Đồng hồ nhà thờ chỉ rõ vào lúc nửa đêm, hai tên lưu manh đóng sập cửa trước mặt tôi và tôi đành đi chân đất trên tuyết lạnh còn xôm xốp.
Tôi chưa thể biết ngay là cuộc trao đổi mua bán giữa tôi với Béc-ni và Giôn có mang lại lợi lộc cho tôi không. Tôi cảm thấy bên kia toàn được lợi, thế mà họ lại kết tội tôi là vô ơn bạc nghĩa. Chẳng lẽ quả thật tôi không đánh giá đúng lòng tốt của họ chăng? Họ đã làm gì cho tôi? Trước đây tôi có đôi tất ấm, đôi giày tốt, có áo khoác ấm có sơ mi lành lặn. Bây giờ tôi không còn các thứ đó, tôi chỉ có chiếc quần dài và cái áo khoác rách nát, bẩn thỉu. Nhung tôi không còn bị cơn đói giày vò nữa. Tôi trút được bộ quần áo mà mặc vào ban ngày tôi không dám ló mặt ra ngoài phố và trong tay tôi có những một si-linh, nhưng đồng si-linh đó bây giờ ở đâu nhỉ? Nếu như dưới chân tôi hè phố bỗng biến thành vực sâu tôi cũng không kinh hãi như thế.
Trong lúc hốt hoảng tôi thò tay vào các túi áo nhưng túi nào cũng rỗng không, chỉ sót ít vụn bánh mì đen khô cứng. Không hiểu đồng si-linh ấy biến đi đâu rồi thế này?
Bây giờ tôi mới nhớ ra là đã để quên tiền ở nhà hai gã buôn quần áo cũ! Sau khi đổi đôi giày và đôi tất lấy một si-linh cùng một chiếc bánh mì, tôi nhét đồng si-linh đó vào túi quần, và khi cởi quần áo đó ra để thử chiếc quần bằng vải cào bông, tôi quên lấy tiền từ túi quần cũ ra!
Nhớ rõ được mọi việc, tôi thấy người nhẹ nhõm hẳn. Nhà của hai gã thanh niên cách chỗ tôi không xa. Tôi ba chân bốn cẳng tìm ra phố Xa-phơ-rôn Ghin và nơi sinh sống của hai gã buôn quần áo cũ đó hẳn không khó khăn gì, nhưng chạy đến phố đó xong, tôi bối rối dừng lại. Tôi không biết số nhà của hai gã thanh niên, mà trông bề ngoài mọi nhà cũng như nhau cả.
Tôi chăm chú nhìn từng ngôi nhà, nhưng không tìm ra một đặc điểm gì để phân biệt nhà này với nhà khác, ngoài ra nhà nào cũng tắt đèn cả.
Đột nhiên tôi thấy ánh đèn hắt ra từ cửa sổ tầng hai của một căn nhà trong phố. Tôi vội chạy đến bên quả nắm cửa ra vào của căn nhà đó và gõ cửa. Không ai trả lời tôi. Tôi đập lần thứ hai mạnh hơn lần trước. Cửa sổ có ánh đèn bỗng mở tung, một cụ già đội mũ ngủ thò đầu ra ngoài.
– Xin cụ tha lỗi cho, - tôi nói. - cháu muốn hỏi ông Béc-ni và ông Giôn có sống ở nhà này không ạ?
– Làm sao mà biết được! Dám gõ cửa nhà người ta vào đêm hôm khuya khoắt thế này à! Tao không muốn xuống nhà bây giờ chứ không tao sẽ nện cho mày một trận.
Nói xong mấy câu giận dữ đó, cụ già đóng sập cửa lại. Biết làm gì bây giờ? Không thể đập cửa mọi nhà để hỏi thăm về hai gã thanh niên được, còn bỏ đi thì có nghĩa là mất oan một si-linh.
Tất nhiên tôi hoàn toàn có lỗi trong việc này; vì đãng trí ngu xuẩn, tôi đã để quên mất một đồng si-linh ở nhà hai gã buôn quần áo cũ. Có thể khi bọn chúng biết rõ mọi chuyện, chúng sẽ trả lại ngay lập tức cho tôi cũng nên. Tốt hơn hết là đợi ở đây cho đến sáng và canh chừng xem lúc hai gã thanh niên sang trọng đó ra phố.
May thay đối diện với căn nhà hai gã buôn quần áo cũ có một cửa hiệu bán hàng hóa gì đó. Tôi ngồi ở bậc thềm cửa hiệu đó từ nửa đêm, cho đến khi trời sáng rõ, có lúc tôi thiếp đi vài phút rồi lại chợt tỉnh ngay. Đến bảy giờ sáng, ông chủ quán hàng mở cửa, đuổi tôi đi.
Tuy nhiên tôi vẫn lảng vảng gần đó và đến chín giờ, từ căn nhà tôi vẫn để ý có hai thanh niên cầm mấy chiếc bao tải đen sì đi ra.
Hai gã buôn quần áo cũ không còn ăn diện như hôm trước nữa, áo quần họ nhàu nát, mũ bê bết dầu mỡ. Tuy vậy tôi vẫn nhận ra đó là Béc-ni và Giôn.
– Xin lỗi cậu, - tôi bảo Béc-ni. - cháu để quên đồng si-linh trong túi chiếc quần cháu bán cho cậu... Câu làm ơn cho cháu xin lại.
– Cái gì? Đồng si-linh nào? Quần nào?
– Thưa, cháu để quên trong túi chiếc quần cháu bán cho các cậu cùng với chiếc áo khoác ấy mà. Xin cậu về nhà xem lại cho.
– Nó nói chuyện vớ vẫn gì thế nhỉ? - Béc-ni làm ra vẻ ngạc nhiên hỏi bạn. - Cậu có biết thằng bé này không? Uyn-kin? - gã quay lại phía Giôn.
– Lần đầu tiên mình trông thấy nó đấy.
– Cháu nhầm rồi, cháu bé ạ, - Béc-ni nói bằng một giọng ngọt ngào. - Thế người cháu cần tìm có tên gì?
– Một người tên là Béc-ni, một người tên là Giôn. Chẳng lẽ tên cậu không phải là Giôn hay sao?
– Không, cháu bé ơi, tên chú không phải là Giôn, mà là Uy-kin. - Giôn trả lời.
– Chẳng lẽ các cậu lại sắp nói là các cậu không hề mua quần áo của cháu, bộ quần áo do nhà thương làm phúc may ấy mà, chẳng phải chính các cậu sống trong phòng chứa đầy quần áo cũ sao? - tôi thất vọng kêu to.
– Tất nhiên không phải là các chú rồi, làm gì mà cứ bám lấy các chú thế!
– Không phải, đúng là các cậu rồi! Khoan đã đừng bỏ đi vội, kia kìa, đang có cảnh sát đi lại kia kìa, cháu gọi cảnh sát ngay bây giờ cho mà xem.
Nhìn thấy cảnh sát hai gã buôn quần áo cũ có vẻ bối rối, chúng rảo bước nhanh hơn.
– Trả cháu một si-linh đây! - tôi đuổi theo hai gã thét to. - Trả cháu đây, nếu không cháu kêu lên rằng các cậu là kẻ ăn cắp!
– Thằng ăn mày khốn nạn này! - Giôn tái mặt đi vì giận, mắng tôi. - Thôi, tao cũng thí cho mày hai pen-ni. Cút ngay!
– Cháu không thèm lấy đâu. Các cậu trả cháu đồng si-linh đây, nếu không cháu sẽ khiếu nại với cảnh sát. - tôi trả lời.
– Mày khiếu nại về việc gì? - Béc-ni hỏi.
– Cháu khiếu nại về việc các cậu lấy đồng si-linh của cháu khi các cậu mua bộ quần áo do nhà thương làm phúc phát cho!
– Do nhà thương làm phúc phát cho à! Hay lắm! Như vậy có nghĩa là mày trốn khỏi nhà thương làm phúc và đem bán bộ quần áo nhà thương làm phúc cho có phải không? Tốt! Bây giờ chính tao sẽ điệu mày đến cảnh sát, mày sẽ bị trừng phạt vì đã làm cái trò hèn hạ này.
Nói xong Béc-ni nắm cổ áo tôi lôi về phía cảnh sát. Tình thế tôi thật là tuyệt vọng. Tôi cố sức giáng mạnh khỏi tay Béc-ni (hắn giữ tôi một cách lỏng lẻo) và ba chân bốn cẳng chạy trốn do đó mất thêm chiếc mũ. Khi tôi giằng mạnh khỏi tay Béc-ni, mũ rơi xuống đất và khi vội vã nhìn quanh xem có ai đuổi theo không tôi thấy tên bịp bợm vô lương tâm kia đang cúi xuống nhặt mũ của tôi lên và cất vào trong bị.
Tôi chạy xa phố Xa-phơ-rôn Ghin và sau khi tin chắc rằng không ai đuổi theo cả, tôi mới dừng lại và suy nghĩ về tình thế của mình. Tôi vẫn nuôi hy vọng gặp lại các bạn cũ; ngoài ra tôi còn đi kiếm việc cho mình nữa. Nhưng lang thang quanh quẩn gần các hàng quán cũng chỉ vô ích mà thôi: tôi không tìm thấy Ríp-stơn và Mô-un-đi ở đâu cả. Khi gặp tôi lũ trẻ tôi quen báo tin rằng sau lễ Thiên chúa giáng sinh không ai thấy các bạn tôi ra chợ nữa, không ai biết các bạn tôi bây giờ ẩn đâu rồi. Tôi cũng không gặp may trong việc tìm kiếm công việc. Mặc dầu trong thời gian ốm đau, tôi đã lớn lên nhiều, tôi không còn ăn mặc như trước nữa, những những người bán hàng vẫn nhận ra ngay mặt tôi.
– Mày lại xuất hiện ở đây à? Đồ ăn cắp! Cút ngay! Cuốn xéo đi khỏi đây mau! - trông thấy tôi mọi người đều quát như vậy. - Bước ngay, quân tù tội!
Ai cũng chửi rủa tôi vì tôi có bộ tóc húi theo kiểu nhà tù và vì tôi không có mũ nên cái đầu trọc tếu của tôi đập ngay vào mắt họ. Tôi không kiếm nổi một xu nào. Hôm đó tuyết không rơi nhưng có gió lạnh thổi và trời giá buốt lắm.
Từ sáng tôi đã quyết tâm không trộm cắp nữa, thậm chí tôi cũng không nghĩ đến chuyện xoáy vặt như hai bạn tôi thường làm. Tôi quyết định như vậy khi ngồi uống tách cà phê nóng, nhưng sau đó cả ngày lang thang khắp chợ mà vẫn không có gì ăn, tôi bắt đầu dao động. Cuối cùng khi trời tối hẳn, các cửa hàng bắt đầu thắp đèn, cái đói bắt lương tâm tôi phải im lặng khuất phục. Tôi quyết định dạo quanh chợ một lần nữa quyết không về tay không.
Hai phút sau tôi chạy về phố Đơ-riu-ri Lây-nơ, trong túi thủ một quả dứa to. Vào mùa này đứa rất đắt. Tôi nghe thấy ông chủ quán có quả dứa mà tôi ăn cắp được vừa chỉ vào quả này cùng sáu bảy quả khác vừa nói với người mua: “Thưa ông loại này xin ông cho mười si-linh một quả”. Tất nhiên không ai mua quả dứa của tôi với giá này; thật ra nếu không nghe rõ lời chủ quán, tôi chỉ cho rằng quả này đáng giá hai pen-ni hoặc cùng lắm là bốn pen-ni thôi, bây giờ tôi quyết định không bán dưới hai si-linh.
Trên đường tới nhà láo Bát-đi chuyên mua hoa quả ăn cắp của bọn tôi, tôi đã nhẩm tính là sẽ tiêu mười pen-ni, sáu pen-ni ăn bữa tối, bốn pen-ni dùng để ngủ trọ ở đâu đó cho qua đêm nay. Bị khổ cực suốt đêm trước tôi thấy giường chiếu để nằm ngủ cũng cần như ăn uống vậy.
Lão Bát-đi thuê phòng của một ông thợ chữa giày. Đi gần đến nơi tôi sung sướng nhìn thấy ánh đèn trong căn phòng của ông thợ giày, trên chiếc màn gió màu vàng còn in bóng bàn tay của ông ta đang xâu kim. Ông thợ giày biết tôi lắm vì vậy tôi mạnh dạn gõ cửa. Ông ta mở cửa cho tôi và có một điều làm tôi ngạc nhiên là ông ta nói với tôi như nói với kẻ xa lạ:
– Thằng bé này, mày cần gì?- ông thợ giày hỏi.
– Thưa ông, không có việc gì đâu ạ, chỉ xin ông cho cháu lên gặp cụ Bát-đi thôi.
– Cụ Bát-đi không sống ở đây nữa! Tốt nhất là mày chuồn đi cho nhanh, nếu không cảnh sát lại đến ngay đấy. Thế mà tao vẫn tưởng rằng không còn gặp đứa nào trong bọn này nữa.
– Cụ Bát-đi chuyển đi đâu ạ? - tôi lo lắng hỏi. - Xin ông bảo giúp, cháu cần gặp cụ ấy.
– Lão ta không tự ý chuyển đi đâu cả, lão bị điệu vào ngồi sau song sắt nhà tù rồi, - ông thợ giày vừa trả lời vừa lo lắng nhìn quanh. - Đi đi, - ông đẩy rôi ra ngoài phố nói thêm: - Tao đang bị theo dõi đấy... họ rình mò xem tao quen những ai... đi mau.
– Ông xem này, ông có thể thay cụ Bát-đi mua hộ cháu đi, - tôi bắt đầu lôi quả dứa ra khỏi túi, cầu khẩn, - cháu xin nhượng cho ông với giá rẻ thôi, cháu chỉ xin một si-linh hay chín pen-ni thôi cũng được.
– Cầm lấy dứa rồi cút mau lên! - ông thợ giày thét to người run bắn lên vì kích động, ông dùng đôi bàn tay bẩn thỉu trả quả dứa vào túi tôi! - tao bảo mày cút đi ngay cơ mà!
Ông xô vào tôi với vẻ giận dữ ghê gớm làm tôi phải cắm đầu chạy thẳng.
Ai cũng ghét tôi! Đáng tiếc là tôi không nhớ và không biết địa chỉ của những kẻ chuyên đi mua đồ vặt trộm cắp khác.
Mà sao tôi lại đi ăn cắp quả dứa đáng nguyền rủa này nhỉ! Đáng lẽ phải lấy cam hoặc lê mới phải! Tôi có thể bán những quả đó cho người đi đường, còn với quả dứa thì tôi biết xoay xở ra sao bây giờ. Cứ thử mời khách qua đường mua dứa xem, họ sẽ tống tôi vào sau song sắt nhà tù nơi lão già Bát-đi đang ngồi ngay. Biết làm gì bây giờ? Chỉ còn mỗi một cách là ăn quả dứa có thôi.
Tôi chưa bao giờ được ăn dứa và bây giờ tôi sẵn sàng vui vẻ đổi quả dứa này lấy mẩu bánh mì đen, nhưng tôi không còn cách lựa chọn nào khác. Đi đến Bét-phoóc tôi dừng lại trên quãng trường nơi có đủ các loại xe ngựa đỗ lộn xộn, chui vào thùng xe, ẩn trong đó và gặm hết quả dứa, ngay cả phần lõi cũng không chịu bỏ đi.
Hậu quả của bữa ăn tối quý báu này hóa ra lại vô cùng tai hại. Tôi đau bụng quá đến nỗi không động đậy được người nữa. Đến tận nửa đêm tôi còn ngồi trên xe ngựa, tay chân cóng đờ vì lạnh quá, tôi đành chui ra khỏi xe và xoa bóp người một lúc lâu.
Vừa may lúc đó tôi thấy ở một góc quảng trường có một đống phân khô của gia súc đang cháy âm ỉ, tỏa khói lên trời. Tôi chạy đến đó và suốt từ đó đến khi trời sáng tôi thoải mái nằm bên đống phân khô ấm áp.
Không nhớ rõ ngày hôm sau tôi sống thế nào. Chỉ nhớ rằng tôi lang thang khắp phố xá không có mục đích nào cả. Chập tối tôi thấy một đám người tập trung bên hè phố. Tôi đến gần hơn và thấy mọi người đang lắng nghe một thằng bé hát. Tôi cũng thử nghe xem sao. Bài hát này tôi cũng biết, đó là một trong những bài hát Ai-len[1] mà dì ghẻ tôi hay hát. Đứa bé hát cũng hay, nhưng không hiểu sao tôi thấy giọng nó hoàn toàn không phù hợp với nội dung bài ca. Tuy vậy mọi người vẫn thích nghe nó hát và sau khi nghe xong mọi người ném vào chiếc mũ lật ngửa của nó nhiều tiền đến nổi tôi trổ mắt ra vì ngạc nhiên.
“Hay là mình cũng thử hát xem sao nhỉ? - tôi thoáng có ý ấy. Dù sao đấy cũng là cách kiếm ăn lương thiện, tốt hơn là đi ăn xin và ăn cắp. Mình không có tham vọng lớn lao gì, nếu như một phần mười hoặc một phần hai mươi số người qua đường cho mình nửa pen-ni thôi thì mình cũng hài lòng rồi!”
Tôi đi tiếp vài bước, cố nhớ lại lời hát và âm điệu bài ca, sau đó dừng lại và hát.
Một phút sau có một thằng bé đứng lại nghe, sau đó thêm một cụ già, rồi thêm một phụ nữ và một chị đầy tớ tay còn cầm chai sữa cũng dừng lại.
“Chị này hẳn được sai đi làm việc gì đây, - nhìn thấy chị ta, tôi nghĩ vậy, - chị ấy dừng lại nghe. Như vậy, có nghĩa là mình hát không đến nỗi tồi.”
Tôi phấn khởi hẳn lên, tôi hát một cách tự tin hơn. Dần dần càng đông người bao quanh tôi hơn, và khi tôi hát xong, có ba, bốn người chìa tiền cho tôi. Đặc biệt bài hát của tôi làm một ông già người Ai-len đang ngà ngà say xúc động nhiều hơn cả.
– Hát như thế này mới đáng gọi là hát chứ! - ông ta nắm chặt tay tôi và kêu to. - Không phải ngày nào cũng có thể được nghe những bài hát tuyệt diệu như thế này đâu. Thế mà các vị keo kiệt, tiếc rẻ mấy đồng xu quèn, thật bủn xỉn và vô tình quá! Hát nữa đi, cháu bé ơi, khi nào hát xong bác sẽ đi thu tiền cho cháu.
– Hát đi, hát nữa đi, cháu bé ơi! - mấy người khác cũng nói to.
Tôi hào hứng hát lại bài ca Ai-len, thính giả có vẻ thích bài ấy lắm. Khi tôi hát xong, ông Ai-len cầm mũ đi một vòng quanh mọi người và đưa cho tôi một nắm tiền bằng đồng. Khi tôi cất xong cả gia tài to lớn đó vào túi và vừa mới lặng lẽ luồn khỏi đám đông thì bỗng có một bàn tay của người nào đó chạm vào vai tôi và tôi nghe thấy giọng nói của phụ nữ:
– Sao, cháu đấy ư, cháu Gim bé bỏng? Thằng bé đáng thương! Sao cháu lại làm việc này?
Trên đời này tôi chỉ sợ một người phụ nữ - đó là dì Béc-cơ, nhưng đây không phải là giọng của dì đó. Giọng nói này vừa quen thuộc vừa hiền lành. Tôi ngẩng đầu lên và trông thấy cô Mác-ta, cô là cháu bà cụ thợ giặt Uyn-síp mà tôi quen biết.
❀ ❀ ❀
[1] Ailen: một hòn đảo ở phía tây nước Anh đã từng bị Anh cai trị.