Ăn Gì Bổ Não

Lượt đọc: 76 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Chào mừng

❊ ❊ ❊

Những người bạn vi sinh từ khi bạn sinh ra đến khi chết đi

Đâu đó trên một hòn đảo xinh đẹp ở Hy Lạp thuộc vùng biển Aegea, một bé trai ra đời một cách tự nhiên ở nhà. Bé bú sữa mẹ trong hai năm. Lớn lên. Cậu bé không có được nhiều sự tiện nghi hiện đại của nền văn hóa Mỹ. Đồ ăn nhanh, nước ép trái cây và soda là những thứ vô cùng lạ lẫm với cậu. Các bữa ăn của cậu bao gồm chủ yếu là rau từ khu vườn của gia đình, những loại thịt cá địa phương, sữa chua tự làm, các loại hạt và rất nhiều dầu ôliu. Cậu dành những tháng ngày tuổi thơ theo học ở một ngôi trường nhỏ và giúp đỡ cha mẹ ở trang trại của họ, nơi họ trồng rau, thảo mộc để làm trà và nho để làm rượu. Không khí trong lành và không có ô nhiễm.

Khi cậu bị ốm, cha mẹ cho cậu một thìa đầy mật ong địa phương, vì không phải lúc nào cũng có thuốc kháng sinh. Cậu sẽ không bao giờ bị chẩn đoán tự kỷ, hen suyễn hay rối loạn tăng động giảm chú ý. Cậu bé có thân hình cân đối và mảnh khảnh nhờ hoạt động thường xuyên. Các gia đình không ngồi trên ghế dài mỗi tối; họ thường giao lưu với hàng xóm và nhảy theo nhạc. Cậu bé này có lẽ sẽ chẳng bao giờ phải đối mặt với một bệnh về não bộ nghiêm trọng nào như trầm cảm hay Alzheimer. Thực tế, cậu chắc hẳn sẽ sống tới khi già nua, bởi hòn đảo quê hương cậu, Ikaria, là nơi có tỉ lệ người ở tuổi 90 cao nhất hành tinh – gần một phần ba người dân sống đến thập niên thứ mười với sức khỏe thể chất và tinh thần mạnh mẽ.1 Họ cũng có số ca mắc ung thư ít hơn 20%, một nửa số ca bệnh tim, và gần như không có người mắc chứng mất trí nhớ.

Giờ hãy tới bất kỳ thành phố nào ở Mỹ, nơi một bé gái được sinh ra. Cô bé chào đời qua một ca sinh mổ theo nguyện vọng và được uống sữa công thức hoàn toàn. Cô bé mắc nhiều bệnh nhiễm trùng khi còn nhỏ – từ viêm tai mạn tính cho tới viêm họng và xoang – và được chữa bằng thuốc kháng sinh; cô bé dùng thuốc kháng sinh ngay cả khi bị cảm lạnh thông thường. Tuy được tiếp cận với nguồn dinh dưỡng tốt nhất thế giới, chế độ ăn của bé tràn ngập đồ ăn chế biến sẵn, đường tinh luyện, và những chất béo thực vật không lành mạnh. Tới sáu tuổi, cô bé thừa cân và được chẩn đoán tiền béo phì. Cô bé lớn lên thành một người sử dụng đồ điện tử thành thạo và dành phần lớn thời gian tuổi trẻ ở một ngôi trường nghiêm khắc. Nhưng giờ cô phải dùng thuốc chống lo âu, mắc nhiều vấn đề về hành vi, và thường xuyên vật lộn với việc học tập do thiếu khả năng tập trung. Khi trường thành, cô bé sẽ có nguy cơ cao mắc những bệnh chết người liên quan đến não, bao gồm rối loạn tâm trạng và lo âu, đau nửa đầu và các chứng rối loạn tự miễn như đa xơ cứng. Và khi nhiều tuổi hơn nữa, cô có thể mắc bệnh Parkinson hay Alzheimer. Ở Mỹ, những sát thủ hàng đầu đều có liên quan đến các bệnh mạn tính, như chứng mất trí nhớ, căn bệnh hiếm thấy ở trên hòn đảo Hy Lạp kia.

Chuyện gì đang xảy ra ở đây? Trong vài năm qua, nghiên cứu mới đã cho chúng ta sự hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa những gì chúng ta tiếp xúc từ những năm đầu đời và sức khỏe ngắn hạn cũng như dài hạn của bản thân. Các nhà khoa học đã xem xét kỹ lưỡng các mối liên hệ giữa trạng thái hệ vi sinh trong người và tình trạng sức khỏe của một người. Câu trả lời cho câu hỏi nằm ở sự khác biệt giữa các trải nghiệm đầu đời của hai đứa trẻ, và một phần trong trải nghiệm đó, nói rộng ra, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của hệ vi sinh của riêng chúng, những cộng đồng vi sinh vật tồn tại trong cơ thể chúng từ khi sinh ra và có vai trò then chốt trong sức khỏe và chức năng não bộ trong suốt cuộc đời.

Hiển nhiên, tôi đã có những quan điểm riêng trong trường hợp giả định này. Có hằng hà sa số các yếu tố dẫn tới tuổi thọ của bất kỳ người nào và nguy cơ mắc một vài căn bệnh nhất định trong cuộc đời của họ. Nhưng ngay lúc này, hãy tập trung vào thực tế rằng những trải nghiệm đầu đời của cô bé đã đặt ra một hướng đi khác hoàn toàn về phương diện sức khỏe não bộ so với cậu bé kia. Và vâng, hòn đảo Hy Lạp đó thực sự tồn tại. Ikaria nằm cách bờ phía tây Thổ Nhĩ Kỳ khoảng 50 km. Nó cũng được biết đến như một Vùng Xanh, một nơi mà con người sống lâu hơn, khỏe mạnh hơn đáng kể so với hầu hết chúng ta ở thế giới phát triển phương Tây. Họ thường uống rượu vang và cà phê hằng ngày, vẫn năng động trong một thời gian dài sau tuổi 80, và tinh thần nhạy bén cho tới cuối đời. Một nghiên cứu nổi tiếng đã chỉ ra rằng những người đàn ông ở Ikaria có khả năng sống tới tuổi 90 cao gấp bốn lần so với đàn ông Mỹ, và thường có sức khỏe tốt hơn.2 Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng họ sống lâu hơn tới một thập niên trước khi mắc các bệnh tim mạch và ung thư, và họ không mắc chứng trầm cảm nhiều. Tỉ lệ suy giảm nhận thức ở những người trên 80 tuổi chỉ bằng một phần nhỏ so với người Mỹ cùng độ tuổi.

Tôi chắc rằng khi khoa học giải quyết được vấn đề giữa hai nơi khác biệt rõ rệt này, và chúng ta có thể chỉ ra nguồn cơn của những vấn đề về sức khỏe tại đây ở Mỹ, hệ vi sinh của con người sẽ đi đầu. Tôi sẽ chứng minh cho bạn rằng nó đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe ngang với oxy và nước. Vậy những vi sinh vật trong bụng bạn có ảnh hưởng gì tới não bộ và các bệnh liên quan?

Nhiều hơn bạn tưởng đấy.

AI CHỊU TRÁCH NHIỆM? NHỮNG VI SINH VẬT TRONG RUỘT BẠN

Có lẽ không có từ nào tốt hơn để chỉ những vi sinh vật sống trong ruột và giúp bạn tiêu hóa bằng từ siêu anh hùng. Dù có ít nhất 10.000 loài khác nhau chung sống trong ruột người, một vài chuyên gia cho rằng con số này có thể vượt quá 35.000 loài.3 Các công nghệ mới cuối cùng đã xuất hiện để giúp các nhà khoa học xác định mọi loài, rất nhiều trong số đó không thể nuôi cấy được trong phòng thí nghiệm bằng các phương pháp truyền thống.

Trong thảo luận này, chúng ta sẽ tập trung cụ thể vào vi khuẩn; chúng chiếm phần lớn lượng vi sinh trong ruột của bạn, cùng với nấm men, virus, sinh vật đơn bào và các ký sinh trùng nhân thực mà cũng đóng vai trò quan trọng, có lợi cho sức khỏe. Nhìn chung, chính vi khuẩn là những nhân tố chủ chốt của cơ thể trong hoạt động cùng với chức năng sinh lý học của bạn – đặc biệt là hệ thần kinh. Xếp cùng nhau, các vi khuẩn trong ruột bạn có thể nặng khoảng 1,3 đến 1,8 kg, tương đương với khối lượng bộ não của bạn (một nửa khối lượng phân của bạn tạo nên từ các vi khuẩn bị thải loại).4

Nhớ lại thời trung học khi bạn học về hệ tiêu hóa, bạn đã được biết nó phân giải đồ ăn thành chất dinh dưỡng để cơ thể hấp thụ như thế nào. Bạn đã đọc về các axit và enzyme trong dạ dày, cũng như các hormone giúp chỉ dẫn quá trình này. Bạn có thể đã phải ghi nhớ các bước mà một miếng đồ ăn điển hình đi từ miệng tới hậu môn. Bạn có thể đã học sâu tới mức hiểu cách mà glucose – phân tử đường – đi vào các tế bào để tạo ra năng lượng. Nhưng có lẽ bạn chưa bao giờ nghe về hệ sinh thái đa dạng sống bên trong đường tiêu hóa của mình, mà gần như điều hành toàn bộ hệ thống trong cơ thế. Bạn cũng không phải làm bài kiểm tra về các vi khuẩn đường ruột mà DNA của chúng có thể có tác động lớn tới sức khỏe của bạn hơn cả DNA của chính bạn.

Tôi biết, điều này gần như không thể tin nổi. Nghe có vẻ điên rồ, như khoa học viễn tưởng vậy. Nhưng nghiên cứu đã chỉ rõ: Những vi sinh vật trong ruột bạn cũng có thể được coi là một nội tạng theo cách riêng của chúng. Và chúng cũng có vai trò sống còn đối với sức khỏe của bạn giống như trái tim, cặp phổi, gan và não. Nghiên cứu mới nhất cho chúng ta biết rằng hệ vi khuẩn đường ruột cư trú trên các nếp gấp mỏng manh của thành ruột:

• Hỗ trợ tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng.

• Tạo nên một rào chắn vật lý chống lại những kẻ xâm nhập như các vi khuẩn có hại (vi sinh vật gây bệnh), các virus xấu và các ký sinh trùng gây tổn thương. Một vài loại vi khuẩn có các sợi lông để giúp chúng bơi; những “roi”, tên gọi của các sợi này, gần đây đã được chứng minh là chặn các rotavirus dạ dày trên đường đi của nó.5

• Hoạt động như một cỗ máy khử độc. Những vi sinh vật trong ruột đóng vai trò ngăn ngừa nhiễm trùng và có tác dụng như một hàng phòng thủ trước nhiều loại độc tố xuống tới ruột của bạn. Trên thực tế, bởi vì chúng vô hiệu hóa nhiều loại độc tố trong thức ăn, chúng có thể được coi là lá gan thứ hai. Do vậy khi giảm lượng vi khuẩn có lợi trong ruột, bạn đã tăng cường độ làm việc của gan.

• Ảnh hưởng lớn tới sự đáp ứng của hệ miễn dịch. Trái ngược với những gì bạn tưởng, ruột là cơ quan lớn nhất của hệ miễn dịch. Hơn nữa, vi khuẩn có thể hướng dẫn và hỗ trợ hệ miễn dịch bằng cách điểu khiển một số tế bào miễn dịch nhất định và ngăn chặn sự tự miễn (một trạng thái mà cơ thể tấn công các mô của chính nó).

• Sản xuất và tiết ra các enzyme và chất quan trọng, cũng như các hóa chất cho não bộ, bao gồm các vitamin và các chất dẫn truyền thần kinh.

• Giúp bạn đương đầu với sự căng thẳng qua các tác động của hệ vi khuẩn lên hệ nội tiết – hormone.

• Hỗ trợ bạn có được giấc ngủ ngon.

• Giúp kiểm soát các con đường gây viêm của cơ thể, từ đó ảnh hưởng đến nguy cơ đối với hầu như tất cả các loại bệnh mạn tính.

Rõ ràng, các vi khuẩn có lợi trong một đường ruột khỏe mạnh không phải là những kẻ ăn sẵn hưởng thụ đồ ăn và chỗ ở miễn phí. Chúng có ảnh hưởng đến nguy cơ không chỉ về các bệnh về não và tinh thần mà còn cả ung thư, hen suyễn, dị ứng thực phẩm, các bệnh về chuyển hóa như tiểu đường và béo phì, cũng như các bệnh tự miễn nhờ những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của chúng lên nhiều cơ quan và hệ thống. Nói đơn giản, chúng chịu trách nhiệm về sức khỏe của bạn.

Một số vi khuẩn ít nhiều là cư dân thường trú; chúng tạo thành các quần thể lâu dài. Những loại khác thì nhất thời; nhưng ngay cả những loại chỉ tồn tại thời gian ngắn cũng có tác dụng quan trọng. Vi khuẩn nhất thời di chuyển qua đường tiêu hóa của con người và, tùy thuộc vào loại và đặc điểm riêng biệt của chúng, chúng có tiếng nói riêng đối với sức khỏe tổng thể của cơ thể. Nhưng thay vì cư trú lâu dài, chúng thiết lập các quần thể nhỏ trong một thời gian ngắn trước khi bị đào thải hoặc chết đi. Tuy nhiên, khi cư trú tạm thời, chúng thực hiện một lượng lớn các nhiệm vụ cần thiết; một số chất chúng tạo ra rất quan trọng đối với sức khỏe và sự khỏe mạnh của các vi khuẩn cư trú lâu dài – và theo đó là sức khỏe của chúng ta.

MỐI QUAN HỆ GIỮA RUỘT VÀ NÃO

Mặc dù để hiểu biết đầy đủ về mối liên kết ruột-não bộ đòi hỏi bạn phải có kiến thức về miễn dịch học, bệnh lý học, thần kinh học và nội tiết học, nhưng tôi sẽ đơn giản hóa nó cho bạn. Bạn sẽ tiếp tục xây dựng và củng cố nền tảng kiến thức này khi đọc các chương sắp tới.

Hãy nghĩ về lần cuối cùng bạn cảm thấy đau bụng vì hồi hộp, lo lắng, sợ hãi hoặc có thể là do quá phấn khích. Có thể đó là trước khi làm một bài kiểm tra quan trọng, phát biểu trước một nhóm người, hoặc kết hôn. Các nhà khoa học chỉ mới biết được rằng mối quan hệ mật thiết giữa ruột và não của bạn thực sự là hai chiều: Giống như bộ não của bạn có thể gửi sự phấn khích đến dạ dày, ruột của bạn có thể chuyển trạng thái bình tĩnh hoặc báo động đến hệ thần kinh.

Dây thần kinh phế vị, dây thần kinh dài nhất trong số 12 dây thần kinh sọ, là kênh thông tin chính giữa hàng trăm triệu tế bào thần kinh trong hệ thần kinh ruột và hệ thần kinh trung ương của chúng ta. Còn được gọi là dây thần kinh sọ số X, nó kéo dài từ thân não đến vùng bụng, chỉ đạo nhiều quá trình của cơ thể mà chúng ta không kiểm soát một cách có ý thức. Chúng có các nhiệm vụ quan trọng như duy trì nhịp tim và kiểm soát sự tiêu hóa. Và hóa ra quần thể vi khuẩn trong ruột ảnh hưởng trực tiếp đến sự kích thích và chức năng của các tế bào dọc theo dây thần kinh phế vị. Một số vi khuẩn trong ruột thực sự có thể giải phóng các thông điệp hóa học, giống như các tế bào thần kinh, nói với não bằng ngôn ngữ riêng của chúng thông qua dây thần kinh phế vị.

Khi nghĩ đến hệ thần kinh, có lẽ bạn sẽ hình dung đến não và tủy sống. Nhưng đó chỉ là hệ thần kinh trung ương. Bạn cũng phải xem xét hệ thần kinh ruột của bạn, hệ thần kinh của đường tiêu hóa. Hệ thần kinh trung ương và ruột được tạo ra từ cùng một mô trong quá trình phát triển của thai nhi, và chúng được kết nối thông qua dây thần kinh phế vị. Nó còn được gọi là dây thần kinh lang thang, một tên thích hợp cho dây thần kinh này, dây thần kinh này đi lang thang trong hệ tiêu hóa.

Các tế bào thần kinh trong ruột dồi dào đến mức nhiều nhà khoa học hiện đang gọi tổng thể của chúng là “bộ não thứ hai”. Bộ não thứ hai này không chỉ kiểm soát cơ bắp, tế bào miễn dịch và nội tiết tố mà còn sản xuất ra một thứ thực sự quan trọng. Các loại thuốc chống trầm cảm phổ biến như Paxil, Zoloft và Lexapro làm tăng sự sẵn có của chất hóa học serotonin “tạo cảm giác dễ chịu” trong não. Bạn có thể ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng ước tính khoảng 80 đến 90% lượng serotonin trong cơ thể được sản xuất bởi các tế bào thần kinh trong ruột của bạn!6 Trên thực tế, bộ não ở ruột của bạn tạo ra nhiều serotonin – phân tử hạnh phúc chính – hơn bộ não trong đầu bạn. Nhiều nhà thần kinh học và tâm thần học hiện đang nhận ra rằng đây có thể là một lý do tại sao thuốc chống trầm cảm thường kém hiệu quả trong điều trị trầm cảm hơn so với thay đổi chế độ ăn uống. Trên thực tế, nghiên cứu gần đây đang phát hiện rằng bộ não thứ hai của chúng ta có thể không hề “thứ cấp” chút nào.7 Nó có thể hoạt động độc lập với bộ não chính và kiểm soát nhiều chức năng mà không cần mệnh lệnh hoặc sự trợ giúp của não bộ.

Tôi sẽ giải thích thêm về sinh học của não bộ ở ruột trong suốt cuốn sách này. Bạn sẽ tìm hiểu về nhiều chức năng sinh học trong các chương sắp tới, tất cả đều liên quan đến hệ vi sinh vật. Mặc dù một số thứ có vẻ khác biệt rõ ràng với những thứ khác, chẳng hạn như tế bào miễn dịch của bạn làm gì và tuyến tụy của bạn bơm ra bao nhiêu insulin, bạn sẽ sớm hiểu rằng chúng có cùng một mẫu số chung: cư dân của đường ruột. Theo nhiều cách, chúng là những kẻ canh giữ và cai trị cơ thể của bạn. Chúng tạo thành trụ sở chính của cơ thể. Chúng là những anh hùng và đối tác thầm lặng trong sức khỏe của bạn. Và chúng là người điều khiển sinh lý của bạn theo những cách mà bạn có lẽ không bao giờ tưởng tượng được.

Việc thấu hiểu các mối liên hệ giữa ruột và não giúp xem xét phản ứng chung của cơ thể đối với căng thẳng, cả về thể chất (ví dụ: chạy trốn khỏi một kẻ đột nhập có vũ trang trong nhà của bạn) và tinh thần (ví dụ: tránh tranh cãi với sếp của bạn). Thật không may, cơ thể không đủ thông minh để phân biệt giữa hai điều này, đó là lý do tại sao tim bạn có thể đập mạnh trước khi chuẩn bị chạy trốn khỏi tên trộm cũng như khi bạn bước vào văn phòng của sếp. Cả hai tình huống đều được coi là căng thẳng với cơ thể, mặc dù chỉ một – thoát khỏi kẻ xâm nhập – là mối đe dọa thực sự cho sự sống còn. Vì vậy, trong cả hai trường hợp, cơ thể bạn sẽ tràn ngập steroid và adrenaline tự nhiên, và hệ miễn dịch của bạn sẽ giải phóng các thông điệp hóa học gọi là cytokine gây viêm khiến hệ thống cảnh giác cao độ. Điều này có hiệu quả đối với những khoảnh khắc cưỡng ép theo đợt, nhưng điều gì sẽ xảy ra khi cơ thể thường xuyên bị căng thẳng (hoặc nghĩ là như vậy)?

Hiếm khi chúng ta thấy mình liên tục chạy trốn khỏi kẻ trộm, nhưng căng thẳng về thể chất cũng bao gồm việc đối mặt với các chất độc và mầm bệnh có thể gây chết người. Và đây là những thứ chúng ta có thể phải đối mặt hằng ngày chỉ qua các lựa chọn chế độ ăn uống. Mặc dù cơ thể có thể không nhất thiết phải chuyển sang chế độ chiến-hay-chạy với trái tim đập thình thịch khi gặp một chất hoặc thành phần mà cơ thể không thích, nhưng nó chắc chắn sẽ trải qua sự đáp ứng miễn dịch. Và kích hoạt miễn dịch trường diễn và sự đáp ứng viêm gây ra từ những tình huống chạm trán như vậy có thể dẫn đến bệnh mạn tính, từ các bệnh về tim và não như Parkinson, đa xơ cứng, trầm cảm và sa sút trí tuệ đến các rối loạn tự miễn, viêm loét đại tràng và ung thư. Chúng ta sẽ khám phá quá trình này chi tiết hơn trong chương tiếp theo, nhưng bây giờ hãy hiểu rằng tất cả các loại bệnh đều bắt nguồn từ việc tình trạng viêm vượt khỏi tầm kiểm soát và hệ miễn dịch của bạn kiểm soát tình trạng viêm. Vậy hệ vi sinh đóng vai trò gì? Nó điều hòa hoặc quản lý đáp ứng miễn dịch. Vậy là tới lượt nó tham gia vào câu chuyện về viêm trong cơ thể bạn. Hãy để tôi phân tích điều này một chút cho bạn.

Mặc dù mỗi người trong chúng ta liên tục bị đe dọa bởi các hóa chất và mầm bệnh, chúng ta có một hệ thống phòng thủ tuyệt vời: khả năng miễn dịch. Khi hệ miễn dịch bị tổn hại, chúng ta nhanh chóng trở thành con mồi của bất kỳ tác nhân gây bệnh nào. Nếu không có hệ miễn dịch hoạt động đầy đủ, một sự kiện đơn giản như vết muỗi đốt có thể gây tử vong. Và ngoài các sự kiện bên ngoài như côn trùng cắn, mọi bộ phận của chúng ta đều bị xâm chiếm từng khoảnh khắc bởi các sinh vật có khả năng đe dọa tính mạng, nếu không có hệ miễn dịch hoạt động thích hợp, có thể dễ dàng dẫn đến tử vong. Đồng thời, điều quan trọng là phải nhận ra rằng hệ miễn dịch hoạt động tối ưu khi nó ở trạng thái cân bằng.

Hệ miễn dịch hoạt động quá mức có thể dẫn đến các biến chứng như dị ứng; trong trường hợp nghiêm trọng, nó có thể phản ứng dữ dội đến mức dẫn đến sốc phản vệ – một phản ứng cực đoan có thể gây chết người. Ngoài ra, khi hệ miễn dịch bị định hướng sai, nó có thể không nhận ra các protein bình thường của cơ thể là một phần của bản thân và tấn công chúng. Đây là cơ chế cơ bản của các bệnh tự miễn, thường được điều trị bằng các loại thuốc ức chế miễn dịch mạnh mà thường có những mặt trái đáng kể, không ít trong số đó bao gồm thay đổi sự phân bổ vi khuẩn trong ruột. Hệ miễn dịch là nguyên nhân khiến một bệnh nhân ghép tạng từ chối thứ được cho là cơ quan nội tạng cứu mạng cho họ. Và chính hệ miễn dịch giúp cơ thể nhận biết và loại bỏ các tế bào ung thư, một quá trình đang xảy ra ngay bên trong bạn.

Ruột của bạn có hệ miễn dịch của riêng nó, đó là “mô bạch huyết liên quan đến ruột” (GALT). Nó đại diện cho 70 đến 80% tổng hệ miễn dịch của cơ thể. Điều này nói lên nhiều điều về tầm quan trọng – và tính dễ bị tổn thương – của ruột. Nếu các sự kiện diễn ra trong ruột không quá quan trọng đối với sự sống, thì phần lớn hệ miễn dịch của bạn có thể sẽ không phải ở đó để canh gác và bảo vệ nó.

Lý do hầu hết hệ miễn dịch của bạn được triển khai trong ruột rất đơn giản: thành ruột là biên giới với thế giới bên ngoài. Bên cạnh da, đó là nơi cơ thể bạn có nhiều cơ hội gặp vật chất và sinh vật ngoại lai nhất. Và nó giao tiếp liên tục với mọi tế bào khác của hệ miễn dịch trong cơ thể. Nếu gặp một chất gây rắc rối xuất hiện ở ruột, nó sẽ cảnh báo phần còn lại của hệ miễn dịch phải đề phòng.

Một trong những chủ đề bao quát mà bạn sẽ đọc trong suốt cuốn sách là tầm quan trọng của việc duy trì tính toàn vẹn của thành ruột mỏng manh, chỉ dày ngang một tế bào. Nó phải vẫn còn nguyên vẹn trong khi hoạt động như một ống dẫn tín hiệu giữa vi khuẩn đường ruột và các tế bào của hệ miễn dịch. Theo lời của Tiến sĩ Alessio Fasano ở Harvard – người đã thuyết trình về chủ đề này tại một hội nghị mà tôi tham dự vào năm 2004, chỉ dành riêng cho giới khoa học về hệ vi sinh – những tế bào miễn dịch nhận tín hiệu từ vi khuẩn đường ruột là “kẻ đáp ứng đầu tiên” của cơ thể. Đổi lại, vi khuẩn đường ruột giúp giữ cho hệ miễn dịch cảnh giác nhưng không ở chế độ phòng thủ hoàn toàn. Chúng giám sát và “giáo dục” hệ miễn dịch. Điều này sau cùng giúp ngăn hệ miễn dịch đường ruột của bạn phản ứng không thích hợp với thực phẩm và kích hoạt các phản ứng tự miễn. Trong các chương sắp tới, chúng ta sẽ xem mô bạch huyết liên quan đến ruột quan trọng như thế nào trong việc duy trì sức khỏe tổng thể của cơ thể bạn. Đó là quân đội của cơ thể bạn, luôn đề phòng mọi mối đe dọa đi xuống đường ruột có thể tác động xấu đến cơ thể cho đến tận não bộ.

Cả nghiên cứu trên người và động vật đều cho thấy vi khuẩn đường ruột xấu hoặc mang bệnh có thể gây bệnh, nhưng không chỉ vì chúng có liên quan đến một tình trạng cụ thể. Ví dụ, chúng ta biết rằng vi khuẩn Helicobacter pylori là nguyên nhân gây ra các vết loét. Nhưng hóa ra vi khuẩn gây bệnh cũng tương tác với hệ miễn dịch trong ruột gây giải phóng các phân tử gây viêm và hormone căng thẳng, về cơ bản, làm bật công tắc trên hệ thống phản ứng với căng thẳng của cơ thể để nó nghĩ rằng chúng ta đang bị một con sư tử săn đuổi. Khoa học mới cũng tiết lộ rằng vi khuẩn xấu có thể thay đổi cách chúng ta cảm nhận cơn đau; thực sự là những người có hệ vi sinh không lành mạnh có thể nhạy cảm hơn với cơn đau.8

Vi khuẩn tốt trong ruột làm điều ngược lại. Chúng cố gắng giảm thiểu số lượng và tác động của những vi khuẩn xấu đồng thời tương tác tích cực với cả hệ miễn dịch và nội tiết. Có nghĩa là, vi khuẩn tốt có thể tắt phản ứng trường diễn của hệ miễn dịch. Chúng cũng có thể giúp kiểm soát cortisol và adrenaline – hai hormone liên quan đến căng thẳng có thể tàn phá cơ thể khi chúng liên tục được tiết ra.

Mỗi nhóm lớn vi khuẩn đường ruột gồm nhiều chủng khác nhau, và mỗi chủng này có thể có những tác động khác nhau. Hai nhóm vi sinh vật phổ biến nhất trong đường ruột, chiếm hơn 90% số vi khuẩn trong đại tràng, là Firmicutes (phát âm là phia-mi-ciu-ti) và Bacteroidetes (phát âm là bác-tia-roi-đê-ti). Firmicutes nổi tiếng là vi khuẩn “ưa chất béo” vì đã được chứng minh rằng vi khuẩn thuộc họ Firmicutes được trang bị nhiều enzyme để tiêu hóa carbohydrate phức tạp hơn, do đó, chúng có hiệu quả hơn trong việc trích xuất năng lượng (tức là calo) từ thức ăn. Gần đây chúng cũng được phát hiện là tác nhân tăng sự hấp thụ chất béo.9 Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người béo phì có mức Firmicutes trong hệ vi sinh đường ruột cao hơn so với những người gầy, những người có nhiều Bacteroidetes hơn.10 Trên thực tế, tỉ lệ tương đối của hai nhóm này với nhau, tỉ lệ Firmicutes-trên-Bacteroidetes (hoặc FB), rất quan trọng để xác định sức khỏe và nguy cơ bệnh tật. Hơn nữa, chúng ta vừa mới biết rằng mức Firmicutes cao hơn thực sự kích hoạt các gen làm tăng nguy cơ béo phì, tiểu đường và thậm chí là bệnh tim mạch.11 Hãy nghĩ rằng: Những thay đổi trong tỉ lệ của những vi khuẩn này có thể thay đổi biểu hiện thực tế DNA của bạn!

Hai chủng lợi khuẩn được nghiên cứu nhiều nhất hiện nay là Bifidobacterium và Lactobacillus. Đừng lo lắng về việc phải nhớ những cái tên dài này. Trong cuốn sách này, bạn sẽ được nghe về nhiều loại vi khuẩn có tên tiếng Latinh phức tạp, nhưng tôi hứa rằng cuối cùng bạn sẽ có thể phân biệt được nhiều chủng khác nhau. Mặc dù chúng tôi chưa thể nói chắc chắn rằng chính xác chủng nào, với tỉ lệ bao nhiều là lý tưởng cho sức khỏe tối ưu, nhưng đa số công nhận rằng là sự đa dạng về chủng loài là điểm then chốt.

Tôi cũng nên chỉ ra rằng ranh giới giữa vi khuẩn “tốt” và “xấu” không rõ ràng như bạn nghĩ. Một lần nữa, sự đa dạng tổng thể và tỉ lệ các chủng so với nhau là những yếu tố quan trọng. Với tỉ lệ sai, một số chủng mà có tác động tích cực đến sức khỏe có thể trở thành nhân vật phản diện. Ví dụ, vi khuẩn Escherichia coli khét tiếng tạo ra vitamin K nhưng có thể gây bệnh nặng. Helicobacter pylori, vi khuẩn mà tôi vừa đề cập gây ra loét dạ dày tá tràng, cũng giúp điều chỉnh sự thèm ăn theo hướng tích cực để bạn không ăn quá nhiều.

Để có thêm một ví dụ, hãy xem xét Clostridium difficile, một chủng vi khuẩn có thể dẫn đến nhiễm trùng nguy hiểm đến tính mạng nếu chúng phát triển quá mức. Căn bệnh đó, đặc trưng bởi triệu chứng tiêu chảy dữ dội, vẫn giết chết khoảng 14.000 người Mỹ mỗi năm; các bệnh do C. difficile đã tăng mạnh trong 20 năm qua.12 Từ năm 1993 đến 2005, số ca bệnh ở người lớn nhập viện tăng gấp ba lần; từ năm 2001 đến 2005, con số này đã tăng hơn gấp đôi.13 Tỉ lệ tử vong cũng tăng vọt, phần lớn là do sự xuất hiện của một chủng đột biến, độc lực cao.

Thông thường, tất cả chúng ta khi còn bé đều có ruột chứa rất nhiều vi khuẩn C. difficile và nó không gây ra vấn đề gì. Nó được tìm thấy trong ruột của tới 63% trẻ sơ sinh và thậm chí một phần ba trẻ mới biết đi. Nhưng sự thay đổi trong môi trường ruột, ví dụ do lạm dụng một số loại kháng sinh, có thể thúc đẩy sự phát triển quá mức của vi khuẩn này, dẫn đến bệnh đe dọa tính mạng. Tin tốt là hiện nay chúng ta đã có một cách rất hiệu quả để điều trị căn bệnh đó, thông qua việc sử dụng các chủng vi khuẩn khác để khôi phục sự cân bằng.

Bạn sẽ tìm hiểu thêm về hệ vi sinh và mối quan hệ của nó với hệ miễn dịch và não bộ trong các chương sau, nhưng đây là thời điểm tốt để chuyển sang câu hỏi: Những vi sinh vật anh em của chúng ta bắt nguồn từ đâu? Nói cách khác, làm thế nào mà chúng trở thành một phần của chúng ta?

BẠN ĐƯỢC SINH RA CÙNG VỚI NÓ! GẦN NHƯ VẬY…

Phần lớn những gì chúng ta biết về hệ vi sinh đến từ việc nghiên cứu chuột vô trùng. Đây là những con chuột đã được biến đổi để không có bất kỳ vi khuẩn đường ruột nào, do đó cho phép các nhà khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của việc thiếu vi khuẩn, hoặc ngược lại, cho chúng tiếp xúc với một số chủng nhất định và xem điều gì xảy ra. Những con chuột vô trùng trong phòng thí nghiệm đã cho thấy là có biểu hiện lo âu cấp tính, không có khả năng xử lý căng thẳng, viêm ruột mạn tính và viêm tổng thể, và có lượng thấp hơn của một hormone tăng trưởng não quan trọng gọi là BDNF (nhân tố nuôi dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não).14 Nhưng những triệu chứng này có thể đảo ngược khi chuột được cho ăn một chế độ ăn giàu Lactobacillus helveticus hoặc Bifidobacterium longum, hai loại lợi khuẩn phổ biến.

Người ta cho rằng mỗi người chúng ta đều đã từng không có vi khuẩn, khi còn trong bụng mẹ, một môi trường tương đối vô trùng. (Tôi hy vọng quan niệm này sẽ sớm bị thách thức, vì khoa học mới xuất hiện cho thấy thai nhi có thể tiếp xúc với vi sinh vật trong tử cung qua nhau thai, và hệ vi sinh thực sự bắt đầu từ đó.15 Hãy theo dõi để biết thêm thông tin về chủ đề này.) Tư duy hiện tại cho rằng thời điểm chúng ta di chuyển qua âm đạo và tiếp xúc với các sinh vật trong âm đạo, hệ vi sinh của chúng ta bắt đầu phát triển. Và mặc dù mọi người có thể không muốn hình dung điều này, nhưng ngay cả vật liệu phân của người mẹ ở vùng quanh hậu môn cũng giúp cấy vào trẻ sơ sinh các vi sinh vật duy trì sức khỏe.

Về sự phát triển ban đầu của một hệ miễn dịch khỏe mạnh, một yếu tố quan trọng trong việc thiết lập “điểm mốc” cho chứng viêm có thể là phương pháp sinh của một cá nhân. Đây là một trong những sự kiện có ảnh hưởng nhất trong việc xác định kết quả chức năng của hệ vi sinh vật. Khi nói đến điểm mốc, tôi đang đề cập đến mức độ viêm trung bình hoặc cơ bản của cơ thể. Sẽ hữu ích khi nghĩ về điểm mốc của bạn như một bộ điều nhiệt tích hợp được lập trình tới một nhiệt độ cụ thể. Nếu điểm mốc của bạn cao, chẳng hạn như máy điều nhiệt được cố định ở 25°C, về tổng thể, mức độ viêm chung của bạn cao hơn so với người có điểm mốc thấp hơn. Mặc dù có thể có một số sự khác nhau, nhưng nhìn chung, điểm mốc cao hơn có nghĩa là mức nhiệt độ cao hơn (tình trạng viêm). Và như tôi vừa đề cập, cách bạn được sinh ra sẽ ảnh hưởng đến cách hệ vi sinh của bạn phát triển ban đầu, từ đó ảnh hưởng đến điểm mốc bẩm sinh của bạn đối với chứng viêm.

Bạn có thể thay đổi điểm mốc của mình không? Có – chắc chắn rồi. Cũng giống như việc bạn có thể thay đổi điểm mốc cho trọng lượng cơ thể và chỉ số khối cơ thể (BMI) thông qua chế độ ăn uống và tập thể dục, bạn có thể thay đổi điểm mốc cho tình trạng viêm thông qua các biện pháp can thiệp lối sống cơ bản. Nhưng trước khi hiểu được tất cả những điều đó, điều quan trọng là bạn phải đánh giá đúng sức mạnh của những trải nghiệm đầu đời và hiểu được làm thế nào mà phương pháp sinh đẻ (sinh thường hay sinh mổ) hình thành nên những nguy cơ về sức khỏe trong suốt cuộc đời của một người.

Nhiều nghiên cứu nổi tiếng đã so sánh sự khác biệt giữa trẻ sinh mổ và trẻ sinh thường.16 Ngoài việc so sánh các đặc điểm nổi trội của hệ vi sinh của hai nhóm trẻ này, họ đã nghiên cứu các tác động sức khỏe liên quan và đưa ra nhiều kết luận đáng báo động. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng có mối tương quan rõ ràng giữa những gì nằm trong ruột của em bé và những gì được tìm thấy trong âm đạo của người mẹ. Một nghiên cứu đặc biệt hấp dẫn được thực hiện bởi một nhóm các nhà nghiên cứu vào năm 2010 tiết lộ rằng khi sử dụng phương pháp giải trình tự gen để xác định các loại vi khuẩn từ người mẹ và những đứa con mới sinh của mình, họ phát hiện ra rằng trẻ sinh thường thu được các quần thể vi khuẩn giống với hệ vi sinh vật âm đạo của mẹ chúng, chiếm đa số là các Lactobacillus có lợi, trong khi trẻ sinh mổ thu được các quần thể vi khuẩn tương tự như các quần thể vi khuẩn tìm thấy trên bề mặt da, chiếm đa số là rất nhiều vi khuẩn Staphylococcus có thể gây hại.17

Vào năm 2013, tạp chí Canadian Medical Association Journal đã đăng một nghiên cứu chỉ rõ sự thật, cho thấy sự gián đoạn của hệ vi sinh đường ruột của trẻ sơ sinh có liên quan đến nhiều vấn đề về viêm và miễn dịch như dị ứng, hen suyễn và thậm chí là ung thư.18 Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh tác động của trải nghiệm ra đời (sinh thường hay sinh mổ) của một em bé và việc liệu em bé ấy bú sữa mẹ hay uống sữa công thức. Họ gọi một cách chính đáng hệ vi sinh đường ruột là một “siêu cơ quan” với “vai trò đa dạng đối với sức khỏe và bệnh tật”. Trong bài bình luận liên quan về nghiên cứu này, Tiến sĩ Rob Knight của Phòng thí nghiệm Knight danh tiếng tại Đại học Colorado, Boulder, cho biết, “Trẻ sinh ra bằng phương pháp mổ lấy thai hoặc nuôi bằng sữa công thức có thể có nhiều nguy cơ mắc nhiều bệnh khác nhau về sau; cả hai quá trình đều làm thay đổi hệ vi sinh đường ruột ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh, điều có thể là cơ chế làm tăng nguy cơ.”19

Điều làm cho Lactobacillus trở nên vượt trội là nó tạo ra một môi trường axit nhẹ, làm giảm sự phát triển của vi khuẩn nguy hiểm tiềm ẩn. Vi khuẩn Lactobacillus có thể sử dụng đường sữa, hay lactose, làm nhiên liệu. Điều này cho phép trẻ sơ sinh sử dụng lactose từ sữa mẹ. Nhìn chung, trẻ sinh ra bằng phương pháp mổ lấy thai có thể không nhận được nguồn cung cấp Lactobacillus dồi dào; thay vào đó, các bé tiếp xúc nhiều hơn với những gì ẩn náu quanh phòng phẫu thuật và trên bàn tay của bác sĩ và điều dưỡng – vi khuẩn trên da có xu hướng chiếm đa số là những loại không mang lại nhiều lợi ích. Hơn nữa, như Tiến sĩ Martin Blaser mô tả trong cuốn sách tuyệt vời của ông, Missing microbes (Những vi khuẩn bị thiếu), mọi phụ nữ ở Mỹ đều nhận được thuốc kháng sinh khi sinh con theo phương pháp sinh mổ, và điều đó có nghĩa là tất cả trẻ sơ sinh ra đời bằng phẫu thuật đều tiếp xúc với một loại kháng sinh mạnh khi mới ra đời – một tác hại kép.20

Tiến sĩ Blaser, người chỉ đạo Chương trình Hệ vi sinh của Đại học New York, chỉ ra thêm rằng một phần ba số trẻ sinh ra ở Mỹ ngày nay được sinh ra bằng phương pháp mổ lấy thai, điều này phản ánh mức tăng 50% kể từ năm 1996. Nếu xu hướng này tiếp tục, đến năm 2020, một nửa số trẻ sinh ra ở Mỹ sẽ được sinh mổ. Tôi thích cách Blaser tuyên bố một cách hùng hồn về sự thật của vấn đề: “Những cái tên bóng bẩy của những vi khuẩn này không quan trọng lắm vì quan điểm cho rằng các quần thể vi khuẩn được tìm thấy trên trẻ sơ sinh được sinh mổ không phải là những quần thể được chọn bởi hàng trăm nghìn năm tiến hóa của con người hoặc thậm chí lâu hơn.”21

Các nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng trẻ sinh thường có lượng cao hơn nhiều của bifidobacteria, một nhóm vi khuẩn đường ruột có lợi giúp trưởng thành niêm mạc ruột nhanh chóng hơn.22 Mặt khác, trẻ sinh mổ thường thiếu loại vi khuẩn tốt này. Một cách nghĩ về quá trình sinh nở là hiểu rằng nó giống như việc cung cấp cho trẻ sơ sinh một bộ hướng dẫn để có một khởi đầu lành mạnh cho cuộc sống. Đây là sự chuyển giao lớn cuối cùng mà một em bé nhận được từ mẹ sau khi ở trong tử cung. Trẻ ra đời bằng phương pháp sinh mổ bị thiếu một vài thứ trong số những hướng dẫn này. Và chúng có thể không bao giờ lấy lại được chính xác những thứ này bằng cách nhân tạo hoặc thậm chí thông qua việc bú sữa mẹ hoặc chế độ ăn.

Các số liệu thống kê về hậu quả sức khỏe của việc sinh mổ chứ không phải sinh thường là hoàn toàn đáng kinh ngạc. Dưới đây là tóm tắt nhanh về những gì việc sinh bằng phương pháp mổ có thể chứa đựng, dựa trên một quần thể lớn và các nghiên cứu có đối chứng chặt chẽ:

• Nguy cơ mắc các chứng dị ứng cao gấp năm lần23

• Nguy cơ mắc ADHD cao gấp ba lần24

• Nguy cơ mắc tự kỷ cao gấp đôi25

• Nguy cơ mắc bệnh không dung nạp gluten cao hơn 80%26

• Nguy cơ bị béo phì khi trưởng thành cao hơn 50% (và, như chúng ta sẽ thấy sau đây, việc bị béo phì có liên quan trực tiếp đến tăng nguy cơ bị sa sút trí tuệ)27

• Nguy cơ mắc tiểu đường type 1 cao hơn 70%28, 29 (và việc bị tiểu đường làm tăng gấp đôi nguy cơ bị sa sút trí tuệ)

Tôi xin nói rõ: Mổ lấy thai có tác dụng cứu mạng người và cần thiết về mặt y tế trong một số tình huống nhất định. Nhưng hầu hết các chuyên gia, bao gồm cả nữ hộ sinh tại nhà và bác sĩ sản khoa, những người chuyên về các ca sinh có nguy cơ cao, đồng ý rằng chỉ một phần nhỏ các ca sinh nở cần được thực hiện bằng phẫu thuật, và những ca phẫu thuật này thường được phụ nữ Mỹ lựa chọn.30 Năm 2014, một nghiên cứu mới trên toàn quốc cho thấy 26% các bà mẹ Mỹ sinh con theo phương pháp mổ vào năm 2001, và 45% trong số này được xem là không có chỉ định y khoa (do sản phụ yêu cầu).31 Vì vậy, mối quan tâm của tôi xoay quanh xu hướng lựa chọn sinh mổ vì những lý do không nhất thiết có lợi cho em bé hoặc người mẹ. Mặc dù vậy, một phụ nữ mang thai có thể có ý định tốt là sinh con qua đường âm đạo và sau đó phải đối mặt với những trường hợp không mong muốn cần phải sinh mổ. Cô ấy không bao giờ nên cảm thấy tội lỗi hoặc sợ hãi rằng cô đang gây nguy hiểm cho sức khỏe tương lai của con mình. Ở phần sau của cuốn sách, tôi sẽ cung cấp thông tin rõ ràng cho cả những bà mẹ đang mang thai và những người đã sinh con, về cách bù đắp cho một ca sinh mổ. Bạn có thể làm rất nhiều điều để hỗ trợ hệ vi sinh đang phát triển của trẻ sơ sinh và chống lại những tác động tiêu cực tiềm ẩn từ các can thiệp y tế được thực hiện trong quá trình sinh nở.

Mặc dù hợp lý khi cho rằng việc truyền vi khuẩn từ mẹ sang con qua âm đạo là đặc thù đối với động vật có vú, nhưng chúng ta có bằng chứng cho thấy các loài khác thực sự truyền di sản vi sinh vật của chúng cho con cái, mặc dù thông qua các cơ chế khác nhau.32 Những loài khác này bao gồm hải miên (đã tiến hóa 600 triệu năm trước với tư cách là động vật đa bào đầu tiên), trai, rệp cây, gián, ruồi trắng, bọ xít, gà và rùa. Ý tôi là là sự chuyển giao vi khuẩn từ thế hệ này sang thế hệ khác là một quá trình cơ bản của sự sống.

BA LỰC LƯỢNG CHỐNG LẠI NHỮNG VI SINH VẬT TRONG BỤNG BẠN

Tuy không thể thay đổi cách mình sinh ra, việc bạn được cho bú sữa như thế nào, và hệ vi sinh vật nào phát triển trong (và trên) bạn khi còn là trẻ sơ sinh, tin tốt là bạn vẫn có khả năng thay đổi, chữa lành và nuôi dưỡng một hệ vi sinh vật khỏe mạnh qua những thứ mà bạn ăn, những gì bạn tiếp túc trong môi trường và lối sống của bạn. Tới đây, bạn hẳn đã có một cái nhìn sơ qua về những gì chống lại sức khỏe của những lợi khuẩn trong ruột mình. Tôi sẽ liệt kê chi tiết mọi tác nhân và nguyên nhân tiềm năng gây bệnh cho hệ vi sinh vật ở phần sau. Nhưng để bắt đầu, hãy cùng lướt qua ba lực lượng mạnh mẽ nhất hiện có.

• Lực lượng #1: Sự tiếp xúc với các chất giết hoặc thay đổi theo hướng bất lợi cấu trúc của các quần thể vi khuẩn. Trong đó bao gồm mọi thứ từ các hóa chất trong môi trường tới những nguyên liệu nhất định trong thực phẩm (ví dụ như đường, gluten), nước (ví dụ như chlorine), và các loại thuốc như kháng sinh.

• Lực lượng #2: Sự thiếu hụt các dưỡng chất hỗ trợ cho các nhóm vi khuẩn có lợi, đa dạng và thay vào đó tạo điều kiện cho các vi khuẩn có hại. Tôi sẽ chia sẻ những loại thực phẩm và chế phẩm bổ sung đảm bảo sức khỏe của hệ vi sinh và theo đó là não bộ.

• Lực lượng #3: Sự căng thẳng. Mặc dù nghe có vẻ sáo rỗng khi nói căng thẳng có hại cho sức khỏe, tôi sẽ giải thích vì sao nó thậm chí tệ hơn những gì chúng ta từng nghĩ.

Rõ ràng là một vài trong số này đôi khi là không thể tránh khỏi. Sẽ có những trường hợp, ví dụ, khi thuốc kháng sinh có thể cứu mạng và rất cần thiết. Sau đây, tôi sẽ cho bạn một vài hướng dẫn để xử lý những tình huống như vậy để bạn có thể bảo vệ sức khỏe đường ruột của mình (hay đường ruột của con bạn trong trường hợp được kê đơn kháng sinh cho một nhiễm trùng trong thai kỳ) tốt nhất có thể. Theo đó, điều này sẽ giúp bảo vệ sức khỏe và chức năng não bộ của bạn.

BÍ MẬT “BẨN THỈU” VỀ CÁC DỊCH BỆNH HIỆN ĐẠI

Một trong số những chủ đề của cuốn sách này là sức mạnh của “cái bẩn”, có thể nói là như vậy. Nói cách khác, có một giá trị to lớn trong tình trạng không vệ sinh. Các nghiên cứu mới đầy bất ngờ cho thấy mối quan hệ giữa môi trường sống ngày càng vô trùng và tỉ lệ mắc mới của các bệnh mạn tĩnh, từ bệnh tim và các chứng rối loạn tự miễn tới ung thư và sa sút trí tuệ.

Ở Trường Y khoa Đại học Stanford, nhóm gồm vợ chồng Erica và Justin Sonnenburg điều hành một phòng thí nghiệm thuộc khoa vi sinh học và miễn dịch học, nơi họ tập trung tìm hiểu sự tương tác bên trong hệ vi sinh đường ruột và giữa vi khuẩn đường ruột với vật chủ con người. Cụ thể, họ đang điều tra làm thế nào sự thiếu hụt một vài loại vi khuẩn và sự đa dạng trong nền văn minh phương Tây do chế độ ăn, việc sử dụng thuốc kháng sinh, và các điều kiện khử trùng quá mức có thể giải thích cho việc vì sao chúng ta phải hứng chịu sự gia tăng đối với các bệnh “phương Tây”, điều không thường thấy trong các xã hội truyền thống, chủ yếu làm nông nghiệp.

Trong một bài báo gần đây, họ viết một cách thuyết phục rằng chúng ta có thể đang gặp phải sự “không tương thích” giữa DNA của chúng ta, vốn vẫn tương đối ổn định trong suốt lịch sử loài người và hệ vi sinh vật của mình, thứ đã trải qua những thay đổi mạnh mẽ để đáp ứng với lối sống hiện đại của chúng ta.33 Họ cũng nêu bật cách chế độ ăn phương Tây, vốn ít chất xơ thực vật dùng làm nhiên liệu cho vi khuẩn đường ruột, dẫn đến ít loại vi khuẩn và các sản phẩm phụ có lợi mà vi khuẩn đường ruột tạo ra khi chúng chuyển hóa hoặc lên men thức ăn. Theo cách nói của họ, chúng ta đang “bỏ đói bản thể vi sinh vật của mình” và điều này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe. Nhân tiện, các sản phẩm phụ mà vi khuẩn đường ruột của chúng ta tạo ra giúp kiểm soát tình trạng viêm cũng như đáp ứng của hệ miễn dịch – hai yếu tố quan trọng trong tất cả các dạng bệnh mạn tính. Vợ chồng Sonnenburg viết: “Có thể là hệ vi sinh vật phương Tây thực sự bị rối loạn sinh học và là điều kiện khiến các cá thể dễ mắc nhiều loại bệnh.”34

CHẾ ĐỘ ĂN PHƯƠNG TÂY TẠO NÊN HỆ VI SINH PHƯƠNG TÂY

Khi so sánh hệ vi sinh của trẻ em châu Phi với của trẻ em châu Âu, bạn thấy có một sự khác biệt lớn. Hệ vi sinh vật “phương Tây” thiếu sự đa dạng đáng kể và có nhiều vi khuẩn thuộc nhóm Firmicutes hơn so với nhóm Bacteroidetes, hai loại vi khuẩn thống trị hệ sinh thái đường ruột. Firmicutes nổi tiếng là tốt trong việc giúp cơ thể chiết xuất nhiều calo hơn từ thức ăn và hỗ trợ hấp thu chất béo, do đó chúng liên quan đến việc tăng cân khi chúng chiếm ưu thế trong ruột.

Mặt khác, Bacteroidetes không có cùng khả năng này. Vì vậy, mô hình mức Firmicutes cao hơn và mức Bacteroidetes thấp hơn dẫn đến nguy cơ béo phì cao hơn.35 Điều này xảy ra ở những người từ khu vực thành thị, trong khi điều ngược lại phổ biến hơn ở những người từ các khu vực nông thôn.

Một cách khác để quan sát mối liên hệ giữa lối sống phương Tây sạch sẽ, ít chất xơ và tỉ lệ mắc bệnh mạn tính là xem xét yếu tố giàu có. Các quốc gia giàu có hơn và sạch sẽ hơn có tỉ lệ mắc bệnh Alzheimer cao hơn không? Điều này đã được chứng minh trong một nghiên cứu xuất sắc được công bố vào năm 2013, được thực hiện tại Đại học Cambridge.36 Tiến sĩ Molly Fox và các đồng nghiệp của bà đã đánh giá 192 quốc gia trên thế giới và xem xét hai điều. Đầu tiên, họ kiểm tra tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng và sự đa dạng của vi khuẩn đường ruột ở những người đến từ các quốc gia này. Và thứ hai, họ xem xét tỉ lệ mắc bệnh Alzheimer.

Những gì họ tìm thấy thực sự đáng chú ý. Ở những nước có điều kiện vệ sinh kém nhất, tỉ lệ lưu hành bệnh Alzheimer’s đã giảm đáng kể. Nhưng ở những quốc gia có mức độ vệ sinh cao hơn, và do đó mức độ ký sinh trùng thấp hơn cũng như ít đa dạng hơn về sinh vật đường ruột, tỉ lệ lưu hành bệnh Alzheimer đã tăng vọt. Ở các quốc gia có hơn 75% người dân sống ở các khu vực thành thị, chẳng hạn Vương quốc Anh và Úc, tỉ lệ lưu hành bệnh Alzheimer cao hơn 10% so với các quốc gia có dưới 1/10 số người sống ở khu vực thành thị, chẳng hạn như Nepal và Bangladesh. Kết luận của họ nêu rõ: “Dựa trên phân tích của chúng tôi, có vẻ như vệ sinh có tương quan đồng biến đến nguy cơ mắc bệnh Alzheimer... sự khác biệt trong vệ sinh có thể giải thích một phần các mô hình toàn cầu về tỉ lệ bệnh Alzheimer. Sự phơi nhiễm với vi sinh vật có thể có tương quan nghịch biến với nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Những kết quả này có thể giúp dự đoán gánh nặng bệnh Alzheimer ở các nước đang phát triển, nơi sự đa dạng vi sinh vật đang giảm nhanh chóng.”

Trong các hình ảnh ở trang tiếp theo, hãy lưu ý cách mà các quốc gia trong hình đầu tiên có mức ký sinh trùng cao nhất, chẳng hạn như Kenya, được mô tả trong hình thứ hai là có tỉ lệ mắc bệnh Alzheimer thấp nhất.

a1
a2

Hiện tại, mối tương quan (như được tìm thấy trong nghiên cứu này) không nhất thiết chỉ ra nguyên nhân. Chỉ vì sự chú ý đến vệ sinh có liên quan chặt chẽ đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer không nhất thiết có nghĩa là nó khiến tỉ lệ bệnh Alzheimer tăng. Có nhiều biến số tham gia vào khi nói đến sự phát triển của bất kỳ căn bệnh nào, cũng như tỉ lệ mắc một số bệnh ở các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, điều đó nói lên rằng, chúng ta phải thừa nhận các bằng chứng vẫn tiếp tục gia tăng đến mức khó có thể bỏ qua những mối tương quan chặt chẽ và nhất quán như vậy. Đó là từ sự quan sát, nhưng sự suy luận buộc chúng ta ít nhất phải xem xét thực tế rằng hệ vi sinh của chúng ta đang tham gia – đáng kể – vào nguy cơ mắc của nhiều bệnh mạn tính. Nó cũng buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi mà Tiến sĩ Justin Sonnenburg đã đặt ra: “Vi khuẩn có ảnh hưởng nhiều như thế nào đến chúng ta? Có phải con người chỉ đơn giản là những ổ chứa tinh vi để vi khuẩn sinh sôi?”37

Thực sự là một câu hỏi hay.

Sự thật không thể tránh khỏi là chúng ta đã tiến hóa với những vi sinh vật này qua hàng triệu năm. Chúng là một phần của sự sống còn của chúng ta giống như những tế bào của chính chúng ta. Chúng ta cần chúng cho cuộc sống và sức khỏe. Thật không may, chúng ta đối xử với hệ vi khuẩn đường ruột một cách thiếu tôn trọng. Chúng đang làm công việc quan trọng trong điều kiện nguy hiểm. Đã đến lúc dành cho chúng sự quan tâm và chăm sóc mà chúng xứng đáng. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể tiến hành một bước tiến nghiêm túc, có ý nghĩa chống lại những phiền não hiện đại của mình.

Lưu Trung Kiên dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.