Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 350 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MƯỜI NĂM, MỘT GIẤC MỘNG

❊ ❊ ❊

Hồi mười mấy tuổi, tôi có đọc cuốn tiểu thuyết Anh, do Lâm Cầm Nam dịch, có lẽ là cuốn Anh hùng Thập tự quân, trong đó có một câu tôi nhớ mãi: "Thân thể nô lệ thì đáng thương, tâm hồn nô lệ thì đáng bỉ"; đó là lời một công chúa nói với một kỵ sĩ. Do hiểu nhầm, chứ kỵ sĩ ấy không phải là nô lệ, dù là thân thể hay tâm hồn. Cuối cùng, hình như hai người thành vợ chồng, "hữu tình nhân chung thành quyến thuộc".

Không phải cái kết cục ấy làm tôi thích thú, nhưng thật không ngờ một câu nói trong tiểu thuyết đã phản ánh đúng tâm trạng của tôi trong mười mấy năm hạo kiếp. Trải qua cuộc rèn luyện mười mấy năm ấy, tôi mới hiểu ý nghĩa từ "nô lệ". Những lúc hối hận quá, tôi từng nghĩ đến câu danh ngôn kia. Đối chiếu với tình cảnh của tôi lúc bấy giờ, tôi thấy rõ bản thân tôi hơn bao giờ hết. Trước kia, tôi cứ nghĩ mình thì có liên quan gì với hai chữ “nô lệ" chứ, nhưng rõ ràng tôi đã làm nô lệ suốt mười năm! Cuộc sống mười năm nô lệ ấy cũng hết sức phức tạp. Những người viết tiểu thuyết chúng tôi hay nói: "Sống với không sống, khác nhau xa lắm", Sự thật là như thế. Trước kia, hai nhóm từ "thân thế nô lệ" và "tâm hồn nô lệ", tôi hiểu qua loa, chỉ dừng lại ở mặt chữ. Thí dụ, khi viết cuốn "Gia đình", tả U Hoàng nói về Giác Tuệ, U cầu khẩn: "Bà lớn có linh thiêng hãy che chở cho cậu ấy", tôi nghĩ bụng như thế là "tâm hồn nô lệ". Lại khi viết đoạn đối thoại giữa Minh Phượng và Giác Tuệ; Giác Tuệ nói muốn cưới cô ta làm vợ, cô ta nói không được, và không đồng ý, dù cô ta nguyện làm "a hoàn" hầu hạ cậu ta suốt đời; tôi cũng cho như thế là "tâm hồn nô lệ". Trong "Văn cách", tôi bị phê đấu; một trong những tội của tôi là "xuyên tạc hình tượng nhân dân lao động". Có người đem U Hoàng và Minh Phượng ra làm ví dụ: đáng lẽ hai nhân vật kia phải đứng lên "tạo phản", đằng này tôi lại tả thành hai tên nô lệ trung thành, cúi đầu trước "kẻ thù giai cấp". Trước kia, tôi thường đọc lại và sửa chữa tác phẩm của tôi, đoạn tả hai nhân vật U Hoàng và Minh Phượng, tôi không thấy vấn đề gì to tát. Bỗng nghe phê phán, tôi cảm thấy có vấn đề, quả là nghiêm trọng thật. Lúc bấy giờ đang bí không tìm ra lối thoát, tôi hoàn toàn bị cái luận điệu của "phái tạo phản" chi phối. Tôi nghĩ bụng: "Tôi lớn lên trong gia đình địa chủ quan liêu, chịu sự giáo dục đủ các kiểu của gia đình cũ, xã hội cũ, luôn tiếp xúc với người trong gia đình cũ, xã hội cũ, nên rất có khả năng tôi nhìn người, nhìn việc với con mắt của địa chủ phong kiến". Càng nghĩ càng thấy "phái tạo phản" nói phải, càng nghĩ càng thấy mình có tội. Nói tôi là "hứa tử hiền tôn" của giai cấp địa chủ, tôi thừa nhận. Nói tôi viết "Dòng nước xiết”[1] là "dựng bia, lập truyện" cho giai cấp địa chủ, tôi cũng thừa nhận. Năm 1970, chúng tôi xuống lao động ba năm ở nông thôn, tôi bị lôi ra ruộng để cùng bị đấu với tên địa chủ ở đó, tôi cũng cúi đầu nhận tội. Tôi nghĩ: cho đến 23 tuổi, tôi vẫn dựa vào gia đình mà sống, tiền tôi mua bánh ăn hàng ngày là máu, mồ hôi của nông dân, bị phê bị đấu có gì không phải!

Nhưng tôi năm 1970 và tôi năm 67-68 không còn là một người nữa. Từ tháng 9 năm 1966 trở về sau, dưới sự uy hiếp và lãnh đạo (có thể nói là lãnh đạo bằng roi da) của "phái tạo phản", tôi hoàn toàn suy nghĩ bằng đầu óc người khác; người khác gào: "Đả đảo Ba Kim!", tôi cũng giơ tay hưởng ứng. Cử chỉ ấy, nay nghĩ lại, tôi thấy không sao giải thích nổi. Nhưng hồi đó, không phải tôi giả vờ. Tôi thật lòng tỏ ý muốn người khác đả đảo tôi đến cùng, để tôi có thể làm lại từ đầu, trở lại làm người, làm một con người mới. Tôi quyết tâm chịu nhục để tự cải tạo. Thậm chí tôi đau khổ thật sự khi "phái tạo phản" không hiểu dụng tâm ấy của tôi. Tôi tự nhủ: "họ không tin mình, cũng chẳng sao, mình phải chịu đựng khảo nghiệm". Sau mỗi lần phê đấu, theo lệ thường "phái tạo phản" bảo tôi viết "thu hoạch". Bấy giờ đã mệt nhừ người rồi, nhưng nghe bảo phải nạp lên ngay, thì tôi liền phấn chấn, nghiêm túc trình bày những điều tôi suy nghĩ và thừa nhận rằng: những lời người khác phê đấu tôi đã đánh trúng khuyết điểm nguy hại của tôi, rằng phê đấu thật sự cứu vớt tôi, rằng "phái tạo phản" là cứu tinh của tôi! Thời kỳ ấy, tôi chỉ suy nghĩ theo những khẩu hiệu "phái tạo phản" thường gào lên và cái "chân lý” họ tuyên truyền lặp đi lặp lại. Tôi có cách suy nghĩ riêng của tôi. Nếu hỏi nữa, tôi chỉ còn có thể nói: "xin để cho tôi được sống". Sau năm 1969, tôi dần dần phát hiện ra rằng "chân lý" mà "phái tạo phản" bảo tôi tin, thì chính họ có tin đâu! Những điều họ nói bằng miệng không phải là những điều họ nghĩ trong bụng. Thật là kỳ quái: Ngày 23 tháng 5 năm 1969, học tập "bài nói" của Mao Chủ tịch, tôi viết "thu hoạch”, được tên cầm đầu ban chỉ đạo tổ chúng tôi hết sức biểu dương, treo lên cho mọi người xem, với lời mào đầu nói rằng: Tôi "đã thành tâm nhận tội và xin đi theo nhân dân". Thế mà hai ba hôm sau, không rõ trên nói thế nào, họ lại lôi tôi ra phê đấu, nói: Tôi giả vờ để người ta thương hại. Tôi bắt đầu thấy ai thật ai giả. Tôi viết thu hoạch đúng thời gian quy định, vận dụng "chỉ thị tối cao” mà tự chửi rủa. Nhưng rồi tư tưởng của tôi âm thầm chuyển hướng. Dần dần tôi lại có một phát hiện mới nữa: Tôi là một tên “nô lệ tâm hồn", một tên nô lệ tinh thần hết lòng hết dạ.

Phát hiện ấy khiến tôi buồn bực, khó chịu. Tôi trăn trở, quằn quại. Tôi cảm thấy triết lý nô lệ như một sợi xích sắt quấn chặt người tôi. Tôi không còn là tôi nữa!

Không có những suy nghĩ riêng, không dùng đầu óc mình mà suy nghĩ, người ta giơ tay, mình cũng giơ tay, người ta nói gì, mình nói nấy, mà lại làm một cách hứng thú. Như thế chẳng phải là "nô lệ tâm hồn" là gì? Khác với UHoàng, khác với Minh Phượng trong tiểu thuyết, mặc dù họ giác ngộ không cao, nhưng họ biết thế nào là phải, thế nào là trái, UHoàng không chịu "ở chỗ nhơ bẩn", Minh Phượng không chịu làm lẽ Phùng Lạc Sơn. Họ không phải là "nô lệ tâm hồn". Cố nhiên, họ tin số mệnh, tin có trời, nhưng họ không chịu cúi đầu khuất phục, họ cũng không suy nghĩ theo lý luận của cụ cố họ Cao. Họ tin số mệnh, nhưng họ cũng chống lại số mệnh. Họ không giống tôi năm 1967-1968. Lúc bấy giờ tôi không có tư tưởng phản kháng. Không có chút nào!

Tôi không nhắc đến năm 1966. Tôi vào "chuồng bò" tháng 8 năm 1966, bị khám nhà ngày 10 tháng 9[2]. Dạo ấy, tôi bị giày vò quá thể. Nghe tiếng đập cửa là toàn thân run bắn. Nhưng tôi cứ hy vọng người ta không đối xử với tôi như thế; đối với tôi, chắc người ta cũng phải khoan dung hơn. Người ta uy hiếp tôi chỉ là bề ngoài đấy thôi! Tôi thường tự hỏi thầm: "Thật như thế này ư?" Tôi cố níu lấy cái hy vọng sắp tuột mất. Tôi không thể không nghĩ như thế này: tuy tôi "có tội”, nhưng mấy mươi năm làm việc, ít nhiều tôi cũng có chút thành tích chứ! Tiếp theo, đến tháng Mười hai; tháng Mười hai ấy mới khủng khiếp làm sao. Một đòn rất nặng giáng vào đầu tôi, nó thôi thúc cho Tiêu San sớm ngã bệnh rồi không qua khỏi! Từng tốp, từng tốp Hồng vệ binh đến liên tiếp, trèo qua tường, xô cửa vào nhà, vật gì chưa niêm phong là tự ý lấy đi. Tối đến, ban ngày đến. Đêm khuya, tôi mệt mỏi quá rồi, phải nhẹ nhàng cầu xin chúng về đi cho. Ấy là không kể chuyện Tiêu San bị chúng quất dây da bịt đồng vào mặt! Tình cảnh như thế, phỏng tôi còn hy vọng nỗi gì? Từ đó, tôi không suy nghĩ, ngược lại, tôi toàn tâm toàn ý làm một tên nô lệ.

Năm 1967 trở đi, tinh thần và diện mạo của tôi khác hẳn. Trong tâm linh tôi có cái gì tích luỹ được từ trước, tôi bỏ sạch. Tôi ưỡn ngực tiếp thu vô điều kiện mọi chỉ thị của "phái tạo phản". Về sau, tôi tự phân tích nói là ăn phải bùa mê thuốc lú, tôi bị thôi miên, nên không hay biết gì nữa. Kỳ thực, tôi chưa đào sâu đấy thôi. Trong khoảng hai năm ấy, những khi tôi thành khẩn bái mộ "thần linh", bên tai tôi lúc nào cùng văng vẳng một tiếng nói nhân từ: "Tin thần linh thì cả nhà sẽ được cứu". Nguyên là thuỷ chung tôi vẫn giữ trong đầu óc cái triết lý "bảo toàn tính mạng". Từ sau 1969, tôi thường nghĩ đến UHoàng, so sánh U với tôi. U là một người thật thà, họ Viên, chúng tôi gọi Ulà "UViên Viên". Mấy năm trước khi tôi và anh Ba tôi rời Thành Đô, Uchăm sóc chúng tôi. U rất mến chúng tôi. Chúng tôi ra khỏi Tứ Xuyên không bao lâu, Uxin thôi việc để về nhà, nhưng vẫn thường đến hỏi thăm tin tức chúng tôi. Thuỷ chung Urất quan tâm đến chúng tôi. Đầu năm 1971, tôi trở về Thành Đô lần đầu thì U đã mất rồi. Tôi không biết hỏi ai phần mộ của U ở nơi nào, kỳthực tôi cũng không đến được trước phần mộ U, thắp nén hương cảm tạ U đã chăm sóc, quan tâm đến chúng tôi. Chỉ khi so sánh Uvới tôi, tôi mới biết tôi nợ Umột tình thương sâu sắc bao nhiêu. Ukhông phải là nô lệ, càng không phải là "nô lệ tâm hồn".

Năm ngoái, tôi cố viết một đoạn trong hồi ký, nhắc lại chuyện hai năm ấy, nhốt trong "chuồng bò", tôi với đồng chí Vương Lỗ Ngạn, thái độ hai người khác nhau thế nào. Lúc ấy, tôi cho rằng mình có tội thì cách chuộc tội là thật sự cải tạo, cách cải tạo là cứ thực hiện đúng từng câu mọi huấn thị, mệnh lệnh, quyết nghị của "phái tạo phản". Lỗ Ngạn thì không phục. Ông ta luôn luôn tranh luận với người trong tổ giám đốc. Ông ta cho rằng có những sự sắp đặt không hợp tình lý, là có ý chỉnh người ta. Tôi thì lại cho rằng rèn luyện thì phải đau đớn, gian khổ, như thế càng có lợi cho cải tạo. Ngày nay nhìn lại mới thấy cách suy nghĩ của tôi thật là buồn cười! Tôi suy nghĩ theo những lời huấn thị của "phái tạo phản" nhưng lại đi đến kết cục của Đốtôiepski! Với "phái tạo phản", Đôt là một nhà văn "phản động", nhưng họ dùng mọi phương pháp, mọi thủ đoạn để bức bách tôi, cuối cùng cũng dẫn tôi theo con đường của Đốt. Điều đó cho thấy tư tưởng của mọi người rất hỗn loạn, chẳng ai đúng cả. Tôi nói thật đáng buồn cười, kỳ thực là đáng khóc. Tôi tự xưng là "trí thức", thì bị người ta cho là vì “phần tử trí thức" mà đối xử. Khi phê đấu, tôi vui lòng thừa nhận tôi là "quý tộc tinh thần", thực tế thì tôi là một tên "nô lệ tinh thần".

Đến năm 1969, tôi tìm ra một vài khe hở. Những người cho chúng tôi là nô lệ, cầm roi da huơ huơ trước mặt chúng tôi, thật ra chúng chẳng có cái quái gì hết! Chúng không biết ngày mai chúng sẽ ra sao nữa. Có lẽ có người thấy tôi nghĩ như thế cho là kỳ quặc. Thật ra cũng dễ lý giải thôi! Mấy mươi năm tôi viết sách làm văn, cuối cùng còn có được một chút "trí thức"; bây giờ thì tôi biết rõ vì sao "lũ bốn tên" hận thù "trí thức" làm vậy! Dù chỉ với một chút "trí thức", "mày" cũng thấy được khe hở của "tao", huống chi là "phần tử trí thức", huống chi là có văn hoá! "Mày" có vũ khí để đối phó với "tao" ư? Không được! Với "mày", không xiềng xích, không xong! Kỳ thực vũ khí có thể giúp "mày" đấy, nhưng không, "tao" không yên tâm được. "Mày" có vũ khí thì "tao" không ngủ yên. Phải làm cho "trí thức" của "mày" bị gột rửa sạch trơn!

Trong hai năm 1967-1968, tôi muốn đào cho sạch trơn chút ít trí thức của tôi đi, như quét rác trong nhà vậy. Nhưng không sao được. Quả nhiên, sau năm 1969, chút ít "trí thức" của tôi bắt đầu tác quái. Bùa mê thuốc lú mất dần hiệu lực. Tư tưởng của tôi bắt đầu hoạt động. Ngoài "phái tạo phản", bọn "cách mạng tả phái", còn có đội "tuyên truyền công nhân", "đại biểu quân đội"... Họ rất thích nói. Mỗi lời họ nói, mỗi hành vi, cử chỉ của họ, mắt tôi thấy cả, tai tôi nghe cả, tâm trí tôi ghi nhớ cả. Tư tưởng của tôi thay đổi, thay đổi rất chậm nhưng mà đang thay đổi, thay đổi trong nội tâm. Từ đó, tôi không còn là "nô lệ tâm hồn" nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy "nô lệ tâm hồn” đáng khinh bỉ biết bao!

Bề ngoài tôi vẫn như trước, tôi vẫn cúi đầu nhận tội. Nhưng tôi không thể nào suy nghĩ theo huấn thị của người khác nữa! Bỗng tôi phát hiện thấy xung quanh tôi là cả một cuộc lừa đảo to lớn. Tôi hoảng hốt, tôi đau khổ, tôi không tin. Tôi thấy ảo tưởng tiêu tan. Tôi đã lãng phí bao nhiêu thời gian quý báu. Nhưng tôi càng phải giữ gìn cẩn thận, bởi vì tôi sợ khi tôi thành tâm quỳ lạy trước sứ giả của "Thần linh" thì tôi tin tưởng, đến khi tôi thấy ra sự giả dối thì tôi lại hoảng sợ hơn. Bọn người hay nói những điều giả dối thì việc gì chúng cũng làm được! Dù thế nào tôi cũng phải bảo toàn lấy tính mạng mình. Tôi không tin rằng có thể cải tạo bằng khổ hạnh nữa. Trong trường hợp ấy, con đường của Đốtôiepski cũng không cứu nổi tôi. Tôi dần dần thoát khỏi tình trạng "tâm hồn nô lệ", trở lại tình trạng "thân thể nô lệ". Nói cách khác, tôi không phục tùng “đạo lý" nữa, tôi chỉ khuất phục trước quyền uy, cúi đầu trước vũ lực, nói những điều giả dối để được sống. Bây giờ tôi nhất định phải sống, để xem kết cục của chúng mày ra sao! Tôi lại nhớ năm 1966, tôi và Tiêu San, hai vợ chồng chúng tôi, nói câu này để cổ vũ nhau: "kiên trì rồi sẽ thắng".

Tiêu San không còn nữa, nhưng tôi được trông thấy "lũ bốn tên" bị diệt vong!

Đặt ra những điều giả dối, dùng những lời giả dối để lừa người, cũng dùng những lời giả dối để lừa mình, cuối cùng cũng bị người ta vạch mặt, bị toàn bộ nhân dân phỉ nhổ, bỏ rơi! "Lũ bốn tên" sụp đổ như vậy đó. Thời đại lấy "dã man" chinh phục "văn minh", dùng "vô tri" mà chiến thắng "trí thức", thời đại ấy cũng vĩnh viễn qua đi với "lũ bốn tên" rồi!

Năm 1969, tôi bắt đầu ghi chép, học thuộc "Thần khúc" của Đăng-tơ, bởi vì tôi nghĩ rằng "chuồng bò" chính là "địa ngục". Tôi gột rửa được triết lý nô lệ là bắt đầu từ ấy. Không có ai hướng dẫn, tôi tự mò mẫm. Tôi nghiến răng chịu đựng mọi thứ giày vò, không phải để chuộc tội nữa mà để tìm cho ra phải trái. Tôi lần từng bước, từng bước, không sợ quỷ ba đầu sáu tay, không sợ hồn ma đen thui, không sợ nữ quái đầu tóc là một bầy rắn độc, không sợ sa mạc nóng bỏng... Kinh qua mấy năm khảo nghiệm, tôi thu hồi lại được niềm hy vọng đã mất, cuối cùng ra khỏi "chuồng bò". Không nhất định là tôi nhìn rõ người khác, nhưng tôi nhìn rõ bản thân tôi. Mặc dù tôi đã già yếu rồi nhưng tôi vẫn có thể suy nghĩ bằng đầu óc của tôi. Tôi còn có thể nói những lời thật lòng, viết được văn chương của chính mình. Tôi không còn là "tâm hồn nô lệ", cũng không còn là "thân thể nô lệ'' nữa. Tôi thật sự là tôi. Tôi trở về với thân thể tôi.

Mười năm hạo kiếp ấy là một giấc mộng dài khủng khiếp làm sao!

Trung tuần tháng 6-1983

[1] Tiểu thuyết bộ ba trong đó có "Gia".

[2] cùng năm 1966

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.