Ăn Gì Bổ Não

Lượt đọc: 132 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Bụng của bạn có bị trầm cảm?

❊ ❊ ❊

Vì sao ruột bị ức chế gây tâm lý ủ rũ và lo lắng

Cho tới khi Mary đến văn phòng của tôi, cô ấy đã dùng nhiều loại thuốc chống trầm cảm và chống lo âu trong hơn một năm, nhưng không có kết quả. Điều thúc đẩy cô đến gặp tôi là cô cũng đang bị suy giảm trí nhớ nghiêm trọng khiến cô tự hỏi liệu mình có đang mắc bệnh Alzheimer giai đoạn đầu hay không. Tôi nhanh chóng loại trừ khả năng đó ngay khi tôi thực hiện một vài xét nghiệm để biết được hoạt động tinh thần của cô và hỏi một số câu hỏi về cuộc sống và lối sống của cô.

Cô ấy có phải là người thỉnh thoảng dùng thuốc kháng sinh không? Đúng. Cô ấy có một chế độ ăn uống nhiều carbohydrate phải không? Có (thực tế là cô ấy đã phải vật lộn để giảm cân bằng chế độ ăn ít chất béo). Và cô ấy có đang dùng bất kỳ loại thuốc nào khác không? Thật vậy, cô đang dùng statin để điều trị cholesterol cao, Nexium để điều trị trào ngược axit, và một loại thuốc hỗ trợ giấc ngủ cho chứng mất ngủ. Điều đó đủ để cho tôi biết hệ vi sinh của người phụ nữ này bị ốm và cần một chương trình phục hồi.

Ba tháng sau, sau một vài điều chỉnh đơn giản đối với chế độ ăn uống – giống như những điều bạn sẽ đọc trong Phần III – Mary đã ngừng dùng mọi loại thuốc và cảm thấy “như một người hoàn toàn mới”. Tâm trí bình tĩnh, nhạy bén của cô đã trở lại, giấc ngủ yên tĩnh đến với cô hằng đêm, và cô không còn bị coi là trầm cảm nữa. Cô thậm chí còn giảm được số cân thừa đã khiến mình bận tâm trong phần lớn thập niên trước. Liệu có phải sự thay đổi của cô là không điển hình? Không hề. Một số trong các nghiên cứu trường hợp đáng chú ý nhất của tôi liên quan đến việc con người cải thiện cuộc sống và sức khỏe thông qua các chỉnh sửa đơn giản cho não qua các lựa chọn chế độ ăn uống. Họ cắt giảm tinh bột và bổ sung chất béo lành mạnh, đặc biệt là cholesterol – một yếu tố quan trọng trong sức khỏe não bộ và tâm lý. Tôi đã chứng kiến sự thay đổi chế độ ăn uống cơ bản này dập tắt dễ dàng chứng trầm cảm và tất cả những họ hàng của nó, từ lo lắng mạn tính đến trí nhớ kém và thậm chí cả ADHD. Trong chương này, tôi sẽ giải thích mối liên hệ giữa sức khỏe tâm thần và chức năng đường ruột. Hóa ra nếu bụng bạn rệu rã thì tâm trí bạn cũng vậy.

TỔNG QUAN VỀ TRẦM CẢM

Lần tới khi bạn tham dự một sự kiện quy mô lớn với nhiều người, cho dù đang ở trong khán phòng hay sân vận động, hãy nhìn xung quanh và cân nhắc điều này: 1/10 trong số những người đó đang dùng thuốc tâm thần để điều trị một chứng rối loạn tâm trạng. Đối với phụ nữ ở độ tuổi 40 và 50, cứ bốn người thì có một người dùng thuốc chống trầm cảm.1 Đúng vậy, 1/4 số phụ nữ trung niên ngày nay đang dùng các loại thuốc mạnh để khắc phục các triệu chứng thường được chẩn đoán là trầm cảm lâm sàng: đau khổ dai dẳng, khó chịu, lo lắng, kích động nội tâm, mệt mỏi, giảm ham muốn, trí nhớ kém, cáu kỉnh, mất ngủ, cảm giác tuyệt vọng và cảm thấy vô cảm, choáng ngợp và bị mắc kẹt. Theo thống kê gần nhất, 14% đàn ông da trắng không phải gốc Tây Ban Nha dùng thuốc chống trầm cảm, so với chỉ 4% ở người da đen không phải gốc Tây Ban Nha và 3% ở người Mỹ gốc Mexico. Điều thú vị là việc sử dụng thuốc chống trầm cảm không thay đổi theo tình trạng thu nhập.2

Như tôi đã đề cập trong phần giới thiệu, trầm cảm hiện là nguyên nhân gây tàn tật hàng đầu trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến hơn 350 triệu người (theo Tổ chức Y tế Thế giới, trầm cảm sẽ thế chỗ bệnh tim về chi phí chăm sóc bệnh nhân vào năm 2020). Và tại Mỹ, tỉ lệ tiếp tục tăng. Năm ngoái, 30 triệu người Mỹ đã được kê lượng thuốc chống trầm cảm trị giá 12 tỉ đô la. Điều đó có nghĩa là chúng ta đang chi tiêu nhiều hơn cho thuốc chống trầm cảm so với Tổng sản phẩm quốc nội của hơn một nửa số quốc gia trên thế giới!3

Kể từ khi các loại thuốc ức chế tái hấp thu đặc hiệu serotonin (SSRI) được FDA chấp thuận gần ba thập niên trước, chúng ta với tâm lý đám đông đã tin rằng thuốc có thể cải thiện các triệu chứng hoặc thậm chí “chữa khỏi” bệnh tâm thần, đặc biệt là trầm cảm, rối loạn lo âu và hoảng loạn, nhũng triệu chứng mà gộp chung lại là đối tượng chữa trị hàng đầu của thuốc ở Mỹ. Việc sử dụng những loại thuốc như vậy đã tăng 400% trong hai thập niên qua. Đến năm 2005, thuốc chống trầm cảm đã trở thành loại thuốc được kê đơn số một toàn nước Mỹ.4

Nhưng những loại thuốc này không điều trị trầm cảm. Cho dù đó là Prozac, Cymbalta, Zoloft, Elavil, Lexapro, Wellbutrin hay bất kỳ loại thuốc chống trầm cảm thường được kê đơn nào khác, những loại thuốc này chỉ điều trị các triệu chứng và chỉ ở mức độ tối thiểu. Thuốc điều trị trầm cảm được tiếp thị và kê đơn rầm rộ ở đất nước này; bằng chứng rõ ràng là những quảng cáo trực tiếp đến người tiêu dùng đang chiếm ưu thế trên các phương tiện truyền thông. Điều này cũng đúng với thuốc điều trị ADHD: 85% thuốc điều trị ADHD được sử dụng ở Mỹ. Mặc dù trẻ em vẫn là đối tượng sử dụng chính của những loại thuốc này, nhưng số lượng người lớn sử dụng chúng gần đây đã tăng lên với tốc độ nhanh hơn nhiều. Tỉ lệ trẻ em sử dụng chúng đã tăng 18% trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012, nhưng trong cùng khoảng thời gian đó, tỉ lệ người lớn được bảo hiểm tư nhân chi trả cho việc sử dụng chúng tăng vọt 53%.5 Tôi rất buồn vì thực tế là ngành công nghiệp dược phẩm hướng thần trị giá hàng tỉ đô la lại căn cứ vào ý tưởng rằng mọi người sẽ uống một viên thuốc để điều trị các triệu chứng, trong khi chứng rối loạn cơ bản bị bỏ qua. Vì vậy, không bao giờ có bất kỳ sự tập trung thực sự nào vào việc thực sự chữa khỏi hoặc thậm chí cải thiện nguyên nhân gốc rễ của căn bệnh, chứ đừng nói đến việc giúp mọi người không dùng thuốc.

Từ góc độ kinh doanh, điều này chắc chắn có ý nghĩa vì nó tạo ra khách hàng lâu dài, quen thuộc. Và người Mỹ chúng ta đang bị ru ngủ khi tin rằng đây là điều mình nên mong đợi. Là một bác sĩ, tôi đọc các tạp chí y khoa hằng ngày, chúng tràn ngập các quảng cáo thuốc chống trầm cảm. Không có gì ngạc nhiên khi trong thời đại chăm sóc sức khỏe chạy theo doanh thu ngày nay và yêu cầu đặt ra đối với các bác sĩ là phải khám cho càng nhiều bệnh nhân càng tốt, tâm lý sửa chữa nhanh và kê đơn đại trà đã trở thành tiêu chuẩn. Cách tiếp cận này hoàn toàn sai lầm và đầy những hậu quả tiềm ẩn tác hại khôn lường. Điều đáng lo ngại nữa là hầu hết các đơn thuốc chống trầm cảm đều do bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu – không phải chuyên gia sức khỏe tâm thần kê.

Chúng ta cần tập trung vào việc tìm hiểu nguyên nhân của bệnh tâm thần để có thể tìm ra các phương pháp điều trị và chữa trị thực sự không liên quan đến các loại thuốc tiềm ẩn nguy hiểm với các tác dụng phụ nghiêm trọng. Và bạn biết tôi đang đề cập đến điều gì với khẳng định này; giờ đã rõ ràng rằng những gì đang diễn ra trong ruột sẽ quyết định, ở một mức độ nào đó, những gì xảy ra trong não. Nghiên cứu khám phá mối liên hệ giữa đường ruột và các vấn đề tâm thần hiện đang thu hẹp vào hệ vi sinh vật. Một số cơ chế – hầu hết đã quen thuộc với bạn – đang hoạt động, bao gồm tác động trực tiếp của vi khuẩn đường ruột lên hàng rào đường ruột và ảnh hưởng của chúng đối với việc sản xuất chất dẫn truyền thần kinh có tác động đến sức khỏe tinh thần.

Tất cả các loại thuốc chống trầm cảm hiện có trên thị trường đều được thiết kế để thay đổi hoạt động dẫn truyền thần kinh trong não một cách giả tạo. Tuy nhiên, khi xem xét thực tế rằng những hóa chất tương tự được tìm thấy trong não cũng được tạo ra trong ruột và khả năng cung cấp của chúng đối với não phần lớn bị chi phối bởi hoạt động của vi khuẩn đường ruột, chúng ta buộc phải nhận ra rằng gốc rễ cho mọi thứ liên quan đến tâm trạng là ruột.

Chẳng hạn, là một nhà thần kinh học, tôi thấy thú vị khi lưu ý rằng các loại thuốc chống trầm cảm ngày nay hoạt động có chủ đích bằng cách tăng cường sự sẵn có của chất dẫn truyền thần kinh serotonin,6 và tiền chất của serotonin – tryptophan – được điều chỉnh chặt chẽ bởi vi khuẩn đường ruột. Trên thực tế, một loại vi khuẩn cụ thể, Bifidobacterium infantis, làm rất tốt việc tạo ra tryptophan.7

Chương trước đã cho bạn cái nhìn khái quát về sức mạnh của hệ vi sinh vật thông qua lăng kính về tình trạng viêm. Nếu bạn hỏi ai đó trên đường phố về bệnh trầm cảm, bạn có thể sẽ nghe thấy điều gì đó kiểu như: “Đó là sự mất cân bằng hóa học trong não.” Vâng, tôi ở đây để nói với bạn rằng điều đó là không chính xác. Hai thập niên tài liệu khoa học nêu bật vai trò của viêm trong bệnh lý tâm thần, từ trầm cảm đến tâm thần phân liệt. Lĩnh vực tâm thần học đã biết về vai trò của hệ miễn dịch trong việc khởi phát bệnh trầm cảm trong phần lớn thế kỷ trước. Nhưng chỉ gần đây chúng ta mới bắt đầu hiểu được mối liên hệ, nhờ vào công nghệ tốt hơn và các nghiên cứu theo thời gian. Các vi khuẩn đường ruột của chúng ta không chỉ kiểm soát việc sản xuất các hóa chất gây viêm trong cơ thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, mà còn kiểm soát khả năng hấp thụ một số chất dinh dưỡng nhất định – chẳng hạn như chất béo omega-3 – và sản xuất vitamin quan trọng đối với sức khỏe tâm thần. Hãy cùng dạo một vòng quanh môn khoa học mới nhất.

TRẦM CẢM LÀ MỘT BỆNH DO VIÊM

Mối liên hệ giữa trầm cảm và ruột không phải là thông tin mới.8 Vào đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học và bác sĩ lâm sàng đã tham gia sâu vào nghiên cứu này, cho rằng các hóa chất độc hại được tạo ra trong ruột có thể ảnh hưởng đến tâm trạng và chức năng não. Quá trình này thậm chí còn có tên: “tự nhiễm độc”. Hơn 80 năm trước, một nhóm các nhà khoa học đã viết: “Thật khó chấp nhận quan niệm rằng tất cả các tình trạng tâm thần đều có cùng một yếu tố nguyên nhân, nhưng chúng tôi cảm thấy có lý khi thừa nhận sự tồn tại của những trường hợp rối loạn tâm thần mà, như một yếu tố căn nguyên cơ bản, có một hiện tượng độc hại phát sinh trong đường tiêu hóa.”9

Thật không may, việc nghiên cứu đường ruột và chế độ ăn uống bắt đầu bị coi là “phi khoa học”. Vào giữa thế kỷ, ý tưởng cho rằng chất chứa trong ruột có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần đã nhanh chóng biến mất, thay vào đó là quan điểm cho rằng trầm cảm và lo lắng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đường ruột – chứ không phải ngược lại. Khi ngành công nghiệp dược phẩm bùng nổ, những nhà nghiên cứu tiền nghiệm này bị coi thường. Thật không thể tin được rằng hơn 80 năm sau, chúng ta đã quay lại đúng một vòng tròn.

Ngày nay, sự tập trung phần lớn dành cho các nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa rối loạn chức năng đường ruột và não, và cụ thể hơn là mối liên hệ giữa sự hiện diện của các chỉ tố viêm trong máu (cho thấy hệ miễn dịch của cơ thể đang ở trong tình trạng báo động cao) và nguy cơ mắc bệnh trầm cảm. Mức độ viêm cao hơn làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển bệnh trầm cảm.10 Và chỉ tố viêm càng ở mức cao, bệnh trầm cảm càng tồi tệ hơn.11 Điều này xếp trầm cảm cùng loại với các chứng rối loạn viêm khác như bệnh Parkinson, đa xơ cứng và Alzheimer.

Trầm cảm không còn có thể được xem như một chứng rối loạn chỉ bắt nguồn từ não bộ. Một số nghiên cứu đã hoàn toàn mở rộng tầm mắt. Ví dụ, khi các nhà khoa học cho những người khỏe mạnh không có dấu hiệu trầm cảm truyền một chất để kích hoạt viêm (chi tiết ở phần ngay sau đây), các triệu chứng trầm cảm cổ điển phát triển gần như ngay lập tức. Tương tự, khi người ta sử dụng interferon để điều trị bệnh viêm gan C, làm tăng các cytokine gây viêm, một phần tư trong số những người đó phát triển trầm cảm nặng.13 Interferon là một nhóm các protein tự nhiên tạo thành một phần không thể thiếu của hệ miễn dịch, nhưng chúng có thể được tạo ra và sử dụng như một loại thuốc để điều trị một số bệnh do virus.

Điều hấp dẫn hơn nữa là nghiên cứu mới chứng minh rằng thuốc chống trầm cảm có thể hoạt động ở một số người nhờ khả năng làm giảm các hóa chất gây viêm.14 Nói một cách khác, cơ chế thực tế của thuốc chống trầm cảm hiện đại có thể không liên quan gì đến tác dụng của chúng với serotonin và liên quan hoàn toàn đến việc giảm viêm. Thật không may, điều này không có nghĩa là thuốc chống trầm cảm luôn có hiệu quả. Ngay cả khi chúng có thể làm giảm các triệu chứng thông qua tác dụng chống viêm (vàhoặc hiệu ứng giả dược), chúng vẫn không đi đến nguồn gốc của vấn đề và dập tắt ngọn lửa. Theo một nghĩa nào đó, chúng là một loại băng cá nhân chất lượng kém khiến những vết cắt không thể lành.

Khi nghĩ về tỉ lệ trầm cảm tăng vọt, tôi tự hỏi về tác động của lối sống ít vận động và chế độ ăn uống chứa quá nhiều đường gây viêm, quá nhiều chất béo omega-6 gây viêm và quá ít chất béo omega-3 chống viêm. Ví dụ, chúng ta biết rằng chế độ ăn uống điển hình của phương Tây – có nhiều tinh bột tinh chế và chất béo xấu – có liên quan đến mức protein phản ứng C cao hơn, một chỉ tố phổ biến của viêm.15 Một chế độ ăn với thực phẩm có chỉ số đường huyết cao cũng có liên quan đến mức protein phản ứng C cao hơn.16 Chỉ số đường huyết là thang điểm từ 0 đến 100, với các giá trị cao hơn cho thấy thực phẩm gây tăng đường huyết nhanh nhất và kéo dài nhất. Glucose tinh khiết, chỉ số đường huyết là 100, được dùng làm điểm tham chiếu. Thực phẩm có chỉ số đường huyết cao nổi tiếng làm tăng tình trạng viêm.

Trên thực tế, lượng đường trong máu cao là một trong những yếu tố nguy cơ lớn nhất đối với bệnh trầm cảm, cũng giống như đối với bệnh Alzheimer.17 Mặc dù chúng ta từng nghĩ rằng tiểu đường và trầm cảm là hai chứng rối loạn khác nhau, nhưng suy nghĩ về điều này đang thay đổi. Một nghiên cứu mang tính bước ngoặt lớn kéo dài 10 năm và theo dõi hơn 65.000 phụ nữ, được công bố vào năm 2010 trên tạp chí Archives of Internal Medicine, đã làm sáng tỏ mối quan hệ: phụ nữ mắc tiểu đường có nguy cơ trầm cảm cao hơn gần 30%.18 Điều này thậm chí đúng ngay cả khi các nhà nghiên cứu tính đến các yếu tố nguy cơ trầm cảm khác, chẳng hạn như cân nặng và lười vận động. Và những phụ nữ dùng insulin vì bệnh tiểu đường có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn 53%. Tôi nghĩ điều đó nói lên rằng khi theo dõi tỉ lệ bệnh tiểu đường tăng cao trong 20 năm qua, chúng tôi đã thấy tỉ lệ trầm cảm gia tăng tương tự. Không có gì ngạc nhiên khi béo phì cũng có liên quan đến việc tăng các chỉ tố viêm. Béo phì có liên quan đến việc tăng 55% nguy cơ mắc bệnh trầm cảm, trong khi trầm cảm có liên quan đến việc tăng 58% nguy cơ phát triển bệnh béo phì.19

Mối quan hệ giữa trầm cảm và viêm mạnh mẽ đến mức các nhà nghiên cứu hiện đang khám phá việc sử dụng các loại thuốc thay đổi hệ miễn dịch để điều trị trầm cảm. Nhưng tình trạng viêm này là do đâu? Trích dẫn một nhóm các nhà nghiên cứu người Bỉ: “Hiện đã có bằng chứng cho thấy chứng trầm cảm nặng đi kèm với việc kích hoạt hệ thống phản ứng viêm và các cytokine tiền viêm và lipopolysaccharide (LPS) có thể gây ra các triệu chứng trầm cảm.”20 Trong trường hợp bạn đã bỏ lỡ từ khóa, đó là LPS – thiết bị gây cháy mà tôi đã giới thiệu ở chương trước. Năm 2008, các nhà nghiên cứu này đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể mức độ kháng thể chống lại LPS trong máu của những người bị trầm cảm nặng. (Thật thú vị, các tác giả cũng nhận xét về thực tế là trầm cảm nặng thường đi kèm với các triệu chứng tiêu hóa. Một lời giải thích có thể là do hậu quả từ một hệ vi sinh đường ruột bị rối loạn.) Phát hiện của họ không thể chối cãi được tới mức họ đặc biệt khuyến nghị các bệnh nhân trầm cảm nặng nên được kiểm tra xem có rò rỉ ruột bằng cách đo các kháng thể này, và sau đó được điều trị cho vấn đề này.

a6

Các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới cuối cùng cũng đang xem xét LPS và vai trò của nó trong bệnh trầm cảm.21 Như chúng ta đã thảo luận, các chỉ tố viêm tương quan với trầm cảm và LPS làm tăng sự sản sinh các hóa chất gây viêm này. Và đây là lúc nó trở nên thực sự hấp dẫn: LPS không chỉ làm cho ruột dễ thấm hơn mà còn có thể vượt qua hàng rào máu não và cho phép các hóa chất gây viêm tấn công não. Điều này cũng đúng đối với chứng sa sút trí tuệ, và như các tác giả của một nghiên cứu năm 2013 đã nói: “Trong số những người bị trầm cảm, nguy cơ mất trí nhớ hoặc suy giảm nhận thức nhẹ sau đó cao hơn gấp đôi và các nhà nghiên cứu tiếp tục đánh giá viêm mức độ nhẹ là nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm nhận thức.”22

Theo suy nghĩ của tôi, những nghiên cứu như thế này đại diện cho một “bằng chứng không thể chối cãi”. Sự di chuyển của LPS qua thành ruột đốt cháy cơ thể và não bộ, có thể dẫn đến trầm cảm và sau đó là chứng mất trí nhớ. Trên thực tế, trầm cảm phổ biến hơn nhiều ở những người có các vấn đề về viêm và tự miễn khác như hội chứng ruột kích thích, hội chứng mệt mỏi mạn tính, đau cơ xơ hóa, kháng insulin và béo phì. Tất cả những điều kiện này được đặc trưng bởi mức độ cao hơn của cả tình trạng viêm và tính thấm ruột, và đây là lý do tại sao chúng ta phải tập trung vào ruột.

Nhiều nghiên cứu đã bắt đầu xem xét chế độ ăn uống của chúng ta có thể chịu trách nhiệm như thế nào đối với việc tăng tính thấm của ruột cũng như làm mất tính đa dạng của vi khuẩn. Và mối liên hệ cuối cùng đã được tạo ra giữa chế độ ăn uống và nguy cơ mắc bệnh trầm cảm. Khoa học đang chỉ ra rằng những người theo chế độ ăn Địa Trung Hải, giàu chất béo chống viêm lành mạnh và protein, có tỉ lệ trầm cảm thấp hơn đáng kể.23 Ngược lại, chế độ ăn nhiều carbohydrate và đường sẽ thiết lập một “hệ vi sinh vật gây viêm”. Chúng tôi thậm chí có thể kiểm tra tác động của các thành phần cụ thể lên các con đường viêm của cơ thể; ví dụ, fructose đã được chứng minh là làm tăng LPS tuần hoàn lên 40%.24 Nhưng điều này có thể được đảo ngược trở lại bình thường khi fructose bị loại bỏ hoặc hạn chế nghiêm ngặt trong chế độ ăn uống và sự cân bằng của các vi khuẩn đường ruột được trả về bình thường. Xi-rô ngô hàm lượng fructose cao hiện chiếm 42% tổng số chất làm ngọt chứa nhiều năng lượng, có thể là một yếu tố làm tăng tỉ lệ trầm cảm và thậm chí sa sút trí tuệ của chúng ta. Sau đó, chúng ta sẽ xem những loại thành phần nào – chẳng hạn ca cao, cà phê và chất curcumin (có trong nghệ) – có thể có tác dụng ngược lại trong việc giảm nguy cơ trầm cảm bằng cách giúp cân bằng hệ vi sinh vật.

BỆNH TỰ MIỄN, NHIỄM TRÙNG VÀ TRẦM CẢM

Tôi đã gợi ý về mối liên hệ giữa bệnh tự miễn và nguy cơ trầm cảm. Vào năm 2013, một nhóm cộng tác gồm các nhà nghiên cứu từ nhiều tổ chức khác nhau ở Đan Mạch và Trường Y tế Công cộng Johns Hopkins đã báo cáo về một nhóm lớn những người được theo dõi từ năm 1945 đến năm 1996.25 Trong số 3,56 triệu người được theo dõi trong khoảng thời gian đó, 91.637 người phải nhập viện vì rối loạn tâm trạng. Các nhà nghiên cứu này đã thực hiện một vài phép tính và thấy rằng việc nhập viện vì bệnh tự miễn làm tăng nguy cơ nhập viện vì rối loạn tâm trạng lên 45%. Hơn nữa, bất kỳ tiền sử nào về việc từng nằm viện vì nhiễm trùng đều làm tăng nguy cơ bị chẩn đoán mắc chứng rối loạn tâm trạng sau này lên tới 62%. Và đối với những người đã trải qua cả bệnh tự miễn và nhiễm trùng, nguy cơ mắc chứng rối loạn tâm trạng tăng gấp đôi.

Mặc dù chúng ta có xu hướng cô lập những vấn đề này trong tâm trí của mình, không xem xét mối liên hệ giữa việc mắc bệnh cúm khi còn trẻ và phát triển bệnh trầm cảm sau này, nhưng nghiên cứu như thế này càng chứng minh mối quan hệ ràng buộc: tình trạng viêm. Trong trường hợp bị nhiễm trùng, hệ miễn dịch sẽ quạt ngọn lửa viêm khi nó cố gắng chống lại sự lây nhiễm. Nếu thuốc kháng sinh được sử dụng, chúng sẽ làm suy giảm hệ vi sinh vật và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho quá trình viêm. Thuốc để điều trị bệnh tự miễn, như steroid, cũng có thể tác động tới sự cân bằng của vi khuẩn đường ruột cũng như thay đổi chức năng của hệ miễn dịch.

Các tác giả của nghiên cứu, được công bố trên JAMA Psychiatry, một tạp chí chuyên khoa của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, kết luận rằng các bệnh tự miễn và nhiễm trùng là những yếu tố nguy cơ phát triển chứng rối loạn tâm trạng. Thật vậy, tiền sử bệnh tật của bạn – và ý tôi là trong suốt cuộc đời của bạn – là yếu tố quyết định việc bạn có được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần hôm nay hay trong tương lai hay không. Ví dụ, một số nghiên cứu đã gợi ý rằng tiền sử không được cho bú sữa mẹ sớm có thể liên quan đến nguy cơ mắc bệnh trầm cảm nặng sau này cao hơn. Trong một nghiên cứu như vậy trên 52 người trưởng thành được chẩn đoán trầm cảm nặng và 106 đối chứng khỏe mạnh chưa từng bị trầm cảm, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng 72% những người chưa bao giờ báo cáo trầm cảm được bú sữa mẹ, trong khi chỉ 46% bệnh nhân trầm cảm từng được nuôi bằng sữa mẹ.26

CẢI THIỆN RUỘT, CẢI THIỆN TÂM TRẠNG

Mặc dù các nghiên cứu cho thấy trục não-ruột và mối quan hệ giữa hệ vi sinh vật đường ruột và sức khỏe tinh thần đã có từ nhiều năm trước, nhưng có vẻ như chỉ gần đây các nhà khoa học mới thực sự bắt đầu nghiên cứu sâu hơn về mối liên hệ này và cách người ta có thể điều khiển vi khuẩn đường ruột để cải thiện sức khỏe tinh thần. Vào năm 2011, một nghiên cứu từ Đại học McMaster ở Ontario, Canada, là một trong những nghiên cứu đầu tiên thực sự chỉ ra rằng bản thân ruột có thể giao tiếp với não và ảnh hưởng đến hành vi.27 Trong điều tra của họ, các nhà nghiên cứu đã so sánh hành vi của những con chuột mà ruột đã bị rửa sạch vi khuẩn và hành vi của chuột bình thường. Những con chuột không có vi khuẩn không chỉ thể hiện hành vi mang nhiều rủi ro hơn, mà chúng còn có mức hormone căng thẳng cortisol cao hơn và mức chất hóa học não BDNF thấp hơn. Mức BDNF thấp hơn từ lâu có liên quan đến chứng lo âu và trầm cảm của con người.

Nghiên cứu sâu hơn từ cùng nhóm này đã xác nhận thêm những phát hiện như vậy. Trong một nghiên cứu khác, được công bố trên tạp chí Gastroenterology, các nhà nghiên cứu cho thấy họ có thể thay vi khuẩn đường ruột của một con chuột với vi khuẩn đường ruột của một con chuột khác và thay đổi đáng kể hành vi.28 Họ cấy vi khuẩn từ một nhóm chuột nhút nhát vào ruột của những con chuột táo bạo và theo dõi tính cách của chúng thay đổi. Những con chuột nhút nhát trở nên hướng ngoại; những con chuột dạn dĩ trở nên dễ sợ hãi. Theo lời của tác giả chính của nghiên cứu, Jane Foster: “Đó là bằng chứng tốt cho thấy hệ vi sinh vật dung dưỡng những hành vi này.”29

Một nhóm các nhà nghiên cứu của UCLA đã thực hiện một thí nghiệm nhỏ hiệu quả được công bố vào năm 2013, cũng trên tạp chí Gastroenterology, đưa ra một số bằng chứng đầu tiên cho thấy vi khuẩn thân thiện được tiêu thụ từ thực phẩm có thể ảnh hưởng đến chức năng não ở người.30 Tuy đây là một nghiên cứu nhỏ, nhưng dù thế nào nó cũng đã khiến mọi người trong giới y khoa bàn tán, bởi vì nó cơ bản cho thấy những thay đổi nhỏ trong vi khuẩn đường ruột ảnh hưởng đến cách một người nhìn nhận thế giới.

Ba mươi sáu phụ nữ được chia thành ba nhóm: Nhóm 1 tiêu thụ hỗn hợp sữa chua có chứa một số lợi khuẩn hai lần mỗi ngày trong bốn tuần; Nhóm 2 ăn một sản phẩm sữa trông và có mùi vị giống như sữa chua nhưng không có bất kỳ lợi khuẩn nào; và Nhóm 3 không ăn sản phẩm cụ thể nào cả. Khi bắt đầu nghiên cứu, mỗi đối tượng được chụp MRI chức năng (fMRI) sọ não và được chụp lại sau bốn tuần. Thay vì xem xét các cấu trúc của não, fMRI đánh giá hoạt động của não để các nhà nghiên cứu có thể xác định khu vực nào của não đang hoạt động và mức độ hoạt động của chúng tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào. Khi các nhà thần kinh học quan sát hoạt động đó, về mặt kỹ thuật, chúng tôi gọi nó là “tính dễ bị kích thích” – cách não phản ứng với các kích thích hoặc thay đổi trong môi trường. Kết thúc bốn tuần, những người tham gia được xem các hình ảnh được thiết kế để tạo ra phản ứng cảm xúc. Cụ thể, họ đã xem một loạt các bức ảnh về những người tức giận hoặc sợ hãi và ghép chúng với những khuôn mặt khác có cùng cảm xúc.

Những gì các nhà khoa học phát hiện thực sự đáng chú ý. Những người phụ nữ ăn sữa chua có chứa lợi khuẩn cho thấy hoạt động của cả thùy đảo và vỏ não cảm xúc xúc giác giảm trong quá trình phản ứng cảm xúc. Thùy đảo là một phần của não xử lý và tích hợp các cảm giác bên trong cơ thể, giống như cảm giác từ ruột. Những người phụ nữ này cũng có ít hoạt động, hoặc tính dễ bị kích thích, hơn trong mạng lưới rộng khắp của não liên quan đến cảm xúc, nhận thức và xử lý giác quan. Ngược lại, những người phụ nữ trong hai nhóm còn lại thể hiện hoạt động ổn định hoặc gia tăng trong mạng lưới này, cho thấy họ bị ảnh hưởng và xáo trộn về mặt cảm xúc trên hình ảnh fMRI. Hơn thế nữa, khi các nhà nghiên cứu quét não của các đối tượng khi không tham gia vào nhiệm vụ phản ứng cảm xúc, những người phụ nữ tiêu thụ lợi khuẩn cho thấy sự kết nối tốt hơn giữa vùng thân não quan trọng và các vùng của vỏ não trước liên quan đến nhận thức. Nhưng những phụ nữ không ăn bất kỳ sản phẩm nào cho thấy khả năng kết nối tốt hơn với các vùng não liên quan đến cảm xúc và cảm giác. Nhóm tiêu thụ sản phẩm sữa không chứa lợi khuẩn cho thấy kết quả ở giữa.

Tác giả chính của nghiên cứu, Tiến sĩ Emeran Mayer, một giáo sư y học, sinh lý học và tâm thần học, đã tuyên bố ý nghĩa của những phát hiện một cách hoàn hảo đối với thông cáo báo chí của UCLA: “Kiến thức về các tín hiệu được gửi từ ruột đến não và việc chúng có thể được điều chỉnh bởi sự thay đổi chế độ ăn uống có khả năng dẫn đến việc mở rộng nghiên cứu nhằm tìm ra các chiến lược mới để ngăn ngừa hoặc điều trị các rối loạn tiêu hóa, tâm thần và thần kinh.”31 Sau đó, ông tiếp tục nêu rõ trọng tâm kết luận của mình: “Có những nghiên cứu cho thấy rằng những gì chúng ta ăn có thể làm thay đổi thành phần và các sản phẩm của hệ vi sinh đường ruột – cụ thể là những người có chế độ ăn nhiều rau, chất xơ, có thành phần hệ vi sinh vật hoặc môi trường ruột khác với những người theo chế độ ăn phương Tây điển hình hơn, có nhiều chất béo và carbohydrate. . . Bây giờ chúng tôi biết rằng điều này không chỉ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất mà còn ảnh hưởng đến chức năng của não.” Tôi đã nói chuyện với Tiến sĩ Mayer về nghiên cứu của ông tại một hội nghị gần đây, khen ngợi ông về những phát hiện của mình. Ông ấy rất khiêm tốn trả lời rằng đúng, kết quả rất thú vị, nhưng cần phải nghiên cứu thêm.

Thực tế là những thay đổi trong đường ruột của chúng ta ảnh hưởng đến phản ứng của não bộ đối với sự tiêu cực hoặc những hình ảnh gây xúc động mạnh về mặt cảm xúc thật sự bất ngờ. Nhưng nó cũng truyền cảm. Điều đó có nghĩa là những gì chúng ta đưa vào miệng và cách chúng ta cho nuôi vi khuẩn ruột thực sự ảnh hưởng đến chức năng não của chúng ta.

CÓ QUA CÓ LẠI

Điều quan trọng cần ghi nhớ là trong khi khám phá mối quan hệ của ruột với não, một khái niệm tương đối mới trong y học, chúng ta không thể quên rằng não cũng có thể tác động đến ruột.32 Điều này có thể tạo ra một vòng luẩn quẩn, theo đó căng thẳng tâm lý và lo lắng thực sự có thể làm tăng tính thấm của ruột và thay đổi tổ chức của vi khuẩn đường ruột, dẫn đến tăng độ rò rỉ của ruột và viêm nhiều hơn. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện gần đây xem xét trục hạ đồi-tuyến yên-thượng thận (trục HPA). Nói rộng ra, trục HPA kích thích tuyến thượng thận trong thời gian căng thẳng để tạo ra hóa chất cortisol. Cortisol là hormone phản ứng căng thẳng chính của cơ thể. Nó được tạo ra bởi các tuyến thượng thận, ở trên cùng của thận, và nó giúp chúng ta trong những lúc chiến hay chạy – phản ứng sinh lý bản năng đối với một tình huống đe dọa, giúp chúng ta chuẩn bị chạy trốn hoặc chống lại mối đe dọa. Nhưng quá nhiều thì cũng không tốt: Mức cortisol cao hơn có liên quan đến nhiều vấn đề, bao gồm cả trầm cảm và bệnh Alzheimer.

Cortisol tăng cao cũng có một số tác động gây hại cho ruột. Đầu tiên, nó thay đổi hỗn hợp vi khuẩn đường ruột. Thứ hai, nó làm tăng tính thấm của niêm mạc ruột bằng cách kích hoạt giải phóng các chất hóa học từ các tế bào; nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những hóa chất này, bao gồm TNF-α, tấn công trực tiếp vào niêm mạc ruột.33 Và thứ ba, cortisol tăng cường sản xuất các hóa chất gây viêm từ các tế bào miễn dịch. Các cytokine này làm tăng tình trạng viêm trong ruột, dẫn đến khả năng thẩm thấu sâu hơn, đồng thời kích thích trực tiếp và tiêu cực đến não, khiến dễ bị rối loạn tâm trạng.

Mặc dù chỉ riêng sự đồn đại sẽ cho bạn biết rằng căng thẳng có thể gây khó chịu cho dạ dày và thậm chí liên quan đến các bệnh đường ruột, nhưng giờ đây chúng ta đã có bằng chứng khoa học để giải thích cách nó xảy ra. Nghiên cứu mới nhất chỉ ra rằng căng thẳng mạn tính có thể có hại hơn căng thẳng cấp tính về tính thấm và viêm của ruột. Nó cũng cho chúng ta biết rằng vi khuẩn đường ruột kiểm soát, ở một mức độ lớn, phản ứng căng thẳng của cơ thể. Trong một nghiên cứu đặc biệt được công bố năm 2004 trên tạp chí Journal of Physiology, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã ghi lại ảnh hưởng của căng thẳng đối với những con chuột thiếu hệ vi sinh (“chuột không có vi trùng”).34 Những con chuột phản ứng thái quá với căng thẳng, nói theo cách về cơ chế sinh lý học. Chúng có một đáp ứng HPA quá mức, nghĩa là tiết ra nhiều cortisol gây hại hơn. Tin tốt là tình trạng này có thể được đảo ngược chỉ bằng cách cho chúng dùng lợi khuẩn Bifidobacterium infantis. Tôi ngạc nhiên khi nghĩ rằng những vi sinh vật trong ruột của mình, chứ không phải não, có thể kiểm soát phản ứng của tôi với căng thẳng.

VI KHUẨN ĐƯỜNG RUỘT VÀ MỘT GIẤC NGỦ NGON

Hormone căng thẳng cortisol gắn liền với nhịp sinh học của chúng ta – sự tăng và giảm của hormone trong suốt 24 giờ mỗi ngày ảnh hưởng đến sinh học và việc chúng ta cảm thấy tỉnh táo hay mệt mỏi. Mất ngủ là một triệu chứng phổ biến trong các rối loạn liên quan đến tâm trạng và hiện nay nó được biết là có liên quan đến hệ vi sinh. Nghiên cứu mới đang chỉ ra rằng nhiều cytokine như một số interleukin và TNF-α rất quan trọng trong việc tạo ra giấc ngủ, đặc biệt là giấc ngủ sâu, non-REM, là loại mang đến khả năng phục hồi tốt nhất. Và chính vi khuẩn đường ruột kích thích sản xuất các hóa chất này phù hợp với mức cortisol.35

Mức cortisol được cho là thấp nhất tự nhiên vào ban đêm, bắt đầu tăng vào sáng sớm. Cytokine về cơ bản có chu kỳ sinh học do vi khuẩn đường ruột quy định. Khi nồng độ cortisol tăng vào buổi sáng, vi khuẩn đường ruột sẽ ức chế sản xuất cytokine và sự thay đổi này xác định sự giao thời giữa giấc ngủ non-REM và REM. Do đó, sự gián đoạn của vi khuẩn đường ruột có thể có tác động tiêu cực đáng kể đến giấc ngủ và nhịp sinh học. Cân bằng đường ruột, đánh tan chứng mất ngủ.

NHỮNG VI SINH VẬT LO LẮNG

Với tất cả những điều này, chúng ta hãy chuyển sự chú ý sang sự lo lắng, một chứng bệnh liên quan đến trầm cảm. Hai yếu tố này thường đi đôi với nhau – một người mắc chứng lo âu mạn tính có thể được chẩn đoán là trầm cảm và được khuyến nghị dùng thuốc chống trầm cảm cùng với thuốc chống lo âu. Người ta thường bị cả lo âu và trầm cảm cùng một lúc và đôi khi lo lắng dai dẳng là nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng trầm cảm do tác động của nó đến cuộc sống của một người. Tuy nhiên, sự khác biệt chính giữa hai chứng rối loạn là sự lo lắng được đặc trưng bởi sự sợ hãi và e ngại, suy nghĩ căng thẳng và lo lắng thái quá về tương lai. Mặt khác, trầm cảm không gây ra những nỗi sợ hãi như vậy mà chỉ xoay quanh cảm giác vô vọng. Vì vậy, thay vì nghĩ rằng “bầu trời sắp sụp đổ”, những người bị trầm cảm cảm thấy rằng bầu trời đã sụp đổ, rằng cuộc sống thật tồi tệ và không có gì có thể đi đúng hướng.

Tuy nhiên, lo lắng và trầm cảm thường được nói đến trong cùng một cuộc trò chuyện vì chúng có liên quan đến tâm lý (tức là cả hai đều liên quan đến suy nghĩ tiêu cực) và chúng có nhiều triệu chứng chung về thể chất (ví dụ: đau đầu, đau, buồn nôn, các vấn đề về đường tiêu hóa). Có nhiều dạng rối loạn lo âu, cũng giống như có nhiều dạng trầm cảm, nhưng hai tình trạng này có nhiều điểm chung về trạng thái của vi khuẩn đường ruột. Cũng như trầm cảm, lo lắng có liên quan nhiều đến sự gián đoạn của cộng đồng vi sinh vật đường ruột. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra những đặc điểm giống nhau ở những người bị rối loạn lo âu cũng như ở những người bị trầm cảm: mức độ viêm trong ruột cao hơn, mức độ viêm toàn thân cao hơn, mức hormone tăng trưởng của não BDNF thấp hơn (đặc biệt là ở hồi hải mã), nồng độ cortisol cao hơn và phản ứng căng thẳng quá mức, và tính thấm của ruột tăng.36, 37, 38, 39 Nghe có quen không?

Thỉnh thoảng bạn cảm thấy lo lắng và thậm chí trầm cảm là điều tự nhiên, nhưng khi những cảm xúc này không ngừng diễn ra và gây ra sự đau khổ đến mức ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, chúng sẽ trở thành vấn đề của bệnh tâm thần. Các chứng rối loạn về lo âu ảnh hưởng đến khoảng 40 triệu người Mỹ trưởng thành trong bất kỳ năm nào. Chúng bao gồm rối loạn hoảng sợ, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, ám ảnh xã hội và rối loạn lo âu lan tỏa.40 Và trong khi nghiên cứu vẫn còn sơ khai, rõ ràng là rối loạn lo âu, cũng như trầm cảm, là do sự kết hợp của nhiều yếu tố mà chắc chắn bao gồm trạng thái và chức năng của ruột và cư dân của nó.

Mặc dù giọt nước cuối cùng gây ra rối loạn lo âu rất có thể là những sự bùng cháy sai chỗ ở những phần não kiểm soát nỗi sợ hãi và những cảm xúc khác, nhưng chúng ta không thể phủ nhận thực tế rằng sự dẫn truyền thần kinh đó một phần phụ thuộc vào sức khỏe của hệ vi sinh vật. Khi sự cân bằng của vi khuẩn đường ruột không đúng, các con đường sinh học khác – có thể là nội tiết, miễn dịch hoặc thần kinh – cũng không đúng. Và các trung tâm xử lý của não, chẳng hạn như những trung tâm xử lý cảm xúc, có thể bị ảnh hưởng nặng nề. Theo kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy rằng các bệnh nhân cho biết họ không bao giờ cảm thấy lo lắng hoặc chán nản cho đến khi bắt đầu gặp vấn đề với ruột của mình. Sự trùng hợp ngẫu nhiên? Tôi nghĩ là không. Rất may, các nghiên cứu cuối cùng cũng bắt đầu xuất hiện cho thấy mối liên hệ.

Trong một nghiên cứu năm 2011 được công bố trên Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia, những con chuột được cho ăn lợi khuẩn có mức hormone căng thẳng corticosterone thấp hơn đáng kể so với những con chuột được cho ăn nước canh bình thường. Những con chuột được cho ăn vi khuẩn cũng ít biểu hiện hành vi liên quan đến căng thẳng, lo lắng và trầm cảm hơn so với những con chuột được cho ăn nước canh bình thường. Điều thú vị nữa là cả hai nghiên cứu trên động vật và con người đều cho thấy một số loại lợi khuẩn nhất định, những loại mà tôi sẽ mô tả ở Chương 10, có thể làm giảm sự lo lắng bằng cách tái cân bằng hệ vi sinh vật.42 Trong một nghiên cứu gần đây, ví dụ, các nhà sinh học thần kinh của Đại học Oxford phát hiện ra rằng việc cho mọi người ăn prebiotic – “thức ăn” cho vi khuẩn tốt – dẫn đến những tác động tâm lý tích cực.43 Bốn mươi lăm người trưởng thành khỏe mạnh trong độ tuổi từ 18 đến 45 đã dùng prebiotic hoặc giả dược mỗi ngày trong ba tuần. Những người tham gia sau đó được kiểm tra để các nhà nghiên cứu có thể đánh giá quá trình xử lý thông tin cảm xúc của họ. Giả thuyết đằng sau là nếu từ đầu bạn đã lo lắng, bạn sẽ phản ứng mạnh hơn với sự tiêu cực, chẳng hạn như hình ảnh hoặc từ ngữ mang tính cảm xúc.

Thật vậy, các nhà nghiên cứu Oxford đã ghi nhận rằng, so với nhóm dùng giả dược, những người sử dụng prebiotic chú ý nhiều hơn đến thông tin tích cực và ít chú ý hơn đến thông tin tiêu cực. Hiệu ứng này, đã được quan sát thấy ở những người dùng thuốc chống trầm cảm hoặc thuốc chống lo âu, cho thấy rằng nhóm prebiotic ít lo lắng hơn khi đối mặt với các kích thích tiêu cực. Điều thú vị là các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những người dùng prebiotic có mức cortisol thấp hơn, được đo qua nước bọt của họ vào buổi sáng khi cortisol được cho là cao nhất. Nghiên cứu này không quá khác với nghiên cứu sử dụng sản phẩm sữa lên men của UCLA, nhưng điều quan trọng là nó bổ sung vào khối lượng các nghiên cứu trên người cho thấy mối quan hệ giữa vi khuẩn đường ruột và sức khỏe tâm thần, đặc biệt là đối với sự lo lắng.

Tôi phải cung cấp thêm một phần dữ liệu quan trọng nữa ở đây mà thực sự giúp xác định điều gì đang xảy ra trong cơ thể của một người lo lắng (và có thể là trầm cảm). Như bạn đã đọc, serotonin là một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng, một chất thường liên quan đến cảm giác hạnh phúc. Nó được tổng hợp từ axit amin tryptophan, nhưng khi tryptophan bị phân hủy trong cơ thể bởi một số enzyme nhất định, nó sẽ không còn khả dụng để sản xuất serotonin. Một trong những sản phẩm phụ của tryptophan bị phân hủy là kynurenine, vì vậy nồng độ kynurenine cao là một dấu hiệu tốt cho thấy mức tryptophan thấp.

Nồng độ kynurenine tăng cao thường xuyên được ghi nhận không chỉ ở bệnh nhân trầm cảm và lo lắng mà còn cả bệnh Alzheimer, bệnh tim mạch và thậm chí ở những người bị rối loạn tic (tật máy giật). Trong tương lai, hy vọng của tôi là chúng ta sẽ bắt đầu điều trị những căn bệnh này bằng lợi khuẩn, vì chúng ta đã biết rằng, lấy ví dụ loại lợi khuẩn mà tôi vừa đề cập, Bifidobacterium infantis – cùng một loại cho thấy có thể làm dịu phản ứng căng thẳng – có liên quan đến mức kynurenine thấp hơn.44 Điều này có nghĩa là có nhiều tryptophan hơn được sử dụng để sản xuất serotonin, đây là chìa khóa để ngăn chặn không chỉ trầm cảm mà còn cả lo lắng.

Hãy xem xét trường hợp Martina, một phụ nữ 56 tuổi đến gặp tôi vì lo lắng và trầm cảm. Câu chuyện của cô giúp minh họa mối liên hệ giữa sức khỏe tâm thần và hệ vi sinh.

Martina đã chán ngấy việc dùng những loại thuốc không có tác dụng trong mười năm, nhưng cô sợ phải bỏ thuốc. Vào thời điểm đó, cô đang dùng thuốc chống trầm cảm, cũng như thuốc chống viêm không steroid để điều trị chứng đau mạn tính ở tay và chân mà trước đó đã được chẩn đoán là đau cơ xơ hóa. Khi xem lại bệnh sử của cô, tôi để ý rằng cô bắt đầu có vấn đề với chứng trầm cảm ở những năm đầu của tuổi 20 nhưng chưa bắt đầu dùng thuốc cho đến giữa tuổi 40. Cô được sinh ra tự nhiên nhưng không được nuôi bằng sữa mẹ. Cô đã phải dùng nhiều đợt kháng sinh khi còn nhỏ vì nhiễm trùng họng mà đỉnh điểm là phải cắt amidan. Trong thời niên thiếu, cô đã được dùng thuốc kháng sinh tetracycline trong 18 tháng vì mụn trứng cá. Nhu động ruột luôn là một vấn đề; Martina cho biết cô đã bị táo bón mạn tính hoặc tiêu chảy “kể từ khi tôi nhớ được”.

Điều đầu tiên tôi làm là yêu cầu một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Đó là khi tôi phát hiện ra rằng cô ấy rất mẫn cảm với gluten. Mức vitamin D của cô thấp và mức LPS, một chỉ tố đánh giá tính thấm và viêm của ruột, cao ngất trời.

Tôi giải thích rằng nhiệm vụ chính của chúng tôi trong thời gian tới là phục hồi sức khỏe đường ruột của cô ấy. Tôi đã đề xuất một chế độ ăn không gluten và một phác đồ lợi khuẩn dạng uống, cùng với các loại thực phẩm prebiotic và chế phẩm bổ sung vitamin D. Tôi đã đưa ra một số đề xuất khác về lối sống, bao gồm tập thể dục nhịp điệu thường xuyên và ngủ nhiều giờ hơn.

Tôi gặp Martina sáu tuần sau đó và thậm chí trước khi cuộc trò chuyện của chúng tôi bắt đầu, rõ ràng là cô ấy đã thay đổi. Cô trông thật rạng rỡ. Tại phòng khám của tôi, chúng tôi chụp ảnh tất cả các bệnh nhân của mình khi khám ban đầu. Bây giờ tôi đã chụp một bức ảnh khác và chúng tôi đặt chúng cạnh nhau. Đó là một sự so sánh nổi bật (hãy truy cập wwwDrPerlmuttercom để tự mình xem).

Mặc dù tôi không khuyên nhưng cô ấy đã ngừng thuốc chống trầm cảm bốn tuần trước cuộc hẹn này và hiện đã ngừng sử dụng tất cả các loại thuốc. “Tôi có cảm giác như sương mù cuối cùng cũng đã tan”, cô nói. Và sự lo lắng kinh niên của cô đã biến mất. Cô đã ngủ ngon, thích tập thể dục và lần đầu tiên sau nhiều thập niên, cô ấy đi tiêu đều đặn. Tôi hỏi cô về cơn đau do đau cơ xơ hóa và cô ấy nói rằng cô đã không đề cập đến nó vì cô đã quên tất cả về nó.

TRẺ TRUNG, RỐI TRÍ VÀ PHỤ THUỘC VÀO THUỐC

Có lẽ không có cách nào tốt hơn để hiểu mối quan hệ giữa cái bụng ủ rũ và tâm trí không ổn định hơn là xem xét một nhóm người cụ thể: trẻ em mắc chứng ADHD. Mặc dù người lớn thường được chẩn đoán mắc chứng ADHD, nhưng theo quan điểm của tôi, trẻ em mới gặp nguy hiểm vì não của chúng vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Mặc dù ADHD và trầm cảm thường được đặt riêng, nhưng chúng có rất nhiều điểm chung. Rốt cuộc, một số triệu chứng của chúng giống nhau và cả hai đều có cùng cơ chế: viêm lan tràn.45 Hơn nữa, cả hai đều được điều trị bằng các loại thuốc mạnh, thay đổi tâm trí chứ không phải thông qua chế độ ăn uống. Trên thực tế, trong một số trường hợp, ADHD được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm.

Ngày nay, hơn 11% trẻ em từ bốn đến mười bảy tuổi được chẩn đoán là mắc ADHD, và đáng kinh ngạc là 2/3 trong số những trẻ này được điều trị bằng thuốc. Trên trang web của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh, trang chủ cho ADHD bao gồm thông tin về các triệu chứng và chẩn đoán, sau đó chuyển ngay đến các lựa chọn điều trị, không có lựa chọn nào bao gồm chế độ ăn uống. Không có một đề cập nào về phòng ngừa.

Trẻ em Mỹ không khác biệt về mặt di truyền ở bất kỳ mức độ đáng kể nào so với trẻ em của các quốc gia khác, nơi hiếm khi thấy ADHD (như đã đề cập, phần lớn các loại thuốc ADHD được sử dụng trên thế giới được sử dụng ngay tại Mỹ, và đó là điều mà chúng ta không cần tự hào). Không ai đặt câu hỏi rõ ràng, trị giá hàng tỉ đô la: tại sao trẻ em ở các nền văn hóa phương Tây lại gặp phải những vấn đề như thiếu chú ý, khuyết tật học tập và các vấn đề về kiểm soát tính bốc đồng? Rõ ràng những gì đang diễn ra ở đây là một cái gì đó về môi trường. Có gì đó đã thay đổi, có thể sửa đổi được. Dữ liệu mới đáng kinh ngạc cho thấy hơn 10.000 trẻ mới biết đi ở Mỹ (trẻ hai và ba tuổi) hiện đang được điều trị ADHD.46 Điều trị cho trẻ ở độ tuổi này bằng dược phẩm hoàn toàn nằm ngoài các hướng dẫn nhi khoa đã có. Hầu như không có dữ liệu nào giải thích những loại thuốc mạnh này làm gì đối với bộ não đang phát triển. Điều đáng lo ngại hơn nữa là trẻ em trong chương trình Medicaid (Chương trình chăm sóc sức khỏe cho người có thu nhập thấp tại Mỹ) có nhiều khả năng phải dùng các loại thuốc kích thích như Ritalin và Adderall hơn so với trẻ em trong các gia đình trung lưu và thượng lưu.47 Điều đó có nghĩa là, trẻ em trong gia đình có thu nhập thấp có nhiều khả năng được điều trị bằng thuốc hơn.

Mặc dù những lo ngại về việc sử dụng những loại thuốc này đã thúc đẩy sự phổ biến của cái gọi là phương pháp tiếp cận “không dùng chất kích thích” để điều trị ADHD, các loại thuốc thay thế đang tỏ ra rắc rối không kém. Các loại thuốc như atomoxetine (Strattera) đi kèm với hàng loạt tác dụng phụ khó chịu (buồn ngủ, đuối sức, chán ăn, buồn nôn, nôn, đau thắt dạ dày, khó ngủ, khô miệng, vv.). Và ngoài tác dụng phụ, nghiên cứu cho thấy loại thuốc này thực sự kích thích sự biểu hiện của 114 gen trong khi tắt 11 gen khác.48 Vậy mà các bác sĩ vẫn tiếp tục kê đơn. Theo lời của một nhóm các nhà nghiên cứu có nghiên cứu nêu bật những thay đổi di truyền này: “Người ta biết rất ít về cơ sở phân tử cho hiệu quả điều trị của nó.”49

Tôi dành nhiều thời gian trong thực hành lâm sàng để điều trị cho trẻ em mắc chứng ADHD. Một phần của việc thăm khám lâm sàng của tôi bao gồm khai thác bệnh sử. Có thể đoán trước được rằng, cha mẹ của những đứa trẻ bị ADHD thường nói với tôi rằng con họ bị nhiễm trùng tai thường xuyên và được kê đơn thuốc kháng sinh cho tình trạng nhiễm trùng đó. Một số trẻ đã cắt amidan, và nhiều trẻ không được bú sữa mẹ trong thời gian dài. Nhiều trẻ trong số chúng được sinh ra bằng phương pháp mổ lấy thai.

Năm 2000, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí American Journal of Clinical Nutritrion, trong đó Tiến sĩ Laura J. Stevens của Đại học Purdue tiết lộ rằng trẻ em được nuôi bằng sữa mẹ ít có khả năng bị chẩn đoán ADHD hơn; bà cũng ghi nhận mối quan hệ giữa thời gian người mẹ cho con bú và nguy cơ trẻ phát triển ADHD.50 Điều thú vị hơn nữa là bà phát hiện ra rằng việc bị nhiễm trùng tai nhiều và được điều trị bằng kháng sinh có liên quan đến tăng nguy cơ mắc ADHD. Trong một nghiên cứu nổi bật khác mà tôi đã nhấn mạnh ở Chương 1, những đứa trẻ sinh ra bằng phương pháp sinh mổ có nguy cơ mắc ADHD cao gấp ba lần. Nói cách khác, ADHD không chỉ xảy ra một cách ngẫu nhiên.51

Tất cả những mối tương quan này chỉ ra những thay đổi trong vi khuẩn đường ruột. Như bạn đã biết, phương pháp sinh và cho con bú rất quan trọng trong việc thiết lập sự cân bằng phù hợp của các sinh vật trong ruột, sau đó sẽ tạo ra một môi trường ổn định cho phản ứng thích hợp của cơ thể với các vấn đề miễn dịch. Thuốc kháng sinh thay đổi tổ chức của vi khuẩn đường ruột, do đó làm tổn thương thành ruột và thay đổi phản ứng của não đối với những gì diễn ra trong ruột. Điều này có thể mang tới sự thay đổi nồng độ của các chất dẫn truyền thần kinh quan trọng và tăng sản xuất các hóa chất gây viêm mà kích thích não và có thể tổn hại đến chức năng não. Việc sản xuất các vitamin thiết yếu quan trọng cho chức năng não cũng bị gián đoạn. Tác động tích lũy của tất cả những sự kiện này là chứng viêm, gây bất lợi cho não cả trong ngắn hạn và dài hạn. Trong trường hợp ADHD, những người có khuynh hướng di truyền với chứng rối loạn và những người bị viêm mạn tính có nguy cơ cao phát triển tình trạng này. Tôi không thấy ngạc nhiên khi sự gia tăng các trường hợp ADHD đã trở nên song song với sự gia tăng chứng béo phì ở trẻ em, một tình trạng viêm khác có liên quan đến vi khuẩn đường ruột mà chúng ta sẽ khám phá trong Chương 4.

Tôi cũng không còn ngạc nhiên về tần suất các bệnh nhân ADHD của mình có những phàn nàn về tiêu hóa. Hầu hết các trường hợp đều bị táo bón mạn tính, kể cả những trường hợp không dùng thuốc kích thích. Nhưng tôi không phải là người duy nhất đưa ra nhận định này. Trong một công bố gần đây trên tạp chí Pediatrics, các nhà nghiên cứu đã đánh giá một nhóm gồm 742.939 trẻ em, trong đó 32.773 trẻ (4,4%) bị ADHD.52 Tỉ lệ mắc chứng táo bón cao hơn gần gấp ba lần ở trẻ em mắc chứng ADHD. Tình trạng đại tiện không tự chủ (mất kiểm soát ruột) cao hơn 67% ở nhóm ADHD. Và không có sự khác biệt về tỉ lệ này cho dù trẻ có dùng thuốc điều trị ADHD hay không.

Loại dữ liệu quy mô lớn này cho thấy rõ ràng rằng có điều gì đó đang diễn ra trong hệ tiêu hóa của những đứa trẻ này và nó liên quan trực tiếp đến chức năng não bộ. Hơn nữa, các nhà nghiên cứu Đức gần đây đã tiết lộ tỉ lệ mẫn cảm với gluten cao ở trẻ ADHD. Các nhà nghiên cứu đã cho những cá nhân được phát hiện mẫn cảm với gluten đó ăn chế độ không gluten và báo cáo rằng “sau khi bắt đầu chế độ ăn không có gluten, bệnh nhân hoặc cha mẹ của chúng đã báo cáo sự cải thiện đáng kể trong hành vi và hoạt động của chúng so với giai đoạn trước.”53 Các tác giả tiếp tục khuyến nghị kiểm tra độ mẫn cảm với gluten như một phần của quá trình đánh giá ADHD. Họ cũng nói rằng ADHD không nên được xem như một rối loạn riêng biệt, mà là một triệu chứng của nhiều vấn đề khác. Tôi không thể đồng tình hơn. ADHD chỉ đơn giản là một biểu hiện của tình trạng viêm trở nên nghiêm trọng do các tác nhân như gluten và tác động của một hệ vi sinh vật bị bệnh.

Trên thực tế, chỉ riêng yếu tố chế độ ăn uống cũng có liên quan đến sự phát triển của ADHD. Bên cạnh những tác động mà chúng ta đã biết về chế độ ăn uống đối với hệ vi sinh vật, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều vấn đề về hành vi của trẻ em có thể được khắc phục một cách hiệu quả bằng cách thay đổi chế độ ăn uống. Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Lancet vào năm 2011, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận sự cải thiện đáng kinh ngạc các triệu chứng của ADHD thông qua một chế độ ăn nghiêm ngặt.54 Mặc dù đây không phải là lần đầu tiên chế độ ăn ảnh hưởng đến sự phát triển (và duy trì) của ADHD, đây là nghiên cứu đầu tiên thực sự làm sáng tỏ tác động của chế độ ăn uống đối với chứng rối loạn não bộ như ADHD. Các nhà nghiên cứu đã đi xa hơn khi gợi ý rằng hơn một nửa số trẻ được chẩn đoán mắc chứng ADHD có thể thực sự bị quá mẫn cảm với thực phẩm – các loại thực phẩm như sữa, lúa mì và các sản phẩm chế biến có thành phần nhân tạo và chất tạo màu thực phẩm. Mặc dù nghiên cứu này đã vấp phải sự phê bình và cần nhiều nghiên cứu hơn nữa, nó dù sao cũng đã mở đường việc ghi nhận ảnh hưởng của chế độ ăn uống đối với ADHD. Một nghiên cứu như vậy một lần nữa nhắc lại khả năng rằng chứng rối loạn hành vi như ADHD bắt nguồn từ các yếu tố bên ngoài (ví dụ: chế độ ăn uống) – và có thể được điều trị thông qua những thay đổi đối với môi trường của một người. Điều này bao gồm những thay đổi đối với hệ vi sinh vật, vì sự thay đổi chế độ ăn uống dẫn đến sự thay đổi thành phần của vi khuẩn đường ruột, do đó có thể ảnh hưởng đến hành vi.

Hãy để tôi chia sẻ thêm một phần của câu đố liên kết mọi thứ trở lại với ruột. Nó liên quan đến GABA, chất dẫn truyền thần kinh quan trọng mà tôi đã thảo luận ở phía trên. Hóa chất này phần lớn bị thiếu hụt trong não của trẻ ADHD. Một nghiên cứu khéo léo được thực hiện bởi Tiến sĩ Richard Eised, phó giáo sư chẩn đoán hình ảnh tại Trường Y Đại học Johns Hopkins, đã sử dụng một công nghệ phức tạp gọi là phổ cộng hưởng từ, nói theo nghĩa bóng, mở một cửa sổ vào não, cho phép các nhà khoa học đo lường các chất hóa học khác nhau trong người sống.55 Các nhà nghiên cứu đã áp dụng công nghệ này cho một nhóm trẻ em từ 8 đến 12 tuổi và ghi nhận sự khác biệt đáng kể về nồng độ GABA trong não ở hai nhóm. Nhóm ADHD có mức GABA thấp hơn nhiều so với nhóm khỏe mạnh. Họ kết luận rằng ADHD có thể là kết quả của sự thiếu hụt GABA.

Điều gì gây ra tình trạng thiếu GABA và làm cách nào chúng ta có thể tăng GABA trong não của những đứa trẻ này? GABA được sản xuất trong cơ thể từ axit amin glutamine. Nhưng việc chuyển đổi glutamine thành GABA đòi hỏi sự hiện diện của những gì được gọi là đồng yếu tố, hóa chất cần thiết cho một phản ứng hóa học cụ thể diễn ra. Cụ thể, quá trình chuyển đổi cần cả kẽm và vitamin B6 – hai thành phần phải có từ thực phẩm. GABA sau đó có thể được tạo ra bởi các loại vi khuẩn đường ruột cụ thể bằng cách sử dụng các đồng yếu tố này. Hiện các nhà khoa học đang cố gắng tìm ra chủng nào liên quan đến quá trình sản xuất GABA. Các nhà nghiên cứu báo cáo trên tạp chí Journal of Applied Microbiology cho đến nay đã phát hiện ra rằng các loại Lactobacillus và Bifidobacterium cụ thể tạo ra GABA rất dồi dào.56 Hơn nữa, các nghiên cứu sử dụng những vi khuẩn này ở dạng men vi sinh đã cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc giảm lo lắng.57, 58

Hiện nay, rất nhiều nghiên cứu đang được tiến hành về GABA và mối quan hệ của nó với các thành phần cụ thể của sự bốc đồng giống ADHD.59 Các nhà nghiên cứu cũng đang khám phá GABA và mối liên hệ tiềm ẩn của nó với một chứng rối loạn não bộ khác: hội chứng Tourette.60 Sự đồng thuận quan trọng về lý do tại sao thiếu GABA có thể tác động mạnh đến não dường như là bởi đó là chất dẫn truyền thần kinh gây ức chế – nó làm giảm sự tích điện của tế bào thần kinh, do đó ít có khả năng kích thích các tế bào thần kinh lân cận. Thiếu hụt hoạt động GABA có nghĩa là các vùng não sẽ hoạt động quá mức, và điều này chắc chắn sẽ phù hợp với những gì chúng ta quan sát được ở những đứa trẻ có hoạt động vận động quá mức, đặc trưng của hội chứng Tourette, cũng như mất kiểm soát xung động. (Xem thêm về hội chứng Tourette ở Chương 9.)

Như tôi đã nói, chúng ta phải tránh xa quan niệm rằng chúng ta có thể khắc phục các vấn đề liên quan đến não bằng các biện pháp can thiệp dược phẩm tác động đến các triệu chứng nhưng bỏ qua nguyên nhân cơ bản – đặc biệt là đối với trẻ em. Hãy tưởng tượng nếu chúng ta có thể điều trị cho trẻ ADHD bằng cách sử dụng chế độ ăn uống lành mạnh, lợi khuẩn và các chế phẩm bổ sung dinh dưỡng khác thay vì Ritalin. Một nghiên cứu đầy hứa hẹn về vấn đề này đã được xuất bản vào năm 2003 – năm năm trước khi Dự án Hệ vi sinh vật ở người bắt đầu. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá 20 trẻ bị ADHD.61 Một nửa số trẻ được uống Ritalin trong khi nửa còn lại được dùng lợi khuẩn như Lactobacillus acidophilus và các chế phẩm bổ sung dinh dưỡng bao gồm các axit béo thiết yếu.

Trước sự ngạc nhiên của các nhà nghiên cứu, lợi khuẩn và chế phẩm bổ sung mang lại kết quả tương tự như Ritalin. Các tác giả này lưu ý rằng “chất béo thiết yếu” sửa chữa các tế bào lót trong ruột, cùng với việc “cấy lại hệ vi khuẩn thân thiện và bổ sung lợi khuẩn”, có thể giải thích thấu đáo cho kết quả tích cực ở những trẻ này. Thông tin này được công bố hơn một thập niên trước cung cấp một giải pháp thay thế cho việc sử dụng các loại thuốc nguy hiểm tiềm tàng. Mặc dù đó là một nghiên cứu nhỏ và cần nhiều nghiên cứu hơn nữa trong lĩnh vực này, tôi hy vọng nhiều nghiên cứu khác sẽ xuất hiện, bổ sung thêm bằng chứng cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa ADHD và sự cân bằng của vi khuẩn đường ruột khỏe mạnh.62 Chúng ta đã có 35 năm nghiên cứu xem xét mối liên hệ giữa sự nhạy cảm trong chế độ ăn uống và các triệu chứng của ADHD.63 Bây giờ chúng ta chỉ cần ghi lại thêm vai trò của vi khuẩn đường ruột trong bức tranh lớn này.

Vừa rồi tôi đã đề cập đến việc gia tăng ADHD đã phản ánh vòng xoáy đi lên của bệnh béo phì ở trẻ em như thế nào. Trong hai thập niên qua, chúng tôi đã chứng kiến số trường hợp mắc phải cả hai tình trạng này tăng lên mức cao chưa từng thấy. Và, như tôi đã trình bày, chúng chắc chắn có chung mối quan hệ với hệ vi sinh vật. Bây giờ bạn đã hiểu cách vi khuẩn đường ruột phát triển thành rối loạn tâm trạng và lo âu, đã đến lúc quay sang chú voi khác trong phòng. Có phải hệ vi sinh vật của chúng ta thay vì sở thích ăn bánh và Coke là nguyên nhân gây ra đại dịch béo phì, bao gồm cả dịch bệnh ảnh hưởng đến con cái của chúng ta? Hãy cùng tìm hiểu điều này tiếp theo.

Lưu Trung Kiên dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.