếu chút gì giống như sự hối tiếc và hổ thẹn khi tôi thấy, theo một cách tính toán xác suất hợp lý, triển vọng giữ chức của bản thân lại tốt hơn những người anh em Dân chủ của tôi. Nhưng ai có thể nhìn thấu tương lai xa hơn chiếc mũi của mình? Cái đầu của chính tôi lại là chiếc đầu tiên rơi xuống.

Khoảnh khắc cái đầu của một người rơi xuống hiếm khi nào, hoặc không bao giờ, tôi nghiêng về ý kiến đó, là khoảnh khắc dễ chịu nhất trong đời anh ta. Mặc dù vậy, giống như phần lớn những điều bất hạnh của chúng ta, ngay cả một biến cố nghiêm trọng như thế cũng mang lại phương thuốc và sự an ủi cho riêng nó, nếu người chịu đựng biết tận dụng thay vì làm tồi tệ thêm tai hoạ giáng xuống đầu mình. Trong trường hợp cụ thể của tôi, những chủ đề an ủi ở ngay sát bên, và thực ra, đã tự gợi lên trong suy nghĩ của tôi từ khá lâu trước khi cần đến chúng. Xem xét lại sự mệt mỏi trước đây của tôi đối với chức vụ, và những suy nghĩ mơ hồ về việc từ chức, vận mệnh của tôi có phần giống với một kẻ đang ấp ủ ý định tự sát, và vượt ngoài kỳ vọng của mình, lại may mắn gặp phải cảnh bị sát hại. Tại Sở Hải Quan, cũng như trước đó tại Ngôi nhà Mục sư Cũ, tôi đã trải qua ba năm—một khoảng thời gian đủ để nghỉ ngơi cho một bộ não mệt mỏi: đủ để cắt đứt những thói quen trí tuệ cũ và nhường chỗ cho những thói quen mới: đủ dài, và quá dài, để sống trong một trạng thái không tự nhiên, làm những việc thực sự chẳng đem lại lợi ích hay niềm vui cho bất kỳ sinh linh nào, và tự tước đi công việc ít nhất có thể xoa dịu một xung động bất an trong tôi. Hơn nữa, xét về việc bị sa thải một cách bất thình lình, vị cựu Thanh tra không hoàn toàn bất mãn khi được đảng Whig công nhận là kẻ thù; vì sự thụ động của ông trong các vấn đề chính trị—xu hướng lang thang tùy ý trong cánh đồng rộng lớn và yên bình nơi mọi nhân loại có thể gặp gỡ, thay vì giới hạn bản thân trong những con đường chật hẹp nơi những người anh em trong cùng một mái nhà phải rẽ hướng khỏi nhau—đã từng khiến các anh em Dân chủ hoài nghi không biết ông có phải là bạn hay không. Giờ đây, sau khi ông đã giành được vương miện tử đạo (dù không còn cái đầu nào để đội nó lên nữa), vấn đề có thể được xem như đã giải quyết xong. Cuối cùng, dù chẳng mấy anh hùng, việc bị lật đổ trong sự sụp đổ của đảng mà ông từng hài lòng đứng cùng có vẻ trang trọng hơn là tiếp tục là một kẻ sống sót bơ vơ, khi mà bao nhiêu con người xứng đáng hơn đang ngã xuống; và cuối cùng, sau khi sinh tồn suốt bốn năm nhờ lòng thương hại của một chính quyền thù địch, lại bị buộc phải định nghĩa lại vị thế của mình, và đòi hỏi lòng thương hại còn nhục nhã hơn nữa từ một chính quyền thân thiện.

Trong khi đó, báo chí đã chớp lấy câu chuyện của tôi, và giữ tôi suốt một tuần lễ phiêu lưu qua các ấn phẩm công chúng, trong trạng thái mất đầu của mình, giống như Kỵ sĩ không đầu của Irving, xanh xao, ảm đạm và khao khát được chôn cất, như một thây ma chính trị đáng phải thế. Thế là xong cho con người mang tính biểu tượng của tôi. Con người bằng xương bằng thịt thực sự trong suốt thời gian đó, với chiếc đầu nằm an toàn trên đôi vai của mình, đã đi đến kết luận dễ chịu rằng mọi chuyện đều là tốt nhất; và thực hiện một khoản đầu tư vào mực, giấy và bút sắt, anh ta đã mở lại chiếc bàn giấy từ lâu không dùng đến, và lại trở thành một nhà văn.

Chính vào lúc này, những bài nghiên cứu của vị tiền bối cổ đại của tôi, ông Thanh tra Pue, mới phát huy tác dụng. Vì đã rỉ sét do sự nhàn rỗi lâu ngày, cần phải có một khoảng thời gian nhất định để bộ máy trí tuệ của tôi có thể hoạt động trở lại trên câu chuyện với một hiệu quả có thể chấp nhận được ở bất kỳ mức độ nào. Ngay cả bây giờ, dù các suy nghĩ của tôi cuối cùng đã bị cuốn vào nhiệm vụ đó rất nhiều, nó vẫn mang, trong mắt tôi, một vẻ ngoài nghiêm nghị và u sấm: quá ít được sưởi ấm bởi ánh nắng tươi vui; quá ít được xoa dịu bởi những ảnh hưởng dịu dàng và quen thuộc vốn làm mềm mại hầu như mọi khung cảnh của tự nhiên và đời sống thực, và chắc chắn phải làm mềm mại mọi bức họa về chúng. Hiệu ứng kém cuốn hút này có lẽ là do giai đoạn vừa mới hoàn thành cuộc cách mạng, và sự hỗn loạn vẫn đang sôi sục, trong đó câu chuyện đã hình thành nên hình hài của nó. Tuy nhiên, đó không phải là dấu hiệu cho thấy sự thiếu vắng niềm vui trong tâm trí người viết; vì anh ta đã hạnh phúc hơn trong khi lang thang qua bóng tối của những tưởng tượng không có ánh nắng này so với bất kỳ thời điểm nào kể từ khi anh ta rời khỏi Ngôi nhà Mục sư Cũ. Một số bài viết ngắn hơn, góp phần cấu thành nên cuốn sách, cũng được viết ra sau khi tôi buộc phải rút lui khỏi những lao động và vinh quang của đời sống công chúng, và phần còn lại được nhặt nhạnh từ các ấn phẩm niên giám và tạp chí, với niên đại cổ xưa đến mức chúng đã đi hết một vòng tròn và quay trở lại với sự mới mẻ một lần nữa. Giữ vững ẩn dụ về máy chém chính trị, toàn bộ tác phẩm có thể được coi là CÁC TÀI LIỆU TỰ NGHĨA CỦA MỘT THANH TRA MẤT ĐẦU: và bản phác thảo mà tôi đang chuẩn bị khép lại, nếu quá mang tính tự truyện đối với một người khiêm tốn để xuất bản khi còn sống, sẽ dễ dàng được tha thứ ở một quý ông viết bài từ bên kia nấm mồ. Bình yên đến với toàn bộ thế giới! Lời chúc phúc của tôi dành cho những người bạn! Sự tha thứ của tôi dành cho những kẻ thù! Bởi vì tôi đang ở trong cõi của sự tĩnh lặng!

Cuộc đời tại Sở Hải Quan nằm lại phía sau tôi tựa như một giấc mơ. Vị Thanh tra già—tiện thể, tôi lấy làm tiếc khi phải nói rằng ông đã bị một con ngựa quật ngã và đập chết cách đây không lâu, nếu không ông chắc chắn sẽ sống mãi mãi—ông và tất cả những nhân vật đáng kính khác từng ngồi với ông tại trạm thu thuế, đối với tôi chỉ là những chiếc bóng: những hình ảnh đầu bạc và nhăn nheo mà trí tưởng tượng của tôi từng đùa giỡn, và giờ đây đã vứt bỏ vĩnh viễn. Những thương gia—Pingree, Phillips, Shepard, Upton, Kimball, Bertram, Hunt—những cái tên này và rất nhiều cái tên khác, từng mang tính quen thuộc cổ điển đối với tai tôi sáu tháng trước,—những con người buôn bán ấy, những kẻ dường như chiếm giữ một vị trí quan trọng đến thế trên thế giới—thật ít thời gian làm sao để cắt đứt tôi khỏi tất cả bọn họ, không chỉ trong hành động mà cả trong ký ức! Tôi phải tốn một chút nỗ lực mới có thể gợi lại hình dáng và tên gọi của một vài người trong số họ. Chẳng mấy chốc, thị trấn quê hương cũ của tôi cũng sẽ hiện ra trước mắt tôi qua lớp sương mù của ký ức, một làn sương bao trùm lên và xung quanh nó; như thể nó chẳng phải là một phần của trái đất thực sự, mà là một ngôi làng mọc um tùm nơi xứ sở mây mù, với chỉ những cư dân tưởng tượng để lấp đầy những ngôi nhà gỗ của nó và dạo bước trên những con đường mộc mạc, cùng sự rườm rà kém phần tranh vẽ của con đường chính. Kể từ nay, nó không còn là một thực tại trong cuộc đời tôi nữa; tôi là công dân của một nơi chốn khác. Những người đồng hương tốt bụng của tôi sẽ không mấy tiếc nuối tôi, vì—dù đó là mục tiêu quý giá như bất kỳ mục tiêu nào trong các nỗ lực văn học của tôi, là có được một tầm quan trọng nào đó trong mắt họ, và giành cho mình một ký ức dễ chịu tại chốn cư ngụ và chôn nhau cắt rốn này của biết bao tổ tiên—chưa bao giờ có đối với tôi bầu không khí dễ chịu mà một nhà văn cần có để làm chín muồi mùa màng đẹp đẽ nhất cho tâm trí mình. Tôi sẽ làm tốt hơn giữa những gương mặt khác; và những gương mặt quen thuộc này, không cần phải nói cũng biết, sẽ làm rất tốt mà không cần đến tôi.

Tuy nhiên, có thể—ôi ý nghĩ hân hoan và chiến thắng—rằng chắt chắt của thế hệ hiện tại đôi khi sẽ nghĩ đến người viết dạo của những ngày tháng qua bằng sự tử tế, khi nhà khảo cổ học của những ngày sắp tới, giữa những di tích đáng nhớ trong lịch sử thị trấn, chỉ ra vị trí của MÁY BƠM CỦA THỊ TRẤN.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.