Ăn Gì Bổ Não

Lượt đọc: 76 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Làm thế nào hệ vi khuẩn đường ruột có thể khiến bạn béo và mắc bệnh về não

❊ ❊ ❊

Mối liên hệ bất ngờ giữa vi khuẩn ở ruột và sự thèm ăn, chứng béo phì và não bộ

Bạn biết đại dịch béo phì nguy hiểm thế nào là do bạn luôn nhìn thấy các tiêu đề. Con số hiện nay quá lớn đến nỗi chúng thực sự khiến người ta muốn gạt chúng sang một bên. Trên toàn thế giới, số người thừa cân và béo phì tăng từ 857 triệu người vào năm 1982 lên 2,1 tỉ người vào năm 2013, tăng hơn 145%.1 Một cách khác để nắm được mức độ trầm trọng của vấn đề này là xem xét rằng năm 1990 chưa đến 15% dân số Mỹ bị béo phì ở hầu hết các tiểu bang. Đến năm 2010, 36 bang có tỉ lệ béo phì từ 25% trở lên, và 12 bang trong số đó có tỉ lệ béo phì từ 30% trở lên. Trên toàn nước Mỹ hiện nay, khoảng 2/3 người trưởng thành thừa cân hoặc béo phì.2 Các tiêu chuẩn hiện hành nói rằng ai đó có chỉ số khối cơ thể (BMI, thước đo cân nặng tương ứng với chiều cao của một người) từ 25 đến 29,9 là “thừa cân”; “béo phì” là những người có chỉ số BMI từ 30 trở lên*.

* Với người Việt Nam, BMI trên 25 là béo phì.

Béo phì ảnh hưởng đến nữ giới nhiều hơn nam giới một chút, và 26% trẻ em ở Mỹ hiện được xếp vào nhóm béo phì. Bệnh béo phì khiến chúng ta tiêu tốn 147 tỉ đô la hằng năm để điều trị. Trên toàn cầu, 3,4 triệu người chết mỗi năm do các nguyên nhân liên quan đến thừa cân hoặc béo phì.3 Và hậu quả về sức khỏe vượt xa gánh nặng tâm lý khi đối phó với tình trạng này. Ngoài việc gây ảnh hưởng nặng nề đến cá nhân, những người bị thành kiến và phân biệt đối xử do béo phì và đối mặt với sự kỳ thị của bệnh béo phì hằng ngày, thừa cân hoặc béo phì có liên quan đến bệnh tim mạch, ung thư, tiểu đường, viêm xương khớp, bệnh thận mạn tính, bệnh thoái hóa thần kinh, bao gồm cả bệnh Alzheimer. Thật không may, ảnh hưởng của béo phì lên não thường không được nhắc đến. Nhưng chúng nên được nhắc đến. Giờ đây, chúng ta đã có bằng chứng khoa học không thể nhầm lẫn và không thể chối cãi rằng thừa cân hoặc béo phì làm tăng đáng kể nguy cơ suy giảm nhận thức, mất mô não và hàng loạt các bệnh não khác nhau, từ trầm cảm đến sa sút trí tuệ. Béo phì thậm chí có thể tái lập đường truyền thần kinh của em bé trong tử cung; một nghiên cứu được công bố vào đầu năm 2014 trên tạp chí Cell cho thấy béo phì khi mang thai có thể khiến thai nhi phát triển các luồng dẫn truyền thần kinh bất thường liên quan đến việc kiểm soát sự thèm ăn, từ đó khiến đứa trẻ có nguy cơ tăng cân và mắc bệnh tiểu đường cao hơn sau này. Các nhà nghiên cứu của Đại học Oregon đã công bố một bài báo vào cuối năm 2014 cho thấy rằng béo phì khi mang thai làm tổn hại đến các tế bào gốc đang phát triển của thai nhi, vốn chịu trách nhiệm tạo và duy trì máu và chức năng hệ miễn dịch suốt đời.5

Trong nhiều thập niên, các nhà khoa học đã cố gắng tìm ra giải pháp để chấm dứt tình trạng béo phì. Các công ty dược đã chi hàng tỉ đô la để hy vọng khám phá ra một loại thuốc thần kỳ giúp giảm cân nhanh chóng, an toàn mà không có bất kỳ tác dụng phụ nào. Và hàng triệu người đã cạn ví để mua những “phương pháp chữa trị” đầy hứa hẹn – từ sách vở và các phương tiện truyền thông liên quan đến chế phẩm bổ sung và mánh lới quảng cáo ăn kiêng – cho những phiền muộn về vòng eo của họ. Vẫn chưa có gì cách mạng hóa ngành công nghiệp này. Nhưng tôi tin rằng điều gì đó có thể. Và bạn có thể đoán được thứ đó là gì: tinh chỉnh hệ vi sinh. Thật vậy, tất cả các khoa học mới nhất đều chỉ ra sức mạnh của hệ vi sinh trong việc kiểm soát sự thèm ăn, khả năng chuyển hóa và cân nặng. Việc tìm thấy thành công trong nhiệm vụ đạt được cân nặng tối ưu nằm ở việc bạn có đang chứa vi khuẩn “béo” hay không.

NHÓM VI SINH VẬT BÉO VÀ VI SINH VẬT GẦY

Trước khi tôi đi vào chi tiết về bệnh béo phì trong bối cảnh của hệ vi sinh vật, chúng ta hãy xem xét lại sự khác biệt giữa trẻ em phương Tây trung bình và trẻ em từ vùng nông thôn châu Phi cận Sahara. Hãy nhớ rằng béo phì hoặc thừa cân là điều hầu như chưa từng có ở quần thể dân cư châu Phi này, so với người dân phương Tây. Đúng là một số khác biệt này là do khả năng tiếp cận thực phẩm nói chung, nhưng một phần của câu chuyện bây giờ xoay quanh thành phần của vi khuẩn đường ruột ở mỗi quần thể. Trong một nghiên cứu thường được trích dẫn của Harvard được công bố vào năm 2010, các nhà nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của chế độ ăn uống đối với hệ vi sinh bằng cách đánh giá vi khuẩn đường ruột của trẻ em ở vùng nông thôn châu Phi.6 Những đứa trẻ này theo một chế độ ăn giàu chất xơ “tương tự như chế độ ăn ở những khu định cư sơ khai của con người thời kỳ khai sinh ra nền nông nghiệp”. Sử dụng các xét nghiệm di truyền, các nhà khoa học đã xác định được các loại vi khuẩn có trong phân của những đứa trẻ này. Ngoài ra, họ đã xem xét tổng số axit béo chuỗi ngắn, được tạo ra bởi vi khuẩn đường ruột khi chúng tiêu hóa chất xơ thực vật (polysaccharide).

Như chúng ta đã thảo luận trong cuốn sách này, hai nhóm vi khuẩn lớn nhất là Firmicutes và Bacteroidetes; hai nhóm này chiếm hơn 90% cư dân trong ruột. Tỉ lệ giữa hai nhóm này với nhau xác định mức độ viêm và liên quan đến các tình trạng như béo phì, tiểu đường, bệnh mạch vành và chứng viêm nói chung. Mặc dù không có tỉ lệ hoàn hảo nào được cho là khỏe mạnh, nhưng chúng ta biết rằng tỉ lệ Firmicutes so với Bacteroidetes cao hơn (có nghĩa là nhiều Firmicutes hơn Bacteroidetes trong ruột) có liên quan chặt chẽ đến nhiều chứng viêm và béo phì hơn.

Tại sao? Như đã nói ở trên, vi khuẩn Firmicutes đặc biệt thành thạo trong việc chiết xuất calo từ thức ăn, vì vậy chúng làm tăng sự hấp thụ calo. Nếu cơ thể bạn có thể hấp thụ nhiều calo hơn từ thức ăn khi chúng di chuyển qua đường tiêu hóa, khả năng tăng cân sẽ cao hơn. Mặt khác, vi khuẩn Bacteroidetes chuyên phá vỡ tinh bột và chất xơ thực vật cồng kềnh thành các phân tử axit béo ngắn hơn mà cơ thể có thể sử dụng để làm năng lượng. Tỉ lệ FB hiện được coi là “chỉ tố sinh học béo phì”.7

Nghiên cứu của Harvard cho thấy người phương Tây có nhiều Firmicutes trong khi người châu Phi sở hữu nhiều Bacteroidetes hơn. Hãy xem:

a7

Sở hữu một đường ruột chủ yếu là Firmicutes có hậu quả của nó, vì nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng Firmicutes giúp điều hòa các gen trao đổi chất của con người. Điều đó có nghĩa là những vi khuẩn này, vốn có rất nhiều ở những người thừa cân, thực sự đang kiểm soát các gen tác động xấu đến sự chuyển hóa. Về bản chất, chúng chiếm đoạt DNA của chúng ta và tạo ra một kịch bản trong đó cơ thể chúng ta nghĩ rằng nó cần giữ lại calo.

Như các tác giả của một nghiên cứu năm 2011 đã nói: “Các vi sinh vật này không chỉ làm tăng thu nhận năng lượng trong ruột mà còn ảnh hưởng đến việc điều chỉnh cách lưu trữ năng lượng này và cách hệ miễn dịch hoạt động. Sự điều chỉnh đó là quan trọng vì sự mất cân bằng trong thành phần của cộng đồng vi sinh vật đường ruột có thể dẫn đến các bệnh do viêm, và tình trạng viêm như vậy có thể liên quan đến béo phì.”8 Hơn nữa, vào đầu năm 2015, tạp chí American Journal of Clinical Nutritrion đã công bố một nghiên cứu cho thấy rằng mức Firmicutes cao hơn thay đổi biểu hiện di truyền của chúng ta, lưu ý rằng điều này mở đường cho bệnh béo phì, tiểu đường, bệnh tim mạch và viêm. Tuy nhiên, như họ cũng đã tiết lộ trong nghiên cứu của mình, bạn có thể thay đổi điều này. Chỉ cần tăng cường chất xơ là có thể cải thiện tỉ lệ này.9

Khi các nhà nghiên cứu kiểm tra các axit béo chuỗi ngắn trong mỗi nhóm – châu Âu và châu Phi – họ lại phát hiện ra sự khác biệt rõ rệt:10

a8

Trong Chương 5, chúng ta sẽ xem những tỉ lệ khác nhau này có ý nghĩa gì. Nhưng hiện tại, chúng tôi có thể nói rằng bạn muốn có nhiều axit butyric và axetic hơn và ít axit propionic hơn. Hàm lượng axit propionic cao cho thấy đường ruột bị chi phối bởi các vi khuẩn kém thân thiện hơn. Vì vậy, thực tế, quần thể người châu Phi phản ánh một hệ vi sinh khỏe mạnh hơn nhiều so với châu Âu. Và những điểm khác biệt này liên quan đến chế độ ăn uống. Chế độ ăn của người châu Phi có nhiều chất xơ và ít đường. Chế độ ăn của người châu Âu thì ngược lại. Liệu điều này có thể giúp giải thích tại sao bệnh béo phì và thậm chí các bệnh như hen suyễn không được thấy ở những vùng hẻo lánh ở châu Phi không?

Khi thuyết trình về chủ đề béo phì và hệ vi sinh đường ruột, tôi thích chia sẻ nghiên cứu mang tính đột phá gần đây về cặp song sinh được công bố trên tạp chí Science vào năm 2013, một trong những nghiên cứu đầu tiên kiểu này cho thấy mối liên hệ giữa các loại vi sinh vật có trong ruột và con đường dẫn đến béo phì.11 Khi các nhà khoa học tại Đại học Washington chuyển vi khuẩn đường ruột từ một trẻ trong cặp song sinh bị béo phì vào đường tiêu hóa của những con chuột gầy, những con chuột này béo lên. Và khi vi khuẩn từ không bị thừa cân trong cặp song sinh được đưa vào những con chuột gầy, những con chuột vẫn gầy miễn là chúng theo một chế độ ăn uống lành mạnh. Nghiên cứu trước đó đã ghi nhận sự khác biệt đáng kể trong hệ vi khuẩn ở người béo phì so với vi khuẩn ở người có cân nặng bình thường. Trong một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature vào năm 2006, vẫn là nhóm nghiên cứu ấy của Đại học Washington đã ghi nhận rằng những người béo phì trung bình có nhiều Firmicutes hơn 20% so với những người có cân nặng bình thường và lượng Bacteroidetes ít hơn gần 90%.12 Các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng bệnh nhân tiểu đường và những người béo phì có xu hướng thiếu sự đa dạng vi khuẩn.13, 14 Ngoài ra, nghiên cứu tại Cleveland Clinic đã chỉ ra rằng một số vi khuẩn chuyển hóa các thành phần của thịt và trứng để tạo ra một hợp chất thúc đẩy sự tắc nghẽn của động mạch.15 Vì vậy, nếu bạn có quá nhiều vi khuẩn này, bạn có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn. Điều này có thể giải thích tại sao một số người ăn nhiều thực phẩm “làm tắc nghẽn động mạch” không bao giờ phát triển bệnh tim trong khi những người khác có hệ vi sinh vật không cân bằng thì có. Điều này không có nghĩa là bạn nên tránh thịt và trứng; ngược lại, những thực phẩm này là nguồn dinh dưỡng quan trọng và là một phần của chương trình Ăn gì bổ não. Điểm mấu chốt ở đây là sự mất cân bằng vi khuẩn đường ruột là nguồn gốc của những vấn đề về sức khỏe. Vì vậy, nếu bạn định cáo buộc điều gì gây nên bệnh tim, thì những vi sinh vật xấu trong bụng bạn phải nhận một phần lỗi.

Trước khi tìm hiểu khoa học về mối quan hệ giữa quần thể vi khuẩn đường ruột và kích thước vòng eo của bạn, hãy xem xét một số điều cơ bản làm sáng tỏ mối liên hệ giữa sức khỏe não bộ và bệnh béo phì – cụ thể là ảnh hưởng của lượng đường trong máu cao, kháng insulin và bệnh tiểu đường.

BÉO PHÌ LÀ MỘT BỆNH DO VIÊM, CŨNG GIỐNG NHƯ BỆNH VỀ NÃO

Mặc dù thật khó để tưởng tượng béo phì là một bệnh do viêm, cũng như chứng sa sút trí tuệ và trầm cảm là những bệnh do viêm, tất cả đều chính xác là như vậy. Đầu tiên, béo phì có liên quan đến việc gia tăng sản xuất các hóa chất gây viêm, hoặc cytokine.16 Các phân tử này phần lớn đến từ chính mô mỡ, vốn hoạt động giống như một cơ quan bơm ra hormone và các chất gây viêm. Tế bào mỡ không chỉ đơn giản là lưu trữ thêm calo; chúng liên quan nhiều đến sinh lý con người hơn chúng ta đã nghĩ trước đây. Và nếu bạn có nhiều chất béo hơn mức cần thiết, đặc biệt là xung quanh các cơ quan nội tạng như gan, tim, thận, tuyến tụy và ruột, sự trao đổi chất của bạn sẽ bị ảnh hưởng.

Loại “mỡ nội tạng” này, thường dễ thấy ở những người béo phì, cực kỳ có hại cho cơ thể. Nó không chỉ có khả năng kích thích các con đường gây viêm mà còn kích hoạt các phân tử tín hiệu có thể can thiệp vào hoạt động nội tiết bình thường của cơ thể.17 Ngoài ra, mỡ nội tạng không chỉ dẫn đến viêm thông qua một chuỗi các sự kiện sinh học; bản thân mỡ nội tạng cũng bị viêm. Loại chất béo này chứa nhiều tế bào bạch cầu gây viêm. Hơn nữa, khi mỡ nội tạng tạo ra các phân tử nội tiết tố và gây viêm, chúng sẽ được đưa trực tiếp vào gan, nơi đáp trả bằng một loạt đạn khác, cụ thể là các phản ứng gây viêm và các chất phá vỡ hormone.

Nói ngắn gọn: Mỡ nội tạng không chỉ đơn thuần là kẻ thù thường trực. Đó là một kẻ thù được trang bị vũ khí và nguy hiểm. Hiện nay, số lượng các tình trạng sức khỏe liên quan đến mỡ nội tạng là rất lớn, từ những bệnh rõ ràng như béo phì và hội chứng chuyển hóa đến những bệnh không quá rõ ràng – ung thư, rối loạn tự miễn và bệnh về não. Sự nguy hiểm của mỡ nội tạng giải thích tại sao kích thước vòng eo của bạn thường là thước đo “sức khỏe”; vòng bụng dự báo những vấn đề về sức khỏe và tỉ lệ tử vong trong tương lai. Nói một cách đơn giản, vòng eo của bạn càng lớn thì nguy cơ mắc bệnh và tử vong càng cao. Vòng eo cũng có thể dự đoán những thay đổi cấu trúc bất lợi trong não.

Trong một nghiên cứu thường được trích dẫn khác vào năm 2005, một nhóm các nhà nghiên cứu từ UC Berkeley, UC Davis và Đại học Michigan đã nghiên cứu tỉ lệ eo-hông của hơn 100 người và so sánh chúng với những thay đổi cấu trúc trong não của họ khi họ già đi.18 Họ muốn xác định liệu có tồn tại mối quan hệ giữa cấu trúc của não và kích thước vòng bụng của một người hay không, và kết quả đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới y khoa. Bụng càng lớn (tức là tỉ lệ eo-hông của một người càng lớn) thì trung tâm trí nhớ của não, hồi hải mã càng nhỏ. Chức năng của hồi hải mã phụ thuộc vào kích thước của nó. Nếu hồi hải mã của bạn co lại, thì trí nhớ cũng vậy.

Đáng chú ý hơn, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng tỉ lệ eo-hông càng cao, nguy cơ bị đột quỵ nhỏ càng cao, chúng liên quan đến suy giảm chức năng não. Các tác giả cho biết: “Những kết quả này phù hợp với lượng bằng chứng ngày càng nhiều cho thấy mối liên hệ giữa béo phì, bệnh mạch máu và chứng viêm với sự suy giảm nhận thức và chứng sa sút trí tuệ.” Các nghiên cứu khác, bao gồm cả một nghiên cứu vào năm 2010 tại Đại học Boston, đã xác nhận phát hiện này: Cân nặng dư thừa trên cơ thể tương đương với khối lượng não ít hơn.19 Tới đây một vài người có thể muốn tranh cãi luận điểm này bằng việc thảo luận về các bộ phận cơ thể khác, nhưng nếu nhắc đến hồi hải mã, kích thước thực sự quan trọng.

Hãy nhớ rằng các cytokine được sinh ra từ mỡ là những cytokine được tìm thấy ở mức cao trong tất cả các tình trạng viêm, từ viêm khớp và bệnh tim đến rối loạn tự miễn và chứng sa sút trí tuệ. Và, như bạn đã biết, chúng ta có thể kiểm tra tình trạng viêm thông qua các chỉ tố như protein phản ứng C (CRP). Theo báo cáo trên tạp chí New England Journal of Medicine, mức CRP cao có liên quan đến nguy cơ sa sút trí tuệ cao gấp ba lần, bao gồm cả bệnh Alzheimer. Nó cũng có liên quan đến suy giảm nhận thức và các vấn đề về tư duy nói chung.20

Vì vậy, bạn có thể kết luận: Nếu mức độ viêm dự báo các chứng rối loạn thần kinh, và chất béo dư thừa trong cơ thể làm tăng tình trạng viêm, thì béo phì là một yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh về não. Và chứng viêm như vậy là nguyên nhân của rất nhiều tình trạng mà chúng ta cho là từ béo phì, không chỉ là các vấn đề về thần kinh. Ví dụ, nó là nhân tố chính gây ra bệnh tiểu đường cũng như cao huyết áp. Những tình trạng này có thể đi kèm với các triệu chứng riêng biệt và được phân loại khác nhau (tiểu đường là một vấn đề về chuyển hóa, trong khi cao huyết áp là một bệnh về tim mạch), nhưng chúng có chung một đặc điểm cơ bản chính: viêm.

ĐƯỜNG MÁU VÀ NÃO BỘ

Bởi vì béo phì là kết quả của rối loạn chức năng trao đổi chất, không có tranh luận nào về béo phì có thể loại trừ vấn đề kiểm soát lượng đường trong máu. Và tôi sẽ bắt đầu cuộc thảo luận này bằng một cái nhìn sơ lược về insulin, mà bạn đã biết là một trong những hormone quan trọng nhất của cơ thể. Nó đóng vai trò chính trong quá trình trao đổi chất của chúng ta, giúp chúng ta chuyển năng lượng từ thức ăn vào tế bào để sử dụng. Quá trình này đặc biệt phức tạp. Tế bào của chúng ta chỉ có thể tiếp nhận glucose khi có sự trợ giúp của insulin, chất này hoạt động giống như một chất vận chuyển và được sản xuất bởi tuyến tụy. Insulin chuyển glucose từ máu vào tế bào, nơi nó có thể được sử dụng làm nhiên liệu.

Khi một tế bào bình thường và khỏe mạnh, nó có nhiều thụ thể cho insulin, vì vậy nó không gặp vấn đề gì khi phản ứng với insulin. Nhưng khi một tế bào tiếp xúc với lượng insulin cao thông qua sự hiện diện không ngừng của glucose – do tiêu thụ quá nhiều carbohydrate và đường tinh luyện – tế bào sẽ làm một điều tuyệt vời để thích nghi: Nó làm giảm số lượng các thụ thể đáp ứng với insulin trên bề mặt. Nó giống như thể tế bào đóng một vài cánh cửa để nó không thể nghe thấy tiếng gõ của insulin. Điều này cuối cùng khiến tế bào trở nên trơ hoặc “kháng” insulin. Một khi tế bào kháng insulin, nó không thể lấy glucose từ máu, để lại glucose trong máu. Như với hầu hết các quá trình sinh học, có một hệ thống dự phòng “chốt an toàn”. Cơ thể muốn giải quyết vấn đề này, vì nó biết rằng nó không thể để glucose chờ chực trong máu. Vì vậy, nó ra lệnh cho tuyến tụy tăng sản xuất insulin để chuyển hóa lượng glucose đó, điều mà tuyến tụy làm đúng chức trách của mình. Nó sẽ tiếp tục bơm ra lượng insulin cần thiết để đẩy glucose vào tế bào. Và lượng insulin cao hơn là cần thiết vì các tế bào không phản ứng với insulin.

Tất nhiên, điều này tạo ra một vòng lẩn quẩn mà đỉnh điểm là bệnh tiểu đường type 2. Theo định nghĩa, bệnh nhân tiểu đường là người có lượng đường trong máu cao vì cơ thể họ không thể vận chuyển glucose vào tế bào. Và nếu nó vẫn còn trong máu, lượng đường đó giống như một vũ khí tấn công. Nó gây ra rất nhiều thiệt hại. Bệnh tiểu đường là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm, bệnh mạch vành, đột quỵ, bệnh thận, mù lòa và rối loạn thần kinh; chúng tôi có thể nói rằng nó cũng là một nguyên nhân chính gây ra bệnh Alzheimer nếu không được điều trị trong nhiều năm. Mặc dù hầu hết những người mắc bệnh tiểu đường type 2 đều thừa cân, nhưng ngày nay rất nhiều người bình thường và thậm chí mảnh mai đang sống chung với tình trạng mất cân bằng đường huyết mạn tính. Con đường dẫn đến bệnh tiểu đường – và xa hơn nữa là bệnh về não – bắt đầu với sự mất cân bằng bất kể cân nặng. Và trong suốt chuỗi sự kiện này, cơ thể phải chịu đựng một đợt bùng nổ của chứng viêm.

Insulin cũng đóng vai trò quan trọng trong các phản ứng của cơ thể khi không thể quản lý tốt lượng đường trong máu. Với vai trò một hormone đồng hóa, insulin khuyến khích sự phát triển của tế bào, thúc đẩy sự hình thành và lưu giữ chất béo, đồng thời kích thích thêm tình trạng viêm. Mức insulin cao làm tăng hoặc giảm các hormone khác, do đó làm mất cân bằng hệ thống nội tiết tố tổng thể của cơ thể. Và sự mất cân bằng này có tác động xấu, đẩy cơ thể đi gần đến hố thẳm của rối loạn và bệnh tật.

Lượng đường trong máu tăng cao có tác động tiêu cực trực tiếp đến não, gây viêm nhiều hơn. Lượng đường trong máu tăng dẫn đến sự suy giảm các chất dẫn truyền thần kinh quan trọng, bao gồm serotonin, epinephrine, norepinephrine, GABA và dopamine. Các vật liệu cần thiết để tạo ra các chất dẫn truyền thần kinh này, chẳng hạn như vitamin nhóm B, cũng bị dùng hết. Lượng đường trong máu cao cũng làm cho lượng magiê giảm, làm suy giảm cả hệ thần kinh và gan của bạn. Quan trọng hơn, lượng đường trong máu cao châm ngòi cho một phản ứng gọi là “glycate hóa” mà tôi đã trình bày chi tiết trong Chương 2. Xin nhắc lại, glycate hóa là quá trình sinh học, theo đó các phân tử đường liên kết với protein và một số chất béo để tạo thành các cấu trúc mới gây chết người được gọi là AGEs, mà, hơn bất kỳ yếu tố nào khác, góp phần vào sự thoái hóa của não bộ và hoạt động của nó. Quá trình này thậm chí có thể dẫn đến thu nhỏ mô não quan trọng. Trên thực tế, hiện nay các nhà khoa học hiểu rằng kháng insulin có thể dẫn đến sự hình thành các mảng bám trong não của bệnh nhân Alzheimer. Hãy nhớ rằng những người mắc bệnh tiểu đường có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer ít nhất là cao gấp đôi và những người béo phì có nguy cơ bị suy giảm chức năng não cao hơn nhiều.

Chắc chắn là bệnh tiểu đường không trực tiếp gây ra bệnh Alzheimer. Nhưng cả hai đều có chung nguồn gốc: bệnh tiểu đường và bệnh Alzheimer đều là kết quả của một cuộc tấn công bằng chế độ ăn lên cơ thể, buộc nó phải thích nghi bằng cách phát triển các con đường sinh học dẫn đến rối loạn chức năng và sau đó là bệnh tật. Bệnh tiểu đường và thậm chí các vấn đề về đường huyết nhẹ dưới ngưỡng tiểu đường có liên quan trực tiếp đến việc tăng nguy cơ teo não và bệnh Alzheimer. Sự gia tăng song song của số người mắc bệnh tiểu đường type 2, béo phì và bệnh Alzheimer trong thập niên qua chắc chắn có mối liên hệ với nhau.

Nhưng điều gì đang gây ra hàng loạt ca bệnh tiểu đường? Dữ liệu cho thấy mối quan hệ giữa tiêu thụ nhiều carbohydrate và bệnh tiểu đường là gần như không thể chối cãi. Năm 1994, khi Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ khuyến nghị người Mỹ tiêu thụ 60 đến 70% lượng calo từ carbohydrate, dịch bệnh tiểu đường (và béo phì) đã bùng phát. Từ năm 1997 đến năm 2007, số trường hợp mắc bệnh tiểu đường ở Mỹ đã tăng gấp đôi. Từ năm 1980 đến năm 2011, con số đã tăng hơn gấp ba lần. Tính đến năm 2014, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh ước tính rằng hơn 29 triệu người Mỹ – cứ mười một người thì có một người – mắc bệnh tiểu đường và gần 28% trong số đó thậm chí không biết mình mắc bệnh – họ không được chẩn đoán.21 Tôi nghĩ hoàn toàn có thể nói rằng số người bị tiền tiểu đường – những người bắt đầu bị mất cân bằng đường huyết nhưng không biết điều đó – cũng đã tăng vọt tương tự.

DO VI SINH VẬT, KHÔNG PHẢI DO NHỮNG CHIẾC KẸO

Không còn nghi ngờ gì: điều chỉnh lượng đường trong máu là ưu tiên số một khi nói đến việc duy trì chức năng não và chống lại bệnh Alzheimer. Và lượng đường trong máu không chỉ phản ánh lượng đường trong chế độ ăn và tiêu thụ carbohydrate mà còn phản ánh sự cân bằng của vi khuẩn trong ruột. Nghiên cứu mới được thực hiện chỉ trong vài năm qua cho chúng ta biết rằng một số loại vi khuẩn đường ruột thực sự giúp cơ thể kiểm soát lượng đường trong máu. (Tôi sẽ sớm đề cập đến chi tiết của các nghiên cứu mới nhất.)

Nghiên cứu đang được tiến hành để kiểm tra xem làm thế nào một số lợi khuẩn có thể đảo ngược bệnh tiểu đường type 2 và các vấn đề về thần kinh có thể xảy ra sau đó. Tại hội nghị chuyên đề năm 2014 của Harvard về hệ vi sinh vật, tôi đã bị bất ngờ trước công trình của Tiến sĩ M. Nieuwdorp từ Đại học Amsterdam, người đã thực hiện một số nghiên cứu đáng kinh ngạc liên quan đến bệnh béo phì và tiểu đường type 2.22 Ông đã cải thiện thành công tình trạng hỗn loạn đường huyết được tìm thấy trong bệnh tiểu đường type 2 ở hơn 250 người sử dụng phương pháp cấy ghép phân. Ông cũng đã sử dụng quy trình này để cải thiện độ nhạy insulin.

Hai thành tựu này hầu như chưa từng được nghe đến trong y học truyền thống. Chúng tôi không có sẵn thuốc để đẩy lùi bệnh tiểu đường hay cải thiện đáng kể độ nhạy insulin. Tiến sĩ Nieuwdorp đã khiến cả căn phòng chú ý, gần như nín lặng, bởi bài thuyết trình của mình. Trong thí nghiệm này, ông đã cấy phân từ một người khỏe mạnh, gầy, không mắc bệnh tiểu đường vào một bệnh nhân tiểu đường. Những gì ông làm để làm đối chứng cho thí nghiệm của mình khá thông minh: Ông chỉ đơn giản là cấy hệ vi sinh vật của chính những người tham gia trở lại vào đại tràng của họ, vì vậy họ không biết liệu mình có đang được “điều trị” hay không. Đối với những người nhìn thấy tác động sâu rộng của bệnh tiểu đường đối với bệnh nhân hằng ngày, những kết quả như của Tiến sĩ Nieuwdorp là một tia sáng hy vọng. Và là một nhà thần kinh học nhận ra mối quan hệ sâu sắc giữa lượng đường trong máu tăng cao và sự thoái hóa não, tôi tin rằng nghiên cứu đột phá này mở ra cánh cửa cho một thế giới hoàn toàn mới về khả năng ngăn ngừa và thậm chí điều trị rối loạn não bộ.

Mỗi ngày, dường như có thêm một chế độ ăn uống hoặc chế phẩm bổ sung mới xuất hiện hứa hẹn giúp giảm cân. Những người béo phì bị đổ lỗi cho các vấn đề về cân nặng của chính họ, bởi vì có vẻ như họ không thể kiềm chế bản thân ăn những thực phẩm mà chúng ta biết là khiến tăng cân. Nói chung, chúng ta thừa nhận rằng chế độ ăn hiện đại của phương Tây, nhiều carbohydrate và đường tinh chế cũng như chất béo đã qua chế biến, là nguyên nhân gây ra đại dịch béo phì. Chúng ta cũng có xu hướng nghĩ rằng những người thừa cân lười vận động và không đốt cháy đủ lượng calo so với những gì họ hấp thụ.

Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu thừa cân hoặc béo phì ít liên quan đến ý chí hoặc thậm chí là yếu tố di truyền và liên quan nhiều hơn đến vi sinh vật trong ruột? Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta mắc phải những thách thức về béo phì của mình với một nhóm vi sinh vật đường ruột ốm yếu và rối loạn chức năng?

Hàng triệu người sẽ cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng việc tăng cân có thể không phải do lỗi của họ. Nghiên cứu mới cho thấy vi khuẩn đường ruột của chúng ta không chỉ hỗ trợ tiêu hóa, như bạn có thể nhận ra bây giờ. Chúng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của chúng ta và điều này liên quan trực tiếp đến việc chúng ta giảm hay tăng cân. Bởi vì chúng ảnh hưởng đến cách chúng ta lưu trữ chất béo, cân bằng lượng glucose trong máu, biểu hiện các gen liên quan đến sự trao đổi chất và phản ứng với các hormone báo đói hoặc no, vi khuẩn đường ruột là những người dẫn chương trình theo nhiều cách. Ngay từ khi chúng ta chào đời, chúng giúp tạo tiền đề cho việc chúng ta trở nên béo phì, tiểu đường và mắc bệnh về não hay gầy và có một bộ não khỏe mạnh, tư duy nhanh và tuổi thọ lâu dài.

Hiện đã có một nền tảng vững chắc rằng cộng đồng vi sinh đường ruột của những người gầy giống như một khu rừng nhiệt đới với nhiều loài và cộng đồng vi sinh đường ruột của những người béo phì kém đa dạng hơn nhiều. Chúng ta từng nghĩ rằng thừa cân hoặc béo phì là một bài toán – một hệ số của lượng calo nạp vào vượt quá lượng calo tiêu thụ. Nhưng nghiên cứu mới này tiết lộ rằng hệ vi sinh vật đóng một vai trò cơ bản trong động lực học năng lượng của cơ thể chúng ta, ảnh hưởng đến phương trình calo vàocalo ra. Nếu bạn có quá nhiều loại vi khuẩn có thể lấy nhiều calo hơn từ thức ăn một cách hiệu quả, hãy đoán xem: bạn có thể sẽ hấp thụ nhiều calo hơn mức mình cần, dẫn đến tăng mỡ.

Để hiểu rõ hơn về cách các nhà khoa học ghi lại sự khác biệt về vi sinh vật giữa người gầy và người béo cũng như mối tương quan với bệnh béo phì, cần xem xét kỹ hơn nghiên cứu của Jeffrey Gordon thuộc Đại học Washington ở St. Louis.23 Ông và các đồng nghiệp của mình nằm trong số những nhà khoa học đang tiến hành các thí nghiệm đột phá với những con chuột “được nhân hóa”. Trong nghiên cứu vào năm 2013 về cặp song sinh nổi tiếng của ông mà tôi đã đề cập trước đây, Gordon một lần nữa cho thấy sức mạnh của nhóm vi sinh vật “béo” so với “gầy” thống trị trong đường ruột và nguy cơ béo phì.24 Sau khi nhóm của ông cho những chuột con phòng thí nghiệm nhận vi khuẩn từ người một phụ nữ béo phì và người em song sinh gầy của cô ấy, họ cho những con chuột theo cùng một chế độ ăn uống với lượng bằng nhau. Và đó là khi họ quan sát thấy những con chuột sớm xuất hiện sự khác biệt về cân nặng. Những con nhận vi khuẩn từ một phụ nữ béo phì không chỉ béo hơn so với những con chuột có vi khuẩn từ một phụ nữ gầy, mà vi khuẩn đường ruột của chúng cũng kém đa dạng hơn nhiều.

Sau đó, thử nghiệm được lặp lại, nhưng lần này nhóm của Gordon đã để những con chuột con ở chung một lồng sau khi chúng được điều chỉnh để có vi khuẩn “béo” hoặc “gầy” trong ruột. Điều này cho phép những con chuột mang vi khuẩn từ người phụ nữ béo phì thu được một số vi khuẩn từ những “người bạn cùng phòng” gầy của chúng, chủ yếu thông qua việc tiêu thụ phân của những con chuột gầy – một hành vi điển hình của chuột. Kết quả? Cả hai nhóm chuột vẫn gầy. Gordon đã thêm một bước thí nghiệm nữa bằng cách chuyển các chủng vi khuẩn từ những con chuột gầy sang những con được xác định là sẽ trở nên béo phì, thay vào đó chúng phát triển cân nặng khỏe mạnh. Gordon nói: “Tổng hợp lại, những thí nghiệm này cung cấp bằng chứng khá thuyết phục rằng có một mối quan hệ nhân quả và nó có thể ngăn ngừa sự phát triển của bệnh béo phì.”25

Gordon và nhóm của ông giải thích điều này như thế nào? Ông cho rằng vi khuẩn đường ruột ở chuột béo phì thiếu vi khuẩn có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự trao đổi chất bình thường và trọng lượng cơ thể khỏe mạnh. Các nghiên cứu của ông, cùng với những nghiên cứu của những người khác, đang cung cấp thông tin mới về những tác động của vai trò đó. Ví dụ, một loại vi sinh vật bị thiếu có liên quan đến việc điều chỉnh cảm giác đói là Helicobacter pylori, giúp kiểm soát sự thèm ăn bằng cách ảnh hưởng đến mức ghrelin, hormone chính kích thích sự thèm ăn. H. pylori có mối quan hệ cộng sinh với chúng ta trong ít nhất 58.000 năm qua, nhưng hệ tiêu hóa phương Tây của chúng ta không còn chứa nhiều vi khuẩn này nữa vì điều kiện sống vệ sinh và việc sử dụng kháng sinh quá mức.

Nhóm của Gordon là một trong những nhà khoa học tiên phong, những người cũng đang tạo ra mối liên hệ giữa chất lượng của chế độ ăn uống, chất lượng và sự đa dạng của vi khuẩn đường ruột và nguy cơ bị béo phì. Sử dụng các mô hình chuột, ông đã chỉ ra rằng khi bạn cho những con chuột theo một “chế độ ăn phương Tây” – một chế độ ăn ít chất xơ, trái cây và rau củ nhưng nhiều chất béo, những con chuột có vi khuẩn béo phì sẽ trở nên béo phì ngay cả khi chúng được tiếp xúc với những vi khuẩn gầy. Nói cách khác, chế độ ăn uống không lành mạnh ngăn không cho vi khuẩn “gầy hóa” đi vào và có tác động tích cực. Kết quả như vậy càng chỉ ra sức mạnh của chế độ ăn uống trong việc kiểm soát thành phần của vi khuẩn đường ruột và cuối cùng là kiểm soát cân nặng. Rõ ràng là cần nhiều nghiên cứu hơn, đặc biệt là trên con người, nhưng nghiên cứu của Gordon vẫn thu hút rất nhiều sự chú ý trong giới y khoa và truyền cảm hứng cho các nghiên cứu tiếp theo.

Vào năm 2013, một nhóm các nhà nghiên cứu khác, đến từ MIT và Đại học Aristotle ở Thessaloniki, Hy Lạp, đã bổ sung bằng chứng khi họ kiểm tra lý do tại sao một loại sữa chua giàu lợi khuẩn lại có thể có tác dụng giảm béo mạnh mẽ như vậy.26 Họ cho những con chuột theo nhiều chế độ ăn khác nhau, nhưng đây không phải là những con chuột bình thường; chúng có khuynh hướng di truyền dẫn đến bệnh béo phì. Những con chuột theo chế độ ăn “đồ ăn nhanh” – một chế độ ăn nhiều chất béo không lành mạnh và đường, ít chất xơ và vitamin B và D – nhanh chóng bị béo phì. Vi khuẩn đường ruột của chúng đã thay đổi chỉ sau vài tuần ăn đồ ăn nhanh. Ngược lại, những con chuột được ăn ba phần sữa chua chứa lợi khuẩn có bán trên thị trường mỗi tuần vẫn gầy. Nhưng đây là điều đặc biệt: những con chuột ăn sữa chua này cũng được phép ăn bao nhiêu thức ăn nhanh tùy thích! Tiêu đề kết quả của họ đã nói lên tất cả: “Chế độ ăn ‘Đồ ăn nhanh’ kiểu phương Tây tái cấu trúc hệ vi sinh đường ruột và tăng tốc độ béo phì liên quan đến tuổi ở chuột,” và “Bổ sung sữa chua chứa lợi khuẩn vào chế độ ăn ngăn chặn béo phì.” Rõ ràng, tôi không muốn tạo ấn tượng rằng việc tiêu thụ lợi khuẩn cho phép bạn tự do ăn bất cứ thứ gì, nhưng nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn.

Một trong kẻ phản diện quỷ quyệt nhất đối với hệ vi sinh đường ruột của chúng ta, mà tôi đã đề cập ngắn gọn và sẽ khám phá chi tiết hơn sau, là đường fructose sản xuất công nghiệp. Người Mỹ điển hình tiêu thụ xi-rô ngô hàm lượng fructose cao với mức từ 132 đến 312 calo mỗi ngày.27 (Tôi sẽ chỉ ra thêm rằng sự tiêu thụ sản phẩm này đã tăng đều đặn song song với tỉ lệ béo phì ngày càng tăng.) Nhiều nhà khoa học cho rằng fructose sản xuất công nghiệp đang góp phần gây ra đại dịch béo phì và đó là một trong những yếu tố lớn nhất tạo ra cái gọi là hệ vi sinh vật đường ruột kiểu phương Tây, tức là một hệ vi sinh vật có ít sự đa dạng và quá nhiều loại vi khuẩn nuôi tế bào mỡ.

Tại sao fructose lại đặc biệt gây rối loạn? Nó không chỉ nuôi các vi khuẩn đường ruột gây bệnh, từ đó phá vỡ sự cân bằng hệ vi sinh khỏe mạnh, mà fructose không kích thích sản xuất insulin như glucose. Nó được gan xử lý ngay lập tức và điều này có nghĩa là quá trình sản xuất leptin của cơ thể, một hormone quan trọng khác liên quan đến việc ức chế sự thèm ăn, sẽ giảm xuống. Bạn không cảm thấy no, vì vậy bạn tiếp tục ăn. Hệ quả này – thiếu cảm giác no – cũng xảy ra với chất làm ngọt nhân tạo. Mặc dù trước đây chúng ta thường nghĩ rằng các chất thay thế đường như saccharin, sucralose và aspartame không có tác động đến quá trình trao đổi chất vì chúng không làm tăng insulin, nhưng hóa ra chúng thực sự có thể tàn phá quá trình trao đổi chất và gây ra các rối loạn chuyển hóa giống như đường thật. Như thế nào vậy? Chúng làm điều này bằng cách thay đổi hệ vi sinh vật theo cách có lợi cho chứng rối loạn sinh học, mất cân bằng lượng đường trong máu và sự trao đổi chất tổng thể không lành mạnh. Và đúng vậy, ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống đang phải đau đầu vì nghiên cứu mới nhất này, được công bố vào năm 2014 trên tạp chí Nature.28 Tôi sẽ đi vào chi tiết của nghiên cứu này trong Chương 6, vì nó cung cấp bằng chứng cho thấy vi khuẩn đường ruột có nhiệm vụ giúp điều chỉnh sự kiểm soát lượng đường trong máu và lần lượt là cân nặng và nguy cơ mắc bệnh.

TẠI SAO NỐI TẮT DẠ DÀY CÓ TÁC DỤNG: HÃY CẢM ƠN NHỮNG VI SINH VẬT CỦA BẠN

Các phương pháp giảm cân quyết liệt, chẳng hạn như phẫu thuật nối tắt dạ dày, nhằm tái tổ chức lại hệ tiêu hóa về phương diện thực thể, ngày càng trở nên phổ biến. Những phẫu thuật này thường liên quan đến việc làm cho dạ dày nhỏ hơn và đổi hướng ruột non. Và trong khi chúng ta từng nghĩ rằng chúng giúp giảm cân nhanh phần lớn bằng cách buộc người đó tiêu thụ ít hơn, một nghiên cứu có ảnh hưởng được công bố trên tạp chí Nature vào năm 2014 đã đưa ra ý tưởng rằng hệ vi sinh quyết định sự thành công của phẫu thuật dạ dày.29 Giờ đây chúng ta đã có bằng chứng mới đáng kinh ngạc cho thấy một phần lớn của việc giảm cân là nhờ những thay đổi trong cộng đồng vi sinh vật đường ruột.

Những thay đổi này xảy ra sau phẫu thuật để phản ứng với không chỉ những thay đổi về giải phẫu mà còn là những thay đổi trong chế độ ăn uống thường xảy ra khi một người tiêu thụ các loại thực phẩm lành mạnh hơn, có lợi cho sự phát triển của các vi khuẩn khác nhau. Tôi không nghi ngờ gì rằng khi tìm hiểu chi tiết tại sao bệnh nhân tiểu đường nối tắt dạ dày cũng thường thấy bệnh tiểu đường đảo ngược hoàn toàn ngay sau khi phẫu thuật, chúng ta sẽ lại nhìn vào hệ vi sinh vật.

Như chúng ta đã thảo luận, tỉ lệ các loại vi khuẩn trong ruột rất quan trọng. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng khi số lượng Firmicutes giảm, nguy cơ mắc các vấn đề chuyển hóa như tiểu đường cũng tăng theo. Mặt khác, khi số lượng Bacteroidetes thấp, tính thấm của ruột tăng lên, do đó làm tăng tất cả các loại nguy cơ, không kém quan trọng trong đó là rối loạn hệ miễn dịch, viêm, và xa hơn là rối loạn và bệnh tật liên quan đến não, từ trầm cảm đến bệnh Alzheimer.

Tôi cũng nên nói thêm rằng tập thể dục có vai trò thúc đẩy sự cân bằng phù hợp của các vi sinh vật. Từ lâu, chúng ta đã biết về lợi ích của việc tập thể dục nói chung, nhưng hóa ra tác động của nó trong việc giảm và quản lý cân nặng không chỉ là đốt cháy nhiều calo hơn. Khoa học mới tiết lộ rằng tập thể dục ảnh hưởng tích cực đến sự cân bằng vi khuẩn trong ruột để tạo lợi thế cho các quần thể vi khuẩn ngăn ngừa tăng cân. Trong các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên chuột, mức độ vận động cơ thể cao hơn có tương quan với việc giảm Firmicutes và tăng Bacteroidetes. Nói cách khác, vận động cơ thể đã làm giảm tỉ lệ FB một cách hiệu quả. Mặc dù cần có thêm nhiều nghiên cứu trên người và hiện đang được tiến hành, chúng tôi đã có bằng chứng thuyết phục rằng điều này cũng đúng với chúng ta. Tập thể dục nuôi dưỡng một hệ vi sinh vật đa dạng.

Vào năm 2014, các nhà nghiên cứu tại Đại học Ireland’s College Cork đã kiểm tra mẫu máu và phân để so sánh sự khác biệt giữa sự đa dạng của vi sinh vật ở những người chơi bóng bầu dục chuyên nghiệp và những người đàn ông khỏe mạnh, không phải vận động viên.30 Một số người không phải vận động viên có cân nặng bình thường và một số thừa cân. (Các xét nghiệm máu cung cấp thông tin về tổn thương cơ và tình trạng viêm – những dấu hiệu cho thấy những người này đã tập thể dục bao nhiêu gần đây.) Nhìn chung, 40 vận động viên mà họ nghiên cứu cho thấy sự đa dạng về vi khuẩn hơn bất kỳ người đàn ông nào ở nhóm kia tham gia thí nghiệm. Trong bài báo của họ, được xuất bản trên Gut, các nhà nghiên cứu cho rằng những kết quả này là do các bài tập cường độ cao của các vận động viên và chế độ ăn của họ, nhiều protein hơn (22% calo từ protein so với 15 đến 16% của những người không phải vận động viên). Một phát hiện quan trọng khác ở đây là ngoài việc ghi lại sự đa dạng hơn của các vi khuẩn đường ruột ở các vận động viên, các nhà nghiên cứu đã báo cáo rằng trong số các vi khuẩn được thấy ở những người chơi bóng bầu dục này là một chủng vi khuẩn có liên quan đến tỉ lệ béo phì và các rối loạn liên quan đến béo phì thấp hơn.

Khoa học đang nói rằng: Từ khi được sinh ra, sự tương tác giữa vi khuẩn đường ruột và chế độ ăn uống của chúng ta có thể khiến chúng ta dễ bị tổn thương bởi các rối loạn chức năng trao đổi chất và bệnh về não. Tôi và các đồng nghiệp trong ngành y không lạ gì với lý do những đứa trẻ không được tiếp xúc với lượng vi khuẩn có lợi phong phú trong giai đoạn đầu đời lại có nguy cơ mắc bệnh béo phì, tiểu đường và các vấn đề về thần kinh cao hơn nhiều so với những bạn đồng trang lứa có hệ vi sinh vật khỏe mạnh hơn. Những đứa trẻ có nguy cơ này thường là những đứa trẻ được sinh ra theo phương pháp mổ lấy thai theo nguyện vọng, chủ yếu được nuôi bằng sữa công thức và thường mắc các bệnh mạn tính do thuốc kháng sinh được kê đơn. Trong một nghiên cứu đặc biệt nổi bật, các nhà nghiên cứu Canada đã phát hiện ra rằng trẻ uống sữa công thức phát triển một số chủng vi khuẩn nhất định trong ruột của chúng mà trẻ bú mẹ không có cho đến khi chúng bắt đầu ăn thức ăn rắn.31 Những chủng này không nhất thiết gây bệnh, nhưng tiếp xúc sớm với một số loại vi khuẩn nhất định có thể không phải là điều tốt vì đường ruột và hệ miễn dịch của trẻ sơ sinh vẫn đang phát triển, một thực tế được các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này nhắc đến nhiều, những người đồng ý rằng đây có thể là một lý do khiến trẻ uống sữa công thức dễ mắc các bệnh tự miễn như hen suyễn, dị ứng, chàm và bệnh celiac, cũng như béo phì.

Dù vậy, hãy để tôi nói ngắn gọn về những phụ nữ cho con uống sữa công thức. Đối với một số người, cho con bú mẹ là điều không thể. Hoặc một phụ nữ có thể chọn hoặc cần phải cho con cai sữa sớm. Điều này có nghĩa là cô ấy đang hại chết con mình ư? Không hề. Mặc dù chúng ta biết rằng trẻ bú sữa mẹ có hệ vi sinh vật đa dạng hơn nhiều và giảm nguy cơ mắc các tình trạng sức khỏe so với trẻ uống sữa công thức, chúng tôi cũng biết rằng bạn có thể làm rất nhiều điều để hỗ trợ sự phát triển của hệ vi sinh vật khỏe mạnh khi không được bú sữa mẹ. Bạn sẽ vui mừng vì hệ vi sinh vật dễ dàng phục hồi thông qua những thay đổi cơ bản về lối sống. Tôi sẽ cung cấp cho các bà mẹ một số ý tưởng về cách thực hiện việc này trong Chương 8.

Những quan ngại về việc sử dụng quá nhiều thuốc kháng sinh ở trẻ em chỉ mới gia tăng khi có dịch bệnh béo phì ở trẻ em. Hiện chúng ta có nhiều bằng chứng để đổ lỗi đại dịch béo phì một phần là do việc sử dụng kháng sinh và vai trò của chúng trong việc thay đổi sự cân bằng của hệ vi khuẩn đường ruột. Tiến sĩ Martin Blaser thuộc Dự án Hệ vi sinh vật của NYU. cũng đã chứng minh rằng khi những con chuột non được sử dụng liều kháng sinh thấp, tương tự như lượng mà vật nuôi nhận được, chúng sẽ tích trữ nhiều mỡ cơ thể hơn 15% so với những con chuột không tiếp xúc với những loại thuốc đó.32 Hãy suy nghĩ về điều đó và xem xét những điều sau: Trẻ em Mỹ trung bình nhận được ba liệu trình kháng sinh trong năm đầu đời. Blaser đã nói rất rõ quan điểm này trong bài thuyết trình của mình tại Hội nghị chuyên đề về Lợi khuẩn của Harvard vào năm 2014.

Theo cách nói của nhà nghiên cứu, Tiến sĩ Maria Gloria Dominguez-Bello (đã kết hôn với Tiến sĩ Blaser), cũng thuộc Đại học New York, “Thuốc kháng sinh giống như ngọn lửa trong rừng. Em bé tạo thành một khu rừng. Nếu bạn có một đám cháy trong một khu rừng mới, bạn sẽ nhận được sự tuyệt chủng.”33

Trong một nghiên cứu liên quan, khi một sinh viên cao học tại phòng thí nghiệm của Blaser cho chuột theo cả chế độ ăn giàu chất béo và thuốc kháng sinh, những con chuột trở nên béo phì, kết quả cho thấy một “sự đồng vận” đang diễn ra giữa thuốc kháng sinh và chế độ ăn uống.34 Điều thú vị là Blaser lưu ý rằng việc sử dụng kháng sinh rất khác nhau trên khắp nước Mỹ và khi bạn nhìn vào bản đồ, bạn có thể thấy một mô hình: Ở những bang có tỉ lệ béo phì cao nhất, việc sử dụng kháng sinh cũng vậy. Và các bang miền Nam giành được giải thưởng cho số lượng người thừa cân và việc kê đơn vượt quá giới hạn nhiều nhất.

Trước khi bạn cảm thấy choáng ngợp bởi thông tin này và gấp cuốn sách lại, đặc biệt là vì nó có thể liên quan đến cuộc sống của bạn, hãy để tôi nói rõ: Tất cả những dữ liệu mới đáng kinh ngạc này có nghĩa là bạn có thể kiểm soát sự chuyển hóa của mình và theo đó, các con đường viêm và sức khỏe não bộ chỉ bằng cách nuôi dưỡng hệ vi sinh vật của bạn. Ngay cả khi bạn không được may mắn khi sinh bằng cách sinh thường và ngay cả khi bạn đã uống kháng sinh trước đó (và có ai chưa từng uống?) hoặc ăn một chế độ ăn giàu carbohydrate, tôi có những giải pháp sẽ giúp bạn lật ngược tình thế.

Tôi sẽ sớm đi đến tất cả các chiến lược thực tiễn. Bây giờ, chúng ta hãy chuyển sang một tình trạng nữa mà mọi người đều quan tâm: rối loạn phổ tự kỷ. Cuối cùng, trong thế kỷ XXI, chúng ta có thể tìm thấy một số biện pháp phòng chống và các phương pháp điều trị cá nhân hóa, tốt hơn cho vấn đề về thần kinh này ở một số cá nhân. Mặc dù vẫn còn nhiều câu hỏi về chứng rối loạn não bộ bí ẩn này, vai trò của hệ vi sinh đường ruột ngày càng trở nên rõ ràng. Khoa học mới nhất, như bạn sắp tìm ra, đặt nền móng cho một tiền tuyến mới trong y học.

Lưu Trung Kiên dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.