Cayley định giấu thứ gì ở cái ao đó vào đêm nay? Antony nghĩ giờ thì cậu đã đoán ra. Đó chính là thi thể của Mark.
Ngay từ đầu, cậu đã thấy trước câu trả lời này nhưng lại lùi bước trước nó. Bởi vì, nếu Mark đã bị sát hại, thì đó quả là một vụ án mạng đầy máu lạnh. Liệu Cayley có đủ tàn nhẫn để làm việc đó không? Bill hẳn sẽ nói là “Không”, nhưng đó là vì cậu ấy từng ăn sáng, ăn trưa và ăn tối cùng Cayley; từng trêu đùa và chơi thể thao với hắn. Bill sẽ nói “Không”, bởi chính bản thân Bill chẳng thể đời nào ra tay sát hại ai một cách máu lạnh, và vì cậu cứ đinh ninh rằng người khác cũng cư xử chẳng khác gì mình. Thế nhưng Antony không hề ảo tưởng như vậy. Vẫn có những vụ án mạng xảy ra; và ở nơi này, một mạng người đã thực sự bị tước đoạt, bằng chứng là cái xác của Robert nằm đó. Vậy tại sao lại không thể có thêm một mạng người nữa cơ chứ?
Liệu chiều hôm đó Mark có thực sự có mặt ở văn phòng không? Bằng chứng duy nhất (ngoài lời của Cayley, vốn hiển nhiên không có giá trị) chính là lời kể của Elsie. Elsie hoàn toàn chắc chắn rằng cô đã nghe thấy tiếng của Mark. Nhưng rồi Bill lại bảo đó là một giọng nói rất đặc trưng — một chất giọng dễ dàng bắt chước. Nếu Bill có thể bắt chước thành công đến vậy, thì tại sao Cayley lại không thể?
Nhưng biết đâu đây lại không phải là một vụ giết người máu lạnh đến thế. Giả sử vào chiều hôm đó, Cayley đã cãi nhau với người anh họ vì cô gái mà cả hai đang theo đuổi. Giả sử Cayley đã giết Mark, dù là có chủ ý trong một phút nóng giận, hay chỉ vô tình khi định hạ gục anh ta. Giả sử chuyện đó xảy ra ở hành lang, chẳng hạn vào khoảng hai giờ, hoặc vì Cayley đã có ý đồ dẫn anh ta đến đó, hoặc vì bản thân Mark tình cờ đề nghị ghé qua nơi ấy. (Người ta có thể mường tượng ra cảnh Mark cứ mãi hoài niệm về cái hành lang bí mật đó). Giả sử Cayley đứng đó, với cái xác nằm dưới chân, cảm nhận rõ chiếc thòng lọng đang siết quanh cổ; tâm trí hắn hoảng loạn tung tóe tìm kiếm lối thoát; và giả sử trong khoảnh khắc bất chợt chẳng liên quan gì, hắn nhớ ra Robert sẽ đến nhà vào lúc ba giờ chiều hôm đó — hắn tự động liếc nhìn đồng hồ — chỉ còn nửa tiếng nữa... Chỉ còn nửa tiếng nữa. Hắn phải nghĩ ra cách gì thật nhanh, thật nhanh. Liệu hắn có nên chôn vùi cái xác ngay tại hành lang để mọi người tưởng rằng Mark đã bỏ trốn vì sợ hãi trước viễn cảnh người anh trai trở về? Nhưng còn bằng chứng từ bàn ăn sáng thì sao. Mark có vẻ khó chịu trước sự xuất hiện bất ngờ của đứa con hoang đàng đó, nhưng chắc chắn không hề sợ hãi. Không; câu chuyện đó quá ư ngớ ngẩn. Nhưng giả sử Mark thực sự đã chạm trán anh trai và xảy ra cãi vã; giả sử có thể dàn cảnh để trông như thể Robert mới là kẻ đã giết Mark —
Antony tự vẽ ra trong đầu viễn cảnh Cayley đang đứng giữa hành lang, cúi nhìn thi thể người anh họ và tính toán mọi đường đi nước bước. Làm sao có thể biến Robert thành kẻ sát nhân, trong khi Robert vẫn còn sống để chối cãi? Nhưng giả sử Robert cũng đã chết thì sao?
Hắn lại nhìn đồng hồ. (Bây giờ chỉ còn vỏn vẹn hai mươi lăm phút). Giả sử Robert cũng đã chết? Robert chết trong văn phòng, còn Mark chết ở hành lang — điều đó thì giúp ích được gì chứ? Thật điên rồ! Nhưng nếu gom hai cái xác lại với nhau bằng cách nào đó và biến cái chết của Robert thành một vụ tự sát?... Liệu điều đó có khả thi không?
Lại một sự điên rồ nữa. Quá khó. (Giờ thì chỉ còn hai mươi phút). Quá khó để dàn xếp chỉ trong vòng hai mươi phút. Không thể tự dựng lên một vụ tự sát được. Quá khó... Chỉ còn mười chín phút...
Và rồi tia sáng lóe lên bất ngờ! Robert chết trong văn phòng, xác của Mark được giấu trong hành lang — thật bất khả thi nếu biến Robert thành kẻ giết người, nhưng sao mà dễ dàng biết bao khi đổ tội cho Mark! Robert đã chết còn Mark thì biến mất; chà, điều đó đập ngay vào mắt. Mark đã vô tình sát hại Robert — vâng, khả năng đó cao hơn — rồi sau đó bỏ trốn. Cơn hoảng loạn bất chợt ập đến... (Hắn lại nhìn đồng hồ. Mười lăm phút, nhưng giờ thì thời gian còn dư dả chán. Mọi chuyện tự khắc sắp xếp ổn thỏa).
Liệu đó có phải là lời giải, Antony tự hỏi. Nó dường như khớp với các dữ kiện mà họ đã biết; nhưng ngẫm lại, giả thuyết kia mà cậu từng gợi ý cho Bill vào buổi sáng cũng khớp chẳng kém.
“Giả thuyết nào cơ?” Bill hỏi.
Họ đã đi bộ từ Jallands xuyên qua công viên và đang ngồi trên khu rừng thưa nằm bên sườn đồi nhìn xuống cái ao, nơi mà viên Thanh tra cùng đám ngư dân lúc này đã rời đi. Bill lắng nghe câu chuyện của Antony với cái há hốc mồm, và ngoại trừ dăm ba câu thốt lên “Trời ạ!”, cậu cứ thế im lặng lắng nghe từ đầu đến cuối. “Cayley đúng là một tay ranh mãnh,” đó là lời nhận xét duy nhất của cậu khi nghe xong.
“Giả thuyết nào cơ chứ?”
“Rằng Mark đã vô tình sát hại Robert rồi đến tìm Cayley cầu cứu, và Cayley, sau khi giấu hắn vào hành lang, đã khóa cửa văn phòng lại từ bên ngoài rồi đập thình thịch vào cửa.”
“Đúng thế, nhưng cậu cứ làm ra vẻ bí hiểm đến phát bực ở điểm đó. Tớ đã hỏi ý chính của việc đó là gì, nhưng cậu có chịu hé răng nửa lời đâu.” Cậu ngẫm nghĩ một lát rồi nói tiếp, “Ý cậu là Cayley đã nhẫn tâm phản bội Mark, và cố tình dựng hiện trường để biến anh ta thành kẻ sát nhân phải không?”
“Tớ muốn cảnh báo cậu rằng chúng ta có lẽ sẽ tìm thấy Mark ở dưới hành lang, dù còn sống hay đã chết.”
“Và giờ thì cậu không nghĩ thế nữa à?”
“Giờ thì tớ nghĩ thi thể của anh ta đang ở đó.”
“Ý cậu là Cayley đã xuống tay sát hại hắn sau đó — sau khi chúng ta đến, sau khi cảnh sát đã đến á?”
“Chà, đó là điều khiến tớ thấy ghê sợ, Bill ạ. Mọi thứ thật quá ư máu lạnh. Cayley có lẽ đủ khả năng làm thế, nhưng tớ chẳng dám nghĩ đến điều đó.”
“Nhưng cho dù thế đi nữa, cách giải thích kia của cậu cũng đủ máu lạnh rồi còn gì. Theo như cậu suy diễn, hắn ta đi lên văn phòng và lạnh lùng bắn chết một kẻ chẳng có thù hằn gì với mình, một người mà hắn đã mười lăm năm trời không giáp mặt!”
“Đúng vậy, nhưng là để bảo vệ cái cổ của chính hắn. Điều đó tạo nên sự khác biệt. Giả thuyết của tớ là hắn đã cãi vã kịch liệt với Mark vì chuyện cô gái, rồi tớn lên sát hại anh ta trong một phút nóng giận. Bất cứ chuyện gì xảy ra sau đó cũng chỉ là để tự vệ thôi. Tớ không có ý bào chữa cho hành động đó, nhưng tớ hiểu được nguyên nhân. Và tớ tin rằng thi thể của Mark đang nằm ở hành lang lúc này, và đã ở đó từ lúc, giả sử là, hai rưỡi chiều hôm qua. Để rồi đêm nay Cayley sẽ đem vứt nó xuống ao phi tang.”
Bill bứt từng nhúm rêu trên mặt đất bên cạnh, ném đi vài bã rồi chậm rãi nói: “Cậu có thể đúng, nhưng suy cho cùng đó cũng chỉ là phỏng đoán mà thôi.”
Antony phì cười.
“Trời ạ, tất nhiên là phỏng đoán rồi,” cậu nói. “Và đêm nay chúng ta sẽ biết phỏng đoán đó đúng hay sai.”
Bill bỗng trở nên phấn chấn hẳn lên.
“Đêm nay á,” cậu nói. “Này, đêm nay hứa hẹn sẽ khá là thú vị đấy. Chúng ta sẽ hành động thế nào đây?”
Antony trầm ngâm một lát.
“Dĩ nhiên là,” cuối cùng cậu cũng lên tiếng, “lẽ ra chúng ta nên báo cảnh sát, để họ có thể đến đây và mai phục quanh cái ao vào đêm nay.”
“Tất nhiên rồi,” Bill cười toe toét.
“Nhưng tớ nghĩ có lẽ vẫn còn hơi sớm để trình bày các giả thuyết của chúng ta trước họ.”
“Tớ nghĩ có lẽ là vậy,” Bill ra điều nghiêm nghị đáp.
Antony ngước nhìn cậu với nụ cười bất chợt.
“Bill, đồ ranh con.”
“Thì chứ sao, đây là vở diễn của chúng ta mà. Tớ không thấy có lý do gì mà chúng ta không tự tìm chút niềm vui từ nó cả.”
“Tớ cũng nghĩ vậy. Thôi được rồi, tối nay chúng ta sẽ hành động mà không cần cảnh sát.”
“Chúng ta sẽ nhớ họ lắm đây,” Bill nói với giọng điệu tiếc nuối, “nhưng thà vậy còn hơn.”
Trước mắt họ đang có hai vấn đề cần giải quyết: thứ nhất, làm sao để rời khỏi nhà mà không bị Cayley phát hiện, và thứ hai, làm thế nào để vớt lên thứ mà Cayley sẽ ném xuống ao vào đêm nay.
“Hãy đặt mình vào góc độ của Cayley đi,” Antony nói. “Hắn có thể chưa biết chúng ta đang bám theo sát gót, nhưng hắn chắc chắn sẽ hoài nghi chúng ta. Hắn buộc phải đề cao cảnh giác với mọi người trong nhà, đặc biệt là chúng ta, bởi vì suy cho cùng chúng ta thông minh hơn những kẻ khác.”
Cậu dừng lại một chút để châm tẩu thuốc, và Bill chớp lấy cơ hội để làm ra vẻ thông minh hơn cả bà Stevens.
“Giờ thì, đêm nay hắn có thứ cần che giấu, và hắn sẽ cẩn trọng để chắc rằng chúng ta không theo dõi hắn. Nào, hắn sẽ làm gì?”
“Đảm bảo rằng chúng ta đã ngủ say trước khi hắn ra tay.”
“Đúng thế. Đến đắp chăn cho chúng ta, và kiểm tra xem chúng ta đã nằm ngủ thoải mái chưa.”
“Ừ, rắc rối phết nhỉ,” Bill nói. “Nhưng chúng ta có thể khóa cửa phòng lại, khi đó hắn sẽ chẳng biết chúng ta có ở trong phòng hay không.”
“Cậu đã bao giờ khóa cửa phòng ngủ chưa?”
“Chưa bao giờ.”
“Đấy. Và cậu có thể cá là Cayley thừa biết điều đó. Dù sao đi nữa, hắn sẽ đập cửa, và cậu thì không đáp lời, rồi khi ấy hắn sẽ nghĩ gì cơ chứ?”
Bill im bặt; cứng họng.
“Thế thì tớ không hiểu chúng ta sẽ làm cách nào để qua mặt hắn đây,” cậu nói sau một hồi trầm ngâm suy nghĩ. “Hiển nhiên là hắn sẽ đến gặp chúng ta ngay trước khi hành sự, và điều đó chẳng chừa cho chúng ta thời gian để ra tới cái ao trước hắn.”
“Hãy đặt mình vào vị trí của hắn đi,” Antony vừa nhả khói tẩu thong thả vừa nói. “Hắn đang giữ cái xác, hoặc bất cứ thứ gì tương tự, ở ngoài hành lang. Hắn sẽ không ôm nó trên tay rồi đi lên lầu, ghé qua từng phòng để ngó xem chúng ta đã ngủ chưa đâu. Hắn phải chắc chắn rằng chúng ta đã ngủ say trước đã, rồi mới quay lại lấy cái xác sau. Thế nên điều đó sẽ cho chúng ta một chút thời gian.”
“Ờ... ừm,” Bill đăm chiêu đáp. “Chúng ta có thể vừa kịp lúc, nhưng sẽ hơi cập rập đấy.”
“Nhưng chờ đã. Khi hắn đã xuống hành lang và lấy được cái xác, bước tiếp theo hắn sẽ làm gì?”
“Đi ra ngoài chứ gì,” Bill đáp như một cách góp ý.
“Đúng; nhưng đi ra bằng lối nào?”
Bill giật mình ngồi bật dậy.
“Trời ạ, ý cậu là hắn sẽ chuồn ra bằng lối cửa sau chỗ sân chơi bowling ấy hả?”
“Cậu không nghĩ thế sao? Thử hình dung cảnh hắn bước đi trên thảm cỏ giữa thanh thiên bạch nhật — à nhầm, giữa đêm hôm khuya khoắt — với một cái xác trên tay. Hãy nghĩ xem cái cảm giác ớn lạnh sống lưng khi hắn thầm nơm nớp lo sợ không biết có ai đó, một kẻ trớ trêu nào đó mất ngủ lại chọn đúng thời điểm này để bước tới cửa sổ ngó ra ngoài trời đêm. Đêm nay trăng vẫn còn sáng lắm đấy, Bill ạ. Liệu hắn có dám lê bước băng qua công viên dưới ánh trăng, với tất cả những ô cửa sổ đang chằm chằm nhìn vào hắn không? Trừ khi bất đắc dĩ lắm hắn mới làm thế. Nhưng hắn có thể trốn ra bằng lối sân chơi bowling, rồi tiến thẳng ra ao mà chẳng hề bị ai ở trong nhà nhìn thấy.”
“Cậu nói phải. Và chừng đó thời gian là vừa vặn với chúng ta. Tuyệt. Giờ thì bước tiếp theo là gì?”
“Bước tiếp theo là đánh dấu chính xác vị trí trong ao nơi hắn ném xuống — bất cứ thứ gì mà hắn thả xuống.”
“Để chúng ta có thể vớt nó lên lại.”
“Nếu chúng ta nhìn rõ đó là thứ gì, thì chẳng cần phải mò lên làm gì. Cứ để cảnh sát lo việc đó vào ngày mai. Nhưng nếu đó là một thứ mà chúng ta không thể nhận diện từ khoảng cách xa, thì buộc lòng chúng ta phải tìm cách vớt nó lên. Để xem xem nó có đáng để báo cảnh sát hay không.”
“Ờ... ừm,” Bill nhăn mặt lẩm bẩm. “Tất nhiên là, cái khổ của việc mò mẫm dưới nước là chỗ này trông chẳng khác gì chỗ kia. Tớ không biết là cậu đã tính đến chuyện đó chưa.”
“Tớ tính rồi chứ,” Antony mỉm cười. “Nào, chúng ta ra đó ngó thử xem sao.”
Họ bước ra rìa khu rừng thưa, lặng lẽ nằm xuống đó và phóng tầm mắt nhìn xuống cái ao bên dưới.
“Thấy gì chưa?” Cuối cùng Antony cất lời.
“Cái gì cơ?”
“Hàng rào ở bờ bên kia kìa.”
“Thì sao nào?”
“Chà, nó khá là hữu dụng đấy, thế thôi.”
“Sherlock Holmes vừa thốt lên một câu đầy vẻ thâm thúy,” Bill chêm vào. “Ngay khoảnh khắc tiếp theo, người bạn thân Watson của ông đã xô thẳng ông xuống ao.”
Antony phì cười.
“Tớ rất thích hóa thân thành Sherlock đấy,” cậu nói. “Cậu thật bất công khi cứ phá đám không chịu diễn cùng tớ.”
“Tại sao cái hàng rào đó lại hữu dụng vậy, ngài Holmes kính mến?” Bill ngoan ngoãn phối hợp hỏi.
“Vì cậu có thể lấy nó làm mốc ngắm định hướng. Cậu thấy đấy—”
“Rồi, cậu không cần phải dừng lại để giảng giải cho tớ mốc ngắm là gì đâu.”
“Tớ có định giải thích đâu. Nhưng cậu đang nằm ở đây này” — cậu ngước lên — “ngay dưới gốc cây thông này. Cayley bơi chiếc thuyền cũ ra và thả gói đồ của hắn xuống. Cậu ngắm một đường thẳng từ đây hướng về chiếc thuyền, rồi dóng thẳng sang hàng rào đằng kia. Giả sử đó là cột mốc thứ năm tính từ đầu hồi. Ồ, thế thì tớ sẽ ngắm một đường thẳng từ cây của tớ — chốc nữa chúng ta sẽ tìm một cây cho tớ — và nó sẽ trùng với, giả sử là, cột mốc thứ hai mươi. Và tại giao điểm của hai đường thẳng ấy, bầy đại bàng sẽ tụ hội về. Q.E.D. Và tại đó, suýt chút nữa tớ quên mất không báo trước, là lúc vị đại bàng cao kều mang tên Beverley sẽ thực hiện màn trình diễn lặn trứ danh của anh ta. Giống như những gì diễn ra hàng đêm tại rạp Hippodrome vậy.”
Bill nhìn cậu với vẻ mặt đầy lo âu.
“Này, thật đấy à? Cậu biết thừa là nước ở cái ao đó bẩn kinh khủng mà.”
“Tớ e là vậy đấy, Bill. Sách Jasher đã ghi chép rành rành như thế rồi.”
“Dĩ nhiên là tớ biết thể nào một trong hai đứa cũng sẽ phải nhảy xuống, nhưng tớ cứ nuôi hy vọng... ồ mà thôi, dẫu sao thì trời đêm nay cũng ấm áp chán.”
“Đúng là thời tiết lý tưởng để tắm đêm,” Antony đồng tình khi đứng dậy. “Thôi nào, giờ thì đi tìm cái cây dành riêng cho tớ thôi.”
Họ đi xuống mép ao rồi quay người nhìn ngược lên. Cây thông của Bill đứng sừng sững đón ánh chiều tà, cao lớn và không thể nhầm lẫn vào đâu được, vươn mình lên cao hơn những cây xung quanh khoảng năm mươi foot. Nhưng ở đầu bên kia của khu rừng thưa cũng có một cái cây tương tự, có lẽ không cao bằng, nhưng độ nổi bật thì kẻ tám lạng người nửa cân.
“Đó sẽ là vị trí của tớ,” Antony nói vừa chỉ tay về phía nó. “Giờ thì, vì Chúa đấy, hãy đếm cho chính xác số cột rào vào đấy.”
“Cảm ơn cậu nhiều nhé, nhưng tớ tự lo cho cái thân tớ trước đã,” Bill nói với giọng đầy cảm thán. “Tớ chẳng có hứng thú ngâm mình lặn ngụp suốt cả đêm đâu.”
“Hãy chọn lấy một cột rào nằm trên đường thẳng nối từ chỗ cậu đứng đến chỗ mặt nước tung bọtm rồi đếm lùi về phía điểm bắt đầu của hàng rào.”
“Được rồi, anh bạn già. Cứ để đấy cho tớ. Trò này muỗi với tớ thôi.”
“Ừm, chắc là cậu sẽ phải dùng đến cái đầu đúng nghĩa đen khi thực hiện phần việc cuối cùng đấy,” Antony mỉm cười nói.
Cậu liếc nhìn đồng hồ. Đã gần đến giờ thay trang phục ăn tối. Cả hai bắt đầu sóng bước quay trở lại nhà.
“Có một điều khiến tớ cứ canh thỏm mãi,” Antony nói. “Phòng ngủ của Cayley nằm ở đâu thế?”
“Sát vách phòng tớ. Hỏi làm gì vậy?”
“Chà, hoàn toàn có khả năng hắn sẽ ghé qua phòng cậu kiểm tra thêm lần nữa sau khi từ ao quay về. Tớ nghĩ bình thường thì hắn chẳng rảnh rỗi thế đâu, nhưng nếu tiện đường đi qua phòng cậu, tớ nghĩ hắn sẽ ngó vào đấy.”
“Tớ có ở đó đâu. Tớ đang bận ngụp lặn dưới đáy ao húp bùn rồi còn gì.”
“Ừm... Cậu có nghĩ mình nên để lại thứ gì đó trên giường trông lờ mờ giống cậu trong bóng tối không? Một chiếc gối ôm quấn quanh chiếc áo pijama, để thò một cánh tay ra ngoài chăn, còn phần đầu thì dùng đôi tất hay đại loại thế cuộn lại. Cậu biết kiểu giả dạng đó mà. Tớ nghĩ hắn sẽ thấy yên tâm hơn khi trông thấy cậu vẫn đang yên giấc nồng.”
Bill khúc khích cười thầm.
“Được chứ. Tớ rất có khiếu mấy vụ này đấy. Tớ sẽ làm ra một hình nộm trông thật ra trò cho hắn xem. Thế còn cậu thì sao?”
“Phòng tớ ở tận đầu bên kia nhà; hắn đời nào lại mất công bận tâm đến tớ lần thứ hai. Hơn nữa lúc hắn ghé qua lần đầu tớ đã lăn ra ngủ say như chết rồi còn gì. Dù sao thì... cứ cẩn thận vẫn hơn.”
Họ bước vào trong nhà. Cayley đang đứng ở sảnh khi họ vừa về tới. Hắn gật đầu chào và rút đồng hồ ra xem.
“Đến giờ thay đồ rồi à?” hắn hỏi.
“Sắp rồi,” Bill đáp.
“Cậu không quên bức thư của tôi chứ?”
“Tớ không quên đâu. Thực tế là chúng tớ đã dùng trà ở đó đấy.”
“À!” Hắn quay mặt đi và thản nhiên hỏi, “Mọi người trên đó thế nào?”
“Họ gửi đủ thứ lời thăm hỏi động viên đến anh, và... và đại loại thế.”
“Ồ, vậy sao.”
Bill đứng chờ xem hắn có nói thêm điều gì nữa không, nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu, cậu bèn quay người, cất giọng: “Đi thôi, Tony,” rồi dẫn đầu bước lên lầu.
“Đã chuẩn bị đủ thứ cậu cần chưa?” cậu hỏi khi lên đến chiếu nghỉ.
“Tớ nghĩ là rồi. Ghé qua phòng tớ trước khi cậu xuống dưới nhé.”
“Okie.”
Antony khép cửa phòng ngủ lại rồi bước đến bên cửa sổ. Cậu đẩy tung cánh cửa sổ hất ra và nhìn ra ngoài. Phòng ngủ của cậu nằm ngay phía trên cánh cửa ở khu hậu sảnh. Bức tường bên hông văn phòng, nơi nhô ra khoảng sân cỏ phía trước nhà, nằm ở phía tay trái cậu. Cậu có thể bước ra phần mái phía trên cửa ra vào, và từ đó dễ dàng trèo xuống mặt đất bên dưới. Việc trèo ngược lên lại sẽ chẳng khó khăn gì mấy vì có sẵn một đường ống nước rất tiện lợi.
Cậu vừa thay xong trang phục thì Bill bước vào. “Chỉ thị lần cuối à?” cậu ta vừa hỏi vừa ngồi phịch xuống giường. “Nhân tiện đây, tối nay sau bữa tối chúng ta sẽ giải trí bằng gì đây? Ý tớ là ngay sau bữa tối ấy.”
“Bida nhé?”
“Okie luôn. Trò gì cũng được.”
“Đừng nói lớn tiếng quá,” Antony hạ thấp giọng nhắc nhở. “Chúng ta đang ở ngay trên khu sảnh chính, và rất có thể Cayley đang ở dưới đó.” Cậu dẫn đường đi về phía cửa sổ. “Tối nay chúng ta sẽ trèo ra bằng đường này. Đi xuống sảnh rủi ro lắm. Dễ lắm; tốt hơn là nên đi giày vải mềm.”
“Được rồi. Này, nhỡ đâu tớ không còn cơ hội nào khác để nói chuyện riêng với cậu — tớ phải làm gì khi Cayley đến đắp chăn cho tớ đây?”
“Khó nói thật đấy. Cứ cư xử tự nhiên nhất có thể. Ý tớ là, nếu hắn chỉ gõ nhẹ rồi ngó vào, hãy cứ giả vờ đang ngủ. Đừng có ngáy to quá lố là được. Nhưng nếu hắn làm ầm lên, cậu buộc phải tỉnh dậy, dụi mắt và tỏ vẻ ngạc nhiên không hiểu quái quỷ gì mà hắn lại xộc vào phòng mình giữa đêm hôm thế. Cậu biết kịch bản phải diễn thế nào rồi đấy.”
“Hiểu rồi. Còn về con hình nộm giả lập hả? Tớ sẽ làm nó ngay khi chúng ta bước lên lầu, rồi giấum nó dưới gầm giường.”
“Ừm... Tớ nghĩ tốt hơn là chính chúng ta cũng nên lên giường đi ngủ thật luôn. Lúc sau thay đồ lại cũng chỉ mất có chút xíu thời gian, và việc đó sẽ chừa cho hắn khoảng trống để mò vào hành lang cho an toàn. Sau đó hãy sang phòng tớ.”
“Được rồi... Cậu sẵn sàng chưa?”
“Rồi.”
Họ cùng nhau đi xuống lầu.