Cuộc sống của tôi ngay từ khi mới lớn đã luôn cuồng nhiệt. Vào đại học từ năm 16 tuổi, tôi luôn là một sinh viên hạng A. Trong suốt thời gian học đại học, tôi luôn là một cây guitar chơi tự do của trường, hoàn thành chương trình bác sỹ khoa tâm thần lâm sàng tại Đại học California, Los Angeles, lấy bằng tiến sỹ ở tuổi 24. Tôi chấp nhận làm bác sỹ thực tập tại Viện Langley Porter, rồi sau đó trở về Los Angeles để hoàn thành chương trình học bổng sau tiến sỹ tại Trung tâm Y tế Nhi đồng miền Tây. Khi kết thúc khoá huấn luyện, tôi vào làm nhân viên bệnh viện và đồng thời làm giáo sư tại trường Y liên kết với bệnh viện. Tôi đã thăm bệnh cho nhiều bệnh nhân và đã viết khá nhiều bài báo.
Đến năm 28 tuổi, tôi đã là một phó giáo sư của bệnh viện nhi và tâm thần và là giám đốc của chương trình hỗ trợ những trẻ mắc bệnh nội khoa. Chức danh của tôi quá dài khiến các thư ký không nhớ nổi. Tôi tiếp tục xuất bản những công trình nghiên cứu, những thí nghiệm, điều tra, chuyên khảo, sách chuyên khảo của riêng tôi về các hiệu ứng tâm lý do bệnh kinh niên gây ra đối với trẻ con.
Địa vị của tôi lớn nhưng lương thì không được tương xứng cho lắm. Tôi bắt đầu đi làm thêm ngoài giờ, thăm bệnh cho những bệnh nhân riêng tại một văn phòng thuê của một nhà phân tích truyền hình tại Beverly Hills. Số lượng bệnh nhân của tôi ngày một tăng đến mức tôi phải làm 70 giờ một tuần và chạy sô như con thoi giữa bệnh viện và văn phòng riêng.
Tôi bắt đầu đi vào thế giới của những kẻ trốn thuế sau khi phát hiện ra rằng nếu không tính đến những phế phẩm phải bỏ đi và tiền trả nhà ở, tôi đã phải trả một số tiền khổng lồ cho thuế thu nhập mà trước kia tôi đã coi là một khoản thu của những người giàu. Tôi thuê rồi sa thải kế toán liên tục, mua nhà đất ở California trước khi có cơn sốt đất, sau đó bán và thu được một khoản lợi nhuận khổng lồ, rồi lại mua và bán. Tôi trở thành một người quản lý các bất động sản - phải bỏ thêm 5 đến 10 giờ nữa mỗi tuần để làm việc đó. Tôi nuôi một quân đoàn những người phục vụ - người làm vườn, thợ sửa ống nước, thợ sơn và thợ điện. Tôi nhận được nhiều lịch biếu vào dịp Giáng sinh.
Đến khi tôi 32 tuổi, tôi đã có một chế độ làm việc không ngừng nghỉ tới độ kiệt sức: ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương để lấy thời gian làm việc. Khi nào nhớ tới ăn thì kiếm lấy thứ gì đó ở bệnh viện để nhét vào mồm, vừa đi vừa ăn, vừa làm vừa ăn. Tôi trở thành người lúc nào cũng bận làm việc, dù việc đó không phải động não nhiều lắm.
Tôi là một người thành công.
Làm gì còn tâm trí đâu để nghĩ đến yêu đương trong một cuộc sống đầu tắt mặt tối như thế. Thỉnh thoảng tôi cũng có quan hệ xác thịt, cuồng nhiệt và vô nghĩa với một vài cô y tá, một vài cô thực tập sinh, mấy cô sinh viên và một số người làm công tác xã hội. Tất nhiên, không thể nào quên được cô thư ký tóc vàng ở tuổi 40 mà có cặp đùi dài và săn chắc đã hút hết hồn tôi ngay sau giá để các bệnh án trong phòng bệnh sử.
Ban ngày thì họp hành, chuẩn bị giấy má, can thiệp các vụ cãi lộn của nhân viên và vân vân. Đến tối lại phải nghe hàng tràng những lời than phiền của các bậc cha mẹ mà một người bác sỹ tâm thần đã quen, đồng thời lại phải dỗ dành những tâm hồn bé nhỏ bị mắc kẹt giữa hai làn đạn.
Những lúc rảnh rỗi, tôi tiếp nhận phàn nàn của người thuê nhà, đọc lướt tờ Wall Street Journal để xem mình được bao nhiêu và mất bao nhiêu, lựa chọn qua hàng núi thư của những kẻ tiếp thị dẻo mỏ đã đưa cho tôi nói rằng họ có cách làm cho tôi giàu lên nhanh chóng. Tôi được bầu làm Người đàn ông trẻ tuổi xuất sắc bởi một hãng kinh doanh với hi vọng sẽ bán được cho tôi một cuốn sách trị giá hàng trăm đô-la có vỏ da bọc ngoài trong đó có tên của những người đã được vinh danh như tôi. Đôi khi vào giữa ban ngày đột nhiên tôi lại gặp phải một cơn đứt hơi khó thở nhưng rồi cũng phủi tay cho qua, chẳng còn đủ thời gian để đi khám.
Thế rồi, Stuart Hickle đột nhiên bước chân vào dòng xoáy ấy.
Hăn là một người ít nói, một kỹ thuật viên phòng thí nghiệm đã nghỉ hưu. Hắn có vẻ như một người hàng xóm tốt bụng trong một vở hài-kịch tình thế: người to đậm, lưng hơi gù, tuổi khoảng 50, thích mặc áo len đan và những cọng tầm xuân. Hắn có bộ lông mày thô dựng đứng, cái mũi hếch và đôi mắt màu đục như nước rửa bát. Hắn có điệu cười hiền và cách ứng xử trịch thượng như bậc chú bác kẻ khác.
Hắn còn có một sở thích không lành mạnh là thích vuốt ve các bộ phận kín của trẻ con.
Khi cảnh sát tóm gáy hắn, họ đã tịch thu được trên 500 bức ảnh màu của Hickle chụp các bộ phận kín của nhiều trẻ em từ 2 đến 5 tuổi ở các loại chủng tộc, màu da. Hắn không phân biệt chủng tộc hay màu da. Điều duy nhất hắn quan tâm là tuổi tác và sự bất lực của những dứa trẻ.
Khi nhìn thấy các bức ảnh, điều khiến tôi nổi giận không phải là sự trơ trẽn của kẻ chụp ảnh mà là những ánh mắt của những đứa bé - ánh mắt đầy sợ hãi và yếu đuối. Ánh mắt ấy nói rằng “tôi biết đây là điều tội lỗi. Tại sao nó lại xảy ra với tôi?” Ánh mắt ấy có trên mọi bức ảnh, trên khuôn mặt của nạn nhân trẻ nhất.
Nó chính là một kiểu hãm hiếp.
Nó khiến tôi rơi vào những cơn ác mộng.
Hickle có một cách tiếp cận đặc biệt với những đứa trẻ. Hắn cưới cô vợ khi đang phục vụ quân đội tại Seoul. Vợ hắn là một người phụ nữ mồ côi gốc Hàn Quốc, làm chủ một trung tâm trông trẻ đông học sinh tại khu vực giàu có của Brentwood. Trung tâm đó có tên Kim’s Korner.
Kim’s Korner nổi tiếng là một trong những nơi gửi trẻ tốt nhất khi các bậc cha mẹ có việc, hay muốn đi chơi hoặc muốn ở một mình. Trung tâm này đã hoạt động được hơn 10 năm thì xảy ra vụ bê bối của Hickle. Dù đã có chứng cớ rõ ràng nhưng nhiều người vẫn không chịu tin rằng trường dạy trẻ ấy là nơi an toàn để một kẻ thực hiện các hành vi tình dục trẻ em đồi bại.
Trước khi vụ bê bối bị phanh phui, trường dạy trẻ này luôn là một nơi đầy ắp tiếng cười trẻ thơ. Nó là một toà nhà lớn hai tầng toạ lạc trên một phô đông dân cư nhưng yên tĩnh, không xa trường Đại học California lắm. Trong năm cuối cùng, trung tâm này đang có 40 học sinh, phần lớn là con em của các gia đình giàu có. Nguồn thu lớn của Kim Hickle là từ những trẻ nhỏ vì cô ta là một trong số ít những người trông trẻ nhận cả trẻ chưa biết tự đi vệ sinh.
Ngôi nhà mà nhà trẻ của Kim thuê có một tầng hầm - trường hợp hiếm ở một đất nước hay bị động đất - và cảnh sát đã tốn khá nhiều thời gian khám xét tầng hầm ẩm thấp ấy. Họ đã tìm thấy một cái võng quân sự cũ, một cái tủ lạnh, một cái chậu gỉ và trang bị chụp hình trị giá khoảng 500 đô-la. Cái võng được kiểm tra đặc biệt kỹ càng vì qua đó có thể thu được nhiều bằng chứng pháp lý quan trọng như tóc, máu, mồ hôi và cả tinh dịch.
Giới truyền thông liên tục đưa các tin tức về vụ Hickle như một thói quen của họ. Nó là một sự kiện nóng bỏng đủ làm sởn gai ốc hầu hết mọi người. Các bản tin tối đều chiếu hình ảnh Kim Hickle chạy trốn đám đông các nhà báo, phóng viên, tay che kín mặt. Cô ta quả quyết không biết gì về hành vi đồi bại của ông chồng. Vì không thấy bằng chứng về sự đồng loã nên họ chỉ đóng cửa trung tâm, tước giấy phép hoạt động của cô ta. Trung tâm bị cấm hẳn. Cô ta đệ đơn xin ly hôn và đi tới một nơi nào đó không ai biết.
Tôi vẫn nghi ngờ về sự trong sạch của người phụ nữ này. Tôi đã chứng kiến không biết bao nhiêu vụ tương tự, trong đó vợ của những kẻ phạm tội đều đóng một vai trò hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp trong việc tạo nên hành vi bẩn thỉu của chồng. Thông thường, họ là những phụ nữ kinh sợ quan hệ xác thịt với chồng mình, và để thoát khỏi chuyện chăn gối với chồng, họ đã tạo điều kiện để chồng tìm được người thế chỗ cho họ. Tôi đã từng chứng kiến một trường hợp người cha hằng ngày quan hệ với ba đứa con gái của mình do sự sắp đặt của người mẹ.
Khó tin được rằng trong khi Kim Hickle đang chơi trò xếp ô chữ ở trên nhà với bọn trẻ thì ở dưới tầng hầm Stuart lại làm trò bẩn thỉu. Nhưng dù sao thì họ cũng đã để cho cô ta ra đi.
Hickle thì bị xử nặng. Các máy quay của truyền hình không bỏ sót một cảnh nào. Có nhiều cảnh quay nhanh được lấp đầy bằng những cuộc phỏng vấn, đặc biệt là những lời phát biểu của những đồng nghiệp của tôi. Rất nhiều bài xã luận được viết về quyền trẻ em trong những ngày này.
Sự ồn ào kéo dài hai tuần, rồi câu chuyện cũng mất đi sự hấp dẫn với khán giả và được thay thế bằng những bản tin về các hành động tàn bạo khác. Ở Los Angeles chẳng thiếu gì những chuyện bẩn thỉu cả. Thành phố này ngày nào cũng đẻ ra những chuyện kinh khủng giống như một con côn trùng ăn thịt đẻ ra những ấu trùng khát máu.
***
Tôi được mời tới đồn cảnh sát để trao đổi ý kiến về vụ án ba tuần sau khi Stuart Hickle bị bắt.
Nó chỉ còn là câu chuyện không quan trọng nữa và giờ thì phải nghĩ tới những nạn nhân.
Những nạn nhân đang trải qua nhiều đau đớn.
Lũ trẻ tỉnh dậy giữa đêm kêu gào thảm thiết. Những đứa trẻ chập chững biết đi và đã biết tự đi vệ sinh thì thường đái dầm và ỉa đùn. Trước kia vốn ngoan nhưng nay những đứa trẻ ngoan ngoãn bắt đầu đấm, đá và cắn nhau mà không cần khiêu khích. Nhiều báo cáo về những vụ đau bụng và các triệu chứng bệnh lý khó hiểu cũng như những biểu hiện trầm cảm kinh điển: ăn mất ngon, bơ phờ, sống thu mình, cảm giác không còn lý do để sống.
Những người cha người mẹ thì khổ sở vì cảm giác tội lỗi và xấu hổ, hay tưởng tượng ra những cái nhìn chê trách của gia đình và bạn bè. Những ông chồng, bà vợ đổ lỗi lẫn nhau. Một số gia đình đã làm hỏng thêm những đứa trẻ bị hại, làm tăng thêm sự mất an toàn của chúng và làm cho những anh chị em của chúng hoá điên. Sau này, một số trẻ đã thú nhận rằng chúng muốn bị “làm tình” để được đối xử đặc biệt. Nhưng rồi chúng lại cảm thấy tội lỗi về những ý nghĩ này.
Nhiều gia đình tan vỡ nhưng công chúng không hề hay biết. Họ sẽ mãi bị ám ảnh bởi tội lỗi và sự sợ hãi nếu như không có một người. Đó là người cô của một trong những nạn nhân, thành viên nhân đạo của Ban quản lý Trung tâm Y tế Nhi đồng miền Tây. Bà đã lên tiếng đặt câu hỏi với các bệnh viện về sự bỏ rơi những nạn nhân trẻ em. Chủ tịch ban quản lý Trung tâm đã nhanh chóng tóm lấy cơ hội để tạo chút tiếng tăm trên báo chí. Câu chuyện cuối cùng về Trung tâm này là phơi bày vụ nhiễm khuẩn Salmonella trong món rau cải thái trộn của quán tự phục vụ trong Trung tâm.
Giám đốc Trung tâm đưa ra một thông cáo báo chí công bố một chương trình phục hồi tâm lý cho các nạn nhân của Stuart Hickle trong đó tôi là một chuyên gia của chương trình. Tôi biết mình được chỉ định vào chương trình khi đọc tờ Times.
Sáng hôm sau tôi bị triệu tập tới văn phòng của Giám đốc ngay khi tới Trung tâm. Giám đốc là một bác sỹ phẫu thuật đã không hành nghề trong 20 năm và làm nghề bàn giấy. Ông ngồi sau chiếc bàn bóng loáng to bằng cái sân chơi khúc côn cầu và cười mỉm.
- Cái quái quỷ gì thế này hả ông Henry? - Tôi giơ tờ báo về phía ông.
- Ngồi xuống đã, anh Alex. Tôi cũng đang định cho gọi anh. Ban giám đốc quyết định anh có đủ phẩm chất cần thiết cho công việc này. Đây là trường hợp khẩn.
- Tôi không bị tâng bốc đấy chứ?
- Ban giám đốc nhớ tới việc làm tốt của anh với gia đình nhà Browning.
- Gia đình Brownell chứ?
- Đúng, thôi thì gì cũng được.
Năm đứa trẻ nhà Brownell đã sống sót sau một vụ rơi máy bay loại nhẹ tại Sierras. Bố mẹ chúng đều thiệt mạng trong vụ này. Chúng trở nên quá đau đớn cả về thể xác và tinh thần: bị bỏ rơi quá lâu, gần như chết đói, bị chứng quên và trở thành câm. Tôi đã tới điều trị cho chúng trong vòng hai tháng và báo chí đã chộp lấy cơ hội tuyên truyền.
- Anh biết không Alex - Giám đốc nói - Đôi khi cứ ca ngợi công nghệ tiên tiến của y học hiện đại mà người ta đâm quên mất yếu tố con người.
Ông ta nói thật hay làm sao. Mong sao đến kỳ nâng lương sang năm ông ta nhớ tới câu nói này.
Ông tiếp tục thuyết giảng cho tôi, nào là “bệnh viện cần phải đi tiên phong trong các hoạt động nhân đạo”. Rồi ông cười và cúi người về phía trước:
- Ngoài ra, tôi đang nghĩ sẽ có nhiều tiềm năng nghiên cứu quan trọng trong tất cả các lĩnh vực này - ít nhất sẽ xuất bản hai hay ba nghiên cứu vào tháng Sáu.
Tháng Sáu là tháng tôi được thăng chức giáo sư. Giám đốc Trung tâm được đưa vào uỷ ban bổ nhiệm của trường.
- Thưa ông Henry, tôi tin là ông đang kêu gọi bản năng tự nhiên của tôi đấy.
- Bỏ ý nghĩ ấy đi - Ông ta nói một cách ranh mãnh - Điều chúng ta quan tâm nhất hiện nay là giúp đỡ nhưng đứa trẻ khốn khổ kia - Ông lắc đầu - Đúng là một chuyện kinh tởm. Thằng cha này đáng bị thiến.
***
Tôi bắt tay ngay vào việc lập chương trình điều trị và được phép điều trị ngay tại văn phòng riêng sau khi cam kết đưa hết thành tích về Trung tâm.
Mục tiêu tôi đặt ra là giúp những gia đình diễn đạt ý kiến của họ vốn bị chôn chặt sau khi vụ Hickle bị phanh phui và giúp họ chia sẻ ý kiến với những người khác để họ thấy rằng họ không cô đơn. Liệu pháp điều trị được thiết kế thành một chương trình chuyên sâu kéo dài sáu tuần, sử dụng biện pháp điều trị theo nhóm: những nạn nhân với nhau, bố mẹ nạn nhân, anh chị em của nạn nhân và nhiều gia đình hợp lại. Khi cần thiết thì điều trị theo từng cá nhân. Tám mươi phần trăm các gia đình nạn nhân đăng ký tham gia và không ai bỏ dở điều trị. Mọi người gặp nhau vào buổi tối tại văn phòng của tôi ở Wilshire vì lúc đó thì khu nhà mới yên tĩnh và không có bệnh nhân.
Nhiều đêm tôi cảm thấy mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần khi kết thúc buổi điều trị vì những khổ đau của họ được tuôn trào vào tai tôi như máu chảy từ miệng vết thương lớn. Chẳng phải nói thì ai cũng hiểu tâm lý liệu pháp là một trong những việc gây mệt mỏi nhất trên thế gian này. Bản thân tôi đã trải qua nhiều loại công việc từ việc nhổ cà rốt dưới cái nắng cháy da thịt cho tới việc ngồi tham dự trong các uỷ ban quốc gia tại các phòng lớn. Không có việc nào có thể so sánh được với việc phải hàng giờ đối mặt giải quyết đau khổ của con người, nhất là lại chỉ sử dụng cái đầu và cái mồm để xoa dịu nỗi đau của họ. Làm nghề này cũng có những phút thăng hoa khi bệnh nhân được điều trị chịu mở miệng, hít thở, nói ra những nỗi đau của họ. Nhưng nhiều lúc ta sẽ tưởng như mình đang bị ngập trong một ao phân thối, phải cố làm sao để cái mũi khỏi bị ngập xuống.
Việc điều trị đã có kết quả khả quan. Đôi mắt của những đứa trẻ đã lấy lại được sự rạng rỡ. Các gia đình chịu giao tiếp với bên ngoài và tự nguyện giúp đỡ lẫn nhau. Dần dần, tôi chỉ còn vai trò của một người quan sát thầm lặng.
Vài ngày trước khi kết thúc chương trình điều trị, tôi nhận được một cú điện thoại từ một phóng viên của tạp chí National Medical News (Tờ tin tức Y tế Quốc gia) - một tờ tuyên truyền của ngành y. Tên của phóng viên này là Bill Roberts, đang ở trong thị trấn và muốn phỏng vấn tôi. Bài phỏng vấn của anh ta sẽ dành cho các bác sỹ nhi khoa đang hành nghề, nhằm cảnh báo họ về vấn để xâm hại tình dục trẻ em. Nghe có vẻ là một bài báo có giá trị nên tôi đã đồng ý gặp anh ta.
Lúc đó là 7 giờ 30 tối. Tôi lái xe ra khỏi khu đậu xe của bệnh viện và đi về phía Tây. Đường không đông và đến 8 giờ tối thì tới toà nhà văn phòng của tôi. Đậu xe ở gara dưới tầng hầm, tôi đi bộ qua mấy cái cửa kính đôi vào một hành lang. Hành lang không có một tiếng động nào trừ tiếng kêu của đôi giày. Thang máy đưa tôi lên tầng sáu. Cánh cửa mở ra, tôi bước xuống hành lang, ngoặt tại một góc nhà và dừng lại.
Đợi tôi ở đó là khoảng không, không một bóng người. Điều này thật bất thường vì tôi thấy các phóng viên luôn đúng giờ.
Tôi đi tới cửa văn phòng của mình và nhìn thấy một tia sáng phạt ngang qua cánh cửa. Cánh cửa hé mở, có lẽ chỉ khoảng 3 cen-ti-mét. Tôi tự vấn không biết có phải những người dọn dẹp ban tối đã để Roberts vào phòng không. Nếu vậy thì tôi phải nói chuyện với ban quản lý khu toà nhà về sự mất an toàn này.
Khi tới cửa, tôi phát giác ra điều gì đó bất thường. Có những vết xước xung quanh núm cửa, mạt thép rơi vãi dưới tấm thảm trải sàn. Như một diễn viên đang đóng kịch, tôi bước vào phòng:
- Ông Roberts phải không?
Phòng khách vắng tanh. Tôi tiến thẳng vào phòng khám. Người đàn ông trên ghế bành không phải là Bill Roberts. Tôi chưa từng gặp mặt nhưng biết rõ về con người này.
Stuart Hickle gục trên đệm xốp, đầu ngả vào tường, mắt nhìn vô hồn lên trần nhà, hai chân dang rộng cứng đờ, một tay đặt cạnh một điểm ướt trên háng, dương vật có vẻ đang cương cứng. Các tĩnh mạch ở cổ hắn nổi lên rõ. Một bàn tay khác thì vắt qua ngực, một ngón tay móc vào cò một khẩu súng ngắn thép xanh. Khẩu súng treo lủng lẳng, báng chúc xuống dưới, nòng đặt cách cái miệng đang mở to của Hickle khoảng 2 cen-ti-mét. Những mẩu óc, máu và xương vẫn còn dính trên tường nhà phía sau đầu của hắn. Một vết máu đỏ thẫm còn in trên nền giấy dán tường màu xanh nhạt như dấu vân tay của một đứa trẻ con. Còn nhiều vết màu đỏ thẫm khác ở mũi, tai và mồm của hắn. Căn phòng sực mùi thuốc súng và xác người chết.
Tôi nhấc máy và quay số.
***
Biên bản điều tra tại hiện trường đã khẳng định đây là một vụ tự sát. Kết luận cuối cùng của cơ quan pháp luật là: vì suy sụp tinh thần nặng kể từ khi bị bắt và không thể chịu nổi sự sỉ nhục của công luận xã hội trước viễn cảnh bị đem xét xử, Hickle đã chọn cách tự kết liễu như kiểu Samurai. Chính hắn, mạo danh là Bill Roberts - hẹn với tôi - đã phá khoá cửa và tự bắn vỡ óc mình. Khi cảnh sát cho phát lại các cuộn băng lời khai của hắn thì tiếng nói nghe giống như của người đã xưng là phóng viên Roberts - sự giống nhau trong tiếng nói ít nhất cũng khiến tôi không thể nói gì thêm nữa.
Một câu hỏi được đặt ra là tại sao hắn lại chọn văn phòng của tôi để kết liễu cuộc đời. Nhưng hội đồng các bác sỹ tâm thần đã có một câu trả lời dễ dàng: với vai trò là người điều trị cho các nạn nhân của hắn nên tôi là một người cha tinh thần, làm bớt đi những huỷ hoại do hắn gây ra. Cái chết của hắn là một cử chỉ thể hiện sự ăn năn. Chấm hết.
Nhưng đã là tự sát – đặc biệt là những kẻ có liên quan tới tội nghiêm trọng - thì vẫn phải được điều tra, làm rõ trắng đen. Vì thế đã xảy ra trận “đá bóng” giữa sở cảnh sát Beverly Hills và Sở cảnh sát Los Angeles. Sở cảnh sát Beverly Hills công nhận là vụ tự sát này xảy ra trên lãnh thổ của họ nhưng tuyên bố vụ đó có nguồn gốc từ các vụ án khác đã xảy ra tại Los Angeles. Bóng đã được đá sang sân Sở cảnh sát Los Angeles. Sở cảnh sát miền Tây lẽ ra đã đá trở lại nhưng vụ án đó vốn còn đang ầm ĩ. Vả lại họ cũng không muốn bị mang tiếng là cố tình chối bỏ trách nhiệm.
Vì thế, Sở cảnh sát miền Tây đã bị buộc phải xử lý vụ việc. Đặc biệt, thanh tra cảnh sát Milo Bernard Sturgis đã phải nhận nhiệm vụ điều tra mà bản thân không hứng thú.
***
Một tuần sau khi phát hiện ra xác chết của Hickle, cuộc sống của tôi bắt đầu bị đảo lộn. Tôi bác bỏ mọi sự liên quan của mình và không chấp nhận trả lời các câu hỏi. Vì tôi là bác sỹ tâm thần nên người ta nghĩ tôi có thể tự giải quyết được các vấn đề tâm lý của mình, thế là không ai hỏi thăm về tình hình của tôi cả.
Tôi luôn cố gắng kiểm soát bản thân khi đứng trước bọn trẻ và gia đình chúng, tạo một vẻ mặt bình thản, hiểu biết và tiếp nhận. Tôi luôn tỏ vẻ bình tĩnh. Trong khi điều trị, chúng tôi nói chuyện về cái chết của Hickle, chú trọng đặc biệt tới họ và làm thế nào để họ vượt qua được những ám ảnh.
Buổi điều trị cuối cùng là một cuộc liên hoan. Trong bữa liên hoan ấy, các gia đình đến cảm ơn và ôm hôn tôi. Đó là buổi liên hoan vui, có nhiều tiếng cười và để lại trên tấm thảm trải sàn sự bừa bộn. Họ vui vì đã cảm thấy dễ chịu hơn, và cũng một phần vì cái chết của kẻ đã gây ra đau khổ cho họ.
Tôi trở về nhà vào lúc gần nửa đêm, chui vào trong tấm chăn mà cảm thấy trống trải, lạnh lẽo và bất lực, giống như một đứa trẻ mồ côi đang đi trên con đường trống vắng. Sáng hôm sau, tôi bắt đầu có triệu chứng.
Tôi bồn chồn và khó tập trung tư tưởng, hơi thở ngày càng nặng nề và khó nhọc. Tôi thấy lo lắng một cách khó hiểu, bụng liên tục muốn nôn và có linh cảm về sự chết chóc.
Các bệnh nhân bắt đầu lo lắng hỏi tôi xem có sao không. Đến lúc đó chắc hẳn là mọi người có thể nhìn thấy tôi đang gặp vấn đề vì phải lâu tôi mới làm cho một bệnh nhân thôi để ý đến bản thân mình.
Kiến thức tôi học được đủ giúp tôi biết có chuyện gì đó đang diễn ra trong con người mình nhưng không đủ để hiểu cụ thể đó là cái gì.
Rõ ràng không phải nguyên nhân từ việc tôi phát hiện ra xác chết của Hickle vì tôi đã quen với những sự kiện gây sốc tinh thần như thế. Nhưng việc này đã trở thành chất xúc tác khiến tôi rơi vào khủng hoảng toàn diện. Giờ nhìn lại, tôi có thể nhận ra rằng việc điều trị cho những nạn nhân của Hickle đã cho phép tôi được thoát khỏi công việc đơn điệu hàng ngày và đợt điều trị kết thúc đã khiến tôi có thời gian để lao vào các cuộc tiêu khiển vị kỷ nguy hại.
Tôi lại đơn độc, lẻ loi không có người bạn thực sự nào trên thế gian này. Khoảng gần một chục năm nay, những con người tôi có quan hệ với toàn là bệnh nhân, và bệnh nhân đúng với nghĩa của nó là những người được nhận chứ không phải là những người đi cho.
Cảm giác cô đơn càng trở nên cồn cào. Tôi sống nội tâm hơn và trở nên cực kỳ buồn chán. Tôi gọi điện tới bệnh viện báo ốm, hủy bỏ các buổi nhận chữa bệnh cho các bệnh nhân ở văn phòng tư và nằm bẹp trên giường xem phim ướt át.
Âm thanh và ánh sáng của ti vi tràn qua tôi giống như một thứ thuốc chống chữa bệnh liệt rẻ tiền, làm cho người ta liệt thêm chứ không hề chữa được.
Tôi hầu như bỏ ăn và ngủ quá nhiều, thức dậy cảm thấy người nặng nề, yếu và suy sụp. Tôi để điện thoại ở chế độ bận và không bao giờ ra khỏi nhà trừ những lúc ra cửa nhận thư rồi lại trở lại với sự cô đơn.
Đến ngày thứ tám của sự tồn tại bi thảm ấy, Milo đã xuất hiện ở cửa muốn tham vấn một vài vấn đề với tôi. Anh cầm một cuốn số ghi chép nhỏ trong tay, giống như một nhà phân tích. Nhưng vẻ bề ngoài của anh thì chẳng thể là một nhà phân tích: một gã to lớn, lưng hơi gù, tóc tai bờm xờm và còn đang mặc bộ quần áo ngủ.
Anh giơ tấm thẻ cảnh sát ra:
- Anh là bác sỹ Alex Delaware?
- Là tôi đây.
Anh giới thiệu qua về mình và giương cặp mắt nhìn tôi. Tôi đang mặc bộ quần áo tắm màu cháo lòng. Đám râu không cạo đã dài như giáo sỹ Hồi giáo, còn tóc thì như kẻ bị điện giật. Mặc dù đã ngủ 13 tiếng đồng hồ mà tôi vẫn có vẻ và cảm thấy buồn ngủ.
- Hi vọng tôi không làm phiền anh, thưa bác sỹ. Văn phòng của anh đã đưa cho tôi số điện thoại nhà anh. Tôi gọi đến nhưng thấy báo bận luôn.
Tôi để anh vào nhà và mời ngồi. Mắt anh đảo nhanh một lượt khắp nhà. Có một đống thư chưa bóc cao nửa mét vương vãi khắp bàn ăn. Căn nhà tối tăm, rèm cửa sổ đã nhăn lại và đầy mùi mốc. Ti vi vẫn đang nhấp nháy chương trình “Days of our lives” (Cuộc sống hằng ngày).
Anh đặt cuốn sổ ghi chép lên một bên đầu gối và cho tôi biết việc phỏng vấn là thủ tục hành sự của nhân viên điều tra. Sau đó anh yêu cầu tôi kể lại cái đêm tôi phát hiện ra xác chết của Hickle, thỉnh thoảng ngắt lời giữa chừng để làm rõ một điểm nào đó, gạch bỏ, ghi chép và nhìn chăm chú. Đó là thủ tục chán ngắt, còn tôi thì hay mất tập trung đến mức anh phải nhắc lại câu hỏi. Đôi khi tôi lại nói quá bé khiến anh phải yêu cầu tôi nói lại.
Sau 20 phút anh nói:
- Bác sỹ, anh còn khoẻ đấy chứ?
- Tôi vẫn khoẻ - Câu trả lời nghe không thuyết phục lắm.
- Được rồi - Anh lắc đầu, hỏi thêm một vài câu hỏi nữa rồi đặt bút xuống và nở nụ cười đầy lo lắng.
- Anh bỏ quá cho nhé. Đúng là tôi hơi ngớ ngẩn khi hỏi tình trạng sức khoẻ của một bác sỹ.
- Đừng nghĩ gì về chuyện ấy nữa.
Anh lại quay sang hỏi tôi. Dù không rõ ràng nhưng tôi có thể phát hiện ra thủ thuật hỏi tò mò của anh. Anh nhảy từ chủ đề này qua chủ đề khác mà không hỏi vào một vấn đề nhất định. Nó làm tôi mất bình tĩnh và đề phòng hơn.
- Anh là trợ lý giáo sư tại Trung tâm Y tế Nhi đồng?
- Là phó giáo sư.
- Một phó giáo sư với anh có hơi trẻ đúng không?
- Năm nay tôi 32 tuổi. Tôi bắt đầu vào nghề sớm.
- Có bao nhiêu trẻ trong chương trình điều trị của anh?
- Khoảng 30.
- Còn số lượng các ông bố, bà mẹ?
- Khoảng 10 hay 11 cặp vợ chồng, khoảng 6 người chỉ sống một mình.
- Có nói chuyện gì về ông Hickle trong quá trình điều trị không?
- Đây là điều bí mật.
- Không sao anh ạ.
- Anh tiến hành điều trị - Anh nhìn vào cuốn sổ ghi chép - như một phần của công việc anh làm tại Bệnh viện Nhi đồng miền Tây (Los Angeles) phải vậy không?
- Đó là việc làm tự nguyện có liên kết với bệnh viện.
- Anh không được trả lương cho công việc đó sao?
- Tôi vẫn nhận lương bình thường và được bệnh viện miễn cho một vài công tác khác.
- Cũng có những người là cha của các nạn nhân tham gia vào các nhóm điều trị phải vậy không?
- Đúng - Tôi nghĩ tôi đã nói là có các cặp vợ chồng rồi thì phải.
- Theo tôi suy đoán thì một số ông bố này căm thù ông Hickle đúng không?
Dùng từ ông để gọi Hickle, tôi nghĩ chỉ có cảnh sát mới lịch sự một cách giả dối như thế, gọi một kẻ đã chết là ông. Khi chỉ có cảnh sát với nhau tôi nghĩ họ dùng từ khác. Phép xã giao giả tạo đáng ghét kia chỉ là một cách nhằm tạo khoảng cách giữa cảnh sát và thường dân.
- Đây là một điều bí mật, thưa ngài thanh tra.
Anh cười nhăn nhở như muốn nói “xin đừng trách kẻ ngoại đạo” và ghi loằng ngoằng vào cuốn sổ tay của mình.
- Sao hỏi nhiều về một vụ tự sát đến thế?
- Đó chỉ là công việc chúng tôi thường phải làm - Anh trả lời ngay tức thì, không thèm nhìn lên - Tôi thích cụ thể, chi tiết.
Anh nhìn chằm chằm vào tôi ra vẻ lắng nghe:
- Anh có nhờ sự giúp đỡ bên ngoài trong quá trình điều trị các nhóm bệnh nhân không?
- Tôi khuyến khích các gia đình cùng tham gia điều trị. Tôi là chuyên gia duy nhất.
- Nghĩa là họ tự tư vấn cho nhau?
- Chính xác.
- Tại sở cảnh sát chúng tôi cũng có thông tin này. Việc chữa trị là tự nguyện. Và họ đã phục hồi.
- Một cách từ từ. Tôi cũng luôn có mặt ở đó.
- Có ai trong số họ có chìa khoá vào văn phòng của ông không?
Tôi hắng giọng:
- Không có bất kỳ một người nào cả. Anh nghĩ một trong số các bệnh nhân của tôi đã giết hắn rồi làm giả hiện trường để cho nó giống như một vụ tự sát ư?
Tất nhiên là anh nghĩ như thế. Chính tôi cũng có mối nghi ngờ tương tự.
- Tôi chưa đưa ra kết luận gì cả, mới chỉ là đang tiến hành điều tra - anh lảng tránh câu hỏi.
- Tôi hiểu.
Đột nhiên anh đứng dậy, gấp cuốn sổ tay lại và cất bút chì đi.
Tôi đứng dậy đưa anh ra tới cửa, loạng choạng và ngất đi.
***
Điều đầu tiên tôi nhìn thấy khi tỉnh dậy là bộ mặt xấu xí to bành của anh đang lờ mờ ở phía trên. Tôi cảm thấy ươn ướt và lạnh. Anh đang cầm một cái khăn mặt nhỏ nước lên mặt tôi.
- Anh đã bị ngất xỉu. Giờ anh cảm thấy thế nào?
- Tôi khoẻ rồi.
Thực tế tôi vẫn chưa thấy khoẻ lắm.
- Anh trông có vẻ không được khoẻ lắm đâu, bác sỹ ạ. Để tôi đi gọi bác sỹ tới.
- Không cần đâu.
- Anh chắc chắn là không cần chứ?
- Đúng. Không có chuyện gì to tát đâu. Tôi đã bị cúm một tuần nay rồi, cần có một chút gì vào bụng là ổn.
Anh vào bếp lấy một ly nước cam cho tôi. Tôi uống từng ngụm nhỏ và bắt đầu cảm thấy khoẻ hơn.
Tôi ngồi dậy, tự cầm ly nước trong tay.
- Cảm ơn anh - Tôi nói.
- Luôn sẵn sàng bảo vệ và phục vụ!
- Tôi đã khỏe thực sự rồi. Nếu anh không có câu hỏi nào nữa thì...
- Không. Lúc này không còn câu hỏi nào nữa - Anh đứng dậy và mở một vài cánh cửa sổ; ánh sáng làm tôi loá mắt trong giây lát. Anh ra tắt cái ti vi.
- Trước khi tôi về, anh có muốn cái gì đó để ăn không?
Thật là một người đàn ông biết quan tâm đến người khác.
- Thế là được rồi, tôi sẽ ổn.
- Được rồi, thưa bác sỹ. Anh tự bảo trọng nhé.
Tôi muốn anh đi nhưng khi không còn nghe thấy tiếng xe của anh nữa, tôi bỗng thấy trống trải, không còn cảm giác u sầu như trước mà là một cảm giác khó chịu, bồn chồn không yên. Tôi cố xem chương trình “Vòng quanh thế giới” nhưng không thể tập trung tư tưởng được. Những cuộc đối thoại trong chương trình làm tôi khó chịu. Tôi lấy một cuốn sách xuống đọc nhưng mắt không sao tập trung được vào những hàng chữ. Tôi uống một ngụm nước cam nhưng lại có cảm giác vị của nó thật kinh khủng và gây ra đau đớn trong cổ họng.
Tôi ra ngoài hiên và nhìn lên bầu trời cho tới khi những ngôi sao nhảy múa trước mắt tôi; da ngứa ngáy. Tiếng chim hót làm tôi bực dọc. Tôi không thể ngồi yên được một chỗ.
Tình trạng ấy hành hạ tôi suốt cả buổi chiều.
Đến 4 giờ 30, anh gọi điện cho tôi:
- Bác sỹ Delaware đấy phải không? Thanh tra Milo Sturgis đây.
- Tôi có thể giúp gì được anh, thưa thanh tra?
- Anh cảm thấy thế nào rồi?
- Tốt hơn nhiều rồi, cám ơn.
- Thế thì tôi yên tâm.
Yên lặng.
- Bác sỹ này, tôi có một suy nghĩ nhưng không chắc chắn lắm...
- Anh đang nghĩ gì vậy?
- Anh biết không, tôi đã từng làm quân y ở Việt Nam. Chúng tôi thường thấy nhiều trường hợp gọi là phản ứng căng thẳng cấp tính. Không biết tôi...
- Anh cho là tôi đã mắc phải cái đó à?
- Vâng...
- Thế ở Việt Nam người ta đã điều trị như thế nào?
- Chúng tôi đưa họ vào chiến trận càng nhanh càng tốt vì họ càng tránh chiến trận thì họ càng bị nặng hơn.
- Thế theo anh tôi cũng phải làm tương tự sao? Phải trở lại làm việc à?
- Tôi không thể nói được. Tôi không phải là một chuyên gia tâm lý thưa bác sỹ.
- Anh đã chẩn đoán bệnh mà không điều trị ư?
- Bác sỹ à, tôi muốn biết liệu...
- Không, đợi đã. Tôi lấy làm tiếc. Tôi đánh giá cao cuộc viếng thăm của anh - Tôi trở nên bối rối không biết anh ta đang có động cơ gì mà tôi không nắm được trong chuyện này.
- Không vấn đề gì cả, anh đừng ngại.
- Thực sự cảm ơn anh. Anh đang là một bác sỹ tâm thần giỏi đấy, Thanh tra ạ.
Anh cười.
- Đó đôi khi là một phần công việc của chúng!tôi, anh ạ. Sau khi anh gác máy tôi cảm thấy dễ chịu hơn trước.
Sáng hôm sau, tôi đến thăm anh tại sở cảnh sát miền Tây và mời anh đi uống nước.
Chúng tôi gặp nhau tại quán Angela đối diện sở cảnh sát miền Tây. Đó là một tiệm cà phê có một phòng cocktail mờ ảo trong khói thuốc ở phía sau, là chỗ tụ tập của nhiều nhóm đàn ông to lớn và nghiêm trang. Tôi thấy rất ít trong số những người này chào Milo, một điều không được bình thường. Tôi nghĩ cảnh sát là những người sốt sắng với nhau và thường hay đùa với nhau thân mật sau giờ làm việc. Còn những người cảnh sát này thì dùng đồ uống của họ với vẻ nghiêm trọng và lặng lẽ.
Anh có một khả năng như một nhà trị liệu tầm cỡ: uống rượu Chivas, ngồi nghe tôi nói, không đặt câu hỏi thẩm vấn. Anh lắng nghe còn tôi thì dốc bầu tâm sự.
Nhưng đến cuối buổi tối hôm đó anh cũng nói.
***
Vài tuần sau đó, tôi và Milo đã nhận ra chúng tôi có nhiều điểm tương đồng. Chúng tôi cùng lứa tuổi - anh sinh trước tôi 10 tháng - và đều sinh ra trong gia đình lao động ở thành phố hạng trung. Bố anh là một thợ luyện thép còn bố tôi là một thợ lắp điện. Anh cũng từng là một sinh viên giỏi, tốt nghiệp trường Purdue với bằng danh dự (loại bằng trao cho sinh viên học giỏi) và đã có bằng thạc sỹ văn khoa của Đại học Indiana ở Bloomington. Trước khi bị gọi đi nghĩa vụ quân sự thì anh đã có dự định trở thành giáo viên. Hai năm tại Việt Nam đã biến anh thành một cảnh sát.
Anh không hề xem nghề của mình là không tương xứng với nghiệp văn chương trí thức mà anh hằng mong ước. Theo như anh nói thì cảnh sát điều tra về các vụ giết người bí ẩn là những người lao động trí óc của các sở cảnh sát.
Điều tra các vụ giết người cần ít các hoạt động cơ bắp mà phải dùng nhiều đến đầu óc. Những cảnh sát điều tra kỳ cựu đôi khi còn bỏ qua nguyên tắc nghiệp vụ và không mang theo vũ khí. Vật phải sử dụng nhiều là giấy và bút chì. Milo cũng có một khẩu 9 ly nhưng anh nói anh thực sự không cần tới nó.
- Đây thực sự là công việc của một nhân viên văn phòng, anh Alex ạ. Phải làm nhiều với giấy tờ, với các quyết định và chú ý tới từng chi tiết nhỏ.
Anh có vẻ thích thú với vai trò một cảnh sát, thích bắt những kẻ phạm tội. Cũng có đôi lúc anh nghĩ sẽ thử làm công việc gì khác nhưng không biết chính xác sẽ làm gì.
Chúng tôi cũng có những sở thích khác tương đồng với nhau: cả hai đã từng học võ - Milo học nhiều về các thế tự vệ khi còn trong quân ngũ, còn tôi thì học đấu kiếm và karate khi đang học trong trường đại học; chúng tôi đều to quá khổ nhưng luôn tự lừa dối bản thân rằng chúng tôi sẽ trở lại hình dáng đẹp nếu muốn. Cả hai đều thích ăn ngon, nghe nhạc và sự tĩnh mịch.
Mối quan hệ tốt đẹp giữa chúng tôi nhanh chóng hình thành và phát triển.
Khoảng ba tuần sau khi chúng tôi biết nhau, anh thú nhận với tôi anh là một kẻ đồng tính. Tôi sửng sốt, không nói được lời nào.
- Tôi nói cho anh biết điều này vì không muốn anh nghĩ rằng tôi lừa dối anh.
Đột nhiên, tôi thấy xấu hổ, vì đó chính là điều đầu tiên tôi nghĩ tới.
Ban đầu khó chấp nhận sự thật này dù tôi đã có khả năng tư duy tâm lý phức tạp. Tôi biết rõ về chứng bệnh này. Nó có từ 5 đến 10 phần trăm ở hầu hết các nhóm người trên trái đất. Phần lớn những người bị bệnh này trông bề ngoài không khác chúng ta. Họ có thể là bất kỳ ai: thợ thịt, thợ bánh mỳ và cả những kẻ giết người. Phần lớn họ đều tự điều chỉnh được hành vi của mình.
Nhưng dù biết vậy nhưng vẫn có một ấn tượng, định kiến sẵn có trong bộ não chúng ta. Chúng ta luôn cho rằng họ là những người õng ẹo, tiếng nói the thé; hoặc đầu cạo trọc hếu, mặc những bộ cánh sặc sỡ, râu ria lún phún...
Milo không có vẻ ngoài của một kẻ đồng tính.
Nhưng sự thật thì anh đúng là một kẻ đồng tính và đã quen với nó nhiều năm qua. Anh chưa bao giờ vào cửa hàng may áo, và cũng không bao giờ mặc những chiếc áo loè loẹt.
Tôi hỏi anh liệu trong sở cảnh sát có ai biết chuyện này không.
- Có, nhưng không đến mức họ làm thành báo cáo chính thức gửi cấp trên. Đó chỉ là chuyện mà mọi người ngầm hiểu với nhau thôi.
- Thế họ đối xử thế nào với anh?
- Tránh xa tôi và ném những cái nhìn lạnh nhạt về phía tôi. Nhưng về cơ bản thì đó là điều bình thường và để nguyên thế cũng chẳng sao. Họ đang thiếu nhân viên, còn tôi thì là một tay cừ. Họ muốn cái gì nữa chứ? Chả lẽ họ muốn dính vào rắc rối với Tổ chức Bảo vệ quyền Tự do Công dân (ACLU) rồi sau đó mất một thanh tra giỏi ư? Ed Davis là người bị ám ảnh về những người đồng tính. Hắn thuyên chuyển công tác rồi và mọi thứ không đến nỗi tồi.
- Thế còn những cảnh sát khác?
Anh nhún vai:
- Họ để tôi yên. Chúng tôi chỉ nói chuyện công việc.
Giờ tôi mới hiểu tại sao có ít người nhận ra anh khi ở quán Angela.
Đồng thời tôi cũng hiểu thêm một phần về hành động vị tha đầu tiên của Milo, tức là việc anh đã đến giúp đỡ tôi. Anh biết thế nào là sự cô đơn. Một cảnh sát đồng tính là một người bị bỏ rơi. Sẽ không một cảnh sát bình thường nào công nhân một cảnh sát đồng tính tại sở cảnh sát cho dù anh ta hay cô ta có làm tốt công việc đến mấy. Còn cộng đồng những người đồng tính luyến ái thì không thể tin tưởng được vào ai đó có vẻ ngoài và hành động giống như một cảnh sát và là cảnh sát.
- Tôi nghĩ nên nói cho anh biết điều này vì chúng ta có vẻ ngày càng thân với nhau hơn.
- Đó không phải là chuyện lớn, anh Milo ạ.
- Không phải ư?
- Không - Tôi vẫn chưa hoàn toàn cảm thấy thoải mái khi biết điều này. Nhưng tôi đã sẵn sàng chấp nhận nó.
***
Một tháng sau sự kiện Hickle tự sát bằng khẩu 6 ly, tôi đã có những thay đổi lớn trong cuộc đời mình.
Tôi xin nghỉ việc tại Trung tâm Y tế Nhi đồng miền Tây và không hành nghề nữa. Tôi giới thiệu tất cả bệnh nhân của tôi đến một học trò cũ hiện đang là một thầy thuốc giỏi mới bắt đầu sự nghiệp và cần có khách hàng. Kể từ khi nhận chương trình điều trị cho các gia đình nạn nhân của Hickle, tôi đã có thêm ít bệnh nhân vì vậy tôi cũng không phải lo lắng lắm về sự thuyên chuyển bệnh nhân này.
Tôi bán một khu cao tầng gồm nhiều căn hộ ở Malibu. Khu nhà này có 40 căn hộ tôi mua từ 7 năm trước. Khi bán đã thu được một khoản lãi khổng lồ. Tôi cũng bán một căn nhà hai hộ tại Santa Monica. Một phần tiền thu được - lẽ ra phải đóng thuế - tôi dùng để đầu tư vào thị trường tiền tệ với lợi nhuận cao, số còn lại đầu tư vào các đô thị không phải trả thuế. Cách đầu tư đó không làm cho tôi giàu lên nhanh chóng nhưng sẽ tạo cho tôi một sự ổn định về tài chính. Theo tính toán thì chỉ cần tiền lãi hàng năm cũng đủ tôi sống từ 2 đến 3 năm nếu tôi không quá phung phí.
Tôi bán chiếc Chevy Two và mua một con Seville 79 đời chót khá đẹp. Nó có màu xanh lá cây, nội thất bọc da màu êm và yên tĩnh. Với đoạn đường tôi lái xe thì chi phí chẳng đáng là bao. Tôi ném hết quần áo cũ đi và may toàn đồ mới và xịn: vải mềm, quần nhung, giày đế cao su, áo len ca- sơ- mia, áo ngủ, quần soóc lửng và áo chui.
Tôi lau sạch các tẩu thuốc bằng nước nóng mà từ khi mua nhà tôi chưa từng sử dụng. Tôi bắt đầu mua thức ăn và uống sữa. Tôi giở chiếc đàn Martin ra khỏi thùng đựng và chơi một bản nhạc trên ban công. Tôi lắng nghe nhạc chơi từ đĩa, đọc sách giải trí lần đầu tiên kể từ khi còn học cấp ba. Tôi còn tắm nắng, cạo râu và phát hiện ra mình có một bộ mặt cũng không đến nỗi xấu trai.
Tôi bắt đầu hò hẹn với một vài cô gái. Khi tôi gặp Robin, mọi thứ bắt đầu biến chuyển tích cực.
Thời gian thật nhân từ với tôi vì tôi đã nghỉ hưu đúng 6 tháng trước sinh nhật lần thứ 33. Đúng là chuyện thú vị của cuộc đời.