Ăn Gì Bổ Não

Lượt đọc: 45 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LỜI KẾT: Điều chờ đón ta trong tương lai

❊ ❊ ❊

Vào bất kỳ ngày nào khi có cơ hội điều chỉnh công việc và thư giãn (một điều cần thiết khác để nuôi dưỡng hệ vi sinh!), tôi thường ra biển trên thuyền câu cá hoặc cắm trại dưới các vì sao. Tôi tiếp xúc với Mẹ Thiên nhiên một cách thường xuyên. Tôi biết về lòng tốt và vẻ đẹp của bà, và từ nghề nghiệp của mình, tôi cũng hiểu cơn thịnh nộ của bà.

Trong thế kỷ trước, có vẻ như chúng ta đã cố gắng tách biệt khỏi thiên nhiên theo nhiều cách, vì tin rằng nó ẩn chứa vi trùng và mầm bệnh chết người. Sau khi Alexander Fleming phát hiện ra penicillin, chúng ta như một xã hội bị mắc kẹt vào lý thuyết vi trùng của bệnh tật. Trong cuốn sách của Tiến sĩ David B. Agus, The End of Illness (Sự kết thúc của Bệnh tật), ông viết:1

Chúng ta đã phải trải qua một thời gian khó khăn để từ bỏ lý thuyết vi trùng của bệnh tật, lý thuyết thống trị, và theo nhiều cách đã định hình, y học trong thế kỷ XX. Theo lý thuyết này, nếu có thể tìm ra loài vi trùng bạn bị nhiễm, vấn đề của bạn sẽ được giải quyết bởi vì điều đó cho bạn biết bạn nên điều trị bệnh như thế nào. Điều này đã trở thành mô hình chung của y học... Việc điều trị chỉ quan tâm đến sinh vật xâm nhập, chẳng hạn như vi khuẩn gây bệnh lao hoặc ký sinh trùng gây bệnh sốt rét; nó không quan tâm đến việc xác định hoặc hiểu chủ thể (con người) hoặc thậm chí nơi căn bệnh đang xảy ra trong chủ thể...

Thật vậy, hiểu được chủ thể là điều cơ bản. Nếu hy vọng đạt được tiến bộ trong việc cải thiện sức khỏe của mình, chúng ta không thể cứ dựa vào suy nghĩ rằng những bệnh mà chúng ta mắc phải chỉ do một mầm bệnh hoặc thậm chí một đột biến gen duy nhất. Các tình trạng mạn tính ngày nay, đặc biệt là những bệnh cuối cùng làm tê liệt hoặc vô hiệu hóa hệ thống thần kinh và não bộ, là các bệnh của toàn bộ hệ thống của cơ thể. Và chắc chắn, hệ thống đó bao gồm hệ vi sinh vật.

Tiến sĩ Agus tiếp tục nhấn mạnh một ghi chú lịch sử thú vị nhất trong cuốn sách của mình. Nhà di truyền học nổi tiếng J. B. S. Haldane đã cảnh báo mọi người trong một buổi nói chuyện tại Cambridge vào năm 1923 rằng việc tập trung vào vi trùng gây bệnh sẽ khiến chúng ta lạc lối trong việc hiểu sinh lý con người. Trên thực tế, ông đã đưa ra một dự đoán khó quên: “Đây là một thảm họa đối với y học vì chúng ta sẽ tập trung vào những vi trùng này và chúng ta sẽ quên mất hệ thống.” Hệ thống đó – cơ thể con người – chắc chắn phần lớn được chi phối, kiểm soát, xác định bởi, bao gồm, và điều phối bởi các cư dân vi sinh vật trong ruột. Mặc dù đã được nói gần 100 năm trước, Haldane đã nói rất chính xác. Lo ngại của ông sau đó đã được chính Tiến sĩ Fleming, người đã khám phá ra loại thuốc kháng sinh đầu tiên nhắc lại.

Thật không may, chúng ta với tư cách là một xã hội đã đến một nơi mà chúng ta theo phản xạ tìm kiếm thủ phạm để đổ lỗi cho những vấn đề sức khỏe của mình. Và chúng ta giả định rằng chúng có nguồn gốc từ thế giới bên ngoài. Ở một mức độ nào đó, điều đó đúng đối với các loại thực phẩm và hóa chất chúng ta đưa vào cơ thể. Nhưng thật sai lầm khi nghĩ rằng những phiền não hiện đại của chúng ta phát sinh từ vi trùng bên ngoài. Lý thuyết vi trùng là vô ích khi cố gắng tìm hiểu các tình trạng như béo phì, ung thư, sa sút trí tuệ và các bệnh tự miễn bí ẩn. Những tai ương về sức khỏe của chúng ta bắt nguồn từ những gì đang diễn ra bên trong. Và các phương pháp chữa trị trong tương lai không những sẽ giải quyết thực tế này bằng các công nghệ mới để xử lý toàn bộ hệ thống, mà còn có thể sẽ dựa vào các đối tác vi sinh vật của chúng ta.

Trong suốt cuốn sách này, tôi đã đề cập đến một công nghệ hiện đang được phát triển: cấy vi sinh vật trong phân (FMT). Tôi nghĩ riêng điều này đã sẵn sàng khuấy động một cuộc cách mạng trong y học và cuối cùng cung cấp cho các bác sĩ một phương pháp hiệu quả để điều trị một số chứng rối loạn khó khăn nhất của chúng ta – từ các bệnh tự miễn đến rối loạn thần kinh nghiêm trọng. Hãy cùng xem câu chuyện của một người phụ nữ để bạn có thể hiểu được sức mạnh và tiềm năng của FMT.

NHIỀU TRIỆU CHỨNG, KHÔNG CHẨN ĐOÁN, CHỈ MỘT GIẢI PHÁP DUY NHẤT

Margaret 54 tuổi, người mà, trớ trêu thay, sở hữu và điều hành một cửa hàng thực phẩm sạch, đến gặp tôi vì mệt mỏi toàn thân, hay quên, đau nhức cơ thể và về cơ bản là không thể tiếp tục sống như vậy. Cô đã phải chịu đựng tình trạng khốn khổ này trong mười năm dài. Các vấn đề bắt đầu xảy ra sau khi cô trở về từ một chuyến đi đến Amazon, sau đó cô đã mắc phải một căn bệnh không rõ nguồn gốc, mà triệu chứng chủ yếu là ho và sốt. Cô đã được kê một vài đợt kháng sinh, nhưng chúng không có tác dụng. Cô vẫn bị ốm trong năm tiếp theo mặc dù đã được khám bởi một số chuyên gia về bệnh truyền nhiễm tại cả Mayo Clinic và Cleveland Clinic danh tiếng.

Không có gì cụ thể được tìm thấy – không có bằng chứng hay vi trùng xâm nhập. Ngay sau khi các xét nghiệm này không đưa ra được chẩn đoán chắc chắn nào, cô ấy đã phải nhập viện với một bệnh nhiễm trùng khác trong phổi. Cô nói với tôi rằng trong thời gian này, cô đột ngột cảm thấy buồn nôn, mất thăng bằng, mất phương hướng và cảm giác rằng “cơ thể trở nên nặng nề, cùng với đổ mồ hôi”. Những triệu chứng này tái phát thường xuyên vài tháng một lần sau lần nhập viện. Cuối cùng, cô đến gặp một bác sĩ thần kinh, người đã thực hiện một bài kiểm tra chuyên sâu bao gồm cả đánh giá khả năng cô bị động kinh. Một lần nữa, mọi xét nghiệm đều đi tới ngõ cụt; không có gì được tìm thấy. Margaret một lần nữa đến bệnh viện, lần này là vì bệnh viêm đại tràng và bắt đầu được truyền kháng sinh qua đường tĩnh mạch và sau đó là uống.

Khi chia sẻ bệnh sử của mình, cô ấy nói rằng cô đã tiếp xúc suốt đời với kháng sinh cho tất cả các loại vấn đề, bao gồm nhiễm trùng tai, họng và đường hô hấp, cũng như các vấn đề phẫu thuật khác nhau, bao gồm cả cắt tử cung, chữa một chứng thoát vị và nhiễm trùng ổ bụng. Cô nói rằng hệ tiêu hóa của cô đã luôn “chậm chạp” trong suốt cuộc đời. Vào thời điểm chúng tôi gặp nhau, cô bị táo bón kinh niên, và bụng của cô sẽ chướng lên nghiêm trọng ngay sau khi ăn. Trên thực tế, vì những lý do này, cô hiện đang dùng kháng sinh liều cao với nỗ lực giảm số lượng vi khuẩn sinh khí gây bệnh trong ruột non. Mặc dù bác sĩ kê đơn có thể đã đi đúng hướng khi cố gắng thay đổi vi khuẩn trong đường ruột của cô, nhưng có thể ông ấy đã không xem xét toàn bộ sức khỏe của hệ vi sinh đường ruột của cô và khiến vấn đề trở nên tồi tệ hơn khi đề xuất rằng thuốc kháng sinh sẽ hữu ích.

Đối với tôi, bức tranh rất rõ ràng. Đây là một người phụ nữ đã trải qua một loạt các vấn đề y khoa đã làm thay đổi hoàn toàn hệ vi sinh đường ruột. Margaret đã từng tuyên bố: “Cuộc sống của tôi chỉ là hết thuốc kháng sinh này đến thuốc kháng sinh khác.” Và rõ ràng điều này đã diễn ra từ khi cô còn là một đứa trẻ.

Ban đầu, tôi điều trị cho cô ấy bằng lợi khuẩn và ghi nhận một số cải thiện nhẹ. Tuy vậy, điều hiển nhiên là chỉ sử dụng lợi khuẩn và điều chỉnh chế độ ăn uống sẽ không đủ để đảo ngược những tác động tiêu cực từ việc tiếp xúc với kháng sinh suốt đời. Vì vậy, chúng tôi quyết định làm mạnh tay hơn, và tôi đã sắp xếp để cô trải qua một cuộc cấy ghép phân, liệu pháp tích cực nhất mà người ta có thể thực hiện để thiết lập lại và tái tạo lại một hệ vi sinh vật rất ốm yếu. (Một lần nữa, xin nhớ rằng: Bản thân tôi không thực hiện thủ thuật cấy ghép phân. Và lý do bệnh nhân của tôi thường ra khỏi Mỹ để được điều trị – hoặc thực hiện thủ thuật này tại nhà – là vì nó không có sẵn ở Mỹ ngoại trừ việc điều trị nhiễm trùng C. difficile tái phát, mặc dù tôi tin rằng điều này sẽ sớm thay đổi. FDA hiện đang cố gắng xác định cách điều chỉnh thủ thuật này, đặc biệt là để điều trị các bệnh ngoài nhiễm trùng C. difficile. Điều này có lý vì thủ thuật này liên quan đến việc đưa dịch cơ thể từ cá nhân này sang cá nhân khác và có thể gây ra mối đe dọa sức khỏe. Những người hiến tặng bắt buộc phải được sàng lọc những thứ như HIV và viêm gan và thậm chí cả những ký sinh trùng nguy hiểm. Các phòng khám ở châu Âu đã thực hiện các thủ thuật này trong nhiều thập niên chỉ để làm điều đó.)

Margaret nhận được một lần cấy mỗi sáng trong sáu ngày. Ba tháng sau, khoảng thời gian để hệ vi sinh của cô tái lập, cô đã ghi lại những cải thiện:

Lần đầu tiên trong đời, tôi đi đại tiện đều đặn vào mỗi buổi sáng. Không còn đầy hơi và không còn hay quên, đau đầu và trầm cảm. Cả cuộc đời mình, tôi cảm thấy ruột và não của mình bị chiếm đoạt... và không bác sĩ nào có thể tìm ra lý do tại sao. Chà, cuối cùng tôi đã kiểm soát lại được và tôi bắt đầu thấy hy vọng và cảm giác khỏe mạnh lần đầu tiên trong đời. Đó là một vấn đề to lớn đối với tôi, bởi vì tôi sắp hoàn thành tất cả.

C*T DÀNH CHO NÃO BỘ

Ngày nay, chúng ta đã quen với khái niệm thay thế một bộ phận cơ thể bị bệnh hoặc bị hư hỏng bằng một bộ phận hoạt động tốt hơn từ một cá thể bình thường hoặc khỏe mạnh. Cho dù đó là ghép tim, thận hay thậm chí là tủy xương, ý tưởng cấy ghép chắc chắn đã được chấp nhận trong y học hiện đại. Nhưng những người có hệ vi sinh bị hư hỏng, rối loạn chức năng thì sao? Chúng ta có thể cung cấp gì cho họ bên cạnh những thay đổi về chế độ ăn uống và lối sống, và có lẽ là điều trị tích cực bằng lợi khuẩn?

Nếu hệ vi sinh của con người được coi là một cơ quan, thì khái niệm cấy ghép một hệ vi sinh từ một cá thể khỏe mạnh sang một cá thể có hệ vi sinh bị tổn thương nên được chấp nhận. Nói rõ hơn, hình thức cấy ghép này về cơ bản có nghĩa là thu vật liệu phân từ một cá thể khỏe mạnh và “cấy” phân đó vào đại tràng của một cá thể khác bằng nội soi đại tràng, nội soi, soi đại tràng sigma hoặc thụt tháo. Ngay lập tức, có một “cái nhăn mặt” liên quan đến việc thậm chí nghĩ đến sự cấy phân của ai đó vào một cá thể khác. Nhưng khi bạn xem xét các hệ quả về sức khỏe của một hệ vi sinh trong ruột bị thay đổi, điều này trong tương lai có thể được chứng minh là một trong những biện pháp can thiệp y tế mạnh mẽ nhất từng được phát minh. Và tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ tìm ra những cách khác để thực hiện thủ thuật này nhằm loại bỏ sự ác cảm.

Trên thực tế, vào tháng 10 năm 2014, tin tức về ca cấy ghép này dưới dạng thuốc viên đã gây bão trên các phương tiện truyền thông. Đây là ý chính của một nghiên cứu mới, được thực hiện bởi một nhóm tại Trường Y Harvard, Bệnh viện Đa khoa Massachusetts và Bệnh viện Nhi Boston và được công bố trên JAMA, đã tiết lộ: 20 bệnh nhân nhiễm C. difficile đã nhận được một loạt thuốc chứa đầy vi khuẩn đông lạnh từ những người khỏe mạnh.2 Các nhà nghiên cứu đã tạo ra những viên thuốc này bằng cách trộn phân với nước muối, lọc dung dịch, chiết xuất vi khuẩn, chuyển vi khuẩn vào viên thuốc và sau đó đông lạnh chúng. Trong hai ngày, mỗi bệnh nhân nuốt tổng cộng 30 viên thuốc. Toàn bộ 90% bệnh nhân hết tiêu chảy, hầu hết chỉ trong vài ngày sau khi điều trị. Mặc dù đây không phải là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu cố gắng đưa vi khuẩn đường ruột có nguồn gốc từ phân vào một viên thuốc, nhưng đây là nghiên cứu đầu tiên, mặc dù là một nghiên cứu nhỏ, để chỉ ra hiệu quả của việc cấy phân qua đường miệng.

Báo cáo chính thức đầu tiên được công bố về việc cấy ghép phân vì mục đích y tế đã xuất hiện trên tạp chí Surgery vào năm 1958. Quy trình này được sử dụng như một biện pháp liều lĩnh để điều trị cho bốn bệnh nhân mắc một tình trạng đe dọa tính mạng được gọi là viêm đại tràng màng giả, một tình trạng do nhiễm trùng C. difficile và gây ra bởi tiếp xúc với kháng sinh. Cả bốn bệnh nhân đều hồi phục nhanh chóng và được xuất viện trong vài ngày. Nếu không có biện pháp này, họ có thể đã chết. Sau đó, ngày càng nhiều trích dẫn chứng minh hiệu quả của FMT trong điều trị C. difficile bắt đầu xuất hiện trong y văn.

Tuy nhiên, mô tả đầu tiên về FMT xuất hiện từ rất lâu chứ không chỉ là 60 năm trước. Trên thực tế, các tài liệu tham khảo về thủ thuật này có từ 1.700 năm trước và được tìm thấy trong tài liệu tiếng Trung của Cát Hồng, nhà giả kim nổi tiếng nhất Trung Quốc. Ông viết về sự lây truyền bệnh tật (đặc biệt là bệnh liên quan đến sốt) và được biết đến với những bài giảng về ngộ độc thực phẩm. Trong một trong những cuộn sách cổ này, ông mô tả việc sử dụng hỗn dịch phân người qua đường miệng để điều trị tiêu chảy nặng hoặc ngộ độc thực phẩm. Đó là vào thế kỷ IV! Vào thế kỷ XVI, cũng tại Trung Quốc, Lý Thời Trân đã mô tả việc sử dụng dung dịch phân trẻ sơ sinh khô lên men trong một chế phẩm được gọi là “xúp vàng” để điều trị một loạt các vấn đề y tế, bao gồm nôn mửa, táo bón, sốt và tiêu chảy.3 Trong Thế chiến II, những người lính Đức ở châu Phi đã xác nhận hiệu quả của việc người Bedouin sử dụng phân lạc đà tươi ấm làm phương pháp điều trị bệnh kiết lỵ do vi khuẩn.4 Điều thú vị là trong tất cả các tài liệu chúng ta có từ thế kỷ IV ở Trung Quốc, chưa bao giờ có một tác dụng phụ nghiêm trọng nào được ghi nhận từ thủ thuật này.5

Vì vậy, FMT không mới lạ như bạn nghĩ. Gần đây tôi đã có cơ hội đến thăm một nhóm các nhà nghiên cứu từ Harvard và MIT, những người đã thành lập một công ty phi lợi nhuận có tên là OpenBiome để làm cho thủ thuật này được phổ biến rộng rãi hơn. Họ đang thu hoạch phân từ các sinh viên tại các cơ sở này, xử lý chúng, sau đó vận chuyển các mẫu vật đến hơn 150 bệnh viện trên khắp nước Mỹ để sử dụng trong điều trị C. difficile. Nguồn cảm hứng cho dự án này đến từ những người sáng lập công ty, những người đã chứng kiến một người thân yêu của họ bị nhiễm C. difficile trong 18 tháng và dùng bảy đợt vancomycin trước khi cuối cùng nhận được một liệu trình FMT thành công, thay đổi cuộc đời.

Tôi có thể nằm trong số ít các bác sĩ lâm sàng ngày nay trên thế giới khuyến khích kỹ thuật này để điều trị các rối loạn não bộ ở một số người được chọn, nhưng điều đó sẽ sớm thay đổi. Tôi chắc chắn rằng chúng ta sẽ thấy FMT ngày càng được sử dụng nhiều hơn cho các loại bệnh tật và rối loạn khác. Nghiên cứu mới đang cho thấy FMT rất hiệu quả trong điều trị bệnh Crohn. Và một số bác sĩ tuyên bố đã thành công rực rỡ khi sử dụng FMT để điều trị viêm loét đại tràng, bệnh celiac, hội chứng mệt mỏi mạn tính và nhiều chứng rối loạn liên quan đến não như đa xơ cứng và hội chứng Tourette. Nó hiện đang được xem xét để chữa bệnh béo phì, tiểu đường và viêm khớp dạng thấp, cũng như bệnh Parkinson và các tình trạng thần kinh khác. Và tôi chân thành hy vọng rằng, dựa trên phát hiện nồng độ LPS tăng cao trong ALS, tình trạng nghiêm trọng này sẽ sớm được thêm vào danh sách. Theo kinh nghiệm của bản thân, tôi thậm chí đã chứng kiến sức mạnh của FMT đối với trẻ em mắc chứng tự kỷ, như câu chuyện của Jason mà tôi đã kể.

Một trong những người tiên phong trên toàn cầu hiện nay trong việc công nhận những lợi ích của FMT là Tiến sĩ Thomas J. Borody. Sinh ra ở Ba Lan, ông chuyển đến Úc vào năm 1960, nơi ông nhận bằng y khoa và sau đó tham gia nghiên cứu sau đại học tại Mayo Clinic. Tiến sĩ Borody đã thực hiện FMT trong 25 năm qua, ban đầu thử nghiệm hiệu quả của nó đối với C. difficile nhưng sau đó nhanh chóng chuyển sang các rối loạn khác ảnh hưởng đến các khu vực từ ruột đến não. Tiến sĩ Borody đã hoàn toàn chấp nhận khoa học về vai trò hàng đầu của vi khuẩn đường ruột trong việc điều chỉnh chứng viêm và miễn dịch. Ông đã sử dụng FMT để điều trị thành công một loạt các bệnh liên quan đến hệ miễn dịch và thần kinh.6, 7

Trong khi Tiến sĩ Borody chắc chắn đã nhận những phê bình, nhiều người khác hiện đang nhìn vào công trình của ông với sự tôn trọng, đặc biệt là dựa trên kết quả mà ông đạt được. Các báo cáo trường hợp được công bố của ông hết sức đáng kinh ngạc. Trong một bài đăng trên tạp chí American Journal of Gastroenterology, ông tiết lộ rằng những thay đổi của vi khuẩn đường ruột được thấy trong bệnh đa xơ cứng, bệnh Parkinson và bệnh nhược cơ, một tình trạng tự miễn thường dẫn đến suy nhược nghiêm trọng.8 Một trong những ca ngoạn mục nhất của ông là của một người đàn ông 30 tuổi bị đa xơ cứng đã được nhận FMT vì táo bón nặng. Bệnh nhân cũng bị chóng mặt nặng, khó tập trung và yếu chân đến mức phải sử dụng xe lăn. Hơn nữa, do không kiểm soát được bàng quang nên bệnh nhân phải đặt ống thông tiểu. Các phương pháp điều trị tiêu chuẩn, bao gồm điều hòa hệ miễn dịch bằng interferon, đã thất bại với người đàn ông này. Theo một cách tiếp cận khác, Tiến sĩ Borody đã thực hiện năm lần liệu pháp FMT. Chúng không chỉ giúp giải quyết chứng táo bón mà còn cải thiện dần các triệu chứng đa cơ cứng của bệnh nhân. Ông đã lấy lại được khả năng đi lại và không cần đặt ống thông nữa. Mặc dù ông chỉ được coi là đã thuyên giảm, nhưng ông vẫn khỏe đến ngày nay – 15 năm sau.

Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Khối thịnh vượng chung (CSIRO) là cơ quan khoa học quốc gia của Úc và là một trong những cơ quan nghiên cứu lớn nhất và đa dạng nhất trên thế giới. Nhà khoa học nghiên cứu chính của họ, Tiến sĩ David Topping, gần đây đã được hỏi nhận xét về công trình của Tiến sĩ Borody với FMT. Ông nói: “Sự tương tác giữa hệ vi sinh, cụ thể là các sản phẩm và cơ chất của chúng, có tiềm năng to lớn trong việc quản lý và ngăn ngừa các bệnh nghiêm trọng, ung thư đại trực tràng, bệnh viêm ruột, thậm chí có thể là các bệnh như Alzheimer, tự kỷ và Parkinson.”9

Bây giờ bạn đã biết vi khuẩn đường ruột của bạn quan trọng như thế nào về mặt viêm, khả năng miễn dịch và thần kinh, bạn có thể thấy rằng đối với tôi không thể có chuyện quay trở lại. Khi xem xét thực tế là các chứng rối loạn thần kinh như tự kỷ, Alzheimer và Parkinson hiện không có cách chữa trị, tất cả nghiên cứu mới nhất này truyền cho tôi hy vọng. Tôi thích cách Tiến sĩ Robert Orenstein, thuộc Mayo Clinic ở Arizona, đưa nó vào một bài báo về FMT: “Hệ vi sinh vật đường ruột không phải là không hoạt động; nó đa dạng và đóng nhiều vai trò đối với sức khỏe và sống khỏe mới chỉ đang được khám phá. Với sinh học phân tử và việc giải trình tự của các loài này, điều này sẽ được biết đến nhiều hơn. Nó giống như sự khởi đầu của chương trình không gian.”10

NHỮNG CÔNG NGHỆ MỚI THÚ VỊ

Một ví dụ đặc biệt khác về y học tiên tiến đang phát triển ngày nay là việc sử dụng trứng giun ký sinh để chữa bệnh viêm ruột (IBD).11 Khoảng 1,4 triệu người ở Mỹ bị IBD, đặc trưng bởi phản ứng miễn dịch bất lợi trường diễn hoặc tái phát và viêm đường tiêu hóa. Viêm loét đại tràng và bệnh Crohn là hai bệnh viêm ruột phổ biến nhất. Thử nghiệm lâm sàng mới bắt đầu ở người, nhưng chúng ta đã biết rất nhiều về cách mà giun có thể dẫn đến việc chữa khỏi bệnh thông qua nghiên cứu được thực hiện trên khỉ rhesus macaque, loài cũng có thể mắc phiên bản IBD của riêng chúng khi bị nuôi nhốt. Trong một thời gian dài, các bác sĩ thú y không biết làm thế nào để điều trị cho những con khỉ này, chúng thường bị sụt cân và mất nước nguy hiểm vì căn bệnh này. Nhưng nghiên cứu mới chỉ trong vài năm gần đây cho thấy sau khi cho khỉ ăn trứng giun đũa ký sinh, hầu hết chúng đều hồi phục.12

Để hiểu những thay đổi sẽ xảy ra trong ruột của khỉ, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra lớp niêm mạc đại tràng của khỉ trước và sau khi điều trị. Trước khi điều trị bằng trứng giun, những con khỉ có tỉ lệ một loại vi khuẩn bám vào niêm mạc đại tràng cao bất thường, và điều này có lẽ đã làm tăng phản ứng miễn dịch một cách không cần thiết và gây ra IBD. Điều này thay đổi sau khi điều trị, khi các cộng đồng vi khuẩn thay đổi về số lượng và chủng loại. Những thay đổi như vậy cũng có tác dụng giảm viêm bằng cách giảm biểu hiện của một số gen nhất định trong DNA của khỉ.

Chắc chắn rằng, nghiên cứu cụ thể này, được thực hiện bởi một nhóm tại Trung tâm Y tế Langone của Đại học New York và Đại học California San Francisco, không phải là nghiên cứu đầu tiên thuộc loại này. Các thử nghiệm nhỏ trên người đã phát hiện ra rằng cho người ăn những quả trứng siêu nhỏ của giun đũa ở lợn (hay Trichuris suis) có thể làm giảm các triệu chứng của IBD.13 Nhưng trong một thời gian dài, các nhà khoa học không biết tại sao trứng lại có tác dụng. Và bây giờ chúng ta có thể tự tin giải thích cơ chế: Tiếp xúc với những quả trứng này khôi phục lại sự cân bằng cho các cộng đồng vi sinh vật đang bám vào thành ruột. (Và không, trứng không “nở” bên trong hoặc đi qua phân.) Tôi nên nói thêm rằng IBD hiếm khi được thấy ở các nước kém phát triển, nơi phổ biến nhiễm giun ký sinh trong đường tiêu hóa. Giống như bệnh Alzheimer, bệnh ruột kích thích chủ yếu gặp ở các nước phát triển, chẳng hạn như Mỹ và các quốc gia châu Âu, một thực tế mang lại sự tin cậy một lần nữa cho giả thuyết vệ sinh – rằng quá sạch sẽ có thể phản tác dụng. Có lẽ một ngày nào đó chúng ta có thể tìm thấy nhiều liệu pháp “ký sinh trùng” hơn cho IBD và các bệnh do viêm khác. Nghiên cứu thử nghiệm đang được tiến hành để xem liệu trứng giun có thể điều trị viêm đại tràng, hen suyễn, viêm khớp dạng thấp, dị ứng thực phẩm và bệnh tiểu đường type 1 hay không.

Theo lời của cây bút khoa học Katherine Harmon Courage: “Có lẽ hãy cứ coi chúng như món trứng cá muối của lợi khuẩn.”14

MỘT THẾ GIỚI MỚI

Vào thời điểm bạn đọc cuốn sách này, chúng ta chắc hẳn đã lập được bản đồ nhiều sinh vật thuộc hệ vi sinh của con người hơn số lượng hiện có trong hồ sơ – vào thời điểm tôi viết cuốn sách này – nhờ Dự án Hệ vi sinh vật ở người do Viện Y tế Quốc Hoa Kỳ (NIH) gia khởi xướng vào năm 2008. NIH đang hỗ trợ một nỗ lực phối hợp để mô tả đặc điểm của hệ vi sinh, với công việc đang được tiến hành tại bốn trung tâm giải trình tự: Viện J. Craig Venter, Đại học Y Baylor, Viện Broad và Trường Y Đại học Washington. Chắc chắn những bên khác cũng sẽ tham gia, cả các tổ chức tư nhân và nhà nước. Dự án nhằm xác định các cộng đồng vi sinh vật ở các bộ phận khác nhau của cơ thể trong hàng nghìn cá thể. Việc lấy mẫu rộng rãi này sẽ giúp xác định liệu có một hệ vi sinh vật cốt lõi trong từng bộ phận hay không và giúp các nhà khoa học thăm dò mối quan hệ giữa tình trạng sức khỏe và những thay đổi trong hệ vi sinh vật. Tại Đại học Colorado, Dự án American Gut đang được tiến hành. Các nhà nghiên cứu ở đó đang thử nghiệm khoảng 7.000 mẫu phân do những người hiến tặng gửi đến, cùng với thông tin về chế độ ăn uống, sức khỏe và thói quen lối sống của họ – một kho dữ liệu khổng lổ để nghiên cứu.

Nhưng việc xác định các quần thể vi sinh vật sinh sống trong chúng ta sẽ chỉ là bước khởi đầu. Chúng ta phải tìm hiểu xem tất cả dữ liệu đó có ý nghĩa như thế nào đối với sức khỏe hoặc, ngược lại, bệnh tật. Chúng ta cũng phải điều tra mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật và các yếu tố lối sống (chẳng hạn như lượng rượu chúng ta uống và thời gian chúng ta ngủ), cũng như sự tác động qua lại phức tạp giữa các yếu tố di truyền và thành phần vi sinh vật. Và tôi rất nóng lòng muốn xem những gì chúng ta khám phá được. Khi tôi viết phần kết này, tạp chí Nature vừa xuất bản một bài báo khác để gióng lên hồi chuông cảnh báo. Dòng tiêu đề đã nói lên tất cả: “Liên kết ruột-não thu hút các nhà khoa học thần kinh.”15 Trong đó, tác giả viết rằng: “bây giờ chúng ta mới bắt đầu hiểu cách vi khuẩn đường ruột có thể ảnh hưởng đến não bộ” và “[giờ] có chứng cứ vững chắc liên kết các tình trạng như tự kỷ và trầm cảm với các cư dân vi sinh vật trong ruột.”

Một chứng cứ vững chắc, đúng thế. Cuộc chạy đua tìm phương pháp chữa trị mới cho tất cả những căn bệnh này đã bắt đầu. Chào mừng đến với kỷ nguyên mới của y học và dịch vụ chăm sóc cá nhân.

Chỉ hơn một thập niên trước, tôi đã vun đắp một tình bạn thân thiết với Tiến sĩ Amar Bose. Nếu cái tên đó không quen thuộc, bạn chắc chắn sẽ nhận ra khi tôi giải thích rằng hệ thống âm thanh trong ô tô của bạn có thể được thiết kế bởi công ty của ông. Tiến sĩ Bose đã xây dựng sự nghiệp dựa trên việc khám phá và vượt qua ranh giới, không chỉ trong thiết bị âm thanh mà còn trong nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ. Tôi nhớ ngày ông tự hào đưa tôi qua phòng thí nghiệm nghiên cứu của mình, tiết lộ những dự án được xây dựng dựa trên những ý tưởng phát triển sản phẩm vô cùng mới mẻ. Chúng tôi đi từ phòng thí nghiệm này đến phòng thí nghiệm khác, và rõ ràng ông rất tự hào về công việc của các nhà khoa học nghiên cứu của mình. Nhưng điều đáng nhớ nhất đối với tôi khi đến thăm ngày hôm đó là câu nói của người đoạt giải Nobel người Bỉ Maurice Maeterlinck vào năm 1911, đã được khắc trên bức tường kính của văn phòng riêng của Bose. Nó thực sự tổng hợp toàn bộ động lực dẫn đến thành công to lớn của Bose: “Tại mọi ngã rẽ trên con đường dẫn đến tương lai, mỗi tinh thần cầu tiến đều bị phản đối bởi một nghìn người được giao nhiệm vụ bảo vệ quá khứ.”

Rõ ràng có những người sẽ muốn bảo vệ quá khứ và thậm chí cả hiện trạng. Đó là điều được mong đợi. Tôi tin rằng điều quan trọng hơn là phải phá vỡ liên kết của những ràng buộc này và nhận ra rằng nền khoa học thú vị và đáng tôn trọng nhất của chúng ta đang mang đến một cơ hội đáng kinh ngạc để lấy lại sức khỏe thông qua sức mạnh của hệ vi sinh. Chúng ta có thể khai thác sức mạnh bên trong này để cải thiện chính mình, vì hiện tại chúng ta đang ở ngã ba đường dẫn đến tương lai. Hãy tham gia vào cuộc cách mạng.

Lưu Trung Kiên dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.