Chữ Khâu Đỏ

Lượt đọc: 64 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
Hester Và Pearl

❊ ❊ ❊

Thế là Roger Chillingworth—một lão già gù với gương mặt để lại nỗi ám ảnh trong tâm trí người ta lâu hơn họ muốn—cáo từ Hester Prynne và lầm lũi lê bước đi trên mặt đất. Lão thỉnh thoảng cúi xuống hái một thứ thảo dược hay đào một nhúm rễ cây rồi bỏ vào chiếc giỏ đeo bên tay. Bộ râu xám của lão gần như quét đất khi lão lầm lũi tiến về phía trước. Hester đứng nhìn theo một lúc lâu, với một sự tò mò nửa thực nửa hư muốn xem liệu lớp cỏ non đầu xuân có bị héo úa dưới chân lão hay không, để rồi để lại một vệt hằn ngoằn ngoèo, khô khốc và ngả nâu trên thảm cỏ xanh tươi mơn mởn ấy. Nông nỗi nào mà lão già lại cất công tìm kiếm những thứ cỏ cây đến thế, nàng tự hỏi. Phải chăng mặt đất, bị kích động bởi sự đồng điệu tà dã trong ánh mắt lão, sẽ chào đón lão bằng những loài cây độc lạ chưa từng thấy mọc vút lên từ dưới những ngón tay lão? Hay đối với lão, chỉ cần chạm vào là mọi loài cây lành tính đều biến thành thứ độc dược nguy hại và nham hiểm? Phải chăng ánh mặt trời, vốn tỏa chiếu rực rỡ khắp mọi nơi, thực sự đang chiếu rọi xuống người lão? Hay dường như có một vành đai bóng tối điềm gở đang di chuyển theo dáng vẻ gù lưng của lão bất cứ hướng nào lão quay đầu? Và giờ này lão đang đi đâu? Phải chăng lão sẽ bất thình lình chìm xuống lòng đất, để lại một khoảng đất hoang tàn cằn cỗi, nơi chẳng bao lâu sau sẽ mọc lên nào cà dược, thù du, bìm bịp và bất kỳ loài thảo mộc độc hại nào mà khí hậu có thể sinh sôi, tất cả đều đâm chồi nảy lộc một cách kỳ dị và um tùm? Hay lão sẽ giương đôi cánh dơi và bay vút lên bầu trời, càng bay cao về phía thiên đàng lại càng trở nên gớm ghiếc?

Hester Prynne cay đắng thốt lên, khi đôi mắt nàng vẫn đăm đăm nhìn theo bóng lão: “Dẫu là tội lỗi hay không, ta căm ghét con người này!”

Nàng tự trách bản thân vì cảm xúc ấy, nhưng chẳng thể nào kìm nén hay dập tắt nổi. Khi cố gắng làm điều đó, nàng lại nhớ về những ngày tháng xa xôi ở một vùng đất khác, thuở lão thường lui khỏi chốn phòng nghiên cứu tĩnh mịch vào mỗi buổi chiều tà để ngồi bên ánh lửa sưởi ấm trong tổ ấm của họ, dưới ánh nụ cười vu quy của nàng. Lão từng nói rằng lão cần phải tắm mình trong nụ cười ấy để xua tan cái giá lạnh của bao giờ khắc cô độc bên những trang sách khỏi trái tim của một kẻ mọt sách. Những khoảnh khắc ấy thuở nào ngỡ như hạnh phúc xiết bao, nhưng giờ đây, khi nhìn qua lăng kính ảm đạm của quãng đời dằng dặc phía sau, chúng lại rơi vào nhóm những ký ức gớm ghiếc nhất của nàng. Nàng tự ngẫm không hiểu sao những cảnh tượng ấy lại có thể tồn tại! Nàng tự hỏi làm thế nào mà mình từng bị thao túng để rồi kết hôn với lão! Nàng coi việc từng nhẫn nhịn và đáp lại cái nắm tay hờ hững của lão, từng để nụ cười trên môi và ánh mắt mình hòa quyện vào ánh mắt lão chính là tội ác đáng hối hận nhất cuộc đời. Và hành động của Roger Chillingworth thuở tâm hồn nàng còn ngây thơ, khi lão thuyết phục nàng tự huyễn hoặc rằng mình đang hạnh phúc bên lão, lại có vẻ là một tội ác đồi bại hơn cả những gì lão đã gây ra cho nàng sau này.

Hester lặp lại, giọng còn cay đắng hơn lúc trước: “Phải, ta căm ghét lão! Lão đã phản bội ta! Lão đã gây ra cho ta nỗi đau đớn tột cùng hơn cả những gì ta đã làm cho lão!”

Đàn ông hãy run sợ trước việc chiếm lấy bàn tay người phụ nữ, trừ khi họ giành được cả niềm đam mê tột cùng từ trái tim nàng! Bằng không, họ có thể vướng phải nỗi bất hạnh ê chề, hệt như Roger Chillingworth, khi một xúc cảm mãnh liệt nào đó vượt ngoài tầm với của họ thức tỉnh toàn bộ giác quan của nàng, để rồi họ bị oán trách ngay cả vì sự bình yên điềm tĩnh, bức tượng cẩm thạch của hạnh phúc, thứ mà họ từng áp đặt lên nàng như một thực tại ấm nồng. Thế nhưng lẽ ra Hester phải chấm dứt sự bất công này từ lâu rồi. Điều đó báo hiệu điều gì? Phải chăng bảy năm trời đằng đẵng dưới sự tra tấn của chữ cái màu đỏ đã giáng xuống biết bao đau khổ mà chẳng hề mang lại sự ăn năn hối cải nào?

Cảm xúc trong khoảng khắc ngắn ngủi ấy, khi nàng đứng nhìn theo bóng dáng còng cược của lão già Roger Chillingworth, đã chiếu một luồng ánh sáng tăm tối vào tâm trạng của Hester, phơi bày rất nhiều điều mà có lẽ nàng sẽ chẳng bao giờ thừa nhận với chính mình nếu không có nó.

Khi lão đã khuất dạng, nàng liền gọi con bé quay lại.

“Pearl! Bé Pearl! Con đang ở đâu?”

Pearl, với tinh thần chưa bao giờ nguôi hiếu động, chẳng hề thiếu trò tiêu khiển trong lúc mẹ nàng trò chuyện với lão già đi thu hượm thảo dược. Ban đầu, như đã kể, con bé mải mê nghịch ngợm với chính hình bóng của mình dưới một vũng nước, ra hiệu cho cái bóng ảo ảnh ấy bước ra—và khi cái bóng chần chừ không dám tới—con bé liền tìm đường dấn thân vào cõi đất vô hình và bầu trời vời vợi của nó. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc nhận ra rằng hoặc là bản thân con bé hoặc cái bóng kia vốn không có thực, nó bèn quay sang chỗ khác để tìm kiếm trò tiêu khiển thú vị hơn. Nó làm những chiếc thuyền nhỏ bằng vỏ cây bạch dương, chất đầy vỏ ốc rồi tung ra những chuyến hải trình vĩ đại trên đại dương mênh mông hơn bất kỳ thương gia nào ở New England; nhưng phần lớn chúng đều bị đắm ngay gần bờ. Nó chộp lấy cái đuôi của một con sam biển còn sống, tóm gọn vài con sao biển, rồi đặt một con sứa dưới ánh nắng ấm áp cho tan chảy ra. Sau đó, nó vốc lấy lớp bọt trắng xóa vắt ngang đường triến triều dâng rồi tung lên gió, thoăn thoắt cất bước chân có cánh đuổi theo để bắt những bông tuyết lớn trước khi chúng rơi xuống. Nhận thấy một đàn chim bãi biển đang kiếm ăn và chao lượn dọc bờ, cô bé nghịch ngợm liền nhặt đầy một tà tạp dề những viên sỏi, rồi rón rén từ hòn đá này sang hòn đá khác bám theo những sinh vật biển nhỏ bé ấy, thể hiện sự khéo léo đáng kinh ngạc trong việc ném sỏi vào chúng. Pearl gần như chắc chắn rằng một chú chim xám nhỏ với chiếc ngực trắng đã trúng phải một viên sỏi và chao đảo bay đi với chiếc cánh bị gãy. Nhưng rồi đứa trẻ tinh quái ấy thở dài, từ bỏ trò chơi vì cảm thấy xót xa khi đã gây tổn thương cho một sinh vật nhỏ bé vốn hoang dã như làn gió biển, hay hoang dã hệt như chính bản thân Pearl.

Công việc cuối cùng của con bé là gom đủ các loại rong biển để tự tết cho mình một chiếc khăn choàng hoặc áo khoác, cùng một chiếc mũ đội đầu, qua đó khoác lên diện mạo của một nàng mỹ nhân ngư nhỏ bé. Con bé thừa hưởng năng khiếu tạo hình trang phục và y phục từ mẹ mình. Để hoàn thiện nét chấm phá cuối cùng cho bộ cánh mỹ nhân ngư, Pearl lấy một ít cỏ chình và cố gắng hết sức để mô phỏng lại trên ngực áo mình món trang sức mà nó đã quá đỗi quen thuộc trên ngực mẹ. Một chữ cái—chữ A—nhưng mang màu xanh tươi mới thay vì sắc đỏ thẫm. Con bé cúi cằm xuống ngực, ngắm nghía ký hiệu này với một vẻ tò mò kỳ lạ, cứ như thể mục đích duy nhất mà nó được sinh ra trên đời là để giải mã ý nghĩa ẩn giấu bên trong đó.

Pearl thầm nghĩ: “Không biết mẹ có hỏi mình cái này nghĩa là gì không nhỉ?”

Đúng lúc ấy, nó nghe thấy tiếng mẹ gọi, và thoăn thoắt lướt đến nhẹ nhàng như một chú chim biển nhỏ, xuất hiện trước mặt Hester Prynne trong tiếng cười đùa vang dội cùng ngón tay trỏ hướng thẳng vào món đồ trang trí trên ngực áo.

Hester trầm ngâm giây lát rồi cất lời: “Pearl bé bỏng của mẹ, chữ cái màu xanh trên ngực áo thơ ngây của con chẳng có ý nghĩa gì cả. Nhưng con có biết, con yêu của mẹ, chữ cái mà mẹ bị định mệnh trói buộc phải mang này có ý nghĩa gì không?”

Con bé đáp: “Thưa mẹ, có chứ ạ. Đó là chữ A lớn. Mẹ đã dạy con trong sách vần mà.”

Hester đăm đăm nhìn vào gương mặt nhỏ bé của con; nhưng dẫu ẩn chứa nét biểu cảm kỳ lạ mà nàng từng bắt gặp không biết bao nhiêu lần trong đôi mắt đen ấy, nàng vẫn không tài nào chắc chắn được liệu Pearl có thực sự gán bất kỳ ý nghĩa nào cho biểu tượng đó hay không. Nàng dâng lên một khao khát đến mức ám ảnh muốn làm cho raẽ.

“Con có biết vì sao mẹ con phải mang chữ cái này không, hở con?”

Pearl ngước đôi mắt rạng ngời nhìn thẳng vào mặt mẹ và đáp: “Con biết chứ ạ! Đó là vì cùng một lý do mà mục sư luôn đặt tay lên ngực mình!”

Hester hỏi, nửa cười trước sự vô lý kỳ quặc trong quan sát của đứa trẻ, nhưng rồi chợt tái mặt đi khi nghĩ lại: “Và lý do đó là gì?”

“Không đâu mẹ, con đã nói hết những gì mình biết rồi,” Pearl đáp, nghiêm túc hơn vẻ thường thấy của con bé. “Xin hãy hỏi vị lão nhân đằng kia mà mẹ vừa trò chuyện cùng ấy—biết đâu ngài ấy có thể giải đáp. Nhưng thưa mẹ yêu quý, nói thật đi ạ, chữ cái màu đỏ này nghĩa là gì?—và tại sao mẹ lại đeo nó trên ngực?—và tại sao vị mục sư lúc nào cũng đặt tay lên ngực mình?”

Con bé nắm lấy bàn tay mẹ bằng cả hai bàn tay nhỏ xíu của mình, đăm đăm nhìn sâu vào đôi mắt nàng với một vẻ nghiêm cẩn hiếm thấy ở một đứa trẻ mang bản tính hoang dã và thất thường. Trong đầu Hester thoáng qua ý nghĩ rằng có lẽ con bé thực sự đang muốn xích lại gần nàng với lòng tin yêu ngây thơ của trẻ nhỏ, và đang làm hết sức có thể, theo cách thông minh nhất mà nó biết, để thiết lập một điểm chạm của sự đồng cảm. Điều đó phơi bày một khía cạnh hoàn toàn mới ở Pearl. Từ trước đến nay, dẫu yêu thương con với tất cả sự cuồng nhiệt của một chỗ dựa tình cảm duy nhất, người mẹ vẫn tự huấn luyện bản thân không kỳ vọng điều gì hơn ngoài sự ương bướng của một cơn gió tháng Tư—thứ luôn phung phí thời gian vào những trò đùa giỡn vu vơ, mang theo những cơn giông bão khó hiểu, dễ cáu kỉnh ngay cả trong tâm trạng tuyệt vời nhất, và thường làm ta lạnh giá hơn là ve vuốt khi ta ôm nó vào lòng; để rồi bù đắp cho những lỗi lầm ấy, đôi khi theo một dụng ý mông lung nào đó, nó sẽ hôn lên má ta bằng một thứ tình cảm đong đầy nỗi hoài nghi, nghịch ngợm mái tóc ta rồi vội vã quay về với những bận rộn vu vơ khác, để lại trong tim ta một nỗi vương vấn ngọt ngào. Hơn nữa, đó cũng chỉ là đánh giá của người mẹ về bản tính của con mình. Bất kỳ người quan sát nào khác hẳn sẽ chỉ nhìn thấy những nét tính cách khó ưa và gán cho chúng những gam màu tăm tối hơn nhiều. Nhưng giờ đây, ý nghĩ mạnh mẽ chợt ùa vào tâm trí Hester rằng Pearl, với sự sắc sảo và chín chắn trước tuổi của mình, có lẽ đã chạm đến lứa tuổi mà nó có thể trở thành một người bạn, được sẻ chia những nỗi buồn của người mẹ trong mức độ có thể thổ lộ mà không mang tính bất kính với cả phụ thân lẫn đứa trẻ. Giữa bức tranh hỗn độn nhỏ bé trong tính cách của Pearl, người ta có thể nhìn thấy—và thực ra có thể nhận ra ngay từ những ngày đầu tiên—những nguyên tắc vững vàng của một lòng dũng cảm kiên định—một ý chí bất khuất—sự kiêu hãnh bền bỉ có thể được rèn giũa thành lòng tự trọng—và sự khinh miệt cay đắng đối với vô số thứ mà khi soi xét kỹ, ta sẽ nhận ra chúng vương vấn vết nhơ của sự giả dối. Con bé cũng sở hữu những tình cảm sâu sắc, dẫu cho đến nay vẫn còn cay đắng và khó chịu, hệt như hương vị nồng đượm nhất của trái cây chưa chín. Với tất cả những phẩm chất quý giá ấy, Hester nghĩ rằng, cái ác mà con bé thừa hưởng từ mẹ hẳn phải lớn lắm, nếu như từ đứa trẻ có linh hồn tinh nghịch này lại không thể trưởng thành nên một người phụ nữ cao quý.

Xu hướng tự nhiên cứ quẩn quanh bên điều bí ẩn của chữ cái màu đỏ dường như đã trở thành một bản chất bẩm sinh trong con người Pearl. Ngay từ những khoảnh khắc đầu tiên của cuộc đời có ý thức, nó đã dấn thân vào sứ mệnh được định đoạt này. Hester từng nhiều lần tưởng tượng rằng Đấng Tối Cao có một dự định về công lý và sự báo ứng khi ban cho đứa trẻ xu hướng đặc biệt này; thế nhưng chưa bao giờ cho đến tận hôm nay, nàng chợt nghĩ đến việc tự hỏi xem liệu đằng sau dự định ấy, có chăng còn ẩn chứa một sứ mệnh của lòng nhân ái và ơn huệ. Nếu bé Pearl được đón nhận bằng niềm tin và sự tín nhiệm, với tư cách vừa là một sứ giả tâm linh vừa là một đứa trẻ phàm trần, thì liệu có phải sứ mệnh của con bé là xoa dịu nỗi buồn đang đóng băng trong trái tim người mẹ và biến nó thành một nấm mồ?—và giúp nàng vượt qua nỗi đam mê thuở nào từng cuồng nhiệt biết bao, dẫu cho đến nay vẫn chưa chết đi hay chìm vào giấc ngủ, mà chỉ bị giam cầm bên trong chính trái tim mang hình hài nấm mồ ấy?

Đó là một vài suy nghĩ hiện đang cuộn trào trong tâm trí Hester, mang theo sức nặng sống động hệt như thể chúng vừa được thì thầm trực tiếp vào tai nàng. Và suốt quãng thời gian ấy, bé Pearl vẫn đang nắm lấy tay mẹ bằng cả hai bàn tay mình, ngẩng khuôn mặt nhỏ nhắn lên trong lúc liên tục đặt ra những câu hỏi dò xét ấy, hết lần này đến lần khác, rồi thêm một lần thứ ba.

“Chữ cái đó nghĩa là gì hả mẹ? Và tại sao mẹ lại đeo nó? Và tại sao vị mục sư lúc nào cũng đặt tay lên ngực mình?”

Hester thầm nghĩ: “Mình phải trả lời sao đây? Không! Nếu đây là cái giá phải trả cho sự đồng cảm của con bé, thì ta không thể trả nổi.”

Rồi nàng cất lời—

Nàng nói: “Pearl ngốc nghếch ơi, sao con lại hỏi những câu kỳ cục thế? Trên đời này có rất nhiều điều trẻ con không được phép hỏi đến. Làm sao mà mẹ biết được trong lòng mục sư nghĩ gì? Còn về chữ cái màu đỏ, mẹ đeo nó chỉ vì những sợi chỉ vàng của nó mà thôi.”

Trong suốt bảy năm dài đằng đẵng vừa qua, chưa bao giờ Hester Prynne phản bội lại biểu tượng trên ngực áo mình. Có lẽ đó từng là tấm bùa hộ mệnh của một vị thần hộ mệnh nghiêm khắc và quyết liệt, nhưng giờ đây đã rời bỏ nàng; vì nhận ra rằng, bất chấp sự canh chừng cẩn mật của ngài đối với trái tim nàng, một tội ác mới vẫn len lỏi bước vào, hoặc một vết nhơ cũ vẫn chưa từng bị tẩy sạch. Về phần bé Pearl, vẻ nghiêm cẩn trên gương mặt con bé nhanh chóng tan biến.

Nhưng đứa trẻ không đời nào chịu bỏ qua chuyện đó. Hai ba lần trên quãng đường hai mẹ con đi về nhà, rồi cũng chừng ấy lần vào bữa tối, và lúc Hester đang dỗ con đi ngủ, và thêm một lần nữa sau khi con bé trông có vẻ đã chìm vào giấc ngủ say, Pearl lại ngước lên, đôi mắt đen láy lấp lánh sự tinh quái.

Con bé hỏi: “Mẹ ơi, chữ cái màu đỏ nghĩa là gì thế ạ?”

Và sáng hôm sau, dấu hiệu đầu tiên cho thấy đứa trẻ đã thức giấc chính là việc nó ngóc đầu dậy khỏi chiếc gối và cất lên câu hỏi quen thuộc mà nó đã liên hệ một cách khó hiểu với những suy luận của mình về chữ cái màu đỏ—

“Mẹ ơi!—Mẹ ơi!—Tại sao vị mục sư cứ phải đặt tay lên ngực mình thế ạ?”

Người mẹ đáp, với một vẻ cay nghiệt chưa từng có ở bản thân trước đây: “Câm miệng lại ngay, đứa trẻ hư đốn này! Đừng có mà hành hạ mẹ nữa; bằng không mẹ sẽ nhốt con vào cái tủ tối tăm bây giờ!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.