Án Mạng Trên Sân Gôn

Lượt đọc: 91 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 22
Tôi Tìm Thấy Tình Yêu

❊ ❊ ❊

Trong một thoáng, tôi ngồi sững như hóa đá, tấm ảnh vẫn còn nằm trong tay.

Rồi, dồn hết can đảm để tỏ ra bình thản, tôi trả lại nó cho anh. Cùng lúc đó, tôi liếc nhanh về phía Poirot. Anh ấy có nhận ra điều gì không? Nhưng thật may là dường như anh chẳng để mắt đến tôi. Bất kỳ biểu hiện bất thường nào trong thái độ của tôi chắc chắn đều đã qua mắt được anh.

Anh nhanh nhẹn đứng bật dậy.

“Chúng ta không còn thời gian để lãng phí. Phải khởi hành ngay lập tức thôi. Mọi chuyện đều ổn cả—biển sẽ lặng sóng mà!”

Giữa khung cảnh bận rộn lúc lên đường, tôi chẳng có thời gian để suy nghĩ, nhưng ngay khi đặt chân lên tàu, thoát khỏi tầm mắt của Poirot (anh, như thường lệ, đang “luyện tập phương pháp tối ưu của Laverguier”), tôi trấn tĩnh lại và bắt đầu phân tích các sự kiện một cách vô tư, khách quan. Poirot biết được bao nhiêu rồi? Anh ấy có nhận ra cô gái tôi gặp trên tàu và Bella Duveen chỉ là một người không? Tại sao anh lại đến Hôtel du Phare? Có phải vì lợi ích của tôi như tôi từng đắc ý tin tưởng? Hay tôi chỉ quá ngây thơ tự huyễn hoặc, và chuyến đi ấy thực chất được thực hiện với một mưu đồ sâu xa và ám muội hơn?

Nhưng dù thế nào đi nữa, tại sao anh lại quyết tâm tìm cho ra cô gái này? Anh có nghi ngờ cô là nhân chứng tận mắt thấy Jack Renauld gây án không? Hay anh nghi ngờ—nhưng điều đó là không thể! Cô gái ấy chẳng có mối thù hằn gì với ông Renauld lớn, cũng chẳng có chút động cơ nào để muốn ông ta chết. Điều gì đã đưa cô trở lại hiện trường vụ án mạng? Tôi cẩn thận rà soát lại các sự kiện. Chắc chắn cô đã xuống tàu tại Calais, nơi tôi chia tay cô ngày hôm đó. Thảo nào tôi không thể tìm thấy cô trên tàu. Nếu cô đã ăn tối ở Calais, rồi bắt tàu đi Merlinville, cô sẽ đến Villa Geneviève đúng vào khoảng thời gian mà Françoise đã khai. Cô đã làm gì khi rời khỏi nhà ngay sau mười giờ? Có lẽ hoặc là đến khách sạn, hoặc quay lại Calais. Và rồi? Vụ án mạng xảy ra vào đêm thứ Ba. Đến sáng thứ Năm, cô lại có mặt ở Merlinville. Liệu cô đã từng rời khỏi nước Pháp chưa? Tôi rất hoài nghi điều đó. Cái gì đã giữ cô lại nơi này—hy vọng được gặp lại Jack Renauld chăng? Tôi từng nói với cô (vào thời điểm mà chúng tôi vẫn tin là thế) rằng anh ta đang lênh đênh trên biển trên đường tới Buenos Ayres. Rất có thể cô biết chiếc Anzora vẫn chưa khởi hành. Nhưng để biết được điều đó, chắc chắn cô đã gặp Jack. Có phải đó là điều Poirot đang truy lùng? Phải chăng Jack Renauld, khi quay lại để gặp Marthe Daubreuil, lại chạm mặt Bella Duveen, cô gái mà anh ta đã nhẫn tâm rũ bỏ?

Tôi bắt đầu mường tượng ra ánh sáng cuối đường hầm. Nếu quả thực là như vậy, thì điều đó có thể cung cấp cho Jack tấm bằng ngoại phạm mà anh ta đang cần. Thế nhưng, trong hoàn cảnh ấy, sự im lặng của anh ta lại khó mà giải thích được. Tại sao anh ta không chịu lên tiếng một cách đường hoàng? Phải chăng anh ta sợ mối tình vắt vai thời niên thiếu này lọt đến tai Marthe Daubreuil? Tôi lắc đầu, cảm thấy không thỏa đáng. Chuyện đó vốn dĩ khá vô hại, chỉ là một mối tình khờ khạo của tuổi trẻ, và tôi thầm nghĩ một cách cay đắng rằng con trai của một triệu phú hẳn không dễ gì bị rúng động bởi một cô gái Pháp nghèo xác xơ — người hơn nữa lại đem lòng yêu anh ta sâu sắc — nếu không vì một nguyên nhân trầm trọng hơn nhiều.

Nói chung, tôi thấy vụ việc này thật rắc rối và mập mờ. Tôi vô cùng ghé tởm việc phải đồng hành cùng Poirot để săn lùng cô gái này, nhưng lại chẳng thấy có cách nào tránh né mà không phải tiết lộ mọi chuyện cho anh, và vì lý do nào đó, tôi hoàn toàn không muốn làm điều đó.

Poirot xuất hiện trở lại với vẻ nhanh nhẹn và tươi cười tại Dover, và chuyến hành trình về London của chúng tôi diễn ra êm ả không có sự cố gì. Đã qua chín giờ tối khi chúng tôi về đến nơi, và tôi cứ đinh ninh rằng chúng tôi sẽ về thẳng phòng của mình và chẳng làm gì nữa cho đến sáng hôm sau. Nhưng Poirot lại có những dự tính khác.

“Chúng ta không được lãng phí thời gian, mon ami. Tin tức về vụ bắt giữ sẽ chưa xuất hiện trên các tờ báo Anh cho đến tận ngày kia, nhưng dẫu sao chúng ta vẫn không được chần chừ.”

Tôi không tài nào theo kịp lý lẽ của anh, đành cất lời hỏi xem anh định tìm cô gái bằng cách nào.

“Cậu có nhớ Joseph Aarons, tay môi giới kịch nghệ chứ? Không à? Tôi từng giúp đỡ hắn ta trong một rắc rối nhỏ liên quan đến một đô vật người Nhật. Một bài toán nhỏ khá thú vị, hôm nào tôi sẽ kể cho cậu nghe. Hắn ta, chắc chắn rồi, sẽ có cách dẫn lối cho chúng ta tìm ra những gì mình muốn biết.”

Chúng tôi mất một lúc lâu mới tóm được tung tích của ông Aarons, và khi hoàn tất thì đã qua nửa đêm. Ông ta chào đón Poirot với vẻ nồng nhiệt rõ rệt, và quả quyết rằng bản thân sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi bằng mọi cách.

“Chẳng có ngóc ngách nào trong giới biểu diễn này mà tôi không nắm rõ,” ông ta vừa nói vừa cười rạng rỡ.

“Eh bien, M. Aarons, tôi muốn tìm một thiếu nữ tên là Bella Duveen.”

“Bella Duveen. Tôi nghe cái tên này quen lắm, nhưng nhất thời chưa nhớ ra cô ấy thuộc trường phái nào.”

“Điều đó thì tôi không rõ—nhưng đây là bức ảnh của cô ấy.”

Ông Aarons chăm chú ngắm nghía tấm ảnh một lát, rồi khuôn mặt bừng sáng.

“Ra rồi!” Ông đét mạnh vào đùi mình. “Nhóm Dulcibella Kids, lạy chúa tôi!”

“Nhóm Dulcibella Kids?”

“Đúng thế. Họ là hai chị em. Làm nghề múa uốn dẻo, vũ công và ca sĩ. Diễn những tiết mục nhỏ khá hay. Tôi tin là họ đang đi lưu diễn ở các tỉnh—nếu như họ không đang nghỉ ngơi. Họ đã biểu diễn ở Paris suốt hai, ba tuần qua.”

“Anh có thể tìm giúp tôi chính xác họ đang ở đâu không?”

“Dễ như trở bàn tay. Cậu cứ về nhà đi, tôi sẽ cho người mang tin tức tới vào buổi sáng.”

Với lời hứa đó, chúng tôi từ biệt ông. Ông ta giữ đúng lời hứa. Khoảng mười một giờ ngày hôm sau, một mảnh giấy chi chít chữ được chuyển đến tay chúng tôi.

“Hai chị em nhà Dulcibella đang biểu diễn tại nhà hát Palace ở Coventry. Chúc các cậu may mắn.”

Không chần chừ thêm nữa, chúng tôi lên đường đi Coventry. Poirot không hề dò la gì tại nhà hát, mà chỉ cẩn thận đặt chỗ trước cho buổi biểu diễn tạp kỹ tối hôm đó.

Buổi biểu diễn nhàm chán đến mức không thể diễn tả bằng lời—hoặc có lẽ chỉ vì tâm trạng của tôi lúc đó khiến mọi thứ trở nên như vậy. Những gia đình người Nhật uốn éo một cách bấp bênh trên các giàn giáo, những gã tự cho là thời thượng trong bộ đồ dạ hội ngả màu xanh lá cùng mái tóc chải keo bóng loáng tuôn ra tràng những câu chuyện xã giao và nhảy múa tuyệt diệu, những nữ danh ca to béo gào thét ở quãng giọng cao nhất của con người, một danh hài cố gắng hóa thân thành ông George Robey nhưng thất bại thảm hại.

Cuối cùng thì tấm biển thông báo số tiết mục của nhóm Dulcibella Kids cũng được kéo lên. Tim tôi thắt lại đến nghẹt thở. Kia rồi—cả hai bọn họ kìa, một cô tóc vàng hoe, một cô tóc sậm màu, vóc dáng tương đồng, với những chiếc váy ngắn phồng và chiếc nơ buster brown khổng lồ. Trông họ chẳng khác gì một cặp trẻ em vô cùng ranh mãnh. Họ bắt đầu cất giọng hát. Giọng của họ còn trong trẻo và chuẩn xác, tuy hơi mỏng mang âm hưởng ca múa nhạc tạp kỹ nhưng lại rất cuốn hút.

Đó là một tiết mục nhỏ khá đẹp mắt. Họ nhảy múa nhịp nhàng và thực hiện vài động tác nhào lộn khéo léo. Ca từ trong bài hát của họ rất gọn gàng và bắt tai. Khi tấm màn hạ xuống, những tràng pháo tay vang lên tán thưởng nồng nhiệt. Hiển nhiên là nhóm Dulcibella Kids đã gặt hái được thành công.

Đột nhiên tôi cảm thấy mình không thể trụ lại đây thêm giây phút nào nữa. Tôi phải ra ngoài hít thở không khí trong lành. Tôi bèn gợi ý với Poirot rằng mình muốn ra về.

“Cứ đi đi, mon ami. Tôi vẫn đang thấy rất thú vị và sẽ ở lại đến cùng. Lát nữa tôi sẽ tìm cậu sau.”

Từ nhà hát về khách sạn chỉ mất vài bước chân. Tôi bước lên phòng khách, gọi một ly whisky soda và ngồi nhấm nháp, đăm chiêu nhìn vào đống lò sưởi trống hoác. Tôi nghe tiếng cửa mở và quay đầu lại, cứ ngỡ đó là Poirot. Rồi tôi giật mình bật dậy. Chính Lọ Lem đang đứng ngay ngưỡng cửa.

Cô cất lời ngập ngừng, hơi thở đứt quãng thành từng tiếng nấc nghẹn ngào.

“Em đã thấy anh ngồi dưới hàng ghế khán giả. Cả anh và người bạn của anh nữa. Khi anh đứng lên rời đi, em đã đợi sẵn bên ngoài và đi theo anh. Tại sao anh lại ở đây—ở Coventry? Đêm nay anh đến đây có việc gì? Người đi cùng anh có phải là—là thám tử không?”

Cô đứng đó, chiếc áo choàng khoác hững hờ ngoài trang phục biểu diễn tuột khỏi vai. Tôi nhìn thấy làn da trắng bệch của má ẩn dưới lớp phấn hồng, và nghe rõ nỗi kinh hoàng trong giọng nói của cô. Và ngay trong khoảnh khắc ấy, tôi đã hiểu thấu mọi chuyện—hiểu lý do vì sao Poirot lại cất công tìm kiếm cô, hiểu điều gì khiến cô sợ hãi, và cuối cùng cũng hiểu được chính trái tim mình…

“Phải,” tôi đáp dịu dàng.

“Anh ấy đang tìm—em sao?” cô thảng thốt thì thầm.

Rồi, thấy tôi chần chừ không đáp, cô sụp xuống bên chiếc ghế bành lớn, oà khóc nức nở, đầy đớn đau và cay đắng.

Tôi quỳ xuống bên cạnh, ôm cô vào lòng và vuốt lại mái tóc xõa ngang mặt cô.

“Đừng khóc, em ơi, đừng khóc nữa, vì Chúa. Em được an toàn ở đây rồi. Anh sẽ bảo vệ em. Đừng khóc nữa, em yêu. Đừng khóc. Anh biết rồi—anh biết hết mọi chuyện rồi.”

“Ôi, nhưng anh đâu có biết!”

“Anh nghĩ là anh biết.” Và một lát sau, khi tiếng nấc của cô đã dịu bớt, tôi hỏi: “Chính em là người đã lấy con dao găm, đúng không?”

“Vâng.”

“Đó là lý do vì sao em muốn anh dẫn đi tham quan ư? Và cũng là lý do em giả vờ ngất xỉu?”

Cô lại gật đầu. Một suy nghĩ lạ lùng chợt thoáng qua trong đầu tôi vào khoảnh khắc đó, nhưng nó vụt đến nhanh chóng rằng tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì động cơ của cô đúng là như vậy—chứ không phải sự tò mò vô bổ và bệnh hoạn mà tôi từng gán cho cô vào thời điểm ấy. Cô đã diễn tròn vai của mình trong ngày hôm đó biết bao dũng cảm, dẫu cho cõi lòng chắc hẳn đang tan nát vì sợ hãi và run rẩy. Tội nghiệp tâm hồn nhỏ bé, phải oằn mình gánh chịu hệ lụy từ một phút bốc đồng.

“Tại sao em lại lấy con dao găm đó?” một lát sau tôi cất tiếng hỏi.

Cô đáp ngây thơ như một đứa trẻ:

“Em sợ trên đó có dấu vân tay của mình.”

“Nhưng chẳng lẽ em không nhớ là mình đã đeo găng tay sao?”

Cô lắc đầu như thể hoang mang, rồi chậm rãi thốt lên:

“Anh có định giao nộp em cho—cho cảnh sát không?”

“Lạy Chúa! Không đời nào.”

Đôi mắt cô đăm đăm nhìn sâu vào mắt tôi đầy khẩn khoản, rồi cô cất chất giọng nhỏ nhẹ, run rẩy như sợ chính âm thanh của mình:

“Tại sao lại không?”

Đó quả là một không gian kỳ lạ và một thời điểm kỳ lạ cho một lời tỏ tình—và Chúa biết đấy, trong tất cả những tưởng tượng của mình, tôi chưa từng hình dung tình yêu lại đến với tôi trong một hình hài thế này. Nhưng tôi đáp lại một cách vô cùng chân thành và tự nhiên:

“Vì anh yêu em, Lọ Lem.”

Cô cúi gằm đầu xuống như thể ngượng ngùng, rồi cất giọng đứt quãng thì thầm:

“Anh không thể nào… anh không thể đâu… nếu như anh biết được—” Và rồi, như thể lấy lại can đảm, cô ngẩng mặt nhìn thẳng vào tôi và hỏi:

“Vậy anh đã biết những gì rồi?”

“Anh biết đêm hôm đó em đã đến gặp ông Renauld. Ông ấy đưa cho em một tấm séc và em đã phẫn nộ xé nó đi. Sau đó em rời khỏi nhà—” Tôi khựng lại.

“Nói tiếp đi—rồi sao nữa?”

“Anh không rõ là em biết Jack Renauld sẽ tới vào đêm hôm đó, hay em chỉ quẩn quanh ở đó với hy vọng mong manh được gặp anh ta, nhưng quả thực em đã đứng chờ ở đó. Có lẽ vì lòng nặng trĩu nỗi buồn, em cứ lang thang không mục đích—nhưng dù thế nào đi nữa, ngay trước mười hai giờ, em vẫn ở gần khu vực đó và em đã nhìn thấy một người đàn ông trên sân gôn—”

Tôi lại ngừng lời. Ngay khi cô bước vào phòng, tôi đã chợt mường tượng ra sự thật trong chớp mắt, nhưng giờ đây bức tranh ấy càng hiện lên rõ mồn một trước mắt tôi một cách đầy thuyết phục. Tôi nhìn thấy rõ mồn một kiểu hoa văn đặc biệt trên chiếc áo choàng của cái xác ông Renauld, và tôi nhớ lại sự giống nhau đến kinh ngạc từng khiến tôi giật mình cho rằng người chết đã sống lại khi con trai ông xộc vào cuộc họp mặt của chúng tôi trong phòng khách.

“Nói tiếp đi,” cô gái kiên quyết giục giã.

“Anh đoán là lúc đó anh ta đang quay lưng về phía em—nhưng em đã nhận ra anh ta, hoặc tưởng là đã nhận ra. Dáng đi và phong thái đó quen thuộc với em, cả hoa văn trên chiếc áo choàng nữa.” Tôi ngưng lại. “Em từng nói với tôi trên chuyến tàu từ Paris rằng trong huyết quản của em có mang dòng máu Ý, và vì điều đó mà suýt chút nữa em từng vướng vào rắc rối. Em đã dùng một lời đe dọa trong bức thư gửi Jack Renauld. Khi nhìn thấy anh ta ở đó, sự giận dữ và ghen tuông đã làm em mất trí—và em ra tay! Anh không đời nào tin là em có ý định sát hại anh ta. Nhưng em đã giết chết ông ấy rồi, Lọ Lem ạ.”

Cô đưa hai tay che kín mặt, giọng nghẹn ngào thốt lên:

“Anh nói đúng… anh nói đúng rồi… em như thấy lại tất cả qua lời anh kể.” Rồi cô quay phắt sang tôi, giận dữ đến tột cùng. “Và anh vẫn yêu em sao? Biết rõ mọi chuyện như vậy mà anh vẫn có thể yêu em ư?”

“Anh không biết nữa,” tôi đáp với vẻ mệt mỏi. “Anh nghĩ tình yêu là thế đấy—một thứ mà người ta không tài nào cưỡng lại được. Anh biết mình đã cố gắng—kể từ ngày đầu tiên gặp em. Nhưng tình yêu còn mạnh mẽ hơn cả anh.”

Và rồi bất chợt, vào lúc tôi ít ngờ tới nhất, cô lại sụp đổ, ngã gục xuống sàn nhà và khóc nức nở điên cuồng.

“Ôi, em không thể chịu nổi!” cô kêu lên. “Em không biết phải làm sao nữa. Em không biết phải quay về đâu. Ôi, xin ai đó hãy rủ lòng thương và bảo em phải làm gì đi!”

Tôi lại quỳ xuống bên cô, dịu dàng dỗ dành hết sức có thể.

“Đừng sợ anh, Bella. Vì Chúa, xin đừng sợ anh. Anh yêu em, đó là sự thật—nhưng anh không đòi hỏi bất cứ điều gì từ em cả. Chỉ cần để anh giúp em. Cứ yêu anh ta nếu em buộc phải thế, nhưng hãy để anh được giúp em theo cách mà anh ta không thể.”

Những lời tôi nói dường như khiến cô sững lại hóa đá. Cô ngẩng đầu lên khỏi hai bàn tay và trân trân nhìn tôi.

“Anh nghĩ thế sao?” cô thì thầm. “Anh nghĩ là em yêu Jack Renauld ư?”

Rồi, vừa cười vừa khóc, cô cuống quýt vòng tay ôm chặt lấy cổ tôi, áp khuôn mặt đẫm nước mắt ngọt ngào của cô vào má tôi.

“Không phải như cách em yêu anh,” cô thì thầm. “Chưa bao giờ là như cách em yêu anh cả!”

Đôi môi cô lướt nhẹ trên má tôi, rồi tìm đến môi tôi, hôn tôi hết lần này đến lần khác với sự ngọt ngào và mãnh liệt ngoài sức tưởng tượng. Sự cuồng nhiệt ấy—và cả sự kỳ diệu ấy, tôi sẽ không bao giờ quên—không, chừng nào tôi còn sống!

Chính tiếng động ngoài cửa đã khiến chúng tôi giật mình ngẩng lên. Poirot đang đứng đó nhìn chừng chừng vào chúng tôi.

Tôi không mảy may do dự. Chỉ với một cú rướn người, tôi đã áp sát và khóa chặt hai tay anh vào sườn.

“Nhanh lên,” tôi nói với cô gái. “Chạy khỏi đây đi. Nhanh nhất có thể vào. Để anh giữ hắn lại.”

Chỉ liếc nhìn tôi một cái, cô liền lao biến ra khỏi phòng vượt qua chúng tôi. Tôi dùng sức mạnh tựa gọng kìm để ghìm chặt Poirot.

“Mon ami,” vị thám tử điềm đạm nhận xét, “cậu dàn dựng trò này cừ lắm đấy. Người hùng cơ bắp đang ôm ghìm lấy tôi khiến tôi bất lực chẳng khác gì trẻ con. Nhưng tình thế này thật bất tiện và có đôi chút buồn cười đấy. Chúng ta ngồi xuống và nói chuyện bình tĩnh nào.”

“Anh sẽ không truy đuổi cô ấy chứ?”

“Mon Dieu! Không đời nào. Tôi là Giraud chắc? Thả tôi ra nào, bạn tôi.”

Vừa ném ánh mắt đầy cảnh giác về phía anh — vì tôi thừa hiểu sự khôn ngoan của Poirot đủ để biết mình chẳng phải đối thủ của anh — tôi vừa nới lỏng tay, và anh ngả người xuống chiếc ghế bành, vừa xoa bóp hai cánh tay đầy vẻ nâng niu.

“Cậu đúng là có sức mạnh của một con bò mộng mỗi khi nổi giận đấy, Hastings! Eh bien, thế cậu có nghĩ rằng mình đã cư xử phải phép với người bạn già này không? Tôi cho cậu xem bức ảnh của cô gái và cậu nhận ra ngay, thế mà chẳng thèm hé răng lấy một lời.”

“Chẳng có lý do gì phải nói nếu anh đã thừa biết là tôi nhận ra nó,” tôi đáp với giọng có phần cay đắng. Hóa ra Poirot đã biết thừa từ đầu! Tôi chẳng thể lừa phỉnh được anh ta dù chỉ là một khoảnh khắc.

“Ta-ta! Cậu nào có hay là tôi biết điều đó đâu. Thế mà tối nay cậu lại giúp cô gái trốn thoát ngay khi chúng tôi đã vất vả lắm mới tìm ra cô ta! Eh bien! Cuối cùng thì vấn đề là thế này — cậu định đứng về phía tôi hay chống lại tôi đây, Hastings?”

Trong chốc lát tôi không đáp lại. Việc phải cắt đứt với người bạn già khiến tôi vô cùng đau đớn. Thế nhưng tôi buộc phải rạch ròi đứng ở chiến tuyến đối lập với anh. Liệu anh có bao giờ tha thứ cho tôi không nhỉ, tôi tự hỏi. Đến giờ phút này anh vẫn giữ vẻ bình tĩnh đến kỳ lạ, nhưng tôi quá hiểu anh sở hữu một bản lĩnh phi thường đến nhường nào.

“Poirot,” tôi lên tiếng, “tôi rất tiếc. Tôi thừa nhận mình đã cư xử tệ với anh trong chuyện này. Nhưng đôi khi người ta chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Và từ nay về sau, tôi phải đi theo con đường của riêng mình.”

Poirot khẽ gật đầu vài cái.

“Tôi hiểu,” anh nói. Vẻ chế giễu trong mắt anh đã hoàn toàn biến mất, và anh cất giọng với sự chân thành cùng lòng tốt khiến tôi ngạc nhiên. “Là vì chuyện đó phải không, bạn của tôi? Tình yêu đã đến rồi—không phải như cách cậu tưởng tượng, kiêu hãnh với những chiến tích lẫy lừng, mà đầy nỗi buồn tủi với đôi bàn chân rớm máu. Thôi được rồi—tôi đã cảnh báo cậu từ trước. Khi tôi nhận ra cô gái này chính là kẻ đã lấy con dao găm, tôi đã cảnh báo cậu rồi. Có lẽ cậu còn nhớ. Nhưng lúc đó thì đã quá muộn. Mà nói cho tôi nghe xem, cậu biết được bao nhiêu rồi?”

Tôi nhìn thẳng vào mắt anh không chút nao núng.

“Chẳng có điều gì anh nói mà lại khiến tôi bất ngờ đâu, Poirot. Cứ hiểu là như vậy đi. Nhưng để phòng khi anh có ý định tiếp tục cuộc tìm kiếm cô Duveen, tôi muốn anh biết rõ một điều. Nếu anh có bất kỳ ý nghĩ nào cho rằng cô ấy dính líu đến vụ án mạng, hay chính là người phụ nữ bí ẩn đã đến gặp ông Renauld đêm hôm đó, thì anh đã lầm to. Tôi đã đi chung chuyến tàu từ Pháp về cùng cô ấy ngày hôm đó, và chia tay cô ấy tại ga Victoria vào tối hôm đó, thế nên chuyện cô ấy có mặt ở Merlinville là điều hoàn toàn bất khả thi.”

“Ạh!” Poirot trầm ngâm nhìn tôi. “Và cậu dám thề điều đó trước tòa án chứ?”

“Tôi hoàn toàn dám chứ.”

Poirot đứng dậy và cúi đầu chào.

“Mon ami! Vive l’amour! Nó có thể tạo ra những phép màu đấy. Những gì cậu vừa bịa ra quả thực vô cùng tinh vi. Nó đánh bại cả Hercule Poirot này cơ mà!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.