Những phơi nhiễm phổ biến khiến hệ vi sinh vật có lợi trở thành có hại
Giờ khi đã tường tận những mối nguy hiểm hàng đầu trong chế độ ăn uống đối với một hệ vi sinh khỏe mạnh, chúng ta hãy tiến gần hơn một chút đến khoa học về những yếu tố khác đe dọa cộng đồng đường ruột của bạn từ góc độ thuốc và hóa chất môi trường. Tôi phác thảo những yếu tố tồi tệ nhất dưới đây. Một số thông tin này nhắc lại các khái niệm mà chúng ta đã khám phá, đồng thời cung cấp cho bạn dữ liệu bổ sung để tiếp thêm sức mạnh cho những lựa chọn mới mà bạn sẽ thực hiện trong cuộc sống của mình về sau.
KHÁNG SINH
Tôi nhớ rất rõ khi tôi lên năm tuổi và cha tôi đột nhiên yếu đi. Lúc đó ông ấy là một bác sĩ phẫu thuật thần kinh bận rộn, làm việc ở năm hay sáu bệnh viện, đồng thời là bố của năm đứa con (tôi là út). Như bạn có thể tưởng tượng, ông đã rất bận rộn, nhưng đột nhiên ông bắt đầu bị sốt và mệt mỏi. Ông đã tham khảo ý kiến của một số đồng nghiệp và cuối cùng được chẩn đoán mắc bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp, một bệnh tim do vi khuẩn Streptococcus viridans gây ra. Ông được truyền penicillin trong ba tháng. Việc truyền thuốc được thực hiện tại nhà, và tôi có thể nhớ lại cảnh ông đọc các tạp chí y tế của mình với túi dịch truyền treo bên cạnh giường. Nếu không phải nhờ penicillin, căn bệnh này chắc chắn sẽ gây tử vong. Vì vậy, tôi hiểu, vô cùng rõ, tầm quan trọng và hiệu quả của thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, tôi không thể không tự hỏi về những thay đổi mà hệ vi sinh của ông phải chịu đựng trong quá trình điều trị này và điều đó có thể đóng vai trò như thế nào trong tình trạng hiện tại của ông với bệnh Alzheimer.
Tôi không thể nói về vai trò của thuốc kháng sinh đối với sức khỏe con người mà không thể hiện sự tôn vinh đối với chúng. Tôi biết rất nhiều bạn bè, thành viên gia đình và đồng nghiệp, những người sẽ không ở cùng chúng tôi ngày hôm nay nếu không dùng kháng sinh. Những căn bệnh nghiêm trọng từng giết chết hàng triệu người mỗi năm có thể dễ dàng được điều trị ngày nay nhờ thuốc kháng sinh. Việc khám phá ra kháng sinh (“chống lại sự sống”) vào đầu thế kỷ XX là một trong những thành tựu y học quan trọng nhất của chúng ta.
Năm 1928, nhà khoa học người Anh Alexander Fleming gần như tình cờ phát hiện ra một chất sinh trưởng tự nhiên – một loại nấm – có thể giết chết một số vi khuẩn. Ông đang nuôi cấy vi khuẩn Staphylococcus aureus phổ biến khi nhận thấy rằng một loại nấm mốc trong cùng đĩa nuôi cấy đang tiêu diệt khuẩn lạc vi khuẩn. Ông đặt tên cho loại nấm mốc đó là Penicillium, ông cùng những người khác sau đó đã tiến hành nhiều thí nghiệm sử dụng penicillin để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu ở châu Âu và Mỹ đã bắt đầu thử nghiệm penicillin trên động vật và sau đó là con người. Năm 1941, chỉ một lượng nhỏ penicillin cũng cho thấy có khả năng chữa các bệnh nhiễm trùng rất nặng và cứu sống nhiều người. Năm 1945, Alexander Fleming đoạt giải Nobel Sinh lý học và Y học.
Anne Miller là người đầu tiên được hưởng lợi từ loại thuốc thần kỳ này ở Mỹ vào năm 1942, cô là một y tá 33 tuổi vừa bị sảy thai. Cô ấy mắc một căn bệnh rất nghiêm trọng được gọi là nhiễm trùng huyết hậu sản, do nhiễm trùng liên cầu nghiêm trọng. Anne ốm nặng trong một tháng với những cơn sốt cao và mê sảng. Bác sĩ của cô được nhận một trong những lô penicillin đầu tiên, mặc dù thuốc chưa được bán trên thị trường. Thuốc được vận chuyển bằng máy bay và giao cho các binh sĩ bang Connecticut, họ đã giao lọ thuốc cho các bác sĩ tại Bệnh viện Yale – New Haven, nơi Anne nằm trên giường bệnh.
Trong vòng vài giờ sau khi dùng thuốc – 1 muỗng cà phê chứa 5,5 g penicilin – sức khỏe của Anne đã cải thiện nhanh chóng. Cơn sốt dịu đi, cơn mê sảng tan đi, cảm giác thèm ăn trở lại, và trong vòng một tháng, cô đã hoàn toàn bình phục. Thuốc thì quá cần thiết mà nguồn cung cấp lại ít đến mức người ta phải giữ nước tiểu của Anne lại để có thể lọc lấy những gì còn sót lại của thuốc và sử dụng lại. Anne đã trở lại Yale vào năm 1992 để kỷ niệm 50 năm sự kiện mang tính bước ngoặt này. Khi đó bà đã ngoài 80 tuổi và sẽ sống đến 90 tuổi. Nếu không có penicillin, bà đã có thể gặp cái chết sớm hơn nửa thế kỷ.
Tất nhiên, thuốc kháng sinh không phải là liều thuốc thần kỳ có thể tiêu diệt mọi căn bệnh. Tuy nhiên, khi được sử dụng đúng lúc, chúng có thể chữa được nhiều bệnh nghiêm trọng và nguy hiểm đến tính mạng. Chúng đã tạo ra một cuộc cách mạng trong y học, nhưng thời gian đã trôi xa những ngày mà kháng sinh còn khan hiếm. Ngày nay thuốc kháng sinh có ở khắp mọi nơi và quá thường xuyên bị lạm dụng.
Theo CDC, 4/5 người Mỹ dùng thuốc kháng sinh mỗi năm.1 Khoảng 258 triệu liều kháng sinh đã được kê trong năm 2010 dành cho 309 triệu người ở Mỹ. Thuốc kháng sinh chiếm phần lớn trong đơn thuốc cho trẻ em dưới mười tuổi. Việc sử dụng quá nhiều kháng sinh, đặc biệt là đối với các bệnh do virus gây ra, mà các loại thuốc này không có tác dụng (ví dụ như cảm lạnh, cảm cúm), đã dẫn đến sự gia tăng của các chủng kháng kháng sinh mà các loại kháng sinh hiện nay không thể tiêu diệt. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố: “Nếu không có hành động khẩn cấp, chúng ta đang hướng tới kỷ nguyên hậu kháng sinh, trong đó các bệnh thông thường và vết thương nhẹ có thể một lần nữa gây tử vong.”2 Tổ chức này đã gọi kháng kháng sinh là một trong “những thách thức sức khỏe hàng đầu phải đối mặt trong thế kỷ XXI”.
Chính Alexander Fleming đã cảnh báo chúng ta về những hậu quả tiềm ẩn này vào năm 1945, trong bài phát biểu khi đoạt giải Nobel của mình, khi ông nói: “Khi mà bất cứ ai đều có thể mua được penicillin trong các cửa hàng. Có nguy cơ là một người thiếu hiểu biết có thể dễ dàng tự dùng thiếu liều lượng và, với việc phơi nhiễm vi sinh vật với lượng thuốc mà không giết chết chúng sẽ khiến chúng kháng thuốc.”3 (Khi sử dụng kháng sinh, “thiếu liều” – uống quá ít hoặc không uống hết một đợt theo đơn – có thể gây rắc rối ngang với việc sử dụng quá liều thuốc kháng sinh nói chung. Cả hai việc làm đều dẫn đến các chủng vi khuẩn kháng thuốc.) Chỉ ba năm sau, các chủng tụ cầu đột biến, trơ với penicillin, đã xuất hiện. Ngày nay, nhiễm trùng Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) là do một chủng vi khuẩn tụ cầu khuẩn nguy hiểm và hầu hết các loại kháng sinh thông thường không thể điều trị được. MRSA đã trở thành một mối đe dọa lớn ở Mỹ, giết chết những người có hệ thống miễn dịch kém và khiến những người vốn trẻ, khỏe mạnh phải nhập viện để điều trị. Nhìn chung, hai triệu người Mỹ bị nhiễm trùng kháng thuốc hằng năm và 23.000 người trong số đó tử vong.4 Bệnh lao cũng đang bùng phát trở lại, do các chủng vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis độc tàn phá phổi.
Kháng sinh cũng được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp và trồng trọt, và điều này đang góp phần vào vấn đề kháng thuốc. Chúng được sử dụng để điều trị bệnh cũng như làm cho động vật lớn hơn và trưởng thành sớm hơn. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy những thay đổi lớn xảy ra nhanh chóng (chỉ trong hai tuần) trong quần thể vi sinh vật của vật nuôi khi chúng nhận được thuốc kháng sinh – những thay đổi thúc đẩy bệnh béo phì do các loại vi khuẩn còn sót lại sau khi phơi nhiễm kháng sinh (chi tiết về điều này ngay sau đây), và gây ra sự gia tăng đáng kể tình trạng kháng kháng sinh. Những loại kháng sinh này cuối cùng cũng tìm được đường vào thịt, gia cầm và các chế phẩm sữa, điều này làm dấy lên lo ngại về tác dụng kéo dài của chúng trong cơ thể con người. Thuốc kháng sinh là chất gây rối loạn nội tiết, và phơi nhiễm liên tục với các loại thuốc này trong nguồn cung cấp thực phẩm của chúng ta sẽ bắt chước và làm rối loạn hormone giới tính trong cơ thể. Chúng cũng có thể gây ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của con người, thúc đẩy chứng béo phì. Và sự ảnh hưởng này có thể xảy ra thông qua tác dụng trực tiếp của kháng sinh trong cơ thể cũng như qua vi khuẩn đường ruột.
Ngày nay, có rất nhiều cuộc tranh luận về việc liệu đại dịch béo phì ở trẻ em có thể một phần do những tác động tích lũy mà các loại thuốc này gây ra đối với cơ thể đang phát triển và dễ bị tổn thương của trẻ hay không. Thật không may, có nhiều lỗ hổng pháp lý và chính trị trong các nỗ lực lập pháp để giảm lượng kháng sinh trong nguồn cung cấp thực phẩm.
Tất nhiên, chìa khóa cho cuộc thảo luận của chúng ta là tác hại của những loại thuốc này đối với hệ vi sinh của con người. Ví dụ, cơ chế mà kháng sinh làm cho gia súc – và có thể là con người – trở nên nặng hơn là do những thay đổi trong hệ vi sinh vật. Hãy nhớ lại trong Chương 4 cách tôi mô tả sự khác nhau giữa các loại vi khuẩn đường ruột dẫn đến tích trữ nhiều chất béo và tăng cân và các loại vi khuẩn ngăn ngừa béo phì. Firmicutes có thể thu được nhiều năng lượng hơn từ thức ăn, do đó làm tăng nguy cơ hấp thụ nhiều calo và tăng cân. Ruột của những người béo phì thường được phát hiện là bị vi khuẩn Firmicutes chi phối, trái ngược với vi khuẩn Bacteroidetes, chủ yếu có trong ruột của những người gầy. Điều xảy ra khi một động vật, dù là bò hay người, uống kháng sinh là hệ vi sinh vật của cơ thể sẽ ngay lập tức thay đổi về sự đa dạng và thành phần do kháng sinh ngay lập tức tiêu diệt một số chủng, khiến những chủng khác phát triển. Và thật không may, kháng sinh có thể tạo ra sự mất cân bằng lớn khiến đường ruột chứa đầy vi khuẩn gây béo phì. Tiến sĩ Martin Blaser của Đại học New York là một trong những nhà nghiên cứu suy đoán rằng việc sử dụng kháng sinh góp phần gây ra bệnh béo phì. Trên thực tế, các nghiên cứu của ông đã xem xét tác động của kháng sinh đối với một chủng vi khuẩn khét tiếng mà tôi đã đề cập: H. pylori, một mục tiêu phổ biến của các bác sĩ đối với những bệnh nhân bị loét dạ dày tá tràng. Mặc dù nó được chứng minh là làm tăng nguy cơ loét dạ dày tá tràng và ung thư dạ dày, nhưng nó là một thành viên phổ biến của cộng đồng vi sinh vật đường ruột của con người.
Trong một trong những nghiên cứu của Tiến sĩ Blaser, được thực hiện vào năm 2011, ông đã khám cho các cựu chiến binh Mỹ đang trải qua các xét nghiệm để xem xét đường tiêu hóa trên.5 Trong số 92 cựu chiến binh, 38 người được xét nghiệm âm tính với H. pylori, 44 người được xét nghiệm dương tính và 10 là không xác định. Hai mươi ba trong số những người nhiễm H. pylori đã được dùng thuốc kháng sinh, và chỉ hai người trong số đó không loại bỏ được vi khuẩn này. Và về 21 cựu chiến binh đã loại bỏ H. pylori thông qua kháng sinh, hãy đoán xem: Họ tăng cân nhiều nhất. Chỉ số BMI của họ tăng khoảng 5%, cộng hoặc trừ 2%. Các cựu quân nhân khác không có thay đổi về cân nặng. Hơn nữa, nồng độ hormone kích thích sự thèm ăn ghrelin của họ tăng gấp sáu lần sau bữa ăn, cho thấy họ chưa cảm thấy no sau bữa ăn và có thể ăn nhiều hơn. Mức ghrelin cao cũng được biết là làm tăng mỡ bụng. Vì vậy, sự thật về kháng sinh như là chất kích thích tăng trưởng là có lý khi kết hợp tất cả lại với nhau. Chúng chắc chắn giúp tăng trọng vật nuôi. Và chúng cũng đang giúp chúng ta tăng cân khi kháng sinh được sử dụng hoặc tiêu thụ qua thực phẩm.
Như bạn có thể thấy trong biểu đồ bên dưới, Mỹ dẫn đầu về việc sử dụng kháng sinh trong lượng thịt được sản xuất.6

Trong năm 2011, các nhà sản xuất thuốc ở Mỹ đã bán gần 13,6 triệu kg thuốc kháng sinh cho gia súc, số lượng lớn nhất từng được ghi nhận, chiếm 80% tổng doanh số thuốc kháng sinh trong năm đó.7
FDA chỉ bắt đầu kiểm tra thịt và gia cầm để tìm vi khuẩn kháng kháng sinh vào năm 1996, và quan điểm chính trị của việc kiểm soát sử dụng kháng sinh, đáng buồn là trở ngại cho việc giám sát thực sự và minh bạch. Tiến sĩ David Kessler, cựu ủy viên FDA và là tác giả cuốn sách bán chạy The End of Overeating (Cái kết của việc ăn quá nhiều), đã nói rõ sự thật khi ông viết một bài báo cho New York Times vào năm 2013: “Tại sao các nhà lập pháp lại chần chừ trong việc tìm hiểu xem 80% thuốc kháng sinh của chúng ta được sử dụng như thế nào? Chúng ta không thể tránh những câu hỏi hóc búa vì sợ câu trả lời. Các nhà lập pháp phải cho công chúng biết các loại thuốc họ cần để duy trì sức khỏe tốt đang được sử dụng để sản xuất thịt rẻ hơn như thế nào.”8
Mặc dù có thể mất một thời gian dài để đưa ra các hạn chế và quy định chặt chẽ hơn liên quan đến việc sử dụng kháng sinh trong thực phẩm, nhưng tôi rất vui khi thấy sự thay đổi đã diễn ra ở cấp độ của CDC, WHO và Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ liên quan đến việc kê đơn kháng sinh cho điều trị nhiễm trùng. Các tổ chức này đã đưa ra nhiều cảnh báo mà các bác sĩ hiện đang lắng nghe. Điều này đã dẫn đến nhận thức rõ hơn về những loại bệnh nào thực sự cần kháng sinh và bệnh nào tốt nhất là nên để cơ thể tự chữa lành. Mục đích là để hạn chế việc sử dụng kháng sinh trừ phi chúng thực sự cần thiết. Chẳng hạn, chỉ trong vài năm gần đây, các bác sĩ nhi khoa đã được khuyến cáo không phản xạ tự động đối với các bậc cha mẹ yêu cầu dùng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh về tai hoặc họng cho con họ. Đó là kiểu thay đổi tôi muốn thấy.
Theo Journal of the American Medical Association, những bệnh này thường có thể được điều trị mà không cần kháng sinh:9
Cảm lạnh thông thường
Cảm cúm (cúm)
Hầu hết các loại ho và viêm phế quản
Nhiều bệnh nhiễm trùng tai
Nhiều bệnh phát ban trên da
Vào năm 2004, một nghiên cứu đáng kinh ngạc được công bố trên tạp chí Journal of the American Medical Association đã khiến tôi hiểu rõ hơn tác động của kháng sinh khi các nhà nghiên cứu chứng minh nó có khả năng làm tăng đáng kể nguy cơ mắc ung thư của một người.10 Các nhà nghiên cứu của Đại học Washington đã xem xét 2.266 phụ nữ trên 19 tuổi mắc ung thư vú xâm lấn nguyên phát (ung thư vú có khả năng di căn từ vú sang các bộ phận khác của cơ thể) và so sánh với 7.953 đối chứng nữ được chọn ngẫu nhiên. Nghiên cứu được thiết kế để xác định xem liệu có sự gia tăng nguy cơ ung thư vú ở những phụ nữ dùng kháng sinh (tất cả các loại) hay không. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ rõ ràng giữa số ngày sử dụng kháng sinh và nguy cơ ung thư vú tăng lên. Ở những người dùng nhiều kháng sinh nhất, nguy cơ ung thư vú tăng gấp đôi. Kết quả cũng cho thấy mối tương quan đáng kể giữa việc sử dụng kháng sinh và ung thư vú giai đoạn cuối. Các tác giả cho biết: “Sử dụng kháng sinh có liên quan đến việc tăng nguy cơ biến chứng và tử vong do ung thư vú”. Họ kết luận: “Mặc dù cần có các nghiên cứu sâu hơn, nhưng những phát hiện này củng cố nhu cầu cần thiết phải thận trọng trong việc sử dụng kháng sinh lâu dài.”

Tôi xin làm rõ, nghiên cứu này không chỉ ra rằng kháng sinh gây ra ung thư vú. Tuy nhiên, với những gì chúng ta biết về cách những loại thuốc mạnh này làm thay đổi vi khuẩn đường ruột cũng như vai trò của vi khuẩn trong khả năng miễn dịch, giải độc và chứng viêm, các nghiên cứu như thế này ít nhất cũng khiến chúng ta nghi ngờ. Tôi hy vọng sẽ có thêm nhiều nghiên cứu nổi bật trong thập kỷ tới cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa trạng thái của hệ vi sinh đường ruột và nguy cơ mắc một số bệnh ung thư, bao gồm ung thư ở não và hệ thần kinh.
Tiến sĩ Robert F. Schwabe là một nhà nghiên cứu đầu ngành trong lĩnh vực này. Là một bác sĩ nghiên cứu tại Khoa Y của Đại học Columbia, Tiến sĩ Schwabe đã viết một bài báo thuyết phục vào năm 2013, được công bố trên một số chuyên ngành của Nature, phác thảo các cách thức mà qua đó tình trạng của hệ vi sinh vật có thể thúc đẩy hoặc ngăn chặn sự phát triển của ung thư. Trong kết luận của mình, ông nhấn mạnh giá trị của việc chuyển sự chú ý đến việc nghiên cứu hệ vi sinh với hy vọng tìm ra các liệu pháp mới để phòng ngừa và điều trị ung thư, gọi hệ vi sinh vật là “chiến tuyến tiếp theo của nghiên cứu y học”.
Tôi đã sử dụng ví dụ về ung thư để cáo buộc kháng sinh làm hỏng một cộng tác viên quan trọng trong sức khỏe của chúng ta, nhưng tôi hoàn toàn có thể nói về việc phơi nhiễm với kháng sinh và nguy cơ tăng cao mắc ADHD, hen suyễn, thừa cân và tiểu đường – tất cả đều làm tăng đáng kể nguy cơ sa sút trí tuệ, trầm cảm, tự tử và lo lắng. Bây giờ bạn có thể đoán sợi dây liên kết tất cả các tình trạng này với nhau: chứng viêm. Và nếu bạn dừng lại và suy ngẫm về quá trình viêm, bạn chắc hẳn sẽ nghĩ về hệ vi sinh đường ruột của mình.
Một vài lần trong tuần, điện thoại tại văn phòng của tôi đổ chuông khi các bệnh nhân yêu cầu tôi “kê gì đó” vì họ bị cảm. Tôi luôn giải thích rằng việc đó không phù hợp. Và khi họ yêu cầu Zithromax Z-Pak, một trong những loại kháng sinh được kê đơn phổ biến nhất cho nhiễm trùng đường hô hấp trên, tôi đưa ra sự thật: Dữ liệu từ một nhóm lớn người bệnh cho thấy việc sử dụng kháng sinh này làm tăng đáng kể nguy cơ tử vong liên quan đến tim, bởi một trong số những tác dụng phụ của thuốc là làm rối loạn nhịp tim.12 Thực tế, trong một trong những nghiên cứu kiểm tra mối liên hệ này, các nhà nghiên cứu tại Trường Y Đại học Nam Carolina đã ước tính rằng một nửa trong số 40 triệu đơn thuốc có loại kháng sinh này trong năm 2011 là không cần thiết và có thể đã gây ra 4.560 ca tử vong.13 Tôi cũng muốn nói với những bệnh nhân yêu cầu dùng kháng sinh rằng nếu họ không uống kháng sinh thì cơn cảm lạnh của họ có thể kéo dài khoảng một tuần, nhưng nếu họ uống thuốc thì sẽ chỉ kéo dài bảy ngày. Tôi không chắc họ có luôn hiểu được câu nói đùa này không. Có vẻ như tất cả các thông tin liên quan đến sự nguy hiểm của việc lạm dụng kháng sinh chỉ như nước đổ lá khoai. Đây không chỉ là về bạn hay tôi. Đó là về tất cả chúng ta.
Lần tới khi nghĩ rằng bạn hoặc con bạn cần dùng kháng sinh, tôi khuyến khích bạn nên cân nhắc giữa ưu và nhược điểm. Không cần phải nói rằng nếu đó là một bệnh nhiễm trùng chỉ có thể chữa khỏi bằng kháng sinh, hãy sử dụng chúng một cách khôn ngoan và chính xác như bác sĩ kê đơn (xem trang 260 để biết thêm chi tiết về việc bổ sung lợi khuẩn trong quá trình dùng kháng sinh). Nhưng nếu đó là một bệnh không thể chữa khỏi bằng kháng sinh, hãy cân nhắc xem bạn đang “cứu” được bao nhiêu về mặt hệ vi sinh. Điều này đặc biệt đúng đối với trẻ em, đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương. Đa số trẻ em sẽ khỏi bệnh nhiễm trùng tai trong vòng vài ngày nếu được dùng thuốc chỉ để giảm đau hoặc hạ sốt. Trong một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of the American Medical Association vào năm 2010, một nhóm bác sĩ nhi khoa đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về việc lạm dụng kháng sinh đối với các bệnh nhiễm trùng phổ biến thường do virus gây ra.14 Các bác sĩ lưu ý rằng nguy cơ tác dụng phụ khi dùng kháng sinh lớn hơn lợi ích, vốn không có trong hầu hết các trường hợp. Một hoặc nhiều đợt kháng sinh, sẽ khiến trẻ em tăng nguy cơ mắc phải nhiều vấn đề về sức khỏe do vi khuẩn đường ruột bị gián đoạn – từ hen suyễn và béo phì ở tuổi thanh niên cho đến chứng sa sút trí tuệ sau này. Tất cả đều có liên quan đến nhau. Các vi khuẩn đường ruột tạo ra những liên kết bền vững đó.
GHI CHÚ CHO NHỮNG AI DÙNG KHÁNG SINH TRƯỚC KHI ĐẾN GẶP NHA SĨ
Nhiều bệnh nhân lớn tuổi của tôi mà đã phải thay toàn bộ khớp háng hoặc đầu gối cho biết rằng họ luôn dùng kháng sinh để dự phòng trước khi đến gặp nha sĩ. Thực tế này đã diễn ra trong một thời gian dài đến mức mọi người thường chấp nhận rằng điều này có lý. Nhưng khoa học hiện tại lại cho chúng ta biết điều ngược lại: Nghiên cứu mới nhất chỉ ra rằng việc dùng kháng sinh để làm thủ thuật nha khoa hoàn toàn không có lợi nếu bạn có toàn bộ khớp gối hoặc hông nhân tạo. Theo kết luận của một nghiên cứu gần đây: “Các thủ thuật nha khoa không phải là yếu tố nguy cơ gây nhiễm trùng toàn bộ vùng hông hoặc đầu gối sau đó. Việc sử dụng kháng sinh dự phòng trước khi làm thủ thuật nha khoa không làm giảm nguy cơ nhiễm trùng toàn bộ khớp gối hoặc khớp háng sau đó.”15
Tuy vậy, có một số cá nhân nên cân nhắc dùng kháng sinh dự phòng trước khi tiến hành các thủ thuật nha khoa, đặc biệt là các thủ thuật liên quan đến phẫu thuật nha khoa hoặc nướu. Nhưng chỉ có một số ít người thuộc diện này, bao gồm những người có những tình trạng sau đây:
• Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn trước đó
• Van tim giả
• Dị tật tim bẩm sinh chưa được chữa trị, bao gồm cả các trường hợp đã được làm thủ thuật hoặc đặt ống dẫn trì hoãn
• Các khuyết tật tim bẩm sinh đã được chữa khỏi hoàn toàn bằng vật liệu giả hoặc thiết bị, cho dù đặt bằng phẫu thuật hay can thiệp bằng ống thông, trong 6 tháng đầu sau thủ thuật
• Các khuyết tật bẩm sinh đã được chữa lành có khuyết tật còn sót lại tại vị trí hoặc gần vị trí của miếng dán hoặc bộ phận giả
• Cấy ghép tim và có các tình trạng bệnh van tim
Và nếu bạn không biết những điều này là gì, thì bạn không đủ tiêu chuẩn để cần dùng kháng sinh dự phòng trước khi phẫu thuật răng miệng.
THUỐC TRÁNH THAI
Hàng triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đang sử dụng biện pháp tránh thai. Kể từ khi thuốc tránh thai được phát triển lần đầu tiên vào những năm 1960, nó đã được ca ngợi là một trong những nền tảng của phong trào nữ quyền. Nhưng xét cho cùng, thuốc tránh thai là loại hormone tổng hợp có tác dụng sinh học tức thì đối với cơ thể con người, và chúng chắc chắn gây hại cho cộng đồng vi sinh vật. Mặc dù hầu như tất cả các loại thuốc đều có một số tác động đến hệ vi sinh, nhưng các loại thuốc như thuốc tránh thai, được sử dụng hằng ngày và thường là lâu dài, là loại nguy hại nhất. Trong số nhiều hệ quả của việc sử dụng lâu dài (hơn năm năm) là:
• Giảm hormone tuyến giáp và testosterone có sẵn trong tuần hoàn
• Tăng kháng insulin, gốc oxy hóa và các chỉ tố viêm
• Sự cạn kiệt một số vitamin, khoáng chất và chất chống oxy hóa
Với tất cả những gì tôi đã giải thích về vai trò của vi khuẩn đường ruột với sự trao đổi chất, miễn dịch, thần kinh và thậm chí là nội tiết, không có gì lạ khi chúng bị ảnh hưởng bởi “viên thuốc nhỏ nghịch ngợm”, một thuật ngữ bác sĩ tâm thần Manhattan, Tiến sĩ Kelly Brogan dùng để mô tả thuốc tránh thai cho bệnh nhân của mình. Cũng không có gì ngạc nhiên khi các tác dụng phụ phổ biến nhất được ghi nhận khi sử dụng thuốc tránh thai là rối loạn tâm trạng và lo âu. Một trong những vitamin bị cạn kiệt do thuốc là B6, là cofactor để sản xuất serotonin và GABA – hai phân tử quan trọng trong sức khỏe não bộ. Mới đây, các nhà khoa học cũng đã phát hiện ra rằng việc sử dụng thuốc tránh thai có thể liên quan đến bệnh viêm ruột – đặc biệt là làm tăng nguy cơ mắc bệnh Crohn, đặc trưng bởi tình trạng viêm niêm mạc và thành ruột già hoặc ruột non, hoặc cả hai.16 Lớp niêm mạc có thể bị viêm đến mức chảy máu.
Mặc dù cơ chế chính xác của mối liên hệ này vẫn chưa được phát hiện, nhưng ý kiến hiện tại là các hormone này thay đổi tính thấm của niêm mạc ruột, vì đại tràng đã được chứng minh là dễ bị viêm hơn khi sử dụng estrogen. (Đây cũng có thể là lý do tại sao một số phụ nữ đang sử dụng thuốc tránh thai phàn nàn về các vấn đề về đường tiêu hóa.) Chúng ta biết việc tăng tính thấm có ý nghĩa như thế nào đối với sức khỏe con người: nó làm tăng khả năng các vật liệu từ ruột, đặc biệt là các chất do vi khuẩn đường ruột tạo ra, đi vào máu, nơi chúng kích thích hệ miễn dịch, và sau đó có thể di chuyển đến các bộ phận khác của cơ thể, bao gồm cả não, nơi chúng gây hại. Trong một nghiên cứu năm 2012 do Tiến sĩ Hamed Khalili, một nhà nghiên cứu và thực hành về tiêu hóa tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts ở Boston, dẫn đầu, các nhà nghiên cứu đã xem xét dữ liệu từ khoảng 233.000 phụ nữ đăng ký vào chương trình nghiên cứu sức khỏe phụ nữ US. Nurses Health Study, họ được theo dõi từ năm 1976 đến năm 2008.17 So sánh những người chưa bao giờ sử dụng thuốc tránh thai với những người đã sử dụng, ông nhận thấy rằng những người sử dụng thuốc có nguy cơ mắc bệnh Crohn cao hơn gần ba lần. Trong kết luận của mình, Tiến sĩ Khalili cảnh báo rằng những phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai có tiền sử gia đình mắc bệnh viêm ruột nên đặc biệt lưu ý vì nghiên cứu tìm thấy mối liên hệ giữa hai yếu tố này.
Vậy các lựa chọn khác là gì? Tiến sĩ Brogan, một người ủng hộ sức khỏe phụ nữ, muốn tất cả bệnh nhân của mình không dùng thuốc tránh thai. Bà khuyên họ nên thử dụng cụ tránh thai không chứa nội tiết tố, các thiết bị hỗ trợ sinh sản theo dõi nhiệt độ cơ thể của phụ nữ đủ chính xác để biết khi nào rụng trứng, hoặc dùng bao cao su như từ trước tới nay. Theo cách nói của bà: “Việc điều trị bằng thuốc không hề vô hại và rất khó thực hiện phân tích rủi rolợi ích nếu chúng ta không biết những rủi ro về môi trường và di truyền mà mỗi cá nhân đang mang. Nếu có một lựa chọn điều trị nào có rủi ro tối thiểu đến không đáng kể và mang lại lợi ích dựa trên bằng chứng ở một mức độ nào đó, thì đối với tôi, điều này sẽ đại diện cho con đường tốt hơn, nhẹ nhàng hơn cho sức khỏe. Ngày nay, phong trào giải phóng của phụ nữ ngày càng gần với một chu kỳ kinh nguyệt khỏe mạnh, hạnh phúc mà không cần đơn thuốc.”18
THUỐC CHỐNG VIÊM KHÔNG STEROID
Trong quá khứ, nhiều nghiên cứu từ những năm 1990 đã chỉ ra rằng những người đã dùng thuốc chống viêm không steroid như Advil (ibuprofen) và Aleve (naproxen) trong hai năm trở lên có thể giảm hơn 40% nguy cơ đối với các bệnh Alzheimer và Parkinson.19 Điều này hợp lý khi bạn coi đây chủ yếu là các bệnh do viêm, vì vậy khi bạn kiểm soát chứng viêm thì bạn sẽ kiểm soát được nguy cơ.
Nhưng các nghiên cứu mới hơn hiện đang xuất hiện để tiết lộ một sự thay đổi trong câu chuyện. Người ta đã chứng minh rằng những loại thuốc này có thể làm tăng nguy cơ tổn thương niêm mạc ruột, đặc biệt là khi có gluten. Các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha phát hiện ra rằng khi những con chuột mẫn cảm với gluten về mặt di truyền được điều trị bằng thuốc indomethacin, một thuốc chống viêm không steroid mạnh thường được sử dụng để điều trị viêm khớp dạng thấp, tính thấm của ruột tăng lên rõ rệt làm khuếch đại tác hại của gluten. Kết luận của họ chỉ ra rằng “các yếu tố môi trường làm thay đổi hàng rào ruột có thể khiến các cá nhân gia tăng sự mẫn cảm với gluten...”20 Nghiên cứu trong tương lai sẽ giúp làm sáng tỏ câu hỏi hóc búa này, nhưng hiện tại tôi sẽ thận trọng với việc sử dụng những loại thuốc này trừ phi chúng thực sự cần thiết.
HÓA CHẤT TRONG MÔI TRƯỜNG
Ngày nay, có vô số hóa chất tổng hợp trong môi trường của chúng ta, rất nhiều trong số chúng hiện diện trong những thứ chúng ta tiếp xúc, hít thở, chà xát trên da và tiêu thụ. Hầu hết con người ở các quốc gia công nghiệp phát triển hiện nay mang hàng trăm hóa chất tổng hợp trong cơ thể từ không khí, nước và thực phẩm. Dấu vết của 232 chất hóa học tổng hợp đã được tìm thấy trong máu cuống rốn của trẻ sơ sinh khi chào đời.21 Và phần lớn các chất hóa học này chưa được kiểm tra đầy đủ về ảnh hưởng sức khỏe. Trong ba thập kỷ qua, hơn 100.000 hóa chất đã được phép sử dụng thương mại ở Mỹ, bao gồm hơn 82.000 hóa chất công nghiệp, 1.000 hoạt chất trừ sâu, 3.000 thành phần mỹ phẩm, 9.000 phụ gia thực phẩm và 3.000 dược phẩm.22 Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) và Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) chỉ kiểm soát một phần nhỏ trong số này. Trong những năm kể từ khi Đạo luật kiểm soát các chất độc hại (TSCA) năm 1976 được thông qua, các hạn chế về kinh phí và các tranh chấp trong công nghiệp cho thấy là EPA chỉ có thể yêu cầu thử nghiệm an toàn đối với khoảng 200 trong số 84.000 hóa chất được liệt kê trong danh mục hóa chất TSCA. Và trong số 84.000 hóa chất đó, 8.000 được sản xuất với khối lượng hằng năm từ 11.000 kg trở lên. Cho đến nay, ít nhất 800 hóa chất trong số này bị nghi ngờ có khả năng can thiệp vào hệ nội tiết của chúng ta.
Trong khi chúng ta cho rằng các nhà khoa học đã đo lường các chất ô nhiễm công nghiệp trong nhiều thập kỷ và kết nối nó với sức khỏe con người, chỉ gần đây chúng ta mới bắt đầu theo dõi cái gọi là “gánh nặng cơ thể”, mức độc tố trong máu, nước tiểu, máu dây rốn và sữa mẹ. Phần lớn các hóa chất được sử dụng thương mại hiện nay chưa được phân tích đầy đủ về ảnh hưởng của chúng đối với sức khỏe con người, vì vậy chúng ta không biết mức độ rủi ro thực sự từ những hóa chất này hay chúng có thể phá vỡ sinh lý bình thường của cơ thể con người – và của hệ vi sinh vật – như thế nào. Vì lý do này, cần thận trọng và giả thiết rằng chúng đang gây ra tác hại cho đến khi chúng ta có nghiên cứu chắc chắn để chứng minh điều ngược lại.
Một trong những lý do khiến các chất hóa học trong môi trường có thể gây hại là chúng có xu hướng bám mỡ, nghĩa là chúng tích tụ trong các tuyến nội tiết và trong các mô mỡ. Hơn nữa, khi gan bị quá tải với lượng chất độc cần xử lý, nó có thể kém hiệu quả hơn trong việc loại bỏ chúng khỏi cơ thể. Điều này làm thay đổi toàn bộ môi trường sống của cơ thể, cũng như cộng đồng vi sinh vật.
Một mối quan tâm nổi bật của các nhà nghiên cứu gần đây là có rất nhiều hóa chất bắt chước estrogen trong cơ thể và chúng ta phơi nhiễm với nhiều hóa chất cùng lúc. Ví dụ, lấy hợp chất phổ biến bisphenol-A (BPA). Hơn 93% chúng ta mang lượng nhỏ hóa chất này trong cơ thể.23 BPA lần đầu tiên được sản xuất vào năm 1891 và được sử dụng như một loại thuốc estrogen tổng hợp cho phụ nữ và động vật trong nửa đầu thế kỷ XX. Nó được kê đơn cho phụ nữ để điều trị các tình trạng liên quan đến kinh nguyệt, mãn kinh và buồn nôn khi mang thai; nông dân đã sử dụng nó để thúc đẩy sinh trưởng ở gia súc của họ. Nhưng sau đó nguy cơ gây ung thư của chất này đã được phát hiện và nó đã bị cấm. Vào cuối những năm 1950, BPA đã tìm thấy một ngôi nhà khác khi các nhà sản xuất thương mại bắt đầu đưa nó vào nhựa. Điều này xảy ra sau khi các nhà hóa học tại Bayer và General Electric phát hiện ra rằng khi BPA được liên kết với nhau thành chuỗi dài (polyme hóa), nó tạo thành một loại nhựa cứng gọi là polycarbonate, một vật liệu đủ trong suốt để thay thế thủy tinh và đủ mạnh để thay thế thép. Không lâu sau đó, nó được sử dụng trong lĩnh vực điện tử, thiết bị an toàn, ô tô và hộp đựng thực phẩm. Và kể từ đó, BPA đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm thông thường, từ hóa đơn tính tiền đến chất trám răng. Hơn 450.000 kg chất này được thải ra môi trường mỗi năm. BPA trong hộp đựng thực phẩm bằng nhựa đã được chứng minh là gây ra sự mất cân bằng nội tiết tố ở cả nữ và nam giới. Các nghiên cứu hiện đang được tiến hành để xem loại hóa chất như BPA có thể gây ra thiệt hại gì cho các tế bào vi sinh vật. Trong khi một số nghiên cứu đã gợi ý rằng một số vi khuẩn đường ruột có thể phân giải BPA, do đó làm cho nó ít độc hại hơn đối với các tế bào của con người, mối quan tâm của tôi là BPA có thể tạo điều kiện cho sự gia tăng của những vi khuẩn đó và dẫn đến một cộng đồng bị rối loạn, mất cân bằng.
BPA chỉ là một trong nhiều chất hóa học mà chúng ta gặp trong cuộc sống hằng ngày. BPA có thể sớm biến mất khỏi các sản phẩm thương mại và nguồn cung cấp thực phẩm của chúng ta nhờ sự vận động hành lang mạnh mẽ của người tiêu dùng, nhưng hàng ngàn hóa chất khác có thể gây hại không kém sẽ tiếp tục tràn ngập môi trường.
Như tôi đã nói, không thể biết chính xác ngày nay chúng ta tiếp xúc với bao nhiêu chất hóa học tổng hợp và chất nào thực sự gây hại cho vi sinh vật và tế bào của con người. Nhưng tốt hơn là bạn nên thận trọng và cố gắng giảm mức độ phơi nhiễm với các hóa chất độc hại tiềm ẩn. Điều này bắt đầu ngay từ trong nhà. Trong Chương 9, tôi sẽ trình bày tất cả các bước bạn có thể thực hiện để giảm thiểu những tiếp xúc có hại. Đặc biệt, hai thứ cần tránh càng nhiều càng tốt là thuốc trừ sâu và clo. Chúng đã được chứng minh là có tác động bất lợi đối với vi khuẩn đường ruột. Thuốc trừ sâu, suy cho cùng, được thiết kế để tiêu diệt bọ! Và chúng cực kỳ độc hại đối với ti thể. Các nghiên cứu hiện đang chỉ ra mối liên hệ giữa các loại thuốc trừ sâu phổ biến với những thay đổi trong hệ vi sinh dẫn đến những thách thức về sức khỏe từ rối loạn chuyển hóa đến các bệnh về não. Một nghiên cứu đặc biệt đáng lo ngại, được công bố vào năm 2011 bởi các nhà nghiên cứu Hàn Quốc, đã phát hiện ra một lượng bất thường methanogens, một loại vi khuẩn, trong ruột của phụ nữ béo phì.24 Các nhà nghiên cứu này cũng đo thứ được gọi là thuốc trừ sâu clo hữu cơ trong máu của phụ nữ, tìm thấy một mô hình đáng chú ý giữa lượng thuốc trừ sâu trong máu, mức độ béo phì và nồng độ methanogens trong ruột. Máu của người càng “độc” thì ruột càng “độc”. Methanogens nổi tiếng không chỉ liên quan đến bệnh béo phì mà còn với bệnh viêm nha chu, ung thư đại tràng và viêm túi thừa. Sự độc hại của thuốc trừ sâu là vấn đề đáng lo ngại nên dưới đây tôi sẽ lưu ý thêm tại sao điều quan trọng là phải tránh hầu hết các loại thực phẩm biến đổi gen do mối quan hệ của chúng với thuốc diệt cỏ.
Các hóa chất được tìm thấy trong nguồn nước của chúng ta, chủ yếu là clo tồn dư, cũng có thể phá hủy hệ vi sinh vật. Clo có tính diệt khuẩn; nó có hiệu quả tiêu diệt nhiều loại vi sinh vật gây bệnh trong nước. Rõ ràng là chúng ta không muốn các vi sinh vật có hại hoặc chết người có trong nước của mình. Trên thực tế, nếu ngày nay có một điều mà nhiều người trong chúng ta coi là đương nhiên ở các nước phát triển, thì đó là quyền tiếp cận nước sạch. Clo được ghi nhận rộng rãi trong việc chấm dứt sự bùng phát dịch bệnh qua đường nước ở các quốc gia phát triển. Ngay cả tạp chí Life cũng từng gọi việc lọc nước uống và sử dụng clo là “có lẽ là tiến bộ sức khỏe cộng đồng quan trọng nhất của thiên niên kỷ”.25
Tuy nhiên, nước đô thị có xu hướng được xử lý quá mức, tạo nên một hỗn hợp hóa chất độc hại đối với vi khuẩn đường ruột. Hơn nữa, clo được tiêu thụ có thể phản ứng với các hợp chất hữu cơ để tạo ra các sản phẩm phụ độc hại tàn phá thêm. Dựa trên các nghiên cứu về ảnh hưởng của clo đối với tế bào người, EPA đặt mức an toàn trong nước uống là không quá bốn phần triệu. Ngay cả sự pha loãng đó cũng có thể quét sạch rất nhiều sinh vật, vì một người có thể giết một con cá vàng bằng cách sử dụng nước máy. Trong Chương 9, tôi sẽ đưa ra các ý tưởng về cách tránh sử dụng nước có clo. Điều đó dễ dàng hơn bạn nghĩ và bạn sẽ không phải gọi thợ sửa ống nước hay đầu tư vào dịch vụ giao nước.
Ngay cả khi chúng ta lắp đặt máy lọc không khí và nước trong nhà và hạn chế tối đa việc sử dụng tất cả các sản phẩm được biết là có chứa hóa chất đáng ngờ, thì cũng khó có thể kiểm soát được tất cả các chất ô nhiễm. Nhưng chúng ta có thể, một cách tương đối dễ dàng, thực hiện một vài thay đổi trong những gì chúng ta mua để hạn chế phơi nhiễm với các hóa chất có thể gây hại.
Một mối quan tâm lớn khác liên quan đến các chất độc trong môi trường là con người chúng ta đang ở trên đỉnh của chuỗi thức ăn. Mặc dù điều đó chắc chắn có những lợi thế, nhưng điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đang phơi nhiễm với một lượng lớn các chất độc hại thông qua một quá trình được gọi là tích lũy sinh học. Ăn thịt, sữa và cá là một trong những cách phơi nhiễm đáng kể. Ví dụ, một số loại cá, chẳng hạn cá kiếm, có nồng độ hóa chất trong mô của chúng lớn hơn theo cấp số nhân so với nồng độ có trong nước xung quanh. Trên cạn, nhiều gia súc ăn các loại ngũ cốc được phun thuốc trừ sâu và sau đó tích trữ các chất độc hại đó trong mỡ của chúng, cùng với các chất độc tiềm ẩn như hormone, kháng sinh và các hóa chất khác. Tiêu thụ những sản phẩm này có thể khiến bạn phơi nhiễm với các hóa chất được sử dụng trong toàn bộ chuỗi nông nghiệp.
THỰC PHẨM BIẾN ĐỔI GEN CHỨA ĐẦY THUỐC DIỆT CỎ
Hãy để tôi mở đầu mục này bằng việc nói rằng rất nhiều nghiên cứu vẫn cần được thực hiện về các tác động tiềm ẩn đối với sức khỏe của sinh vật biến đổi gen, hoặc GMO. Điều này đúng cho dù chúng ta đang nói về tác động sinh học trực tiếp của GMO đối với cơ thể hay tác động của chúng đối với hệ vi sinh vật. Theo định nghĩa, GMO là thực vật hoặc động vật đã được biến đổi gen với DNA từ các sinh vật sống khác, bao gồm vi khuẩn, virus, thực vật và động vật. Những sự kết hợp di truyền không thể xảy ra trong tự nhiên hoặc trong quá trình lai giống truyền thống.
Hai loại cây trồng GMO hàng đầu ở Mỹ là ngô và đậu nành (và nói rộng ra, tất cả các sản phẩm có chứa các thành phần này; người ta ước tính rằng GMO chiếm tới 80% thực phẩm chế biến sẵn truyền thống). Tại hơn 60 quốc gia trên thế giới, bao gồm tất cả các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Úc, việc sản xuất và bán GMO bị giới hạn đáng kể hoặc cấm hoàn toàn. Tại Mỹ, chính phủ đã phê duyệt sản phẩm này và nhiều người đang kêu gọi việc dán nhãn thực phẩm tốt hơn để họ có thể chọn không sử dụng cái mà một số người gọi là “thử nghiệm”. Một vấn đề hóc búa: Nhiều nghiên cứu chỉ ra GMO là an toàn đã được thực hiện bởi chính các tập đoàn đã tạo ra và hiện thu lợi từ chúng.
Như bạn có thể hình dung, một trong những vấn đề lớn mà nông dân phải đối mặt là sự xâm nhập của cỏ dại vào ruộng. Vì vậy, thay vì phải dùng đến phương pháp thủ công loại bỏ cỏ dại, một giải pháp thay thế đã được tạo ra. Nông dân Mỹ ngày nay phun hóa chất diệt cỏ, glyphosate (RoundUp®), lên cây trồng của họ. Cây trồng đã thu hoạch không phải là mục tiêu của thuốc diệt cỏ vì hạt giống được sử dụng đã được biến đổi gen để có khả năng chống lại tác động của thuốc diệt cỏ. Trong giới nông nghiệp, những hạt giống này được gọi là “kháng RoundUp®”.
Việc sử dụng hạt giống GMO kháng RoundUp® đã cho phép nông dân sử dụng một lượng lớn thuốc diệt cỏ này. Và việc này đang diễn ra trên toàn cầu. Người ta ước tính rằng vào năm 2017, nông dân sẽ sử dụng đến 1,35 triệu tấn glyphosate cho cây trồng của họ.26 Nhưng đây mới là vấn đề: Dư lượng glyphosate là mối đe dọa đối với sức khỏe con người. Đặc biệt, trong ngành công nghiệp lúa mì, nông dân phun RoundUp® khắp cánh đồng vài ngày trước khi thu hoạch để tạo ra sản lượng lớn hơn và tốt hơn. Điều này gợi ý một cách nhìn mới về chủ đề mẫn cảm với gluten: Có thể là sự gia tăng chứng không dung nạp gluten và bệnh celiac phần lớn là do việc sử dụng RoundUp® nhiều hơn. Khi lập biểu đồ tỉ lệ mắc bệnh celiac và mức glyphosate được dùng cho lúa mì trong 25 năm qua, một mô hình song song đáng kinh ngạc xuất hiện.27

Xin lưu ý bạn, mối tương quan không bao hàm nguyên nhân. Mặc dù biểu đồ này dường như cho thấy mối quan hệ giữa lượng glyphosate được sử dụng trên lúa mì (và có lẽ được tiêu thụ thông qua các sản phẩm lúa mì) và tỉ lệ mắc bệnh celiac, chúng ta không thể nói rằng glyphosate gây ra bệnh celiac. Điều đó sẽ là hiểu sai dữ liệu và đưa ra kết luận sai lầm chỉ từ bằng chứng này. Nhưng vẫn rất thú vị khi ghi nhận sự gia tăng song song của tỉ lệ mắc bệnh celiac và mức glyphosate trong nguồn cung cấp thực phẩm. Nhiều biến số khác có thể đang diễn ra trong mối liên hệ này. Và với những gì chúng ta biết, có thể có các yếu tố khác diễn ra trong môi trường dẫn đến sự gia tăng này trong các trường hợp bệnh celiac, nhưng một điều chúng ta biết từ nghiên cứu gần đây là glyphosate trên thực tế có tác động đến vi khuẩn đường ruột.
Trong một báo cáo năm 2013 được công bố trên tạp chí Journal of Interdisciplinary Toxicology, nơi đăng biểu đồ này, nhà khoa học nghiên cứu ở MIT Stephanie Seneff và một đồng nghiệp độc lập đã gây xôn xao về tác động của glyphosate trong cơ thể (họ đã đi xa đến mức lập luận rằng cách “làm chín” mía bằng glyphosate có thể gây ra tình trạng suy thận gia tăng gần đây ở những người làm nông nghiệp ở Trung Mỹ).28 Họ chỉ ra rằng trong số các tác động của glyphosate đối với cơ thể, nó ức chế các enzyme cytochrome P450 (CYP) được sản xuất bởi vi khuẩn đường ruột. Các enzyme này rất quan trọng đối với sinh học của chúng ta, vì chúng khử độc vô số các hợp chất hóa học lạ. Nếu thiếu các enzyme CYP, khả năng thành ruột bị tổn thương và các chất có hại đi vào máu sẽ cao hơn nhiều.
Trong lời kêu gọi của báo cáo về các chính sách mới đối với mức an toàn của dư lượng glyphosate trong thực phẩm, họ mô tả cách glyphosate tồn dư thay đổi thành phần của vi khuẩn đường ruột và tàn phá sinh lý con người. Tôi sẽ không đi sâu vào phần hóa sinh, mà glyphosate
• làm giảm khả năng giải độc các chất độc
• làm suy giảm chức năng của vitamin D, một chìa khóa nội tiết tố quan trọng đối với sức khỏe của não
• làm cạn kiệt sắt, coban, molypden và đồng
• làm suy yếu sự tổng hợp tryptophan và tyrosine (các axit amin quan trọng trong sản xuất protein và chất dẫn truyền thần kinh)
Báo cáo của các nhà khoa học tập trung vào mối liên hệ giữa glyphosate và bệnh celiac. Họ mô tả cách những con cá phơi nhiễm với glyphosate phát triển các vấn đề tiêu hóa tương đương với bệnh celiac. Và chúng ta biết rằng bệnh celiac có liên quan đến sự mất cân bằng vi khuẩn đường ruột. Trên thực tế, các nhà khoa học ngụ ý rằng glyphosate là yếu tố nguyên nhân quan trọng nhất làm tăng mẫn cảm với gluten thông qua các tác động đã được biết đến của nó đối với vi khuẩn đường ruột. Họ kết luận bằng cách nêu rõ: “Chúng tôi kêu gọi các chính phủ trên toàn cầu xem xét lại chính sách của họ đối với glyphosate và đưa ra luật mới hạn chế việc sử dụng glyphosate.”
NHỮNG TUYÊN BỐ VỀ GMO: ĐÚNG HAY SAI
Hiện tại, FDA không bắt buộc dán nhãn GMO, nhưng nhiều nhà sản xuất thực phẩm dán nhãn thực phẩm không biến đổi gen trên sản phẩm của họ. Bạn có thể tin tưởng vào những nhãn đó không? Vào năm 2014, Consumer Reports đã kiểm tra những nhãn này, điều tra hơn 80 loại thực phẩm chế biến được làm từ ngô hoặc đậu nành và phát hiện ra rằng con dấu đã được xác minh của Dự án không biến đổi gen, con dấu hữu cơ của Bộ Nông nghiệp và các công bố hữu cơ được chứng nhận khác, phần lớn, là đáng tin cậy.29 Tuy nhiên, nhãn gây hiểu lầm nhất là “tự nhiên”. Trừ khi nó có tem chứng nhận không biến đổi gen hoặc chứng nhận hữu cơ, “thực phẩm hầu như luôn có hàm lượng GMO đáng kể”.
Đừng hoảng sợ. Tôi sẽ giúp bạn làm sạch môi trường của mình và đưa ra những lựa chọn thân thiện với ruột – hữu cơ, ăn cỏ bất cứ khi nào có thể, chất béo chất lượng cao, và những thực phẩm ít carbohydrate không có các nguyên liệu độc hại. Đó là toàn bộ chủ điểm của chương trình phục hồi não bộ trong Phần III.