Khoa học mới về viêm
Với những kiến thức mà hiện nay tôi biết về vai trò của chế độ ăn uống đối với nguy cơ mắc bệnh và sự tiến triển của bệnh, tôi vô cùng đau buồn khi nghĩ đến cha mình, người đã từng là một bác sĩ giải phẫu thần kinh xuất sắc, được đào tạo tại Lahey Clinic uy tín ở Massachusetts, và hiện đang sống trong một cơ sở hỗ trợ sinh hoạt nằm đối diện với bãi đậu xe từ văn phòng của tôi. Bộ não của ông ấy đã bị tàn phá bởi bệnh Alzheimer. Ông thường xuyên không nhận ra tôi và vẫn nghĩ rằng ông đang hành nghề y mặc dù đã nghỉ hưu hơn 25 năm trước.
Đôi khi tôi tự hỏi, liệu ông ấy đã có thể làm gì khác để ngăn chặn số phận này? Bất kỳ bệnh nhân nào của tôi có thể làm gì để ngăn chặn số phận này? Những câu hỏi giống nhau đi qua trí óc tôi cũng như những câu hỏi trong các gia đình được tôi tư vấn, những người đang phải vật lộn với chẩn đoán bi thảm của người thân: Tại sao điều này lại xảy ra? Người đó đã làm gì sai? Nó bắt đầu từ khi nào? Liệu chúng ta đã có thể ngăn chặn điều này bằng cách nào đó? Và rồi tôi tự nhắc mình về quá trình quan trọng trong cơ thể liên quan đến bệnh về não: tình trạng viêm.
Viêm có liên quan gì đến hệ vi sinh vật? Đó là những gì chúng ta sẽ khám phá trong chương này. Tôi sẽ đặt cuộc thảo luận này trong bối cảnh của bệnh Alzheimer, được cho là căn bệnh thần kinh đáng sợ nhất, ảnh hưởng đến khoảng 5,4 triệu người Mỹ. Điều này sẽ giúp bạn hiểu mối liên hệ không thể xóa nhòa giữa trạng thái của cộng đồng vi sinh vật đường ruột và số phận của não bộ.
VIỆC LÀM VÔ NGHĨA CỦA THẾ KỶ XXI
Vào năm 2014, tôi đã viết một bài báo trực tuyến có tiêu đề “Tại sao chúng ta có thể và phải tập trung vào việc ngăn ngừa bệnh Alzheimer” sau một thông báo trên New York Times về mối quan hệ đối tác mới được lập ra giữa Viện Y tế Quốc gia (NIH), mười công ty dược phẩm và bảy tổ chức phi lợi nhuận.1, 2 Nhiệm vụ của họ là phát triển các loại thuốc để điều trị bệnh Alzheimer cùng các bệnh khác. Không nghi ngờ gì nữa, nỗ lực kéo dài năm năm, trị giá 230 triệu đô la này thoạt đầu có vẻ cao cả, nhưng tôi đã tuyên bố, “động lực sau cùng cho sự kiện có vẻ đại đoàn kết này rất đáng ngờ”.
Bệnh Alzheimer rất tốn kém. Mức giá 200 tỉ đô la hằng năm mà tôi đã đề cập trong phần giới thiệu không bao gồm chi phí tinh thần mà các thành viên gia đình có cuộc sống bị ảnh hưởng nặng nề bởi căn bệnh này phải gánh chịu, đôi khi trong một thời gian dài. Như bài báo của Times đã tiết lộ, các công ty dược phẩm “đã đầu tư số tiền đáng kinh ngạc vào việc phát triển các loại thuốc điều trị bệnh Alzheimer, nhưng hết lần này đến lần khác các loại thuốc này đều thất bại trong quá trình thử nghiệm”. Cùng năm đó, tạp chí New England Journal of Medicine ghi nhận rằng hai trong số các ứng cử viên thuốc đầy hứa hẹn để điều trị bệnh Alzheimer đã không mang lại bất kỳ lợi ích có ý nghĩa nào.3, 4
Thêm vào báo cáo đáng lo ngại này là một báo cáo khác được công bố trên tạp chí Journal of the American Medical Association cho thấy thuốc memantine, hiện đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt để điều trị bệnh Alzheimer từ trung bình đến nặng, không chỉ không hiệu quả mà còn liên quan đến sự suy giảm nhiều hơn chức năng của bệnh nhân khi so sánh với giả dược.5
Lý do chúng ta nên giảm bớt sự ủng hộ của mình đối với sự hợp tác này là nó thể hiện sự “lệch lạc về mức độ ưu tiên”. Như tôi đã viết trong bài báo: “Những người rất đỗi hăng hái với những mối quan hệ có vẻ thật thà lương thiện và việc chi tiêu tiền bạc này có lẽ tập trung vào việc phát triển một loại vũ khí thần thánh để điều trị bệnh Alzheimer không vì động cơ giảm thiểu căn bệnh mà thiên nhiều hơn vào kết quả lợi ích tài chính.” Thật đau lòng, tôi biết. Nhưng ý tôi là đó là một sự thúc giục hành động để chuyển hướng và khám phá một lựa chọn khác.
Thay vì dành nhiều sự quan tâm (và tiền bạc) vào việc phát triển các phương pháp điều trị bệnh Alzheimer (hoặc bất kỳ bệnh thoái hóa thần kinh nào), chúng ta phải tập trung vào việc giáo dục mọi người về các nỗ lực phòng ngừa. Các chiến lược phòng ngừa này đã được ghi lại đầy đủ trong các tài liệu khoa học nổi tiếng và có thể có tác động triệt để trong việc giảm tỉ lệ mắc căn bệnh thoái hóa thần kinh này. Các nhà nghiên cứu y khoa đã biết rằng, nếu được thực hiện, có thể giảm hơn một nửa số bệnh nhân Alzheimer mới ở Mỹ. Và khi bạn xem xét rằng số người mắc bệnh Alzheimer được dự đoán sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030, việc truyền bá thông tin này nên được ưu tiên hàng đầu.6
Thực tế, kinh tế và thị trường không may là những rào cản đáng gờm cần phải vượt qua. Nếu có thì có rất ít cơ hội để kiếm tiền từ những can thiệp không độc quyền như chế độ ăn uống và tập thể dục, những thứ mà trong số các hoạt động lối sống khác, được biết đến là đóng vai trò quan trọng trong cả thoái hóa, và mặt khác là bảo tồn, não bộ.
Dưới đây là một ví dụ điển hình về một yếu tố chính trong lối sống: Các tạp chí y khoa tốt nhất của chúng tôi hiện tràn ngập các nghiên cứu nghiêm ngặt, nổi bật cho thấy mối tương quan tuyệt vời giữa lượng đường trong máu cao và nguy cơ sa sút trí tuệ. Theo báo cáo trên tạp chí New England Journal of Medicine vào năm 2013, ngay cả sự gia tăng nhẹ của lượng đường trong máu, thấp hơn nhiều so với ngưỡng của bệnh tiểu đường, đã được chứng minh là làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển chứng sa sút trí tuệ không thể điều trị.7 Các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Washington đã đánh giá một nhóm hơn 2.000 người có tuổi trung bình là 76 tuổi. Khi bắt đầu nghiên cứu, họ đo lượng đường trong máu lúc đói, và sau đó theo dõi những người này trong khoảng bảy năm. Một số người đã phát triển chứng mất trí nhớ trong khoảng thời gian đó. Những gì các nhà nghiên cứu phát hiện là có mối tương quan trực tiếp giữa lượng đường trong máu khi bắt đầu nghiên cứu và nguy cơ phát triển chứng sa sút trí tuệ. Điều quan trọng là phải hiểu rằng những người này không bị tiểu đường; họ có lượng đường trong máu thấp hơn ngưỡng chẩn đoán bệnh tiểu đường.
Đường huyết phản ánh trực tiếp sự lựa chọn chế độ ăn uống; ăn quá nhiều đường tinh luyện và carbohydrate, bạn sẽ khó kiểm soát lượng đường trong máu. Tôi sẽ mô tả ngay mối liên hệ giữa cân bằng lượng đường trong máu và nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ, nhưng đến đây cũng đủ để nói rằng phần kiến thức này cung cấp một điểm tựa đáng kể mà có thể tạo ra sự dịch chuyển lớn về sức khỏe trí não.
Hơn nữa, vào năm 2013, tờ Journal of Neurology, Neurosurgery and Psychiatry đã công bố một nghiên cứu cho thấy những người cao tuổi bổ sung nhiều chất béo hơn, dưới dạng dầu ôliu hoặc các loại hạt, vào chế độ ăn uống duy trì chức năng nhận thức tốt hơn nhiều trong vòng sáu năm so với những người theo chế độ ăn ít chất béo.8 Những hàm ý của các nghiên cứu như trên sẽ dọn đường cho việc cách mạng hóa ngành y mà chúng ta đã biết. Nhưng đáng buồn thay, việc phòng bệnh thông qua các lựa chọn lối sống hằng ngày đơn giản, không xâm lấn lại thiếu vẻ anh hùng của các can thiệp táo bạo, dựa trên dược phẩm. Đã đến lúc chúng ta phải đi một con đường mới và ủng hộ y học dự phòng, đặc biệt là đối với sức khỏe não bộ. Chúng ta không thể không làm vậy. Thay vì tiêu tốn nguồn lực khổng lồ để tìm con bò sau khi để mở cửa chuồng, có lẽ chúng ta nên xem xét việc đóng cửa chuồng ngay từ đầu. Và cánh cửa chuồng ẩn dụ đó có liên quan rất nhiều đến trạng thái của hệ vi sinh. Để hiểu mối liên hệ này, trước tiên chúng ta hãy khám phá vai trò của tình trạng viêm, sau đó quay trở lại sức mạnh tiềm ẩn của vi khuẩn đường ruột.
VIÊM: MẪU SỐ CHUNG
Tất cả chúng ta đều quen thuộc với tình trạng viêm. Bản thân từ này xuất phát từ động từ inflammare trong tiếng Latin, có nghĩa là “nhóm lửa” hoặc “đốt cháy”. Thịt bị viêm nghĩa là đang cháy lên – và không theo chiều hướng tốt. Một đợt viêm có thể bao gồm mẩn đỏ, nóng và sưng đi kèm vết côn trùng cắn hoặc cơn đau mà bạn gặp phải khi bị viêm họng hoặc bong gân mắt cá chân. Chúng ta thường chấp nhận quan niệm rằng một vết cắn hoặc vết xước trên da sẽ gây đau đớn vì viêm. Nhưng chứng viêm liên quan đến nhiều quá trình bệnh hơn bạn có thể tưởng tượng. Thật vậy, đó là mấu chốt của phản ứng chữa lành của cơ thể, mang nhiều hoạt động miễn dịch hơn đến nơi bị thương hoặc nhiễm trùng. Nhưng khi tình trạng viêm kéo dài hoặc không phục vụ mục đích nào, sâu bên trong cơ thể và qua các con đường toàn thân, nó sẽ gây bệnh. Trên thực tế, nó liên quan đến các tình trạng khác nhau như béo phì, tiểu đường, ung thư, trầm cảm, tự kỷ, hen suyễn, viêm khớp, bệnh mạch vành, đa xơ cứng và thậm chí cả bệnh Parkinson và Alzheimer.
Chúng ta hãy xem xét cụ thể bệnh Alzheimer. Viêm chính xác là những gì đang xảy ra trong não của bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer. Tôi nhận ra tình trạng viêm này có thể khó phát hiện bởi vì khi não bị viêm, chúng ta sẽ không nhìn thấy những gì chúng ta nghĩ là dấu hiệu bình thường của viêm, chẳng hạn như đau và sưng. Bộ não, mặc dù có thể cảm nhận được cơn đau ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, nhưng bản thân nó không có các thụ thể tiếp nhận cảm giác đau và do đó không thể ghi nhận sự thật rằng nó đang bốc khói. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học, trong nhiều thập niên qua, đã chứng minh nhiều lần một cách rõ ràng rằng viêm là một quá trình cơ bản làm nền tảng cho sự phát triển của bệnh Alzheimer.9
Vô số chất hóa sinh có liên quan đến chứng viêm cả trong não và khắp cơ thể. Ở bệnh nhân Alzheimer, các chất hóa sinh chỉ ra rằng tình trạng viêm đang xảy ra – các chỉ tố viêm – tăng cao và thậm chí có thể được sử dụng để dự đoán sự suy giảm nhận thức và sự phát triển của chứng sa sút trí tuệ. Trong số các chất hóa sinh nổi tiếng nhất là cytokine, các protein nhỏ do tế bào tiết ra có ảnh hưởng đến hành vi của các tế bào khác và thường là những thành phần quan trọng tham gia vào quá trình viêm. Protein phản ứng C, interleukin 6 (IL-6) và yếu tố hoại tử khối u alpha (TNF-α) đều là cytokine. Giờ đây, chúng ta có khả năng chụp ảnh não bộ theo những cách cho phép thấy những hóa chất gây viêm này đang hoạt động, vì vậy chúng ta có thể xác định mối tương quan trực tiếp giữa mức độ viêm và mức độ suy giảm nhận thức.
TNF-α nói riêng dường như đóng một vai trò quan trọng trong tình trạng viêm khắp cơ thể, ngoài việc tăng cao trong máu ở những bệnh nhân Alzheimer, nó còn được phát hiện là tăng cao trong một loạt các tình trạng viêm khác bao gồm bệnh vẩy nến, viêm khớp dạng thấp, bệnh tim mạch, bệnh Crohn và hen suyễn.10, 11 Vai trò của TNF-α ở các chứng bệnh này quan trọng đến mức các công ty dược phẩm đang đầu tư một khoản tiền khổng lồ để cố gắng phát triển các cách giảm thiểu nó. Thị trường toàn cầu cho các chất ức chế TNF hiện nay vượt quá 20 tỉ đô la mỗi năm.12

Ở một số người, các gen đặc hiệu có thể làm tăng tình trạng viêm một cách tự nhiên và chúng có thể làm tăng thêm nguy cơ phát triển các bệnh bắt nguồn từ viêm.13 Nhưng các yếu tố di truyền không phải là toàn bộ câu chuyện. Bạn có thể làm rất nhiều điều để tác động đến sự biểu hiện của các gen, từ việc tắt hoặc ức chế các gen “xấu” đến bật công tắc các gen “tốt” giúp đảm bảo sức khỏe của bạn.
Trong cuốn Grain Brain, tôi đã khám phá sâu về một trong những cách cơ bản và có ảnh hưởng nhất mà người ta có thể hỗ trợ sự biểu hiện của những gen tốt đó trong khi ngăn chặn gen xấu và do đó, kiểm soát tình trạng viêm khi không cần thiết: bằng cách duy trì lượng đường trong máu khỏe mạnh. Lượng đường trong máu tăng cao gây ra tình trạng viêm trong máu, vì lượng đường dư thừa có thể gây độc nếu nó không được tế bào sử dụng. Nó cũng gây ra một phản ứng gọi là glycate hóa – quá trình sinh học trong đó đường liên kết với protein và một số chất béo nhất định, dẫn đến các phân tử bị biến dạng không hoạt động tốt. Các protein đường này được gọi là các sản phẩm glycate hóa bền vững (AGEs). Cơ thể không nhận ra AGEs là bình thường, vì vậy chúng khởi động các phản ứng viêm. Trong não, các phân tử đường và protein não kết hợp để tạo ra các cấu trúc mới gây chết người, góp phần vào sự thoái hóa của não và chức năng của nó.
Mối quan hệ giữa việc kiểm soát lượng đường trong máu kém và bệnh Alzheimer nói riêng mạnh mẽ đến mức các nhà nghiên cứu hiện đang gọi bệnh Alzheimer là bệnh tiểu đường type 3.14 Mặc dù các nghiên cứu ghi nhận hiện tượng này đã có từ khoảng mười năm trước, nhưng tri thức khoa học mới hơn đang làm sáng tỏ thêm thêm bức tranh tổng thể. Chúng tôi đang phát hiện ra rằng những thay đổi trong hệ vi sinh đường ruột mở đường cho sự phát triển của bệnh tiểu đường và sự gia tăng của AGEs và do đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Tôi sẽ trình bày chi tiết cách việc này xảy ra trong Chương 4, nhưng đây là phần sơ lược nhanh.
Vào năm 2012, tạp chí Nature đã công bố một nghiên cứu cho thấy những người mắc bệnh tiểu đường type 2 bị mất cân bằng vi khuẩn trong đường ruột của họ (rối loạn hệ khuẩn ruột).15 Sự mất cân bằng này khiến họ thiếu các sản phẩm phụ quan trọng từ vi khuẩn đường ruột, cần thiết để duy trì sức khỏe của các tế bào trong hệ tiêu hóa. Hãy nhớ rằng những người mắc bệnh tiểu đường type 2 phải chịu rất nhiều căng thẳng chuyển hóa vì cơ thể của họ không thể vận chuyển thành công glucose từ máu vào tế bào. Và ở những vùng cơ thể không có hệ thống vận chuyển glucose, chẳng hạn như dây thần kinh và não, các nhà khoa học có thể xác định các dạng căng thẳng chuyển hóa khác như AGEs, có thể dẫn đến các tình trạng bao gồm bệnh thần kinh ngoại vi (suy nhược, tê bì và đau do dây thần kinh bị tổn thương), và tổn thương các mạch máu và chức năng não.
Khám phá này đã là một đột phá trong lĩnh vực của tôi. Để biết rằng trung tâm của chuỗi các sự kiện dẫn đến bệnh tiểu đường và bệnh não là một hệ vi sinh đường ruột bị rối loạn, ít nhất là đối với tôi, thật đáng kinh ngạc. Tôi thích cách một nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc gần đây đã giải thích sự thật của vấn đề này trong một báo cáo đăng trên tạp chí danh tiếng Food Science and Human Wellness:16
Đã có những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực hệ vi sinh thường trú ở bệnh tiểu đường type 2 trong những năm gần đây. Cộng đồng vi sinh vật không chỉ góp phần gây ra tình trạng viêm mức độ nhẹ khi khởi phát bệnh tiểu đường type 2, mà còn làm phát triển thêm bệnh tiểu đường type 2 thông qua các thành phần gây viêm. Nó cũng có tác động với nhiều biến chứng liên quan đến tiểu đường type 2, bao gồm bệnh võng mạc tiểu đường, nhiễm độc thận, xơ vữa động mạch, cao huyết áp, loét chân do tiểu đường, xơ nang và bệnh Alzheimer. Những nghiên cứu này cùng nhau hỗ trợ vai trò quan trọng của hệ vi sinh trong việc duy trì tính toàn vẹn của hàng rào ruột, duy trì cân bằng nội môi chuyển hóa bình thường, bảo vệ vật chủ khỏi nhiễm trùng bởi các mầm bệnh, tăng cường hệ thống đề kháng của vật chủ và thậm chí ảnh hưởng đến hệ thần kinh trong bệnh tiểu đường type 2.
Các nhà nghiên cứu tiếp tục thảo luận về vai trò ảnh hưởng của các lựa chọn chế độ ăn uống trong việc thay đổi hệ vi sinh vật theo hướng tốt hơn và giảm nguy cơ mắc các bệnh này. Họ cũng chỉ ra rằng các loại thảo mộc và chế phẩm bổ sung có đặc tính chống tiểu đường đã được biết đến có tác dụng kiểm soát lượng đường trong máu thông qua hệ vi sinh vật. Nói cách khác, chúng có thể không nhất thiết ảnh hưởng trực tiếp đến insulin và glucose; đúng hơn, chúng đang ảnh hưởng tích cực đến hệ vi sinh vật. Ví dụ, các thành phần thảo dược truyền thống của Trung Quốc là berberine và nhân sâm, cũng như các hợp chất được tìm thấy trong trà, cà phê, rượu vang và sôcôla có tác dụng chống tiểu đường nhờ tác dụng của chúng đối với vi khuẩn đường ruột. Những hợp chất này hoặc thay đổi thành phần của vi khuẩn đường ruột theo chiều hướng tốt hơn hoặc được chuyển hóa bởi vi khuẩn đường ruột trước khi được hấp thụ vào cơ thể. Sau hàng ngàn năm, các phương pháp thực hành thảo dược cổ đại của Trung Quốc cuối cùng cũng nhận được lời giải thích mà chúng xứng đáng được nhận. Chính những vi sinh vật đường ruột đang sử dụng những hợp chất thảo dược này trước tiên để chúng ta có thể hưởng lợi từ chúng.
Tiến sĩ James M. Hill là nhà điều tra khoa học cấp cao và giáo sư khoa học thần kinh tại Trường Y Đại học Bang Louisiana. Phòng thí nghiệm của ông nằm trong số nhiều phòng thí nghiệm công nghệ cao tìm hiểu mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật đường ruột và nguy cơ mắc bệnh về não. Gần đây, ông đã xuất bản một báo cáo phác thảo nhiều cách mà bộ não và chức năng của nó bị ảnh hưởng bởi những gì diễn ra trong ruột.17 Trong các nghiên cứu sử dụng mô hình chuột, ông đã khám phá cách vi khuẩn đường ruột tốt có khả năng sản xuất các hóa chất cho não quan trọng như BDNF, axit gamma-amino butyric (GABA) và glutamate. Và nồng độ của những hóa chất quan trọng này phản ánh trực tiếp những gì đang xảy ra với vi khuẩn đường ruột; khi các nhà nghiên cứu gây rối loạn vi khuẩn đường ruột ở chuột, họ không chỉ quan sát những thay đổi về hành vi ở chuột mà còn tính toán những thay đổi về khối lượng của những hóa chất này.
Ở phần trước, tôi đã mô tả yếu tố dinh dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não như một loại protein tăng trưởng não quan trọng. BDNF tham gia vào quá trình hình thành các tế bào thần kinh mới. BDNF cũng bảo vệ các tế bào thần kinh hiện có, đảm bảo sự tồn tại của chúng và khuyến khích các kết nối, hoặc khớp thần kinh, giữa chúng. Sự hình thành khớp thần kinh này rất cần thiết cho việc suy nghĩ, học tập và các cấp độ cao hơn của chức năng não. Mức BDNF giảm được thấy trong hàng loạt các bệnh thần kinh, bao gồm bệnh Alzheimer, động kinh, biếng ăn tâm thần, trầm cảm, tâm thần phân liệt và rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Và mặc dù chúng ta biết rằng BDNF có thể được tăng lên thông qua tập thể dục nhịp điệu cũng như bằng cách tiêu thụ chất béo omega-3 DHA, giờ đây chúng ta biết rằng chất hóa học cực kỳ quan trọng trong não này phụ thuộc vào sự cân bằng của vi khuẩn sống trong ruột.
Trên tạp chí thần kinh học JAMA Neurology của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, một báo cáo hấp dẫn của nhóm nghiên cứu tại Trường Y Đại học Boston, được xuất bản vào tháng 11 năm 2013, đã tiết lộ mức BDNF trong máu liên quan như thế nào đến nguy cơ phát triển chứng sa sút trí tuệ.18 Nghiên cứu lấy thông tin từ Nghiên cứu tim Framingham nổi tiếng, một trong những nghiên cứu dịch tễ học lớn nhất từng được thực hiện, để xem xét nồng độ BDNF trong máu ở một nhóm gồm 2.131 người trưởng thành. Những người này không bị sa sút trí tuệ khi bắt đầu nghiên cứu và được theo dõi đến 10 năm.
Những gì các nhà nghiên cứu của Đại học Boston đã phát hiện là những người có mức BDNF cao nhất khi bắt đầu nghiên cứu có nguy cơ mất trí nhớ bằng một nửa so với những người có mức BDNF thấp nhất. Họ tuyên bố rằng BDNF “cũng có thể giảm ở những người khỏe mạnh có xu hướng phát triển chứng mất trí nhớ hoặc bệnh Alzheimer”. Các nhà nghiên cứu đã kết luận điều rõ ràng: “Phát hiện của chúng tôi cho thấy vai trò của BDNF trong sinh học và có thể là trong việc ngăn ngừa chứng mất trí nhớ và bệnh Alzheimer.”19
GABA, một hóa chất quan trọng khác được sản xuất bởi vi khuẩn đường ruột, là một axit amin đóng vai trò là chất dẫn truyền thần kinh trong hệ thần kinh trung ương. Nó là chất truyền tin hóa học chính trong não của bạn giúp làm dịu hoạt động thần kinh bằng cách ức chế những dẫn truyền thần kinh và bình thường hóa sóng não. Nói cách khác, GABA đưa hệ thần kinh trở lại trạng thái ổn định hơn để bạn có thể vượt qua căng thẳng tốt hơn. Năm 2012, các nhà nghiên cứu tại Đại học Y Baylor và Bệnh viện Nhi đồng Texas đã xác định được một chủng vi khuẩn Bifidobacterium có khả năng tiết ra một lượng lớn GABA, cho thấy rằng nó có thể đóng một vai trò trong việc ngăn ngừa hoặc điều trị không chỉ các rối loạn não bộ mà còn các rối loạn viêm ruột như bệnh Crohn.20 Vì GABA chặn hoạt động của tế bào thần kinh nên nó kiểm soát sự lo lắng – sự lo lắng, tất nhiên, là nguyên nhân phổ biến gây ra rối loạn tiêu hóa bắt nguồn từ viêm.
Glutamate, một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng khác được tạo ra bởi vi khuẩn đường ruột, có liên quan đến hầu hết các khía cạnh của chức năng não bình thường, bao gồm nhận thức, học tập và trí nhớ. Nó có nhiều trong một bộ não khỏe mạnh. Một loạt các vấn đề về thần kinh, từ lo lắng và suy giảm hành vi đến trầm cảm và bệnh Alzheimer, được cho là do thiếu GABA và glutamate.
Một trong những kết quả quan trọng nhất từ nghiên cứu mới về mối liên hệ giữa vi khuẩn và sức khỏe não bộ là “sự rối loạn” không chỉ là việc có một hệ vi sinh vật mất cân bằng, trong đó những kẻ côn đồ đông hơn và giẫm đạp lên những sinh vật tốt, gây ra chứng viêm và cướp đi khỏi cơ thể những vật liệu quan trọng được sản xuất bởi những sinh vật tốt đó. Ở hàng triệu người ngày nay, đường ruột phần lớn bị rối loạn do tính thấm ruột tăng lên, dẫn đến tình trạng viêm mức độ nhẹ liên tục. Hãy để tôi giải thích thêm về điều này.
HIỂM HỌA TỪ MỘT ĐƯỜNG RUỘT RÒ RỈ
Đường tiêu hóa của bạn, từ thực quản đến hậu môn, được lót bằng một lớp tế bào biểu mô. Lớp tế bào này đại diện cho một bề mặt quan trọng giữa bạn và môi trường của bạn (“bên trong” so với “bên ngoài”). Trên thực tế, tất cả các bề mặt niêm mạc của cơ thể, bao gồm cả mắt, mũi, họng và đường tiêu hóa, là nơi xâm nhập lớn của các mầm bệnh khác nhau, vì vậy chúng phải được cơ thể bảo vệ tốt. (Các bề mặt này được lót bởi màng nhầy, một loại mô tiết ra chất nhầy, do đó có thuật ngữ là niêm mạc.) Lớp niêm mạc ruột, bề mặt niêm mạc lớn nhất, có ba chức năng chính. Đầu tiên, nó đóng vai trò là phương tiện hoặc cơ chế để lấy chất dinh dưỡng từ thực phẩm bạn ăn. Thứ hai, nó ngăn chặn các phần tử, hóa chất, vi khuẩn và các sinh vật khác xâm nhập vào dòng máu mà có thể gây hại đe dọa đến sức khỏe của bạn. Thứ ba, nó chứa các hóa chất gọi là các immunoglobulin, chúng gắn với vi khuẩn và các protein lạ để ngăn chúng bám vào niêm mạc ruột của bạn. Các hóa chất này là các kháng thể được tiết ra từ các tế bào của hệ miễn dịch ở phía bên kia của niêm mạc ruột và được vận chuyển vào ruột qua thành ruột. Điều này cuối cùng cho phép các sinh vật và protein gây bệnh di chuyển qua và bị đào thải ra ngoài.
Có hai con đường mà cơ thể sử dụng để hấp thụ chất dinh dưỡng từ ruột. Nếu sử dụng con đường xuyên tế bào, các chất dinh dưỡng di chuyển qua các tế bào biểu mô; nếu sử dụng con đường gian bào, các chất dinh dưỡng đi qua giữa các tế bào biểu mô. Sự kết nối giữa các tế bào, được gọi là liên kết đặc, là một mối quan hệ phức tạp và được quản lý chặt chẽ. Khi chúng ta nói về các vấn đề về tính thấm trong ruột, hay cái gọi là “ruột bị rò rỉ”, chúng ta đang đề cập đến các vấn đề về khả năng vận hành của các liên kết đặc này, kích thước từ 10 đến 15 Å (Å là chữ viết tắt của angstrom, một đơn vị nhỏ đến mức cách duy nhất để hình dung nó là nghĩ về một không gian vi mô, nhỏ hơn đầu của một cái đinh ghim hàng triệu lần; nó nhỏ hơn nhiều so với một virus hoặc vi khuẩn điển hình). Nếu các kết nối không hoạt động hiệu quả, chúng không thể khống chế một cách thích hợp những gì nên được phép đi qua (chất dinh dưỡng) hoặc không cho vào (các mối đe dọa tiềm ẩn). Với tư cách là người gác cổng, những kết nối này quyết định, trên quy mô lớn, điểm mốc của tình trạng viêm – mức độ viêm cơ bản của cơ thể tại bất kỳ thời điểm nào. Một thực tế đã được ghi nhận rõ ràng là khi hàng rào đường ruột bị tổn thương, bạn dễ bị mắc – thông qua tình trạng viêm gia tăng – một loạt các bệnh về sức khỏe, bao gồm viêm khớp dạng thấp, dị ứng thực phẩm, hen suyễn, chàm, bệnh celiac, viêm ruột, HIV, xơ nang, tiểu đường, tự kỷ, Alzheimer và Parkinson.21
Thật khó để tưởng tượng rằng chúng ta sẽ muốn ruột của mình bị rò rỉ, nhưng có những lúc điều này thực sự hữu ích. Một số bệnh nhiễm trùng ruột, như bệnh tả, do vi khuẩn Vibrio cholerae gây ra, được đặc trưng bởi sự rò rỉ của ruột tăng lên theo hướng ngược lại, về cơ bản cho phép nhiều chất lỏng đi vào ruột từ máu, có lẽ là để giúp làm loãng sinh vật và độc tố của nó. Điều này sau cùng cho phép cơ thể loại bỏ mầm bệnh thông qua tình trạng tiêu chảy rất nặng ở căn bệnh này.
Điều thú vị là, chính mô hình này – sự tăng tính thấm của niêm mạc ruột xảy ra với bệnh tả – đã cho phép Tiến sĩ Alessio Fasano từ Harvard xác định mối quan hệ hiện đã được thiết lập giữa việc tiêu thụ gluten, tăng tính thấm của ruột và tình trạng viêm lan rộng khắp cơ thể.22 Tôi đã có cơ hội nghe Tiến sĩ Fasano giảng về chủ đề này một vài lần. Vài năm trước, ông đã chia sẻ ảnh hưởng của sự tình cờ trong sự nghiệp của mình. Ông đang nghiên cứu cách phát triển một loại vắc-xin phòng bệnh tả khi tình cờ bắt gặp mối liên hệ đáng ngạc nhiên này, thêm một chương mới vào sách khoa học về ruột bị rò rỉ, gluten và chứng viêm. Bằng chứng rằng nghiên cứu có thể có những phát hiện ngoài dự định.
Mối nguy hiểm của ruột bị rò rỉ dường như càng trở nên khủng khiếp hơn, khi mà khoa học mới đang cho chúng ta biết rằng tình trạng viêm do mất tính toàn vẹn của ruột có thể dẫn đến não bị rò rỉ. Từ lâu, chúng ta đã giả định rằng bằng cách nào đó, bộ não được cách ly và bảo vệ hoàn toàn khỏi những gì diễn ra trong phần còn lại của cơ thể, như thể đó là một thánh địa không thể chạm tới. Có thể bạn đã nghe nói về cánh cổng kiên cố, có khả năng bảo vệ cao, ngăn những thứ xấu ra khỏi não: hàng rào máu não. Trong những năm trước đây, chúng ta thường coi hàng rào này như một bức tường không thể xuyên thủng, ngăn mọi thứ có thể gây ra mối đe dọa. Tuy nhiên, gần đây, rõ ràng rằng nhiều chất có thể đe dọa tính toàn vẹn của hàng rào máu não, để lọt vào bên trong các phân tử khác nhau có thể gây rắc rối, bao gồm protein, virus và thậm chí cả vi khuẩn mà chúng đáng lẽ ra đã bị loại trừ.23 Hãy nghĩ xem: Những thay đổi trong môi trường ruột của bạn có thể làm suy yếu khả năng tự bảo vệ của não trước những kẻ xâm lược độc hại tiềm tàng.
Điều đáng báo động hơn nữa là phát hiện gần đây của Tiến sĩ Fasano rằng không chỉ tính thấm của ruột tăng khi nó tiếp xúc với gliadin, một loại protein có trong gluten, mà trên thực tế, hàng rào máu não cũng trở nên dễ thấm hơn khi tiếp xúc với gliadin.24 Cứ như thể một cánh cửa mở nhầm dẫn đến việc mở một cánh cửa khác. Tràn ngập những kẻ xâm nhập.
Một câu hỏi mà bạn có thể hỏi lúc này là: Làm thế nào bạn có thể kiểm tra xem ruột có bị rò rỉ không? Hằng ngày, tôi thực hiện các xét nghiệm máu đơn giản trên bệnh nhân để giúp tôi hiểu được tính toàn vẹn của niêm mạc ruột của họ. Tôi sử dụng Cyrex Array 2, cung cấp các xét nghiệm sàng lọc tinh vi nhất trên thị trường hiện nay. Array này do Cyrex Labs (wwwCyrexLabscom) sản xuất, đo các kháng thể được tạo ra bởi hệ miễn dịch khi nó đối đầu với một phân tử gọi là LPS, viết tắt của lipopolysaccharide. Không có cuộc trò chuyện nào về hệ vi sinh vật, chứng viêm và sức khỏe não bộ có thể loại trừ tác động của phân tử này.
LPS: THIẾT BỊ GÂY CHÁY
Nếu có một nhân vật phản diện sinh học rõ ràng nào đó xâm nhập các con đường gây viêm trong cơ thể, thì đó sẽ là lipopolysaccharide (LPS). Nó là sự kết hợp của lipid (chất béo) và đường, và là thành phần chính của màng ngoài của một số vi khuẩn. Ngoài việc cung cấp tính toàn vẹn về cấu trúc của vi khuẩn, LPS cũng bảo vệ những vi khuẩn này khỏi bị tiêu hóa bởi muối mật từ túi mật. Vi khuẩn được bảo vệ bằng LPS, được gọi là vi khuẩn Gram âm – tức là một loại vi khuẩn không bắt màu thuốc nhuộm màu tím được sử dụng trong phương pháp nhuộm Gram dùng để phân biệt vi khuẩn – thường có nhiều trong ruột, chiếm tới 50 đến 70% vi khuẩn đường ruột. Từ lâu, chúng ta đã biết rằng LPS (được xếp vào nhóm “nội độc tố” (endotoxin) nghĩa là một độc tố đến từ bên trong vi khuẩn) gây ra đáp ứng viêm dữ dội ở động vật nếu nó tìm thấy đường vào máu.
LPS được sử dụng thực nghiệm trong nghiên cứu để tạo ra tình trạng viêm ngay lập tức trong các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Các mô hình động vật, được sử dụng cho các tình trạng như bệnh Alzheimer, đa xơ cứng, rối loạn viêm ruột, tiểu đường, bệnh Parkinson, xơ cứng teo cơ một bên (ALS), viêm khớp dạng thấp, lupus, trầm cảm và thậm chí tự kỷ, sử dụng LPS vì khả năng kích hoạt viêm trong cơ thể nhanh chóng. Điều này sau cùng cho phép các nhà nghiên cứu tìm hiểu những căn bệnh này và xem xét mối quan hệ của chúng với chứng viêm. Các nghiên cứu trên người cho thấy rằng các chỉ số LPS tăng cao được thấy ở rất nhiều trong số các căn bệnh này.
Thông thường, LPS bị chặn khỏi dòng máu bởi các liên kết đặc tồn tại giữa các tế bào lót trong ruột. Tuy nhiên, như bạn có thể tưởng tượng, khi những liên kết đó bị tổn thương và lớp lót bị rò rỉ hoặc thấm, LPS sẽ đi vào tuần hoàn và có thể gây viêm và gây ra thiệt hại. Vì vậy, nồng độ LPS trong máu không chỉ là dấu hiệu của tình trạng viêm nói chung mà còn cả sự rò rỉ của ruột.
Trong một trong những nghiên cứu đáng báo động nhất từng được thực hiện về LPS, sinh viên cao học Marielle Suzanne Kahn và các đồng nghiệp của cô tại Đại học Cơ đốc giáo Texas đã chỉ ra rằng việc tiêm LPS vào cơ thể động vật thí nghiệm (không phải não) dẫn đến sự suy giảm quá mức khả năng học hỏi.25 Ngoài ra, những động vật này phát triển nồng độ beta-amyloid tăng cao trong hồi hải mã, trung tâm trí nhớ của não. Beta-amyloid là một loại protein có liên quan mạnh mẽ đến bệnh lý bệnh Alzheimer. Các nhà nghiên cứu hiện đang nghiên cứu các cách giảm thiểu beta-amyloid trong não hoặc thậm chí ngăn chặn sự hình thành của nó.
Điểm mấu chốt: LPS tăng cao trong máu có thể là một yếu tố góp phần lớn làm tăng beta-amyloid trong não, đặc trưng của bệnh Alzheimer. Các nghiên cứu khác đã chứng minh rằng những con chuột được tiêm LPS vào bụng gặp phải các vấn đề nghiêm trọng về trí nhớ.26, 27 LPS cũng đã được chứng minh là làm giảm lượng BDNF sản sinh.28 Hơn nữa, chúng tôi hiện có bằng chứng cho thấy lượng LPS trong huyết tương của bệnh nhân Alzheimer nhiều gấp ba lần so với nhóm đối chứng khỏe mạnh.29 Đây là thông tin mạnh mẽ một lần nữa nói lên mối liên hệ ruột-não và tác động của chứng viêm và tính thấm của ruột. Tất cả chúng ta đều có LPS trong ruột bởi vì nó là một thành phần cấu trúc quan trọng trong rất nhiều vi khuẩn ở đó, nhưng không nên để nó đi vào trong máu, nơi nó có thể có tác động hủy hoại.
ALS, còn được gọi là bệnh Lou Gehrig, là một bệnh nghiêm trọng, gần như gây tử vong phổ biến mà không có cách chữa trị và chỉ một loại thuốc (chỉ có hiệu quả khiêm tốn) được FDA chấp thuận. Nó ảnh hưởng đến hơn 30.000 người Mỹ. Nghiên cứu hiện đang xem xét vai trò của LPS và tính thấm của ruột trong bệnh này. Không chỉ có mức LPS cao hơn trong huyết tương của bệnh nhân ALS, mà mức LPS tương quan trực tiếp với mức độ nghiêm trọng của bệnh. Dữ liệu mới này đã khiến một số chuyên gia tự hỏi liệu có phải kẻ chủ mưu của ALS không phải ở não hay tủy sống mà là ở ruột. Nói cách khác, các nhà nghiên cứu có thể đã tìm nhầm chỗ trong suốt những năm qua. Bằng chứng chống lại LPS và tình trạng viêm mà nó gây ra nặng nề đến mức các nhà khoa học tại Đại học San Francisco đã tuyên bố rằng kiến thức này có thể “đại diện cho các mục tiêu mới để can thiệp điều trị ở bệnh nhân ALS”.30


Một ví dụ khác cho thấy sức mạnh của LPS: Tiến sĩ Christopher Forsyth và các đồng nghiệp của ông tại Trung tâm Y tế Đại học Rush ở Chicago đã khám phá LPS và tính thấm ruột liên quan đến bệnh Parkinson, và họ thực sự đã tìm thấy mối tương quan trực tiếp.31 Bệnh nhân mắc bệnh Parkinson cho thấy mức LPS cao hơn nhiều so với người khỏe mạnh. Và trong chương tiếp theo, chúng ta sẽ xem cách khoa học mới nhất về trầm cảm cho thấy rằng LPS tăng cao là một trong những nghi phạm xấu xa nhất trong việc kích hoạt chứng rối loạn tâm trạng.
SỨC KHỎE NÃO BỘ BẮT ĐẦU TỪ RUỘT
Vậy bạn chắc hẳn có thể rút ra cùng một kết luận mà tôi sẽ đưa ra. Chúng ta thực sự phải chú ý đến cách các sinh vật trong ruột của mình được cho ăn và nuôi dưỡng. Chúng ta cũng phải đảm bảo tính toàn vẹn của lớp lót ruột. Trong cuốn sách trước của mình, tôi đã chỉ ra những tác nhân chính gây ra chứng viêm trong cơ thể có thể ảnh hưởng đến chức năng thần kinh và sức khỏe của não – các thành phần phổ biến như gluten và đường, và thiếu các chất giải độc như chất béo lành mạnh, tập thể dục và ngủ yên giấc. Nhưng giờ đây, chúng ta có nhiều kiến thức khoa học hơn để chứng minh rằng câu chuyện không chỉ bắt đầu bằng đáp ứng viêm đối với bánh mì và bánh blintz. Nó bắt đầu với một hệ vi sinh vật bị bệnh và những tác động tai hại của các phân tử như LPS làm loạn một khi vào trong hệ tuần hoàn.
Như bạn sẽ biết thêm trong các chương sắp tới, các yếu tố như kháng sinh và các loại thuốc khác, nước khử trùng bằng clo, một số loại thực phẩm nhất định và thậm chí căng thẳng đều đóng một phần trong việc xác định sự đa dạng và cân bằng của vi khuẩn đường ruột và từ đó là điểm mốc của chứng viêm. Các vi khuẩn đường ruột không chỉ ảnh hưởng đến môi trường trong cơ thể bạn, mà chúng còn đóng góp cho môi trường đó bằng cách tạo ra một số hóa chất ảnh hưởng đến sức khỏe của não và toàn bộ hệ thần kinh. Chúng quyết định sức mạnh và độ vững chắc của thành ruột. Và chúng thậm chí có thể tạo ra nhiều loại vitamin cần thiết cho sức khỏe não bộ, bao gồm cả B12. Các bằng chứng đã cho thấy nồng độ B12 thấp là một yếu tố nguy cơ rất lớn đối với chứng sa sút trí tuệ, chưa kể đến những vấn đề thần kinh khác như trầm cảm.32 Tôi không thể nói với bạn rằng bao nhiêu lần tôi đã chứng kiến những tiến triển đáng kể ở một ca trầm cảm lâm sàng chỉ với việc bổ sung B12. Nghiên cứu cho thấy sự thiếu hụt B12 ở Mỹ ảnh hưởng đến 10-15% số người trên 60 tuổi33 và có thể liên quan đến những thay đổi trong vi khuẩn đường ruột do hậu quả của chế độ ăn uống nghèo nàn và các loại thuốc họ dùng để cố gắng duy trì sức khỏe. Mối liên hệ rất đơn giản: Sự tổng hợp B12 trong cơ thể chủ yếu xảy ra ở ruột non, nơi vi khuẩn đường ruột sản xuất nó bằng cách sử dụng coban và các chất dinh dưỡng khác. Mặc dù vitamin B12 có thể được lấy từ chế độ ăn uống, chủ yếu từ thực phẩm động vật bao gồm cá, thịt, gia cầm và trứng, một số B12 được hấp thụ trong ruột để đáp ứng nhu cầu hằng ngày của bạn đến từ các nhà máy vi khuẩn đó.
Tôi không thể nhắc lại điều này sao cho đủ: Sức khỏe và sự đa dạng của các vi sinh vật trong bụng của bạn phụ thuộc trực tiếp vào thực phẩm bạn ăn. Thực phẩm giàu chất xơ, cung cấp nhiên liệu cho vi khuẩn đường ruột và giảm lượng đường tinh luyện hỗ trợ một lượng lớn các loài vi khuẩn, giúp duy trì tính toàn vẹn của thành ruột, giữ cho lượng đường trong máu được kiểm soát, giảm viêm và sản xuất tất cả những chất và phân tử quan trọng cần thiết cho sức khỏe và chức năng của não. Hơn nữa, có sự khác biệt lớn giữa chất béo gây viêm và chất béo giúp kiểm soát tình trạng viêm. Chất béo omega-6 chiếm ưu thế trong chế độ ăn uống của phương Tây ngày nay; đây là những chất béo gây viêm được tìm thấy trong nhiều loại dầu thực vật có liên quan đến việc tăng nguy cơ rối loạn não cũng như bệnh tim. Mặt khác, chất béo omega-3 – như chất béo có trong dầu ôliu, cá, hạt lanh và động vật ăn cỏ hoang dã – tăng cường chức năng não, giúp đẩy lùi chứng viêm và thực sự có thể đối trọng với những tác động bất lợi của chất béo omega-6. Nghiên cứu nhân học cho thấy tổ tiên săn bắt-hái lượm của chúng ta tiêu thụ chất béo omega-6 và omega-3 với tỉ lệ khoảng 1:1.34 Ngày nay, chúng ta tiêu thụ chất béo omega-6 nhiều hơn một cách khủng khiếp từ 10 đến 25 lần so với tổ tiên của mình.
Hãy cùng tìm hiểu nhanh về khái niệm cà phê là chất bảo vệ não, vì điều này sẽ thuyết phục bạn hơn nữa về sức mạnh của các lựa chọn chế độ ăn uống đối với vi khuẩn đường ruột. Một công bố gần đây trên tạp chí Journal of Alzheimer’s Disease cho thấy khả năng giảm nguy cơ phát triển bệnh một cách ấn tượng ở những người uống cà phê. Nghiên cứu được thực hiện ở Phần Lan với sự hợp tác của Viện Karolinska, theo dõi 1.409 người từ 65 đến 79 tuổi trong trung bình 21 năm.35 Những người uống từ 0 đến 2 cốc mỗi ngày được mô tả là những người uống cà phê “ít”. Những người uống từ 3 đến 5 cốc được coi là “vừa phải” và những người uống nhiều hơn 5 cốc mỗi ngày được xếp vào loại “nhiều”. Những người uống vừa phải ở tuổi trung niên cho thấy nguy cơ mắc bệnh Alzheimer giảm đáng kinh ngạc là 65% so với những người uống ít. (Mặc dù những người uống hơn 5 cốc mỗi ngày cũng giảm nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ, nhưng không đủ số người trong nhóm này để đưa ra kết luận có ý nghĩa thống kê.) Trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Miia Kivipelto, giáo sư về Dịch tễ học Lão khoa tại Karolinska, nhận xét về nghiên cứu bằng cách nêu rõ: “Với lượng tiêu thụ cà phê lớn trên toàn cầu, kết quả có thể có ý nghĩa quan trọng đối với việc ngăn ngừa hoặc trì hoãn sự khởi phát của bệnh sa sút trí tuệbệnh Alzheimer. Các phát hiện này cần được xác nhận bởi các nghiên cứu khác, nhưng nó mở ra khả năng rằng các can thiệp chế độ ăn uống có thể thay đổi nguy cơ mất trí nhớbệnh Alzheimer.”36
Tôi sẽ nói sâu hơn chút nữa. Các nhà nghiên cứu chỉ mới bắt đầu làm sáng tỏ các đặc tính bảo vệ não của cà phê và nghiên cứu mới nhất đã chứng minh rõ ràng rằng nó xảy ra ở cấp độ của hệ vi sinh vật. Trên thực tế, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hiện đang được mở rộng và cho thấy một cách rõ ràng rằng – thông qua hoạt động của những vi sinh vật trong bụng – cà phê làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2, đột quỵ, bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, thậm chí cả ung thư và bệnh tim mạch.37, 38 Nó thực hiện điều này thông qua một loạt các cơ chế trong đó bao gồm vi khuẩn đường ruột.39 Đầu tiên, vi khuẩn đường ruột có thể dễ dàng tiêu hóa chất xơ hạt cà phê còn trong cà phê lỏng sau khi pha, chiết xuất năng lượng của nó cho sự sinh trưởng và sức khỏe của chúng. Nó cũng đã được chứng minh là làm giảm tỉ lệ vi khuẩn Firmicutes so với Bacteroidetes, và sau đây chúng ta sẽ xem sự thay đổi tỉ lệ này có liên quan như thế nào đến việc giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và béo phì và do đó cũng giảm viêm. Hơn nữa, chúng tôi cũng hiểu rằng cà phê là một nguồn giàu polyphenol, các phân tử với các đặc tính có lợi cho sức khỏe. Chúng là chất chống oxy hóa dồi dào nhất trong chế độ ăn uống của con người. Người ta ước tính rằng chúng ta tiêu thụ 1 g polyphenol mỗi ngày, cao hơn khoảng 10 lần so với lượng tiêu thụ hằng ngày của vitamin C và cao hơn 100 lần so với lượng vitamin E và A. Polyphenol không chỉ được tìm thấy trong cà phê; chúng cũng có trong rượu vang đỏ cũng như các loại thực phẩm khác và đã trở thành một trọng tâm nghiên cứu.
Nhưng đây là mấu chốt của vấn đề: Khả năng cơ thể chiết xuất và sử dụng các polyphenol mà bạn tiêu thụ phần lớn do vi khuẩn đường ruột quyết định. Những vi sinh vật đó một lần nữa đóng vai trò trung tâm trong việc điều phối sinh học của bạn vì sức khỏe của bạn. Để có được đầy đủ lợi ích sức khỏe của polyphenol từ thực phẩm, bạn cần có một hệ vi sinh khỏe mạnh.
BA CÁCH TỐT NHẤT MÀ NHỮNG ANH BẠN TRONG RUỘT GIÚP GIẢM NGUY CƠ MẮC BỆNH VỀ NÃO
1. Chúng giúp kiểm soát tình trạng viêm. Sự cân bằng và đa dạng của vi khuẩn đường ruột điều chỉnh mức độ viêm xảy ra trong cơ thể. Mức độ khỏe mạnh của nhiều loại vi khuẩn tốt hạn chế việc sản xuất các hóa chất gây viêm trong cơ thể và trong não. Viêm, như bạn đã biết, là cơ sở cho các tình trạng thoái hóa trong cơ thể con người, bao gồm bệnh tiểu đường, ung thư, bệnh tim mạch vành và bệnh Alzheimer.
2. Chúng củng cố tính toàn vẹn của thành ruột và ngăn chặn sự thấm qua ruột. Đường ruột bị rò rỉ do mất cân bằng vi khuẩn đường ruột cho phép các protein khác nhau thường được tìm thấy trong ruột vượt qua thành ruột và tổn hại hệ miễn dịch. Tình huống này kích hoạt phản ứng miễn dịch một lần nữa dẫn đến viêm. Giờ đây, chúng tôi nhận ra rằng nhiều yếu tố làm tăng tính thấm của ruột, bao gồm một số loại thuốc, vi khuẩn gây bệnh, sự căng thẳng, độc tố môi trường, lượng đường trong máu cao và các thành phần như gluten.
3. Chúng tạo ra các chất hóa học quan trọng cho sức khỏe não bộ, bao gồm BDNF, các vitamin khác nhau như B12, và thậm chí cả chất dẫn truyền thần kinh như glutamate và GABA. Chúng cũng lên men một số hợp chất sinh ra từ thực phẩm như polyphenol thành các chất chống viêm nhỏ hơn để có thể được hấp thụ vào máu và sau cùng là bảo vệ não.
TÌNH TRẠNG VIÊM, RUỘT, VÀ TI THỂ HÙNG MẠNH
Để bắt đầu cuộc trò chuyện về vòng tuần hoàn đầy đủ về viêm, chúng ta phải xem xét kỹ hơn cách các ti thể hoạt động. Đây là những bào quan cực nhỏ, được tìm thấy trong tất cả các tế bào, ngoại trừ tế bào hồng cầu, tạo ra năng lượng hóa học dưới dạng ATP (adenosine triphosphate). Chúng có DNA của riêng mình, và quan điểm hiện tại cho rằng chúng có nguồn gốc từ vi khuẩn – chúng từng là vi khuẩn sống tự do mà sau cùng cư trú trong tế bào của chúng ta và mang lại lợi ích cho tế bào của chúng ta nhờ việc sản xuất năng lượng. Giống như DNA của vi khuẩn, DNA của ti thể được sắp xếp theo một vòng tròn, hoàn toàn không giống như vật chất di truyền được tìm thấy trong nhân tế bào.
Bây giờ chúng ta nhận ra rằng những bào quan nội bào này không chỉ đơn giản là tạo ra năng lượng. Ti thể kiểm soát đáng kể DNA nhân. Với nguồn gốc vi khuẩn và DNA đặc thù của chúng, ti thể nên được coi là một phần của hệ vi sinh vật của con người. Ti thể khỏe mạnh tạo nên một con người khỏe mạnh. Và bây giờ chúng ta biết rằng chúng đóng một vai trò quan trọng trong các bệnh thoái hóa như Alzheimer, Parkinson, và thậm chí cả ung thư.
Được quan sát lần đầu tiên bởi bác sĩ người Đức Carl Benda vào năm 1897, những hạt nội bào này xuất hiện dưới dạng những hạt nhỏ như sợi chỉ. Do đó có tên là ti thể (mitochondria), bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp mitos, có nghĩa là “sợi”, và chondrin, có nghĩa là “hạt”. (Ngoài ra, trong khi nhân tế bào chứa chính xác hai bản sao DNA của nó, thì ti thể có thể có từ 5 đến 10 bản sao DNA của nó.)
Nhưng phải đến năm 1949, hai nhà khoa học người Mỹ, Eugene Kennedy và Albert Lehninger, mới giải thích đầy đủ về vai trò của ti thể như là nhà máy sản xuất năng lượng của tế bào. Về cơ bản, các bào quan này có thể sử dụng nhiên liệu carbohydrate và chuyển nó thành năng lượng cung cấp cho hầu hết các chức năng của tế bào. Năng lượng được tạo ra từ phản ứng này được gọi là chuyển hóa oxy hóa vì oxy được sử dụng cho quá trình này, giống như ngọn lửa khi cháy. Nhưng sự hô hấp của ti thể khác với ngọn lửa ở chỗ thay vì giải phóng năng lượng trong một phản ứng không kiểm soát, năng lượng của ti thể được lưu trữ dưới dạng phân tử gọi là ATP. ATP giàu năng lượng sau đó có thể được phân phối khắp tế bào, giải phóng năng lượng theo yêu cầu với sự hiện diện của các enzyme đặc hiệu. Các tế bào riêng lẻ của não, cơ xương, tim, thận và gan có thể chứa hàng nghìn ti thể, đến mức trong một số tế bào, có tới 40% vật chất được tạo thành từ ti thể. Theo Giáo sư Enzo Nisoli của Đại học Milan, bạn và tôi mỗi người sở hữu hơn 10 triệu tỉ ti thể, chiếm 10% trọng lượng cơ thể của chúng ta.40
Một thực tế cơ bản cần hiểu ở đây là việc sử dụng oxy trong quá trình sản xuất năng lượng mang lại mức hiệu suất cao. Trong khi các tế bào có khả năng sử dụng các con đường hóa học khác để tạo ra ATP trong điều kiện không có oxy, thì quá trình này, chuyển hóa kỵ khí, chỉ hiệu quả bằng 1/18 so với chuyển hóa oxy hóa. Nhưng việc sử dụng oxy đi kèm với một cái giá.
Một sản phẩm phụ quan trọng của công việc được thực hiện bởi ti thể là các chất hóa học, liên quan đến oxy, được gọi là các gốc oxy hóa (ROS). ROS thường được gọi là các gốc tự do. (Theo nghĩa thuần khoa học, thuật ngữ “gốc tự do” không chỉ đề cập đến các gốc oxy hóa, mà còn là một họ các gốc phản ứng tương tự, các loại nitơ phản ứng. Để cho đơn giản, và như đã trở thành tiêu chuẩn trong các ấn phẩm phi khoa học, chúng tôi sử dụng thuật ngữ gốc tự do để chỉ các gốc oxy hóa.)
Hầu hết mọi người đều quen thuộc với thuật ngữ gốc tự do ngày nay, vì chúng đã được mô tả rộng rãi trong các tài liệu dành cho giới không chuyên, từ các tạp chí làm đẹp đến quảng cáo cho các sản phẩm chăm sóc da chống lão hóa. Mặc dù thường bị coi là xấu vì những tác động tiêu cực mà chúng có thể gây ra trong cơ thể, nhưng các gốc tự do có một vai trò tích cực trong sinh lý con người theo nhiều cách. Chúng tham gia điều chỉnh quá trình chết rụng tế bào, quá trình các tế bào trải qua sự tự hủy. Mặc dù thoạt đầu có vẻ khó hiểu tại sao sự tự hủy tế bào nên được coi là một sự kiện thuận lợi, nhưng quá trình chết rụng tế bào là một chức năng tế bào quan trọng và cần thiết. Thuật ngữ chết rụng tế bào (apoptosis) đầu tiên được cho là của Hippocrates và ban đầu có nghĩa là “sự rụng của lá”. Nhưng phải đến khi một bài viết của Alastair R. Currie được xuất bản trên tạp chí British Journal of Cancer vào năm 1972, thuật ngữ này mới có được sức hút trong cộng đồng khoa học. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã sử dụng từ này để mô tả quá trình các tế bào bị loại bỏ một cách có chủ ý.
Ví dụ, nếu không có quá trình chết rụng tế bào, chúng ta sẽ không có các ngón tay riêng lẻ, vì chính quá trình này mà các ngón của chúng ta có thể hình thành từ các chồi chi trong quá trình phát triển phôi thai, do đó cho phép bàn tay của chúng ta hình thành từ những gì ban đầu xuất hiện như là những chiếc găng tay nhấc nồi. Chết rụng tế bào cực kỳ quan trọng, vì nó cho phép cơ thể chúng ta tự loại bỏ vô số tế bào ung thư xuất hiện tự phát bên trong cơ thể. Mỗi ngày có 10 tỉ tế bào bị tiêu diệt để nhường chỗ cho các tế bào mới hơn, khỏe mạnh hơn. Và các gốc tự do do ti thể tạo ra trong quá trình sản xuất năng lượng đóng vai trò chủ đạo trong quá trình này.
Giống như rất nhiều điều trong cuộc sống, quá trình chết rụng tế bào có mặt tối của nó. Mặc dù có nhiều tình huống mà việc kích hoạt các gen phá hủy của tế bào là một điều tốt, nhưng khi chức năng của ti thể bị suy giảm, sự tự sát của tế bào trái lại có thể được gây ra ở các tế bào khỏe mạnh bình thường. Trên thực tế, đây là cơ chế cơ bản dẫn đến sự phá hủy các tế bào thần kinh trong các tình trạng thoái hóa thần kinh như bệnh Alzheimer, đa xơ cứng, Parkinson và Lou Gehrig. Tuy nhiên, quá trình chết rụng tế bào não không chỉ giới hạn ở những quá trình bệnh này. Nó xảy ra trong mỗi chúng ta trong suốt cuộc đời và là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm chức năng não nói chung khi chúng ta già đi.
Cho đến gần đây, các nhà khoa học đã tin tưởng vào mô hình rằng tất cả các chức năng của tế bào, bao gồm cả quá trình chết rụng tế bào, đều do nhân tế bào chỉ đạo. Nhưng như nhà hóa sinh người Anh Nick Lane ghi nhận trong cuốn sách hấp dẫn của ông Power, Sex, and Suicide (Quyền lực, Tình dục và Tự sát), “đã có một sự thay đổi về tầm quan trọng đến mức tạo nên một cuộc cách mạng, lật ngược mô hình sơ khai. Mô hình cho rằng nhân là các [trung tâm] hoạt động của tế bào và kiểm soát số phận của nó. Trong nhiều phương diện, điều này tất nhiên là đúng, nhưng trong trường hợp chết rụng tế bào thì không. Đáng chú ý, các tế bào thiếu nhân vẫn có thể thực hiện quá trình chết rụng. Nghiên cứu thấu đáo đã cho thấy rằng các ti thể kiểm soát số phận của tế bào: chúng xác định liệu một tế bào sẽ sống hay chết.”41
Khi đó, ti thể không chỉ là bào quan đơn giản có tác dụng biến nhiên liệu thành năng lượng. Chúng chứa những ẩn họa khó lường. Và không có gì ngạc nhiên khi chúng có thể bị hư hại rất dễ do tình trạng viêm – đặc biệt là loại bắt nguồn từ sự điều hành rối loạn trong cộng đồng vi sinh vật đường ruột. Rốt cuộc, ruột là nguồn gốc của chứng viêm do sự tác động lẫn nhau phức tạp giữa các vi sinh vật cư ngụ và hệ miễn dịch. Vì vậy, các quá trình viêm được điều chỉnh bởi vi khuẩn đường ruột và kết quả là các phân tử gây viêm di chuyển qua máu – đến các tế bào và mô – sẽ tấn công các ti thể.
Hơn nữa, các sản phẩm phụ của cộng đồng đường ruột mất cân bằng cũng có thể gây tổn thương trực tiếp đến ti thể và do đó gây viêm nhiều hơn. Các nghiên cứu hiện đang được tiến hành để điều tra mối liên hệ giữa hệ vi sinh ở người và các bệnh liên quan đến ti thể, đặc biệt là những bệnh có thể di truyền cho các thế hệ tương lai. Các bệnh về ti thể bao gồm một nhóm các bệnh về thần kinh, cơ và rối loạn chuyển hóa do các ti thể bị rối loạn chức năng. Các rối loạn đa dạng như bệnh tiểu đường, tự kỷ và bệnh Alzheimer đều có liên quan đến các vấn đề về ti thể. Trong Chương 5, chúng ta sẽ xem rối loạn chức năng ti thể ở trẻ tự kỷ cung cấp manh mối như thế nào cho tình trạng này, cũng như vai trò của vi khuẩn đường ruột trong sự phát triển của chứng rối loạn não bộ.
Với sự hiểu biết này về giá trị của ti thể, thật thú vị khi biết rằng các ti thể mới luôn phát triển. Có lẽ quan trọng hơn, chúng ta có thể thực hiện thay đổi lối sống để tăng sự phát triển của ti thể, một quá trình được gọi là quá trình sinh ti thể, và do đó tăng cường một phần quan trọng của hệ vi sinh người. Các yếu tố lối sống kích thích quá trình này bao gồm theo một chế độ ăn uống tạo ra nhiều năng lượng hoặc calo từ chất béo hơn là từ carbohydrate, giảm lượng calo nạp vào và tham gia vào các bài tập thể dục nhịp điệu. Ở phần sau của cuốn sách, tôi sẽ đi vào chi tiết hơn về những điều bạn có thể làm để tăng cường ti thể và toàn bộ hệ vi sinh của bạn.
Còn một thuộc tính nữa của DNA ti thể, đối với tôi, có ý nghĩa sâu sắc. Tất cả DNA của ti thể chỉ được thừa hưởng từ dòng mẹ (di truyền ngoài nhiễm sắc thể). Trong quá trình sinh sản, trong khi DNA nhân của tinh trùng kết hợp với DNA của trứng, thì ti thể của con đực bị loại trừ. Nghĩ mà xem. Ti thể, nguồn năng lượng để duy trì cuộc sống của chúng ta, là hiện thân của một mã di truyền thuần nữ. Khái niệm này đã thúc đẩy các nhà khoa học hình thành quan niệm về một “Eve Ti thể,” người mẹ đầu tiên của con người mà từ đó tất cả loài người có được một số DNA ti thể của họ. Eve Ti thể được cho là đã sống cách đây khoảng 170.000 năm ở Đông Phi vào thời điểm Homo sapiens đang phát triển như một loài tách biệt với các loài vượn lớn khác. Khi xem xét thực tế rằng vi khuẩn là cư dân ban đầu của hành tinh, không có gì ngạc nhiên khi vào thời điểm con người xuất hiện, các sinh vật đa bào từ lâu đã tạo ra mối quan hệ cộng sinh với nhiều vi khuẩn, một số trong số đó cuối cùng đã hạ cánh trong tế bào của chúng ta để thiết lập “chiều thứ ba” đối với dấu tích di truyền của chúng ta.
NẮM KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI CÁC CĂN BỆNH BÍ ẨN
Có lẽ một trong những ví dụ đặc biệt nhất về việc khai thác sức mạnh của vi khuẩn đường ruột để giải quyết các bệnh viêm ảnh hưởng đến não được thấy ở một bệnh nhân như Carlos.
Carlos, 43 tuổi, đến gặp tôi vào tháng 6 năm 2014. Anh ấy cần một cây gậy để đứng và có những đợt cảm giác như thể chân không hoạt động được và như thể anh có thể mất thăng bằng dễ dàng. Khi tôi hỏi anh về bệnh sử của mình, anh nói với tôi về một buổi sáng năm 1998 khi anh thức dậy với cảm giác “say và chóng mặt”. Khi đến gặp bác sĩ chuyên khoa thần kinh, anh được chụp MRI sọ não nhưng kết quả lại bình thường. Carlos vẫn không ổn định trong hai tuần tiếp theo và sau đó bắt đầu cảm thấy tốt hơn. Hai tuần sau đó, trong khi tập thể dục, anh cảm thấy như thể có kiến đang bò xuống lưng. Tầm nhìn của anh mờ đi và, hy vọng có thể tìm thấy ý kiến khác về các triệu chứng của mình, anh đã đi khám với một bác sĩ liệu pháp tự nhiên. Đó là khi anh bắt đầu dùng các chế phẩm bổ sung dinh dưỡng khác nhau và sau đó cảm thấy tốt hơn một chút.
Ba năm sau, anh đột ngột bị “tê cả hai chân từ thắt lưng trở xuống”. Một lần nữa, anh lại được cho một đợt chế phẩm bổ sung dinh dưỡng mới và sau ba tháng, anh cảm thấy cải thiện phần nào. Hai năm sau, anh có một đợt tái phát khác, và nó cũng tự khỏi với nhiều chế phẩm bổ sung hơn. Tuy nhiên, vào năm 2010, anh bắt đầu nhận thấy sự suy giảm ngày càng tăng trong sự thăng bằng của mình và mặc dù đã bổ sung nhiều chất dinh dưỡng nhưng tình trạng suy giảm vẫn tiếp tục – nhanh chóng. Đến năm 2014, Carlos đã trải qua nhiều xét nghiệm hơn với một bác sĩ thần kinh, bao gồm cả một lần chụp MRI sọ não khác. Và lần này, kết quả của anh cho thấy những bất thường nghiêm trọng, đặc biệt là ở chất trắng sâu trong não ở cả hai bán cầu và thậm chí ở thân não. Những phát hiện này, cùng với những bất thường được ghi nhận trong MRI cột sống cổ, chọc dò tủy sống và các kết quả xét nghiệm về xung điện, tất cả đều chỉ ra chẩn đoán đa xơ cứng.
Đa xơ cứng là một bệnh viêm đặc trưng bởi các dây thần kinh trong não và tủy sống bị tổn thương. Lớp bao bọc cách điện của các tế bào thần kinh này, được gọi là myelin, trở nên suy yếu, và do đó hệ thần kinh bị phá vỡ, dẫn đến một loạt các triệu chứng – về thể chất, nhận thức và thậm chí cả tâm thần. Các nhà khoa học từ lâu đã phân vân về nguyên nhân gây ra bệnh đa xơ cứng, mặc dù nó thường được cho là do trục trặc trong hệ miễn dịch. Chúng tôi chỉ không biết điều gì gây ra sự cố này, dẫn đến việc cơ thể tấn công các tế bào thần kinh của chính mình. Tuy nhiên, các nghiên cứu dịch tễ học đã xác định rằng sống trong môi trường đô thị là một yếu tố nguy cơ đáng kể đối với bệnh tự miễn này – tương tự như nguy cơ cao phát triển bệnh Alzheimer ở các môi trường đô thị, phương Tây hóa.42
Đa xơ cứng – và nhiều bệnh lý thần kinh khác – có thể liên quan trực tiếp đến những thay đổi đã xảy ra trong cộng đồng vi khuẩn đường ruột không? Trong vài năm qua, tôi nhận thấy rằng bệnh nhân đa xơ cứng hầu như luôn luôn được sinh ra bằng phương pháp mổ lấy thai, không được nuôi bằng sữa mẹ hoặc được điều trị bằng thuốc kháng sinh cho một số bệnh trong giai đoạn đầu đời. (Trên thực tế, nghiên cứu mới được công bố vào năm 2013 cho thấy nguy cơ mắc đa xơ cứng giảm 42% ở những người được nuôi bằng sữa mẹ.43) Khi xem xét lại kinh nghiệm đầu đời của Carlos, một lần nữa tôi nhận thấy một tình trạng chung trong bệnh sử của anh ấy: anh đã chỉ được bú sữa mẹ trong vài ngày.
Tôi giải thích với Carlos rằng giờ đây chúng tôi đã hiểu thêm về vai trò của vi khuẩn đường ruột trong hệ miễn dịch, và nghiên cứu trên động vật gần đây rõ ràng đã xác định những thay đổi trong vi khuẩn đường ruột có thể đóng một vai trò quan trọng trong bệnh này. Sau đó, tôi đưa ra một kế hoạch hành động, nói với anh ấy rằng tôi muốn bắt đầu một chương trình bơm lợi khuẩn qua trực tràng, một kỹ thuật mà tôi sẽ mô tả trong Chương 9. Anh đồng ý mà không do dự, thực hiện bơm đầy lợi khuẩn vào trực tràng hai đến ba lần mỗi tuần. Hai tuần sau, tôi nhận được điện thoại từ anh. Anh nói rằng mình đã đi lại thoải mái hơn và đã đi được nhiều ngày mà không cần dùng đến gậy! Một tháng sau, chúng tôi lại nói chuyện qua điện thoại. Anh ấy tiếp tục bơm lợi khuẩn ba lần mỗi tuần và cảm thấy rằng anh đã “ổn định”.
Tại thời điểm đó, tôi đã thảo luận với anh về ý tưởng xây dựng lại một quần thể vi khuẩn đường ruột khỏe mạnh thông qua một thủ thuật mới mang tính cách mạng được gọi là cấy ghép vi sinh vật trong phân, hoặc FMT, và anh ấy đồng ý làm như vậy (tôi sẽ nói nhiều hơn nữa về kỹ thuật này sau; nó hiện không có sẵn ở Mỹ để điều trị đa xơ cứng). Anh ấy đã chọn một phòng khám ở Anh, nơi thủ thuật này được thực hiện thường xuyên cho một loạt các vấn đề về miễn dịch và viêm. Trước khi anh ấy đi, tôi đã yêu cầu Carlos ghi lại kinh nghiệm của mình một cách cẩn thận trong một sổ tay và báo cáo lại cho tôi.
Một tháng sau khi Carlos trở về từ Anh, chúng tôi lại nói chuyện qua điện thoại. Anh báo rằng sau lần điều trị thứ hai bằng phương pháp cấy ghép phân (anh nhận được tổng số 10 lần), anh ghi nhận rằng khả năng đi lại đã được cải thiện đáng kể và những cải thiện vẫn tiếp tục. Anh ấy nói với tôi: “Tôi đang đi rất tốt đến nỗi những người khác không biết rằng tôi đang có bệnh.”
Anh rất vui mừng về sự cải thiện của mình nên đã gửi cho tôi một video quay cảnh anh ấy tự đi bộ mà không cần trợ giúp. Tôi rất vui khi thấy anh đã tiến bộ nhiều như thế nào và biết ơn vì anh đã cho phép tôi sử dụng video trong các bài giảng cũng như trên trang web của mình (wwwDrPerlmuttercom), nơi bạn có thể tìm thấy nó ngay hôm nay. Nó thực sự hoàn thành một câu chuyện.
Tôi đã hành nghề thần kinh học trong hơn ba thập niên và chưa bao giờ chứng kiến sự cải thiện đáng kể ở bệnh nhân đa xơ cứng như tôi đang thấy ngày nay với những kỹ thuật mới mang tính cách mạng này. Tôi có thể đảm bảo với bạn rằng tôi lùng sục các tạp chí y khoa hằng tháng để tìm hiểu những điểm mới trong việc điều trị căn bệnh quái ác này. Tôi thực sự ngạc nhiên là các nhà thần kinh học chính thống không sử dụng phương pháp này, tuy nhiên, khi ghép các mảnh lại với nhau và xem xét sự phong phú của dữ liệu đã có trong hồ sơ trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu, điều đó chắc chắn có ý nghĩa.
Nó chắc chắn đã có ý nghĩa đối với Carlos, người có cuộc sống đi xuống cho đến khi chúng tôi thực sự nhấn nút khởi động lại hệ miễn dịch của anh ấy. Đối với tôi, những trải nghiệm này thật phấn khích; tôi đã được đào tạo để luôn tin rằng việc xử trí một căn bệnh như đa xơ cứng hoặc thậm chí tìm kiếm cách chữa trị một bệnh nào đó thường dựa vào sự phát triển dược phẩm mới. Và bây giờ, rõ ràng rằng những gì có thể là liệu pháp mạnh mẽ nhất cho căn bệnh này sẽ là không độc quyền – không ai có thể sở hữu nó. Đã đến lúc thế giới nói chung phải nhận thức được rằng cần phải tiếp nhận và chấp nhận một quan điểm khác về căn bệnh này và các tình trạng thần kinh bí ẩn khác.
Với tất cả những điều này, hãy cảm thấy xúc động. Hãy tìm hiểu mối liên hệ giữa một cái bụng ủ rũ và một tâm trí ủ rũ. Những gì bạn sắp đọc được có thể sẽ đảo lộn tất cả những gì bạn nghĩ rằng mình đã biết về trầm cảm, lo âu và ADHD. Và tạo hóa sau cùng của não bộ sẽ trở nên rõ ràng hơn.