Ba Bóng Đen

Lượt đọc: 164 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24

❊ ❊ ❊

24

Chuyến phà tới đảo Brindamoor bắt đầu khởi hành vào lúc 7 giờ 30 sáng.

Khi chuông đồng hồ báo thức đổ vào lúc 6 giờ, tôi đã tắm rửa, cạo râu xong, mắt tỉnh như sáo. Trận mưa đã bắt đầu trở lại ngay sau nửa đêm, đập mạnh vào những bức tường kính của dãy nhà. Nó đã làm tôi tỉnh giấc trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, lúc ấy tôi nghĩ mình đã nghe thấy tiếng vó ngựa gõ ở cuối hành lang, và rồi lại chìm ngay vào giấc ngủ. Mưa vẫn tiếp tục. Bên dưới, thành phố ngập trong nước, lờ mờ như thể nhìn từ bên trong một bể cá bẩn thỉu.

Tôi mặc quần bò, áo khoác da, áo len cổ lọ, và đem theo cái áo mưa duy nhất mà tôi có: một chiếc áo dài bằng vải Pốp-pơ cúc cài chéo hợp với vùng Nam California nhưng không biết có tác dụng gì trong thời tiết hiện nay ở đấy không. Tôi gọi món điểm tâm nhanh gồm cá hồi hun khói, xúc xích, nước hoa quả và cà phê, và tới bến cảng vào lúc 7 giờ 10.

Tôi là một trong số những người xếp hàng đầu tiên tại khoang phà dành cho ô tô. Hàng người, xe chuyển động và tôi lái xe xuống một cái dốc để vào bên trong chiếc phà đằng sau một chiếc xe buýt có dán khẩu hiệu “Hãy cứu lấy những con cá voi” ở cái giảm chấn hậu của xe. Tôi tuân theo hướng dẫn của một nhân viên lái phà mặc bộ quần áo bảo hộ lao động màu da cam và đậu xe cách tường màu trắng bóng nhẫy của khoang 5 cen-ti-mét. Tôi leo qua hai cầu thang thì lên được sàn phà. Tôi đi qua một cửa hàng đồ lưu niệm, một quán ăn nhanh và bán thuốc lá - tất cả đều đóng cửa - và một căn phòng được trang trí khắp tường bằng các trò chơi video. Một người hầu bàn đang chơi trò Pac-man một mình.

Tôi tìm được một cái ghế có thể nhìn được đuôi phà. Gấp chiếc áo mưa lại, để vào lòng và ngồi xuống nghỉ ngơi chờ đợi trong suốt chuyến phà dài một tiếng.

Chiếc phà gần như trống rỗng. Mấy người khách cùng chuyến đi với tôi đều còn trẻ và mặc trang phục lao động: những người được thuê từ đất liền ra đảo để làm những công việc khác nhau tại các trang viên ở Brindamoor. Chắc chắn chuyến phà trở lại sẽ đầy những người đi làm thuộc tầng lớp khác: những luật sư, chủ ngân hàng, các loại người có tiền khác. Họ trên đường tới các văn phòng và các phòng họp lớn ở thành phố.

Biển gầm thét, sóng trào dâng sủi bọt trước những cơn gió thổi trên mặt biển đầy những con sóng lớn va vào nhau. Ngoài biển còn có những con thuyền nhỏ hơn, phần lớn là những chiếc thuyền câu, thuyền kéo và xà lan và chúng cũng lắc lư theo sóng.

Một nhóm 6 chàng trai trẻ chừng 20 tuổi lên phà và ngồi cách tôi khoảng 3 mét. Họ có những mái tóc vàng, để râu ở những mức độ khác nhau, mặc áo ka-ki đã nhàu và quần bò dính đầy bụi đất. Họ chuyền tay nhau một cái phích có chứa thứ gì đó không phải là cà phê, nói chuyện ồn ào, hút thuốc lá, đặt chân lên những cái ghế và phát ra những tiếng cười hô hố có hơi men. Một trong số họ nhìn thấy tôi và giơ cái phích lên.

- Có làm một cốc không, ông anh? - Anh ta lên tiếng mời. 

Tôi cười và lắc đầu.

Anh ta nhún vai quay đi và cuộc vui của họ lại náo nhiệt.

Tiếng còi phà hú. Tiếng chạy rầm rầm của động cơ dội lên qua tấm sàn phà. Phà bắt đầu chuyển động.

Được nửa đường, tôi đi lại chỗ 6 chàng thanh niên ngồi uống với nhau, bây giờ bọn họ đã say. Ba người trong số đó đã ngủ, ngáy to, miệng há hốc, một người đang đọc cuốn sách có tranh vẽ khiêu dâm. Và hai người còn lại, kể cả anh chàng đã mời tôi, đang ngồi hút thuốc, như bị thôi miên bởi những cái đầu thuốc đang cháy của họ.

- Xin lỗi các anh.

Hai người hút thuốc ngước nhìn. Anh chàng đang đọc sách không hề để ý.

- Gì vậy ông anh? - Anh chàng hào phóng ban nãy cười hỏi. Một nửa hàm răng cửa của anh ta đã bị biến mất. Có lẽ là vệ sinh răng miệng không dược tốt hay là do một trận nổi nóng đánh nhau bị gãy cũng nên - Xin lỗi ông anh nhé. Bọn tôi ăn hết súp Campbell rồi - Anh ta cầm mấy cái phích lên lắc lắc - Phải vậy không, Dougie?

Anh bạn của anh ta, một cậu thanh niên mập mạp có hàng ria rủ xuống miệng và tóc mai kiểu sườn cừu cười ha hả gật đầu.

- Đúng đấy, hết súp rồi. Cả mì gà cũng hết. Rượu 90 độ cũng hết.

Từ chỗ tôi đứng vẫn thấy người mấy cậu thanh niên này nồng nặc mùi rượu như một nhà máy chưng cất.

- Được rồi. Tôi cảm ơn vì các anh đã có nhã ý mời. Tôi chỉ muốn hỏi liệu các anh có thể cho tôi một vài thông tin về Brindamoor không thôi.

Cả hai thanh niên nhìn nhau bối rối như thể họ chưa bao giờ từng nghĩ mình có chút thông tin gì để cho người khác biết.

- Thế ông anh muốn biết cái gì? Nơi ấy chán lắm - Anh chàng hào phóng nói.

- Một nơi chó ỉa - Cậu béo mập gật đầu tán đồng.

- Tôi đang muốn tìm một cái nhà trên đảo này nhưng lại không có bản đồ.

- Là vì chẳng có cái bản đồ nào về đảo này cả. Người dân ở đó thích sống ẩn thân khỏi thế giới bên ngoài. Họ có cảnh sát riêng sẵn sàng bắt anh vì tội nhổ nước bọt không đúng chỗ. Tôi, Dougie và mấy cậu này cùng tới đó để làm mấy việc phụ tại sân chơi gôn trên đảo như nhặt bóng, quét rác và những thứ linh tinh khác. Chúng tôi muốn giữ việc nên phải tuân thủ quy tắc ở đó, tuân thủ một cách nghiêm ngặt.

- Đúng vậy - Cậu mập nói - Không được bắn hải ly trên đảo, không được liên hoan, không bè bạn. Những người làm công ở đây thì cứ làm mãi mãi - bố tôi làm việc tại Brindamoor trước khi ông ấy vào được công đoàn, và tôi sẽ phải làm việc ở đây cho tới khi nào ông ấy đưa tôi vào được công đoàn thì thôi. Ông ấy bảo với tôi rằng ông đã sáng tác được một bài hát về nơi này trong những ngày ông ấy còn làm việc ở đây. Đại loại thế này: “Khuân nặng, vác nặng, lênh đênh trên thuyền...” - Cậu ta cười và vỗ vào lưng của anh bạn cùng đi.

- Ông anh muốn tìm cái gì? - Anh chàng hào phóng châm một điếu thuốc khác và nhét vào cái khe hở tạo ra bởi bộ răng thiếu mấy cái ở trước cửa.

- Nhà của Hickle.

- Ông anh có quan hệ bà con với họ à? - Dougie hỏi. Mắt anh ta màu xanh dương, có một số vằn đỏ. Đôi mắt đột nhiên sa sầm vì lo lắng không biết liệu tôi có phải là người sẽ sử dụng lời nói của anh ta để chống lại anh ta không.

- Không. Tôi là một kiến trúc sư. Tôi chỉ đến đây để tham quan thôi. Tôi được người ta bảo rằng nhà của Hickle đẹp lắm, có lẽ là cái lớn nhất trên đảo này.

- Này ông anh - Anh ta nói - Tất cả nhà ở đấy đều to lớn. Cả làng tôi cũng chỉ đủ để nhét vào một cái nhà của họ thôi.

- Kiến trúc sư hả? - Mặt anh chàng hào phóng trở nên rạng rỡ hứng thú - Anh phải học bao lâu thì mới làm được cái kiến trúc sư ấy?

- Phải học 5 năm đại học đấy.

- Thôi chú mày quên chuyện ấy đi - Cậu mập trêu anh chàng hào phóng - Chú mày mơ mộng quá đấy, Harm ạ. Trước tiên, chú mày phải học cách đọc và cách viết cái đã.

- Tổ sư mày chứ - Anh chàng hào phóng quặt lại, vẻ tốt bụng. Quay sang tôi anh ta nói:

- Mùa hè trước tôi đã đi làm xây dựng. Kiến trúc là thứ có vẻ hay hay.

- Đúng vậy. Tôi chủ yếu thiết kế các nhà riêng. Luôn luôn tìm kiếm các ý tưởng mới.

- Vậy thì phải rồi. Chắc chắn là thú vị lắm.

- Này, chú em - Dougie mắng mỏ - Chúng ta không làm thứ gì đó thú vị cả. Dọn dẹp rác, à này, chú em, có điều thú vị ở câu lạc bộ đó đấy, vì tuần trước, Matt và tôi đã tìm thấy hai cái bao cao su đã sử dụng vứt ở cạnh cái hố gôn số 11 đấy và hiện nay hai chúng tôi đang nhớ vụ này quá cơ, Harm ạ.

- Tôi không thèm đùa với mấy người nữa - Anh chàng hào phóng nói - Ông anh muốn biết về những cái nhà thì xin ông anh hãy hỏi Ray - Anh ta quay đi và cúi qua một anh chàng đang ngủ để thúc khuỷu tay vào một cậu thanh niên đang đọc sách. Cậu này đang chúi mũi vào đọc và không thèm nhìn lên. Khi anh ta nhìn lên, mặt anh ta trông đờ đẫn như một người ngu đần hoặc là đang bị say thuốc.

- Hả, gì thế?

- Ray, ông anh này muốn biết về ngôi nhà của Hickle đấy.

Cậu tên Ray dụi mắt vẻ không hiểu.

- Thằng Ray đi đổ a-xít quá nhiều trong rừng nên nó vẫn còn chưa đổ hết đấy - Harm cười nhăn nhở, có thể nhìn thấy cả cái a-mi-đan trong họng anh ta - Thôi nào, nhà của Hickle ở đâu thì nói ra đi?

- Hickle - Ray nói - Ông già nhà tôi trước kia làm ở đó. Ông ấy nói đó là một nơi đáng sợ. Kỳ quái lắm. Tôi nghĩ nó ở Charlemagne. Ông già tôi thường...

- Được rồi, chàng trai - Harm lấy tay gí đầu của Ray xuống và cậu ta lập tức trở lại với cuốn truyện tranh của mình - Ông anh ạ, trên đảo này người ta đặt tên cho các phố lạ lắm. Nào là Charlemagne, Alexander, Suleiman.

Đây là những người đi chinh phục. Rõ ràng những người giàu thường không có được những chuyện hài hước như những đám người làm công cho họ.

- Charlemagne là một đường ở trên đảo. Ông anh có thể đi qua đường chính, qua cái chợ khoảng 400 mét rồi nhìn thật kỹ bởi vì những biển hiệu chỉ đường thường bị cây cối che khuất, sau đó rẽ, để tôi nghĩ xem nào, rẽ phải, đó chính là đường Charlemagne. Sau đó, ông anh nên hỏi thăm thì hơn.

- Tôi sẽ nghe theo gợi ý của anh - Tôi đưa tay vào túi và rút ví ra - Xin nhận lấy món quà mọn này vì đã giúp đỡ tôi - Tôi nói và rút ra tờ 5 đô-la.

Harm chìa tay ra - để phản đối chứ không phải là để nhận:

- Quên chuyện này đi, ông anh. Chúng tôi chẳng giúp gì ông anh cả. 

Dougie, cậu thanh niên mập mạp, ném một cái nhìn giận dữ về phía Harm và cằn nhằn.

- Tuỳ anh đấy, Dougie ạ - Anh chàng gãy răng nói - Chúng ta đã không hề giúp được gì xứng đáng với số tiền của ông anh.

Dù tóc anh ta có hơi rối và ria mép hơi xồm xoàm nhưng anh ta vẫn có vẻ thông minh và đàng hoàng. Anh ta là kiểu thanh niên rất dễ mến.

- Vậy thì để tôi đãi các cậu một chầu rượu nhé.

- Thôi mà - Harm nói - Chúng tôi không uống thêm được nữa đâu, ông anh ạ. Chúng tôi phải đến được sân gôn trong vòng nửa giờ nữa. Chẳng lẽ đến đấy trong tình trạng be bét được sao. Thằng mông bong bóng này này, nó mà uống thêm một chút nữa là lại nhảy lên, chồm xuống làm khổ chúng tôi thôi.

- Thằng khốn này - Dougie nói một cách tức tối.

Tôi đút tiền lại vào túi:

- Thế thì xin cảm ơn các anh.

- Không có gì cả, ông anh ạ. Nếu ông anh xây nhà mà không cần đến sự giúp đỡ của liên đoàn công nhân và muốn có những người thợ xây dựng đáng tin cậy thì hãy nhớ đến Harmon Lundquist này nhé. Tôi có khả năng đấy.

- Tôi sẽ nhớ đến cậu.

***

10 phút trước khi con thuyền cập bờ, hòn đảo hiện ra từ một màn sương mù và mưa, đó là một khối đá màu nâu, thấp, thuôn dài. Ngoại trừ kiểu cây cối bao phủ quanh rìa đảo thì nó giống như một hòn đảo Alcatraz.

Tôi đi xuống khoang để ô tô của phà, ngồi sau tay lái chiếc Nova. Đang chuẩn bị đi thì người đàn ông mặc áo da cam vẫy tay ra hiệu cho tôi lái xe xuống chỗ thang dốc. 

Khung cảnh xung quanh chẳng khác gì một đường phố ở London. Có nhiều áo choàng đen, ô đen và mũ đen khắp trên khu thị tứ giống khu Picadilly. Những bàn tay màu đỏ xách ca táp và cầm tờ báo Wall Street journal buổi sáng. Những con mắt nhìn thẳng về phía trước. Miệng nghiêm trang. Khi cánh cổng ván cầu được mở ra, đoàn người di chuyển thành hàng, người nào ở đúng vị trí của người ấy, những chiếc giày đen bóng nhấc lên hạ xuống theo nhịp của một người đánh trống vô hình. Một quân đoàn các quý ông lịch sự.

Cách bến phà Brindamoor một chút là một quảng trường nhỏ được xây dựng cạnh cây đu nguy nga và xung quanh là những cửa hàng: một ngân hàng có các cửa sổ bằng kính mờ, cửa hàng môi giới, ba hay bốn cửa hàng quần áo đắt tiền có các ma-nơ-canh không mặc trang phục kín đáo, quầy hàng tạp phẩm, cửa hàng bán thịt, cửa hàng giặt khô và đồng thời cũng là bưu điện địa phương, cửa hàng sách, hai nhà ăn - một của Pháp và một của Italia - cửa hàng lưu niệm, và cửa hàng đồ trang sức. Tất cả các cửa hàng đều đóng cửa, đường phố vắng tanh, ngoại trừ đàn bồ câu tụ tập dưới cái cây đu, dường như không có sự sống của con người ở đây.

Tôi đi theo chỉ dẫn của Harm và tìm thấy đường Charlemagne không mấy khó khăn. Nó cách quảng trường 900 mét. Con đường hẹp và tối, rợp bóng những hàng rào dương xỉ, thường xuân và cây thích lùn. Thỉnh thoảng, màu xanh bất tận ấy lại bị xé rách bởi một cái cổng sắt hay gỗ đỏ, cổng sắt thường có các tấm thép làm phên chắn. Trên đường không hề có các hộp thư, không có biển báo tên đường. Những khu nhà dường như cách nhau gần héc-ta. Một vài lần tôi đã được nhìn thấy bên trong của những cánh cổng: bãi cỏ rộng, đường dốc thoai thoải cho xe hơi vào được lát bằng gạch và đá, những ngôi nhà đồ sộ - kiến trúc Tudor, Regency và Thuộc dịa - những đường cho xe vào là nơi đậu của các xe Rolls Royce, Mercedes và Cadillac, cũng như những xe bốn bánh tương tự - xe bò, xe Volvo, xe nhỏ. Một hay hai lần gì đó tôi nhìn thấy những người làm vườn đang lao động dưới mưa, những cái máy cắt cỏ chạy điện của họ kêu soàn soạt, khực khực.

Con đường tiếp tục kéo dài thêm khoảng 800 mét nữa, những khu nhà ngày càng trở nên lớn hơn, nhà cửa ở đây được xây cách xa cổng hơn. Con đường dừng lại đột ngột tại bụi cây bách sum suê. Tôi không nhìn thấy cổng, không nhìn thấy đường vào mà chỉ thấy có những cây cao tới 9 mét mọc rậm như rừng, ngay lúc đó tôi nghĩ đã đi nhầm đường.

Tôi mặc áo mưa, kéo cổ áo lên cao và ra khỏi xe. Khu đất dày đặc những cây lá kim ướt át. Tôi đi tới bụi cây bách và vạch cây để nhòm vào bên trong qua những cành nhỏ. Khoảng 6 mét ở phía trước, gần như là đã bị che khuất hết bởi những cây cối mọc chằng chịt, là con đường đá ngắn dẫn tới một cánh cổng gỗ. Người ta đã trồng cây ở đó để chặn lối vào này; từ kích cỡ thân cây tôi cho rằng chúng phải được trồng cách đây 20 năm. Bỏ qua khả năng có ai đó cố tình đưa những cây bách lớn này tới trồng ở đây tôi nghĩ rằng những sinh hoạt của con người diễn ra lần cuối cùng ở đây đã lâu lắm rồi.

Tôi lấy tay vạch lối vào cổng và thử mở. Cánh cổng đã bị người ta dùng đinh đóng chặt lại. Tôi kiểm tra kỹ - hai miếng gỗ đỏ có rãnh soi được gắn vào các trụ bằng gạch. Những cái trụ này được nối với tường bao bằng dây, xếp chồng bên trên là những cuộn xoắn có gai. Không thấy có dây điện hay dây thép gai. Tôi tìm được chỗ đặt chân trên một tảng đá ướt, bị trượt chân mấy lần nhưng cuối cùng cũng trèo được qua cái cổng.

Tôi hạ mình xuống một thế giới khác lạ. Hàng mẫu đất hoang trải dài trước mắt tôi; vùng đất trước kia từng là một bãi cỏ được cắt tỉa cẩn thận thì nay đã thành một bãi lầy toàn cỏ dại, cỏ chết khô và đá vỡ vụn. Nhiều chỗ đất đã bị trũng xuống tạo ra những vũng nước tù và là nơi sinh sống lý tưởng cho đám ruồi muỗi đang bay vo vo trên đầu tôi. Những cái cây một thời nguy nga thì nay đã bị biến thành những cái gốc lỏm chởm, nhiều cây đã bị đốn hạ. Những thân cây bị mục đã mọc đầy nấm và mộc nhĩ. Xung quanh chỗ nào cũng thấy những phụ tùng ô tô bị han gỉ, những chiếc lốp cũ và những cái hộp, bình bị vứt vãi lung tung. Bây giờ, khu vực này đã bị biến thành một bãi rác thải sũng nước. Mưa rơi trên những tấm kim loại tạo thành những âm thanh rền vang trống rỗng.

Tôi bước đi trên con đường lát gạch theo hình chữ chi đầy cỏ dại và rêu phong. Những nơi bị rễ cây đâm qua, gạch trồi lên như những cái răng rụng ở một cái hàm bị vỡ. Tôi đá sang bên cạnh một con chuột đồng đã chết thối và hì hục đi về phía nơi ở một thời của dòng họ nhà Hickle.

Căn nhà đồ sộ, cao ba tầng được xây đá đẽo thủ công đã hoá đen vì thời gian. Tôi không thể tưởng tượng được nó đã từng là một ngôi nhà đẹp nhưng không còn nghi ngờ gì về sự nguy nga một thời của nó: một biệt thự mái lợp ngói đen, rìa mái lợp ngói bánh gừng, có giàn hoa trang trí và bao quanh là hiên đá rộng. Trên hiên trước mặt có đồ đạc bằng sắt rèn đã han gỉ, một cái cửa kiểu nhà thờ cao 2 mét 7 và một cái chong chóng gió đặt ở đỉnh cao nhất của toà nhà được làm thành hình dạng một mụ phù thuỷ đang cưỡi chổi phép. Mụ phù thuỷ ấy đang quay tròn trong gió, tránh khỏi sự phá huỷ của thời gian.

Tôi leo lên mấy bậc thềm tới cửa trước, cỏ dại đã mọc lấn lên tới cửa nhà. Cửa cũng đã bị đóng đinh chặt. Các cửa sổ cũng bị đóng bằng ván tương tự và đóng chặt. Mặc dù đồ sộ, mà có lẽ vì đồ sộ như thế cho nên ngôi nhà dường như thật thảm hại, như một người đàn bà chồng mất bị bỏ rơi đến mức bà ta chẳng còn quan tâm xem nhan sắc thế nào và đành bỏ mặc số phận héo tàn dần trong sự yên lặng.

Tôi dùng sức đẩy cái ba-ri-e được dựng tạm ở cửa trước của lối cổng cho xe vào bằng gỗ mục. Căn nhà ít nhất cũng phải dài tới 50 mét và tôi phải mất một lúc mới kiểm tra được hết các cửa sổ tầng trệt: Tất cả đều đã bị niêm phong.

Phần đất phía sau lại là một khu lầy lội rộng hơn một héc-ta. Một cái ga-ra ô tô bốn chỗ chứa, được thiết kế như một cái nhà thu nhỏ, đã không thể vào được. Nó được đóng đinh chặt. Một cái hồ bơi dài 15 mét trống rỗng, ngoại trừ vài cen-ti-mét nước bùn với những mảng hữu cơ lềnh bềnh trên bề mặt. Những gì còn lại của một vườn nho và hồng có rào hình mắt cáo chỉ là đống đổ nát của những thân gỗ đã tróc vỏ và đá vỡ, bên trên là một tổ chim được tạo bởi những cành cây khô. Những chiếc ghế và tượng đá nằm ngả nghiêng trên những cái bệ đã bị nứt vỡ như thành phố Pompeii sau trận phun trào của núi lửa Vesuvius.

Mưa bắt đầu nặng hạt hơn và lạnh hơn. Tôi đút tay vào túi áo mưa, lúc này đã ướt đẫm, và đưa mắt tìm kiếm nơi nào có thể trú mưa được, cần phải có dụng cụ - búa và xà beng - thì mới vào được bên trong ngôi nhà hay cái nhà để xe, và xung quanh thì không có lấy một cái cây nào có thể tin được rằng sẽ không đổ ập xuống bất cứ lúc nào. Tôi ở giữa trời mưa như một kẻ lang thang đột nhiên lạc vào giữa một trận oanh kích.

Tôi thấy một tia sáng loé lên và chờ đợi một tiếng sét. Không có gì xảy ra và tia sáng lại loé lên lần nữa. Mưa to nên tôi khó nhìn thấy nơi phát ra tia sáng, nhưng đến lần thứ ba nó loé sáng thì tôi đã nhắm được và đi về hướng đó.

Sau vài bước trong nước, tôi đã có thể thấy được nguồn phát ra tia sáng ấy là một ngôi nhà kính ở cuối khu đất, ngay bên ngoài giàn cây nho bị tàn phá. Những tấm kính đã mờ đi vì bụi bẩn, một vài nơi bụi bẩn đã tạo thành những dòng màu nâu, nhưng những tấm kính thì hoàn toàn không bị hỏng. Tôi chạy về hướng cái nhà kính theo thứ ánh sáng lập loè lúc có lúc không ấy.

Cánh cửa nhà kính bị đóng nhưng khi tôi dùng tay đẩy nhẹ thì nó đã mở ra không một tiếng kêu. Bên trong ấm áp và đầy hơi nước, có mùi chua của sự phân huỷ. Những cái bàn gỗ cao đến hông chạy dọc theo hai bên của căn nhà; giữa hai dãy bàn là một lối đi được phủ bằng xỉ than, đầu mẩu gỗ và đất cày. Một đống đồ nghề - cái chĩa, cái cào, xẻng và xà beng - được dựng ở một góc nhà.

Trên mặt những cái bàn là các chậu cây hoa rất đẹp: hoa phong lan, hoa dừa, hoa đĩa, hoa thu hải đường đủ màu, hoa bóng nước màu đỏ và trắng - tất cả đều đang nở rộ và mọc tràn ra khỏi những “căn nhà” bằng đất nung của chúng. Một cái xà bằng gỗ trên đó có gắn những móc câu kim loại treo lủng lẳng bên trên những cái bàn. Từ những cái móc câu ấy người ta treo các bình hoa vân anh màu tím, bình dương xỉ, bình cây nhện, cây leo và thu hải đường. Đúng là một vườn địa đàng bị bỏ trống.

Căn phòng chỉ có ánh sáng lờ mờ và vang vọng tiếng mưa rơi đập trên mái kính. Tia sáng lập lòe đã kéo tôi tới đây lại xuất hiện, sáng hơn và gần hơn. Tôi nhận ra một bóng người ở đầu bên kia của căn nhà kính, một người mặc áo đi mưa màu vàng và đội mũ, tay cầm một cái đèn pin. Người này soi đèn pin vào những cây hoa, ngắt một cái lá chỗ này, ngắt một bông hoa chỗ kia, kiểm tra đất, vặt đi một cành khô, bỏ một bông hoa đã nở sang một bên.

- Xin chào - Tôi nói.

Người đó xoay người và cánh đèn pin chiếu thẳng vào mặt tôi. Tôi nheo mắt vì ánh đèn và đưa tay lên che mắt.

Người đó lại gần tôi hơn.

- Ông là ai? - Người đó lên tiếng hỏi, giọng cao và sợ hãi.

- Tôi là Alex Delaware.

Cái đèn được hạ xuống. Tôi bắt đầu đưa chân tiến lên một bước.

- Đứng nguyên đó!

Tôi đặt bàn chân xuống đất.

Cái mũ của người đó được kéo lên. Khuôn mặt lộ ra tròn vạnh, tai tái và bằng phẳng, đúng là khuôn mặt của một người châu Á. Khuôn mặt ấy của một người phụ nữ nhưng không hề nữ tính. Đôi mắt là hai vết cứa bằng dao lam trên miếng da khô, cái miệng là một dấu gạch ngang không cười.

- Chào cô Hickle!

- Làm sao ông lại biết tôi? Ông muốn gì? - Giọng cô ta tỏ ra cứng rắn, nhưng cái cứng rắn ấy đã bị loãng đi vì sợ hãi, sự cứng rắn của một kẻ chạy trốn thành công biết rằng phải luôn luôn đề cao cảnh giác.

- Tôi đến đây để thăm cô.

- Tôi không muốn có khách tới thăm. Tôi không biết ông.

- Cô không biết thật sao? Alex Delaware - chẳng nhẽ cái tên đó không có ý nghĩa gì với cô sao?

Cô ta im lặng.

- Chính văn phòng của tôi là nơi mà ông chồng Stuart yêu quý của cô đã chọn để diễn cảnh cuối cùng đấy - hoặc có thể nó đã được người ta lựa chọn cho anh ta cũng nên. 

- Tôi không biết ông đang nói gì. Tôi không muốn có mặt ông ở đây - Tiếng Anh mà cô ta nói không được sõi và ít có trọng âm.

- Tại sao cô không gọi quản gia tới đuổi tôi đi?

Hai hàm răng cô ta động đậy; mấy ngón tay trắng nắm chặt chiếc đèn pin:

- Ông không chịu đi phải không?

- Ngoài kia đang mưa và lạnh lắm. Tôi biết ơn cô nếu cho tôi ở đây để khỏi bị ướt, thưa cô.

- Rồi ông đi chứ?

- Rồi tôi sẽ ở lại và chúng ta nói chuyện một chút, về người chồng quá cô của cô và một số bạn bè tốt của anh ta.

- Stuart đã chết. Không còn gì để nói về ông ấy nữa.

- Tôi nghĩ là có nhiều đấy, nhiều câu hỏi cần được trả lời.

Cô ta hạ đèn pin xuống và khoanh tay trước ngực. Dáng điệu ấy như một sự thách thức. Tất cả những dấu hiệu sợ hãi ban nãy đã biến mất và thái độ cô ta đúng là một sự giận dữ vì bị quấy rầy. Tôi thấy khó hiểu: Cô ta là một phụ nữ đơn độc bị một người lạ bắt chuyện ở giữa nơi hoang vắng mà không hề hoảng sợ chút nào.

- Cơ hội cuối cùng đấy - Cô ta nói - Tôi không thích phải lột da ông. Hãy để tôi...

Cô ta kêu chặc chặc bằng lưỡi. Một bóng đen lớn hiện ra, là một vật gì đó đang sống và đang thở.

Tôi nhận ra đó là cái gì và thấy phát ớn.

- Giới thiệu với ông, đây là Otto. Cậu ta không thích người lạ đâu.

Đó là con chó lớn nhất mà tôi từng trông thấy, một con chó Đan Mạch khổng lồ, to bằng con ngựa nhỏ có lông đốm đen trắng. Một bên tai của nó đã bị cắt đi một ít. Mõm của nó đen và đầy nước dãi đang chảy thành từng giọt từ cái miệng nửa cười, nửa nhe nanh - đặc trưng của những con chó sắp tấn công người - để lộ ra bộ nanh trắng muốt và cái lưỡi to như một cái túi chườm nước nóng. Đôi mắt nó giống của lợn và quá nhỏ so với cái đầu. Đôi mắt phản chiếu ánh sáng màu da cam và đang nhìn tôi từ đầu tới chân.

Chắc là tôi đã cử động, vì đôi tai của nó vểnh lên. Nó gầm gừ và nhìn lên cô chủ. Cô ta thì thầm với nó điều gì đó. Nó gầm gừ to hơn và liếm nhanh vào bàn tay cô ta.

- Xin chào, anh bạn to lớn - Tôi nói. Mấy tiếng ấy phát ra từ cổ họng nghẹn tắc của tôi. Miệng con chó há to hơn, gầm gừ dữ tợn.

Tôi lùi lại; con chó nghển cổ về phía trước theo tôi. Nó là một con vật dũng mãnh, cơ bắp nổi từ đầu tới hông.

- Bây giờ có lẽ tôi lại không muốn ông đi nữa - Kim Hickle nói.

Tôi lùi xa hơn. Otto hít mạnh và sủa một tiếng từ sâu trong bụng nó.

- Tôi sẽ không để ông đi.

- Đúng là thế ư?

Tôi lại lùi thêm hai bước nữa. Những bước thật nhỏ, như thể đang đóng vở kịch Simon Says. Con chó tiến lại gần hơn.

- Tôi chỉ muốn được ở một mình - Cô ta nói - Không ai đến qụấy rầy tôi. Tôi và Otto - Cô ta nhìn vào con chó một cách đầy yêu thương - Ông đã thấy tôi ở đây. Ông làm phiền tôi. Làm sao mà ông lại tìm được tôi?

- Cô đã để lại tên mình trong hồ sơ thư viện ở Đại học Jedson.

- Vậy là ông đang săn lùng tôi?

- Không phải vậy. Đó chỉ là một sự ngẫu nhiên mà tôi tìm thấy tấm thẻ có tên cô. Không phải là tôi đang săn lùng cô đâu. 

Cô ta chặc lưỡi một lần nữa, con Otto tiến thêm một vài mét. Đôi mắt hung hãn của nó đã hiện ra to hơn. Tôi có thể ngửi thấy mùi của nó, hôi thối và nồng nặc.

- Trước tiên là ông, sau này sẽ có những người khác đến. Sẽ vặn hỏi, đổ lỗi cho tôi, nói rằng tôi là người xấu. Tôi không hề xấu xa. Tôi là một phụ nữ tốt bụng, thương yêu trẻ con. Tôi là một người vợ tốt của một người đàn ông bệnh hoạn, không phải tôi là một phụ nữ bệnh hoạn.

- Tôi biết - Tôi đấu dịu - Không phải là lỗi của cô.

Lại một cái chặc lưỡi nữa. Con chó tiến vào khoảng cách để nhảy lên vồ người. Cô ta đã điều khiển con chó như một đồ chơi điều khiển bằng sóng vô tuyến.

- Hoàn toàn không. Đó không phải là lỗi của tôi.

Tôi lùi lại. Otto tiến theo tôi, như một con thú săn mồi, một cái chân của nó cào cào lên mặt đất, lông cổ dựng lên.

- Tôi sẽ đi khỏi đây - Tôi nói - Chúng ta không phải nói chuyện nữa. Cũng không có chuyện gì là quan trọng cả. Cô đáng được hưởng sự riêng tư - Tôi huyên thuyên, thỉnh thoảng ngừng lại, đôi mắt dán vào đống đồ đạc để ở trong góc nhà. Đầu óc tôi nhẩm tính khoảng cách tới cái chĩa, âm thầm nhẩm lại những hành động mà tôi có thể sẽ phải thực hiện.

- Tôi đã cho ông một cơ hội. Ông không biết nhận lấy cơ hội ấy. Bây giờ thì đã quá muộn.

Cô ta chặc lưỡi hai cái và con chó chồm lên lao vào tôi trong một trạng thái mập mờ tối. Tôi nhìn thấy hai chân trước của nó giơ lên trong không trung, cái miệng ướt át, háu đói, đang nghiến răng, đôi mắt màu da cam gắn chặt lấy mục tiêu, tất cả chỉ trong một tích tắc.

Cũng trong tích tắc ấy, tôi lạng mình sang bên phải, quỳ gối xuống và lao tới cái chĩa. Mấy ngón tay của tôi nắm chặt vào cán gỗ, giật mạnh và chĩa lên phía trên.

Con chó sà xuống tôi, như một con ác thú nặng hàng tấn, cuộn tròn, làm tôi phải thở  mạnh. Đôi chân và hàm răng của nó cào và đớp. Có cái gì đó xuyên qua vải áo, rồi xuyên qua lớp áo bằng da, vào thịt của tôi. Cánh tay tôi thấm đau từ khuỷu tay cho tới vai, bị cắn thủng và khó chịu. Cán của cái chĩa rơi khỏi tay tôi. Tôi lấy một ống tay áo che mặt vừa lúc con Otto sục cái mõm ướt vào để cắn lấy cổ họng tôi. Tôi xoay mạnh thoát được, với tay bừa để tìm lấy cái chĩa, nắm được cán chĩa, lại bị mất và lại tìm được nó. Tôi đấm một quả thôi sơn vào đỉnh đầu con chó. Tôi có cảm giác đã đấm vào một cái khiên sắt. Nó đứng bằng hai chân sau, gầm rú dữ tợn và lại lao bổ vào tôi. Tôi xoay cái mũi chĩa lên trên. Con chó lao lên tấn công, cả thân hình đổ ập xuống người tôi. Chân tôi khuỵu xuống, lưng chạm đất. Ngực bị đè chặt không thở được, tôi phải cố gắng để khỏi bị ngất, toàn thân bị đám lông của con chó phủ kín. Tôi cố giữ cho cái chĩa ở giữa tôi và con chó.

Rồi con chó bỗng rú lên ăng ẳng; đồng thời tôi nhận thấy cái chĩa đã đâm vào xương nó; kêu sào sạo và lún sâu khi tôi xoay cái tay cầm đầy giận dữ. Những mũi chĩa đâm vào nó như một cái dao nóng đâm vào bơ.

Tôi và con chó quấn chặt lấy nhau, lưỡi của nó lè ra lên tai tôi, miệng nó chảy nước dãi, há hốc trong đau đớn, chỉ còn cách mặt tôi đúng 3 cen-ti-mét. Tôi dùng hết sức đẩy và xoay cái chĩa, lờ mờ nhận ra tiếng kêu thất thanh của một người đàn bà. Con chó rên lên như một con cún. Cái mũi chĩa tiến thêm một phân cuối cùng và không thể tiến sâu hơn. Mắt con chó giãn rộng đau đớn, chớp liên hồi rồi nhắm lại. Cái thân hình đồ sộ của nó co giật mạnh bên trên người tôi. Một dòng máu trào ra khỏi miệng nó, bắn tung toé vào mũi, môi và cằm tôi. Tôi phát oẹ vì cái thứ bẩn thỉu âm ấm mằn mặn ấy. Sự sống đã lìa khỏi cơ thể nó. Tôi đẩy mạnh để thoát ra.

Tất cả mọi việc diễn ra trong vòng chưa đầy 30 giây.

Kim Hickle nhìn con chó đã chết, rồi lại nhìn tôi và chạy ra phía cửa. Tôi đứng dậy, giật lấy cái chĩa khỏi ngực con chó, chặn lối cô ta.

Tôi vừa thở vừa quát:

- Quay lại! - Tôi cử động cái chĩa. Những giọt máu nhỏ bay tung trong không khí. Cô ta sợ chết cứng.

Căn nhà kính không một tiếng động. Mưa đã tạnh. Sự yên lặng ấy bị phá vỡ bởi một tiếng động nghe ùng ục ở dưới đất. Đó là những cái bong bóng khí thoát ra từ xác của con chó. Một đống phân tuôn ra, chảy xuống mấy cái chân bất động.

Cô ta nhìn con chó và bắt đầu khóc. Sau đó cô ta trở nên mềm nhũn và ngồi xuồng sàn nhà trong vẻ sững sờ hết hi vọng của một người chạy trốn.

Tôi cắm cái chĩa xuống đất và sử dụng nó làm cọc đỡ để dựa mình. Phải mất một phút tôi mới lấy lại được hơi sức và khoảng hai hay ba phút sau nữa để kiểm tra những chỗ bị thương.

Cái áo mưa đã bị hỏng hết, rách và ngập ngụa máu chó. Cố gắng một chút tôi cởi bỏ áo khỏi người vứt xuống nền đất. Một cánh tay của áo da bị xé toạc. Tôi cũng rút tay ra khỏi ống tay áo và cuộn nó lên. Tôi kiểm tra bắp tay. Các lớp áo đã giúp giảm bớt thương vong nhưng cũng không được nhiều. Ba vết thương thủng thịt đang sưng, xung quanh là các vết cào xước. Cánh tay vẫn còn cứng đơ và nhức nhối. Tôi thử bẻ và cảm thấy không có gì bị gãy cả. Các xương sườn và chân không bị gãy cái nào mặc dù toàn thân tôi đau ê ẩm. Tôi co duỗi cẩn thận, sử dụng các động tác khởi động nhẹ nhàng đã học được từ Jaroslay. Nó làm cho tôi cảm thấy dễ chịu hơn đôi chút.

Tôi hỏi:

- Cô đã tiêm phòng dại cho con Otto chưa?

Cô ta không trả lời. Tôi nhắc lại câu hỏi, chấm dứt bằng một cái giật mạnh vào cán chĩa.

- Rồi. Tôi có giấy tờ chứng minh đấy.

- Tôi muốn được nhìn thấy chúng.

- Tôi nói thật đấy. Xin ông hãy tin tôi.

- Cô vừa mới định sai con ác thú kia cắn nát cổ tôi. Giờ độ tin cậy của cô với tôi không được cao lắm.

Cô ta nhìn con vật đã chết và đu đưa trong tư thế mặc tưởng. Cô ta dường như là người đã quen chờ đợi. Tôi thì không còn tâm trí nào đế nhẫn nại nữa.

- Cô có hai sự lựa chọn, thưa cô Hickle. Một là hợp tác với tôi, tôi sẽ để cho cô ở yên nơi này. Hai là cứng cổ không chịu hợp tác, tôi sẽ đưa chuyện của cô lên trang nhất của tờ Los Angeles Times. Cô hãy thử nghĩ xem, câu chuyện sẽ là: “Cô vợ goá của một kẻ xâm hại tình dục trẻ em đang trốn tại một nơi đã bị bỏ hoang”. Nghe nên thơ đấy nhỉ? 1000/100 các cơ quan báo chí sẽ đăng tải chuyện này.

- Vậy ông cần gì ở tôi?

- Tôi cần cô trả lời các câu hỏi. Tôi không có lý do gì - hoặc là ham muốn gì - trong việc làm hại cô cả.

- Phải chăng ông đúng là người có văn phòng nơi Stuart bị chết?

- Đúng vậy. Cô còn nghĩ tôi là ai khác nữa?

- Không ai cả - Cô ta trả lời nhanh.

- Phải chăng là Towle? Hayden? Hay McCaffrey?

Nghe tôi nhắc đến những cái tên ấy, mặt cô ta tỏ vẻ đớn đau liên tiếp như thể xương cô ta đang bị bẻ gẫy dần dần từng cái một.

- Tôi không phải là đồng bọn của họ. Nhưng mà tôi muốn biết nhiều hơn về bọn họ.

Cô ta đứng dậy, nhặt lấy cái áo mưa đẫm máu và cẩn thận phủ lên thân hình bất động của con chó.

- Tôi sẽ nói chuyện với ông - Cô ta nói. 

Người dịch: ĐẶNG THỊ HUỆ
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.