Chú Bé Rách Rưới

Lượt đọc: 111 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XVI - CHÀNG NHỆN VÀ CON CHÓ CỦA NÓ. LOẠI BỒ HÓNG BÍ ẨN

❊ ❊ ❊

Ngọn lửa trong bếp vẫn còn bốc cháy, chiếc đèn đầu được treo vào chiếc đinh đóng ở xà ngang trên trần nhà. Chàng Nhện nằm co ro bên cạnh con chó của nó, nhưng tôi không thấy Xem đâu cả. Không có nó tôi không biết mình nên nằm ở đâu, vì vậy tôi đưa mắt nhìn khắp nơi tìm nó.

Đột nhiên ở một chỗ gần tôi có một giọng thì thầm vẻ ngái ngủ.

– Ta quy định thế nhé - ai nằm sau cùng thì người ấy phải tắt đèn.

Tôi nhìn xuống phía dưới và thấy Xem. Nó nằm trên đống bao bì đen, bẩn, dính đầy bồ hóng; nó dùng chiếc bao trũng ở giữa làm gối, chiếc mũ bê bết bồ hóng của nó kéo sụp xuống che kín hai tai làm tôi chỉ trông thấy bộ răng trắng và lòng trắng mắt của nó.

Thật quả là vô cùng kỳ lạ, không hiểu tại sao con người lại chóng quen với cảnh xa hoa như thế.

Nếu như đêm hôm kia, khi tôi còn run rẩy vì giá lạnh trên xe ngựa, có ai cho tôi chuyển sang ngủ đêm trong căn bếp ấm cúng, nằm trên đống bao bì và vì vậy cần đi xa bảy, tám dặm đường, hẳn tôi sẽ vui mừng đồng ý ngay. Nhưng bây giờ sau khi đã được ngủ một đêm trên chiếc đi-văng ở nhà cụ Uyn-síp, tôi ngắm nhìn giường chiếu bẩn thỉu của anh chàng Xem nhem nhuốc với vẻ ghê tởm.

– Tớ nằm đâu nhỉ? - tôi buồn bã hỏi vậy.

– Đây, nằm xuống cạnh tớ đi. - Xem đề nghị như vậy. - Cậu hãy lôi trong đống bao bì này ra hai cái, một cái đặt dưới đầu, cái kia thì nằm lên trên. Chỉ có một điều cần nhớ là phải cẩn thận đừng làm ầm ĩ lên, đừng làm chàng Nhện thức dậy nếu không nó sẽ rên rỉ, khóc mếu cả đêm, không để cho chúng mình được yên thân đâu.

Tôi suy nghĩ rằng vì tôi với Xem nằm ở các bao bì khác nhau, nên tôi có thể nằm cạnh nó mà không trái lệnh chủ là cần phải nằm riêng. Do đó tôi nhanh nhẹn cởi bộ quần áo cũ, mặc vào người chiếc quần bẩn thỉu, xếp chiếc “gối” dính đầy bồ hóng, tắt đèn và một phút sau tôi đã nằm yên trên đống bao bì. Thật ra bao đựng bồ hóng ra mùi khó ngửi nhưng mùi đó cũng không cản trở tôi ngủ thiếp đi rất nhanh.

Tiếng chó sủa làm tôi thức dậy, khi đó trời hãy còn tối. Tôi thấy Xem đã dậy rồi. Ông Pác-cơ sai nó đi làm việc gì đó. Ông Pác-cơ mở toang cửa ra vào, bỏ ngoài tai mọi lời than vãn kêu ca của chàng Nhện. Ít phút sau ông Pác-cơ và Xem ra đi, còn tôi, tôi nhớ lời chủ đặn là nếu ông chưa gọi thì không việc gì phải dậy sớm cả vì vậy tôi vẫn tiếp tục nằm yên trên đống tải. Đột nhiên tôi nghe tiếng chàng Nhện cáu kỉnh nói:

– Mày không tốt hơn những kẻ khác một chút nào cả! Hừ, sao này cứ nằm ườn ra đó, làm như bây giờ còn là đêm tối chứ chưa phải là trời đã sáng rồi? Bảy giờ rồi mà mày còn ngủ à? Có thể vì mày khỏe mạnh nên mày không biết thương người đau yếu đấy thôi. Mày liếm tao làm gì? Thôi đi! Dậy nhanh lên làm việc đi! Nào, dậy nhanh lên, đồ súc sinh lười biếng này! Liệu hồn, tao bắt mày phải dậy ngay bây giờ cho mà xem!

Dứt câu nói đó tôi nghe thấy có tiếng roi đập và tiếng kêu rít lên đau đớn. Từ đống giẻ rách một con chó con chạy ra phía cửa và bắt đầu lấy móng chân cào cửa.

Chàng Nhện vừa rên rỉ vừa lê từ trên đống bao bì xuống đất đuổi theo con chó:

– Việc gì mày phải vội vàng thế? Thôi được, cứ việc vội đi, cứ việc vội đi. Mày muốn tỏ ra là mày cần mẫn có phải không? Thế còn nhớ hôm qua mày đã gây ra chuyện tệ hại gì không? Mày đã làm tao mất lửa cho đến khi trời tối mịt! Liệu hồn đấy, hôm nay mày phải khôn hơn mới được! Không việc gì cứ phải liếm tao mãi thế! Nếu mày lại giở trò như hôm qua ra, tao sẽ giết mày. Thật đấy, tao sẽ giết mày.

Tôi không biết chàng Nhện cho con chó của nó ngửi cái gì, tôi chỉ trông thấy con chó chạy vụt ra ngoài của, chàng Nhện không ngớt mồm rên rỉ lại trở vào nằm trên các bao bồ hóng.

Chúng tôi cứ nằm yên như vậy vào khoảng mười lăm phút. Chắc chắn chàng Nhận đã sốt ruột vì phải chờ đợi đầy tớ bốn chân của nó, nó bắt đầu mắng chửi con vật và thậm chí còn hé cửa mấy lần để nhìn xem con chó đã về chưa.

Cuối cùng có tiếng chân cào cào cửa. Chàng Nhện mở cửa ra và con chó chạy vụt vào phòng, mồm nó ngậm một vật gì đó. Tôi nhận ra ngay đó là một cái xương cừu đã bị gặm hết thịt. Nhưng chắc hẳn chàng Nhện chưa nhìn rõ vật đó.

– Lại đây, lại đây, con chó xấu xa này, - nó bảo con chó của nó như vậy. - Mày lếu láo như thế là đủ rồi đấy, mất bao nhiêu thời gian mới chạy đi tha về được một thanh củi. Nhưng thôi, không sao cả, thanh củi to và tốt, đưa đây cho tao, Pin-chơ thân yêu, lại đây nào.

Nhưng con chó không chịu nghe lời chàng Nhện, nó chạy như tên bắn qua mình chủ rồi rúc vào xó nhà xa nhất và nằm đè lên cái xương. Chàng Nhện đáng thương tức điên người lên, nó thử tìm cách bò lại gần con chó bướng bỉnh, nhưng vừa bò được vài bước, đôi chân đau đã phản lại nó và nó ngã lăn xuống sàn nhà. Khi đó nó vừa quỳ gối vừa nguyền rủa con chó thậm tệ. Thấy chủ giận dữ, con chó càng rụt rè không dám ra khỏi góc nhà nữa. Cuối cùng chàng Nhện cố bò bằng hai chân hai tay đến sát con chó. Nó vừa vung tay lấy đừ định đấm cho con chó một cái thật đau thì con chó đã nhanh nhẹn nhảy tránh sang một bên và để lại chiếc xương nó tìm được.

– A, mày quả là con chó đáng nguyền rủa! - trông thấy cái xương bị gặm nhẵn không còn thịt, chàng Nhện thét lên. - Sai mày đi kiếm củi mà mày lại mang thứ xương xẩu đáng tởm này về à! Liệu hồn tao bắt được, tao giết ngay.

Nó vừa nguyền rủa vừa lồm cồm đuổi theo con chó. Tôi không thể giả vờ là đang ngủ được nữa. Tôi đành nhỏm dậy và hỏi chàng Nhện xem tại sao nó lại nổi giận và chửi rủa như vậy.

– Tớ mà bắt được nó, tớ sẽ cho nó biết tay! - Chàng Nhện tiếp tục đuổi theo con chó vừa đáp. - Tớ thề rằng tớ sẽ giết nó và nhất định sẽ giết nó ngay lập tức! Này, cậu bắt lấy nó hộ mình đi.

– Nhưng nó có lỗi gì nào? - tôi vừa hỏi vừa định bắt con chó, nó lao nhanh như tên bắn quanh người tôi.

– Nó có lỗi gì à? - chàng Nhện mếu máo, cố lấy lại hơi sức vì quá mỏi mệt. - Nó chế nhạo tớ đấy. Nó thừa hiểu rằng nếu nó không tha vỏ bào về nhà thì không tài nào nhóm lửa được. Đó là công việc hàng ngày của nó. Thế mà nó đã làm gì nào? Hôm qua nó tha về đây cho tớ ba miếng vỏ cây ướt sũng nước, không dùng vào việc gì được. Tớ đã tha tội cho nó. Hôm nay tớ đã cho nó ngửi một thanh củi nỏ để nó biết rằng tớ cần loại củi như thế. Vậy mà nó lang thang chơi bời, kiếm xương để gặm, rồi lại còn cả gan tha về đây cho tớ xem. Bây giờ nó cứ việc ung dung gặm xương, còn tớ đành ngồi trơ không có lửa sưởi, phải đợi đến mười một giờ, khi nào Xem làm xong việc trở về nhà mới có củi nhóm lò, trong lúc đó xương cốt tớ nó đau như dần vì các cơn gió lạnh đáng nguyền rủa này đây.

Đang giận dữ, con người tần tật kia bỗng nhiên buồn bã, vừa khóc mếu vừa dùng đôi bàn tay đen bẩn lau nước mắt.

– Thôi, đừng khóc nữa, - tôi bảo nó, - chúng mình sẽ có lửa sưởi cho mà xem, bây giờ tớ chạy đến chỗ ông chủ xin ít than; chắc ông ấy sẽ cho thôi, có phải không?

– Có thể ông ấy sẽ cho cậu, nhưng bà chủ không nghe đâu, - chàng Nhện thì thầm. - Nếu bà chủ biết rằng mình nhóm lửa trước khi Xem đi làm về, bà ấy sẽ đánh mình. Vì vậy mình đành lập mẹo để kiếm củi.

– Cậu hãy nói cho mình biết, gần đây có cửa hàng bán chất đốt nào không, - tôi nói, - chúng mình sẽ có than sưởi vì mình còn nửa pen-ni đây.

Đêm hôm trước, khi tôi rời nhà cụ Uyn-síp, cụ giúi vào tay tôi sáu pen-ni.

– Sao, cậu có nửa pen ni để mua than à! - chàng Nhện reo to, đôi mắt đang lờ đờ của nó bỗng ánh lên niềm vui. - Cửa hàng bán than gần đây thôi, ở ngay góc phố ấy, liệu cậu còn nửa pen-ni nào không?

– Còn, nhưng để làm gì?

– Giá bọn mình được pha một tách cà phê thì hay quá. Khi tất cả xương cốt đều đau như dần thế này mà được uống món đó thì tuyệt thật! Mình có chiếc xoong con đây, có thể dùng để đun cà phê được đấy.

Nếu tôi phải tiêu tất cả số tiền còn lại sau khi mua than là năm pen-ni rưỡi để mua cà phê thì tôi cũng tiêu ngay vì không nỡ nhẫn tâm từ chối khi nhìn đôi mắt cầu khẩn của chàng Nhện.

Mười phút sau tôi mang các thứ mua được về nhà và một giờ sau, chàng Nhện đã ngồi trước chiếc xoong khói bốc nghi ngút. Tôi uống cà phê đựng trong một mảnh bình đất vỡ còn chàng Nhện dùng chiếc thìa cũ múc cà phê trực tiếp ngay từ xoong mà uống, chiếc xoong này dùng thay cho ấm pha cà phê. Được uống cà phê nóng chàng Nhện thấy dễ chịu hơn, nó vui hẳn lên, nó trò chuyện cùng tôi và kể cho tôi nghe tiểu sử nó.

Tên thật của chàng Nhện là Tô-bi-át. Nó mồ côi từ nhỏ và cũng từng sống trong viện tế bần[1]. Bốn năm trước đây nó được ông Ben-chơ nhận vào học việc. Suốt năm đầu công việc tiến hành trôi chảy. Nó rất nhanh nhẹn và khéo léo, ông Ben-chơ vui lòng cho nó ăn no mặc ấm và dạy nghề cho nó. Nhưng trong một ngày bất hạnh vào mùa đông, ông Ben-chơ được thuê cạo nồi hơi của chiếc máy hơi nước đã lâu không sử dụng. Chàng Nhện phải chui vào nồi hơi, suốt ngày nằm trên lớp sắt lạnh buốt cạo gỉ và làm sạch lớp sắt bên trong nồi hơi. Sau khi làm xong công việc này, thằng bé bị cảm lạnh, mắc bệnh thấp khớp chân, không những không thể thông ống khói mà thậm chí không đứng nỗi nữa. Ông Ben-chơ cho nó xuống dưới bếp. Nó phải phục dịch lũ trẻ khác, buổi sáng nó pha cà phê cho lũ trẻ này uống còn buổi tối thì nấu cháo cho lũ trẻ này ăn. Khi công việc kém đi, ông chủ đành thải hồi lũ trẻ học việc, chàng Nhện không còn việc làm nữa, tuy vậy ông Ben-chơ vẫn phải nuôi nó hết thời hạn bảy năm như hợp đồng đã quy định.

- Cậu có được ăn no không? - tôi hỏi.

– Tất nhiên không được ăn nhiều như mình muốn, nhưng mình cũng không dám than phiền gì cả: mình có làm được việc gì đâu nên việc quái gì họ cứ phải nuôi mình nhỉ? Tuy vậy nghe Xem nói lại, mình hiểu rằng dù mình có mạnh khỏe đi nữa, mình cũng đành ngồi trơ ra không có việc làm đâu. Nó nói rằng đôi khi hàng tuần lễ ba người không kiếm nổi một đồng.

– Có thể họ kiếm được nhiều tiền khi về nông thôn làm việc vào ban đêm chăng? - tôi hỏi.

– Lạ thật! - không nghe rõ lời nhận xét của tôi, chàng Nhện tiếp tục nói. - Cả tuần không kiếm được một đồng nào mà ông chủ và ông Pác-cơ vẫn liên tiếp may mặc quần áo mới. Đã có một con ngựa rồi còn cho là chưa đủ, nên phải mua thêm con khác, mà con ngựa ấy mới hay làm sao chứ! Xem nói rằng con ngựa ấy chạy hăng như đầu máy xe lửa vậy.

– Hừ, có gì đáng ngạc nhiên đâu, - tôi nói, - có ngựa và xe kéo là sinh lợi lắm đấy.

– Con ngựa này, - chàng Nhện hạ giọng thì thầm, - được nhốt trong chuồng, suốt ngày nhốt chặt không thả ra ngoài.

– Có lẽ đây là ngựa họ ăn trộm được nên phải giấu đi chăng?

– Làm gì có chuyện ấy! Chính Xem đã nhìn thấy họ trả ngay món tiền mặt là ba mươi đồng xtéc-linh để mua ngựa đấy.

– Thế không bao giờ họ đi con ngựa này à?

– Không bao giờ họ đi ngựa vào ban ngày! Chỉ đến đêm họ mới thắng con ngựa hồng mới mua này thôi. Suỵt! Cậu không được nói với ai về những điều mình kể cho cậu nghe đấy nhé.

– Tại sao lại như vậy! Chẳng lẽ việc ông chủ có con ngựa hồng lại là điều bí mật hay sao?

– Không, đó không phải là điều bí mật, mà điều bí ẩn ở chỗ họ thắng ngựa đi đâu cơ.

– Đi đâu ấy à? Đi làm việc vào ban đêm chứ còn đi đâu nữa. Chính cậu bảo rằng công việc ấy có lợi lắm cơ mà.

– Phải, công việc ấy có lợi lắm! Họ thường đi thông ống khói ở nông thôn thế mà bồ hóng lại không có, dù là thứ bồ hóng thông thường nhất cũng chẳng bao giờ thấy cả.

Đúng lúc đó Xem bước vào bếp và làm gián đoạn cuộc nói chuyện có nhiều điều bí ẩn của chúng tôi.

Chẳng bao lâu sau tôi thấy rằng chàng Nhện và Xem đã nói thật, sống ở nhà ông Ben-chơ thì khó lòng học được nghề thông ống khỏi. Tôi không được giao công việc gì cả và vô tình tôi phải ăn không ngồi rồi. Đôi khi ông Ben-chơ và ông Pác-cơ có việc làm, khi đó Xem đi với một trong hai người, còn tôi đi với người kia. Chúng tôi thường trở về nhà vào lúc mười, mười một giờ sáng, phần công việc tôi phải làm cũng chẳng có gì nặng nhọc cả. Tôi khiêng một phần máy thông ống khói khi chúng tôi đi từ nhà này sang nhà kia, đưa các thanh sắt cho ông Ben-chơ để ông dùng ê-cu nối các thanh sắt với nhau lại cho dài ra; và khi công việc đã xong xuôi tôi lại buộc các thanh sắt ấy thành một bó và cuối cùng tôi quét sàn nhà xung quanh khu vực lò sưởi. Sau khi ăn sáng xong, tôi có thể làm gì tùy ý, tôi được nuôi nấng chu đáo do đó tôi không hề buồn chán trước cảnh ăn không ngồi rồi ấy.

Ông Ben-chơ chắc hẳn không hề quan tâm đến việc có tìm ra cho mình thật nhiều khách hàng.

Một lần vào buổi sáng, tôi cùng ông đi trên đường phố.

– Thưa ông chủ! - tôi bảo ông ta. - Cửa sổ các nhà đều đóng kín mít, không ai biết rằng có thợ thông ống khói đang đi ngoài đường! Cháu có giọng vang, ông để cho cháu rao thật to lên, nhiều người sẽ nghe rõ tiếng rao đó và công việc của ông sẽ nhiều gấp mười lần lên.

– Sao lại thế! Sao lại thế! Chẳng cần gì phải làm việc đó đâu! - Ông Ben-chơ kiêu hãnh đáp. - Ở cửa nhà tao có gắn tấm biển ghi rõ tên tuổi và nghề nghiệp của tao. Ai cần tao phục vụ thì phải đến với tao.

Ông ta luôn luôn rủng rỉnh tiền trong túi. Buổi sáng ông cùng ông Pác-cơ uống rượu rom, buổi tối đến quán ăn hút vài tẩu thuốc lá và uống rượu say bét nhè.

Mỗi tuần chừng hai lần ông chủ và ông Pác-cơ đi làm việc vào ban đêm, bận nào cũng cho Xem đi theo. Xem rất thích các chuyến đi này: trước khi lên đường, bao giờ nó cũng được ăn bữa tối rất ngon, được uống cốc rượu rom. Ông Ben-chơ và ông Pác-cơ cùng đi với nhau, họ mặc quần áo lao động, mang theo máy thông ống khói và một cái bao tải dài chứa các dụng cụ, ngoài ra còn mang theo một bao tải không, một đèn to và một chai rượu trắng rất nặng nữa.

Họ trở về nhà khi thì vào lúc hai giờ, khi thì vào lúc bốn giờ sáng. Xem kể rằng có nhiều trường hợp họ định làm đã bị ai hớt tay trên rồi hoặc đêm đó gặp trở ngại không thể làm việc đó thì họ đành tay không trở về. Nếu làm xong công việc họ chở về nhà một bao to căng phồng chứa đầy bồ hóng. Về đến nhà xong Xem được đi ngủ ngay lập tức, riêng ông chủ và ông Pác-cơ còn loay hoay trong chuồng ngựa một lúc lâu, hẳn hai người bận chăm sóc con ngựa quý báu của ông Ben-chơ.

Bọn trẻ chúng tôi rất quan tâm đến hiện tượng kỳ lạ là không hiểu bồ hóng lấy từ các ống khói ở nông thôn biến đi đâu mất cả?

– Tớ không biết - Xem trả lời - Ông Pác-cơ kéo chiếc bao to chứa đầy bồ hóng vào chuồng ngựa, sau đó bao bồ hóng đó biến đâu mất.

– Chẳng lẽ ông Pác-cơ lại mang bồ hóng đi chỗ khác à? - chúng tôi phân vân hỏi nhau.

Ông Bác-cơ không sống chung cùng ông chủ tôi. Ông ta có nhà riêng ở đường Niu-ghết, khi làm xong công việc ông ta thường đi xe ngựa về nhà.

– Không hiểu sao con chó của chàng Nhện lại cứ làm loạn lên mỗi khi ông Pác-cơ ngủ lại nhà ông Ben-chơ nhỉ? - có một lần tôi hỏi vậy.

– Tớ nghĩ rằng nó không ưa ông Pác-cơ. - Xem trả lời - mà chưa biết chừng có thể nó không thích mùi bồ hóng ở nông thôn chăng? Con Pin-chơ vừa rít vừa sủa khi ông Pác-cơ ở lại đây làm không ai ngủ được.

Xem im lặng và suy nghĩ lao lung.

– Có thể con chó ngửi thấy mùi chuột cống, - Nó nói thế khi thấy con chó Pin-chơ mỗi lúc một cáu kỉnh hơn, con chó bắt đầu dùng chân bới đất ở sát bức tường ngăn nhà bếp với chuồng ngựa. Đúng là trong chuồng ngựa có chuột cống rồi.

– Không, không phải là chuột cống gây ra chuyện này đâu. - Chàng Nhện thì thào đáp. - Theo tớ ở đây có lý do khác cơ. Thủ phạm gây ra vụ này là ông Pác-cơ. Con chó tức giận vì hôm trước ông Pác-cơ đã không chịu đi và hôm nay cũng không đi. Đấy, sự việc như vậy đấy, và điều đó thật đáng ghê sợ! Có phải không Gim?

– Đáng ghê sợ thật đấy vì con chó Pin-chơ của cậu cứ làm loạn lên, - tôi đáp.

– Gim, - chàng Nhện nói - chó là con vật rất thông mình, nó hiểu biết nhiều lắm có phải không?

Tôi buồn ngủ rồi nhưng thấy thương hại chàng Nhện, nó mắc bệnh mất ngủ nên cứ thích nói chuyện dông dài cùng tôi. Tôi kể cho nó nghe vài mẩu chuyện chứng tỏ chó khôn như thế nào.

– Phải đôi khi chó còn thông minh hơn thế nữa, - nghe tôi kể xong, nó đáp lời. - Cậu đã được nghe câu chuyện về lũ cá mập chưa, Gim?

– Chưa, chưa được nghe gì cả.

– Cá mập là loại rất ngộ nghĩnh. Nếu trên tàu có thủy thủ chết, cá mập bơi theo tàu để ăn xác chết khi xác đó bị ném xuống biển.

– Thôi, đừng kể nữa chàng Nhện ơi! Mình không muốn nghe các câu chuyện bịa đặt khủng khiếp của cậu đâu! Sao cậu lại dọa mình? Thích nói chuyện với mình, cậu cứ nói về chó chứ đừng bao giờ nói về xác chết cả.

– Mình muốn nói rằng chó cũng thính hơi như cá mập vậy, Gim ạ. Chỉ đáng buồn là năng khiếu đó không đem lại cho nó chút sung sướng nào: vừa đánh hơi thấy thì lập tức nó hú lên ngay.

– Đánh hơi thấy cái gì?

– Nhưng chính cậu lại không muốn cho mình nói về xác chết. Cũng giống như cả mập, chó...

– Thôi đủ rồi, mình không muốn nói chuyện với cậu nữa. Thôi, xin chào, mình muốn đi ngủ đây.

Hôm sau trong lúc đi làm cùng ông Ben-chơ, vui miệng tôi kể câu chuyện về cá mập cho ông ta nghe. Ông chủ cười to sau đó hỏi:

– Tại sao nó lại kể cho mày nghe câu chuyện vớ vẩn ấy? Trước khi có chuyện này chúng mày nói về việc gì nào?

Tôi thuật cho ông ta nghe các hành vi lạ lùng của con chó Pin-chơ và kể lại toàn bộ câu chuyện của tôi với chàng Nhện. Ông Péc-cơ cũng cùng đi với chúng tôi. Ông ta cùng ông chủ đưa mắt nhìn nhau trông rất lạ, rồi hai người sai tôi đi làm ngay lập tức.

Đêm hôm đó con chó của chàng Nhện biến mất và không bao giờ còn thấy trở về nhà nữa, khiến chủ nó đau buồn vô hạn.

❀ ❀ ❀

[1] Viện tế bần được thành lập ở Anh năm 1834 nhằm “cứu giúp” trẻ em mồ côi, người già cả, tàn tật không nơi nương tựa, những người này sống và làm việc trong viện tế bần còn khổ cực hơn tù khổ sai. Dưới áp lực của dư luận xã hội năm 1909, chính phủ Anh đã phải đóng cửa nhà tù trá hình này. (ND)

eBook này được thực hiện với sự đóng góp của các thành viên @Khang Sách Cũ, @Huntersoft, @hungbc1010, @amylee tại cộng đồng tve-4u.org, cùng đọc - cùng chia sẻ.
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.