Bí Ẩn Ngôi Nhà Đỏ

Lượt đọc: 96 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Hai Người Đàn Ông Và Một Xác Chết

❊ ❊ ❊

Cayley giật mình quay lại khi nghe tiếng gọi.

– Tôi có giúp gì được không? – Antony lịch sự hỏi.

– Có chuyện rồi! – Cayley đáp, giọng hổn hển. – Tôi nghe thấy tiếng súng... nghe như tiếng súng... Lúc đó tôi đang ở thư viện. Một tiếng nổ lớn... tôi không biết đó là cái gì. Và cửa đã bị khóa lại. – Hắn lại giật mạnh nắm đấm cửa và lay lắc. – Mở cửa ra! – hắn gào lên. – Này, Mark, chuyện gì thế? Mở cửa ra!

– Nhưng hẳn là anh ta đã cố tình khóa cửa lại chứ, – Antony nói. – Vậy thì tại sao anh ta phải mở ra chỉ vì anh bảo chứ?

Cayley ngẩn người nhìn anh ta. Rồi hắn lại quay về phía cánh cửa.

– Chúng ta phải phá cửa vào thôi, – hắn nói, tì vai vào cánh cửa. – Giúp tôi một tay.

– Không có cửa sổ nào sao?

Cayley ngây người quay lại nhìn anh.

– Cửa sổ? Cửa sổ ư?

– Phá cửa sổ thì dễ hơn nhiều chứ, – Antony mỉm cười nói. Trông anh rất điềm tĩnh và thản nhiên khi đứng ngay sát lối vào sảnh, tay chống gậy và chắc hẳn đang nghĩ rằng người ta đang làm quá lên cho một chuyện chẳng có gì. Nhưng dẫu sao, anh đâu có nghe thấy tiếng súng.

– Cửa sổ... đúng rồi! Sao mình lại ngốc thế nhỉ.

Hắn lách qua người Antony và bắt đầu chạy ra khu đường xe chạy. Antony bước theo sau. Họ chạy dọc theo mặt tiền ngôi nhà, rẽ vào lối mòn bên trái, rồi lại rẽ trái một lần nữa băng qua thảm cỏ, Cayley chạy trước, người kia sát nút phía sau. Bất chợt Cayley ngoái đầu nhìn lại và khựng chân đứng sững lại.

– Ở đây này, – hắn nói.

Họ đã đến những khung cửa sổ của căn phòng bị khóa, loại cửa sổ kiểu Pháp mở ra khoảng sân cỏ ở phía sau ngôi nhà. Nhưng lúc này chúng đang đóng kín. Antony không kìm được một cảm giác kích động khi làm theo Cayley, áp sát mặt vào tấm kính. Lần đầu tiên anh tự hỏi liệu có thực sự có phát súng lục nào vang lên trong căn phòng bí ẩn này không. Mọi thứ cứ như thể vô lý và nhuốm màu kịch tính khi đứng ở bên kia cánh cửa. Nhưng nếu đã có một phát súng, thì tại sao lại không thể có thêm hai phát nữa... nhắm vào những kẻ khờ dại đang bất cẩn áp mũi vào kính và tự chuốc họa vào thân.

– Chúa ơi, anh có nhìn thấy không? – Cayley cất giọng run rẩy. – Đằng kia kìa. Nhìn đi!

Ngay khoảnh khắc tiếp theo, Antony đã nhìn thấy. Một người đàn ông đang nằm trên sàn ở phía cuối phòng, lưng quay về phía họ. Một người đàn ông? Hay xác chết của một người đàn ông?

– Ai thế? – Antony hỏi.

– Tôi không biết, – người kia thì thầm.

– Thôi được, tốt hơn hết là chúng ta vào xem sao. – Anh ngắm nghía khung cửa sổ trong chốc lát. – Tôi nghĩ nếu anh dồn trọng lượng vào đúng chỗ hai cánh cửa khít nhau, chúng sẽ bung ra được thôi. Bằng không, chúng ta có thể đá tung kính vào.

Không nói một lời, Cayley dồn sức đẩy mạnh vào đó. Cánh cửa bật mở và họ bước vào phòng. Cayley rảo bước nhanh về phía thi thể và quỵ xuống bên cạnh. Thoạt đầu hắn có vẻ chần chừ; rồi lấy hết sức, hắn đặt một tay lên vai nạn nhân và lật ngửa người đó lại.

– Tạ ơn Chúa! – hắn lầm bầm rồi buông tay ra.

– Ai thế? – Antony hỏi.

– Robert Ablett.

– Ồ! – Antony thốt lên. – Tôi cứ tưởng tên anh ta là Mark, – anh nói thêm, giống như đang tự lẩm bẩm một mình hơn là nói với người kia.

– Đúng vậy, Mark Ablett sống ở đây. Robert là em trai anh ấy. – Hắn rùng mình và nói thêm: – Tôi cứ sợ đó là Mark.

– Thế Mark cũng ở trong phòng này à?

– Phấn phải, – Cayley đáp vẻ lơ đễnh. Rồi, như thể chợt bực bội trước những câu hỏi từ một kẻ lạ mặt, hắn hỏi: – Anh là ai?

Nhưng Antony đã đi tới cánh cửa bị khóa và đang vặn nắm đấm. – Chắc là hắn ta đút chìa khóa vào túi rồi, – anh nói khi quay trở lại bên xác chết.

– Ai cơ?

Antony nhún vai.

– Bất cứ kẻ nào đã làm chuyện này, – anh nói, chỉ tay về phía người đàn ông đang nằm trên sàn.

– Anh ta chết rồi chứ?

– Giúp tôi một tay nào, – Cayley đáp gọn lỏn.

Họ lật ngửa thi thể lại, cố lấy hết can đảm để nhìn mặt nạn nhân. Robert Ablett đã bị bắn thẳng vào giữa hai mắt. Đó không phải là một cảnh tượng dễ chịu gì, và bên cạnh sự kinh hãi, Antony bỗng cảm thấy một niềm thương cảm dạt dào dành cho người đàn ông bên cạnh, cùng sự ăn năn muộn màng vì thái độ hời hợt, dễ dãi khi nãy trước sự việc này. Nhưng ngặt một nỗi, người ta vẫn thường sống với ý nghĩ rằng những chuyện thế này chẳng bao giờ xảy ra... ngoại trừ với người khác. Thật khó để tin vào chúng ngay từ khoảnh khắc đầu tiên khi chúng lại giáng xuống chính bản thân bạn.

– Anh có thân với anh ta không? – Antony hỏi nhỏ. Ý anh muốn hỏi là: "Anh có quý mến gì anh ta không?"

– Hầu như không. Mark là anh họ tôi. Ý tôi là, Mark mới là người anh em mà tôi thân thiết nhất.

– Anh họ của anh ư?

– Đúng vậy. – Hắn ngập ngừng rồi nói tiếp: – Cậu ấy chết rồi chứ? Chắc là chết rồi. Anh có... anh có biết gì về... về mấy cái thứ đó không? Hay là tôi đi lấy ít nước nhỉ?

Có một cánh cửa khác nằm đối diện với cánh cửa bị khóa, như Antony lát nữa sẽ tự mình khám phá ra, dẫn đến một hành lang thông ra hai căn phòng nữa. Cayley bước ra hành lang và mở cánh cửa bên phải. Cánh cửa thông từ phòng làm việc mà ban nãy hắn đi qua vẫn đang mở. Cánh cửa ở cuối hành lang ngắn thì đang đóng. Antony, đang quỳ bên thi thể, dõi theo bóng Cayley bằng ánh mắt, và sau khi hắn khuất dạng, anh vẫn dán mắt vào bức tường trống trải của hành lang, nhưng tâm trí anh chẳng hề đọng lại hình ảnh nào trước mắt, bởi anh đang hướng về người đàn ông kia, đầy lòng cảm thông.

– Dẫu nước chẳng có tác dụng gì với một cõi người đã chết, – anh tự nhủ, – nhưng cảm giác rằng mình đang làm một điều gì đó trong lúc rõ ràng chẳng còn việc gì để làm, lại là một sự an ủi lớn lao.

Cayley quay trở lại phòng. Tay hắn cầm một miếng bọt biển, tay kia cầm chiếc khăn tay. Hắn nhìn Antony. Antony gật đầu. Cayley lầm bầm điều gì đó rồi quỳ xuống lau mặt cho người chết. Sau đó, hắn đặt chiếc khăn tay lên phủ kín khuôn mặt nạn nhân. Một tiếng thở dài khẽ bật ra từ lồng ngực Antony, tiếng thở dài của sự nhẹ nhõm.

Họ đứng thẳng dậy và nhìn nhau.

– Nếu tôi có thể giúp được gì cho anh, – Antony nói, – xin cứ cho tôi biết.

– Thật sự rất cảm ơn lòng tốt của anh. Sẽ có rất nhiều việc phải làm đây. Cảnh sát, bác sĩ... tôi cũng chẳng rõ nữa. Nhưng anh đừng để tôi làm phiền đến lòng tốt của anh nhé. Thậm chí tôi phải xin lỗi vì đã làm phiền anh nãy giờ nhiều quá.

– Tôi đến đây để tìm Beverley. Cậu ấy là bạn cũ của tôi.

– Cậu ấy đang đi đánh gôn rồi. Sẽ về ngay thôi. – Hắn bỗng khựng lại, như thể vừa nhận ra điều gì: – Tất cả bọn họ sẽ về ngay thôi.

– Tôi sẽ ở lại nếu tôi có thể giúp ích được gì.

– Xin hãy ở lại. Anh thấy đấy, ở đây có cả phụ nữ. Sẽ rất đau lòng đấy. Nếu anh có thể... – Hắn ngập ngừng, nở nụ cười ngượng ngùng với Antony, một nụ cười đáng thương ở một người đàn ông to lớn và tự lập như thế. – Chỉ là sự ủng hộ tinh thần từ anh thôi, anh hiểu ý tôi chứ. Thế cũng quý lắm rồi.

– Tất nhiên rồi. – Antony cười đáp lại và cất giọng tươi tỉnh: – Vậy thì, tôi xin phép được bắt đầu bằng gợi ý là anh nên gọi điện cho cảnh sát.

– Cảnh sát ư? Ờ... vâng. – Hắn ái ngại nhìn người đối diện. – Tôi nghĩ...

Antony thẳng thắn nói.

– Này anh... ơ... xin lỗi, anh tên là gì nhỉ?

– Cayley. Tôi là anh họ của Mark Ablett. Tôi sống cùng anh ấy.

– Tên tôi là Gillingham. Xin lỗi, đáng lẽ tôi phải giới thiệu từ trước. Thôi được rồi, anh Cayley này, chúng ta chẳng giải quyết được gì bằng cách giả vờ như không có chuyện gì xảy ra cả. Ở đây có một người đàn ông vừa bị bắn... ừ thì, có kẻ đã bắn anh ta.

– Cậu ấy có thể tự sát cơ mà, – Cayley lầm bầm.

– Phải, anh ta hoàn toàn có thể tự sát, nhưng sự thật là không phải vậy. Hoặc nếu đúng là thế, thì đã có kẻ khác ở trong phòng vào thời điểm đó, và kẻ đó giờ không còn ở đây nữa. Hắn ta còn mang theo cả khẩu súng rời đi. Này, cảnh sát chắc chắn sẽ muốn hỏi vài điều về chuyện đó đấy, đúng không?

Cayley im lặng, cúi đầu nhìn xuống đất.

– Ồ, tôi thừa biết anh đang nghĩ gì, và xin tin là tôi rất thông cảm với anh, nhưng chúng ta không thể cư xử như trẻ con trong chuyện này được. Nếu anh họ anh, Mark Ablett, có mặt trong phòng cùng với... – anh hất hàm chỉ về phía thi thể – ...người đàn ông này, thì...

– Ai bảo là cậu ấy có mặt ở đó? – Cayley bỗng ngẩng phắt đầu lên, cộc lốc hỏi Antony.

– Chính anh vừa nói còn gì.

– Tôi ở thư viện. Mark bước vào đó... có thể cậu ấy đã đi ra lúc nào không biết... tôi chịu hoàn toàn. Biết đâu lại có kẻ khác lẻn vào thì sao...

– Vâng, vâng, – Antony điềm đạm đáp, như thể đang dỗ dành một đứa trẻ. – Anh rõ tính anh họ anh; còn tôi thì không. Cứ cho là anh ấy chẳng dính dáng gì đến chuyện này đi. Nhưng rõ ràng đã có ai đó ở trong phòng khi người đàn ông này bị bắn, và... chà, cảnh sát sẽ phải làm rõ chuyện đó. Anh không nghĩ vậy sao... – Anh liếc nhìn chiếc điện thoại. – Hay là anh muốn tôi gọi giúp?

Cayley nhún vai rồi bước tới bên chiếc điện thoại.

– Tôi có thể... ơ... đi quanh đây xem xét một chút chứ? – Antony ra hiệu về phía cánh cửa đang mở.

– Ồ, cứ tự nhiên. Vâng. – Hắn ngồi xuống, kéo chiếc điện thoại về phía mình. – Anh phải thông cảm cho tôi đấy, anh Gillingham ạ. Anh thấy đấy, tôi quen Mark đã lâu lắm rồi. Nhưng dĩ nhiên là anh hoàn toàn đúng, còn tôi thì chỉ đang cư xử ngốc nghếch mà thôi. – Hắn nhấc ống nghe lên.

Giả sử rằng, để làm quen bước đầu với "phòng làm việc" này, chúng ta bước vào từ sảnh chính qua cánh cửa hiện đang bị khóa, nhưng vì sự thuận tiện đặc biệt của chúng ta, nó đã được mở khóa một cách kỳ diệu. Khi chúng ta đứng ngay bên trong cửa, chiều dài của căn phòng trải dài sang hai bên trái phải; hay chính xác hơn là chỉ sang bên phải thôi, bởi bức tường bên trái đã nằm trong tầm với của chúng ta rồi. Ngay phía trước chúng ta, băng qua bề rộng căn phòng (khoảng mười lăm phút... à nhầm, mười lăm bước chân), là cánh cửa thứ hai mà Cayley đã đi ra và quay lại cách đây vài phút. Ở bức tường bên phải, cách chúng ta ba mươi bước chân, là những ô cửa sổ kiểu Pháp. Băng qua căn phòng và đi ra bằng cánh cửa đối diện, chúng ta bước vào một hành lang dẫn tới hai căn phòng. Căn phòng bên phải, nơi Cayley vừa bước vào, có chiều dài chưa bằng một nửa phòng làm việc, là một căn phòng nhỏ hình vuông, rõ ràng đã có lúc từng được dùng làm phòng ngủ. Chiếc giường không còn ở đó nữa, nhưng trong góc có một cái chậu rửa mặt với vòi nước nóng lạnh; vài chiếc ghế; một hai cái tủ và một chiếc tủ kéo. Cửa sổ hướng về phía giống hệt như những ô cửa sổ kiểu Pháp ở căn phòng bên cạnh; nhưng bất kỳ ai nhìn ra từ cửa sổ phòng ngủ sẽ bị che khuất tầm nhìn sang phía bên phải bởi bức tường ngoài của phòng làm việc, vốn nhô ra thêm mười lăm bước chân ra tận thảm cỏ do chiều dài lớn hơn.

Căn phòng ở phía bên kia phòng ngủ là một phòng tắm. Trên thực tế, ba căn phòng này hợp lại thành một dạng dãy phòng khép kín; có lẽ từng được sử dụng vào thời chủ nhân trước bởi một bệnh nhân nào đó không thể leo cầu thang, nhưng đã bị Mark bỏ hoang phế chẳng dùng đến nữa, ngoại trừ phòng khách. Dù thế nào đi nữa, chưa bao giờ anh ta ngủ ở tầng trệt cả.

Antony liếc nhìn phòng tắm, rồi tò mò đi sang phòng ngủ, căn phòng mà Cayley vừa ghé qua. Cửa sổ đang mở, anh phóng tầm mắt nhìn ra thảm cỏ được cắt tỉa chăm chút bên dưới cùng dải công viên yên bình phía xa; và anh cảm thấy vô cùng thương cảm cho chủ nhân của toàn bộ cơ ngơi này, kẻ giờ đây lại vướng vào một vụ việc rùng rợn đến thế.

– Cayley đinh ninh rằng chính cậu ta đã làm chuyện đó, – Antony tự nhủ. – Rõ mười mươi rồi còn gì. Điều đó giải thích tại sao hắn lại tốn bao nhiêu thời gian đập cửa ầm ầm đến thế. Tại sao hắn lại cố phá ổ khóa trong khi việc phá cửa sổ lại dễ dàng hơn nhiều chứ? Dĩ nhiên là có thể hắn đã hoảng loạn mất kiểm soát; mặt khác, cũng có khả năng là... chà, có thể hắn muốn tạo cơ hội cho người anh họ cao chạy xa bay thì sao. Tương tự như vậy với chuyện gọi cảnh sát, rồi... ồ, đủ thứ chuyện trên đời. Ví như tại sao lúc nãy chúng ta lại phải chạy vòng vo cả cái nhà để ra tới cửa sổ nhỉ? Chắc chắn phải có lối đi tắt ra phía sau qua sảnh chính chứ. Lát nữa mình phải đi kiểm tra lại mới được.

Có thể thấy rằng, Antony hoàn toàn không hề mất đi sự bình tĩnh.

Có tiếng bước chân ngoài hành lang, anh quay người lại và thấy Cayley đang đứng ở ngưỡng cửa. Anh lặng lẽ nhìn hắn trong chốc lát, tự đặt cho mình một câu hỏi. Quả là một câu hỏi khá kỳ lạ. Anh đang tự hỏi tại sao cánh cửa lại đang mở.

À, không hẳn là thắc mắc tại sao cửa mở; điều đó thì giải thích dễ thôi. Nhưng tại sao ban nãy anh lại đinh ninh rằng cánh cửa phải đóng? Anh vốn chẳng nhớ mình đã khép cửa, thế mà không hiểu sao anh lại thấy ngạc nhiên khi thấy nó đang mở toang thế này, khi thấy Cayley bước qua khung cửa để vào phòng. Có cái gì đó hoạt động trong tiềm thức đã mách bảo anh rằng điều đó thật bất ngờ. Tại sao nhỉ?

Anh tạm cất vấn đề đó vào một góc tâm trí; rồi câu trả lời sẽ tự khắc tìm đến thôi. Anh sở hữu một trí nhớ siêu phàm. Mọi thứ anh nhìn thấy hay nghe được dường như đều để lại những dấu ấn tương ứng đâu đó trong bộ não; thường là khi anh còn chưa ý thức được điều đó; và những khoảnh khắc lưu dấu như phim chụp ấy luôn sẵn sàng ở đó bất cứ khi nào anh muốn rửa chúng ra.

Cayley bước đến bên cửa sổ cùng anh.

– Tôi gọi điện xong rồi, – hắn nói. – Họ đang cử một thanh tra hoặc người nào đó ở Middleston tới, cùng cảnh sát địa phương và bác sĩ ở Stanton. – Hắn nhún vai. – Lần này thì chúng ta tiêu thật rồi.

– Middleston cách đây bao xa? – Đó chính là thị trấn mà Antony đã mua vé tàu vào sáng nay... mới chỉ sáu tiếng đồng hồ trước. Mới mẻ làm sao mà cũng thật ngớ ngẩn làm sao.

– Khoảng hai mươi dặm. Mấy người kia sắp về đến nơi rồi đấy.

– Beverley và những người khác ấy à?

– Phải. Tôi đoán là họ sẽ muốn chuồn khỏi đây ngay lập tức cho mà xem.

– Thế thì tốt hơn biết mấy.

– Ừ. – Cayley trầm ngâm im lặng một lát. Rồi hắn cất lời: – Anh đang trọ ở đâu gần đây à?

– Tôi ở nhà trọ “The George” ở Woodham.

– Nếu anh đi có một mình, tôi ước gì anh có thể dọn đến đây ở. Anh thấy đấy, – hắn ngập ngừng nói tiếp, – anh sẽ phải ở lại đây... vì vụ... vụ điều tra... và đủ thứ khác nữa. Nếu tôi được phép đại diện chủ nhà mời anh... ý tôi là nếu cậu ấy không... nếu cậu ấy thực sự đã...

Antony vội vã cắt lời để bày tỏ lời cảm ơn và nhận lời.

– Thế thì tốt quá. Có lẽ Beverley cũng sẽ ở lại nếu cậu ta là bạn của anh. Cậu ấy là một người tốt.

Từ những gì Cayley vừa nói và cả những điều hắn còn ngập ngừng không dám nói, Antony hoàn toàn tin chắc rằng Mark chính là người cuối cùng nhìn thấy em trai mình còn sống. Điều đó không có nghĩa Mark Ablett là kẻ sát nhân. Súng lục đôi khi càn càn cướp cò; và khi nó đã nổ, người ta thường hoảng loạn tháo chạy vì sợ rằng câu chuyện của mình sẽ chẳng ai tin. Dù vậy, khi người ta bỏ chạy, dù là vô tình hay có tội, người ta vẫn không khỏi tò mò muốn biết họ đã đi theo hướng nào.

– Chắc là lối này rồi, – Antony vừa nói lớn vừa nhìn ra ngoài cửa sổ.

– Ai cơ? – Cayley bướng bỉnh hỏi.

– Thì bất cứ kẻ nào đã làm chuyện đó, – Antony mỉm cười đáp. – Kẻ sát nhân. Hay nói cách khác, là kẻ đã khóa trái cửa sau khi Robert Ablett bị sát hại.

– Tôi tự hỏi...

– Chà, nếu không thì hắn ta chuồn bằng cách nào được chứ? Hắn đâu có đi lối cửa sổ ở căn phòng bên cạnh, vì chúng đã đóng kín cơ mà.

– Chẳng phải điều đó hơi kỳ lạ sao?

– Ờ, ban đầu tôi cũng nghĩ thế, nhưng mà... – Anh chỉ tay về phía bức tường nhô ra ở bên phải. – Anh thấy đấy, ta sẽ được che khuất khỏi phần còn lại của ngôi nhà nếu thoát ra lối này, lại ở rất gần với bụi cây rậm nữa. Nếu đi ra bằng cửa sổ kiểu Pháp, tôi đoán là sẽ dễ bị phát hiện hơn nhiều. Toàn bộ phần đó của ngôi nhà... – anh khua khoả bàn tay phải – ...phía tây, ừm, suýt chút nữa là tây bắc, nơi có khu bếp núc ấy... anh thấy đấy, ta sẽ hoàn toàn bị che khuất khỏi tầm nhìn từ hướng đó. Ồ, đúng vậy! Kẻ đó rất thông thuộc ngôi nhà, bất kể hắn là ai, và hắn đã vô cùng khôn ngoan khi thoát ra bằng khung cửa sổ này. Hắn sẽ biến vào lùm cây ngay lập tức.

Cayley đăm chiêu nhìn anh.

– Tôi thấy thế này, anh Gillingham ạ, anh am hiểu ngôi nhà này khá đấy chứ, tính ra đây mới là lần đầu tiên anh đặt chân tới đây mà.

Antony phì cười.

– Ồ, chà, tôi hay để ý mọi thứ ấy mà. Bản tính sinh ra đã thế rồi. Nhưng tôi đóan chuẩn chứ, về lý do tại sao hắn lại chuồn theo hướng này ấy?

– Vâng, tôi nghĩ anh đoán đúng. – Cayley quay mặt đi... hướng về phía bụi cây rậm. – Thế anh có muốn vào trong đó để "quan sát" tiếp không? – Hắn hất cằm về phía đó.

– Tôi nghĩ chúng ta nên để việc đó cho cảnh sát thì hơn, – Antony nhẹ nhàng nói. – Chuyện đó... ừm, đâu có gì phải vội.

Cayley khẽ thở phào một tiếng, như thể hắn đã nín thở chờ đợi câu trả lời và giờ mới có thể thở lại bình thường.

– Cảm ơn anh, anh Gillingham, – hắn nói.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của A. A. Milne

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.