Ba Kim tên thật là Lý Nghiêu Đường, tự Phê Cam, có nhiều bút danh, nhưng thường được biết với bút danh Ba Kim. Ông thuộc thế hệ sau Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn; nổi tiếng những năm ba mươi, cùng một lần với Lão Xá, Tào Ngu, Diệp Thánh Đào; hiện là chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc.
Ông người Tứ Xuyên, sinh năm 1904, tính đến nay đã ngoài 90. Gia đình ông vốn là một gia đình trưởng giả ở Thành Đô, cha mẹ đều mất sớm; năm 19 tuổi, ông rời Thành Đô, đến Nam Kinh học. Ba năm sau, ông du học Pháp, nhưng không bao lâu, bỏ học để theo đuổi nghiệp văn chương. Tác phẩm đầu tay của ông là cuốn tiểu thuyết Diệt Vong, đăng ở tạp chí Tiểu thuyết Nguyệt báo. Tác phẩm ấy, ông viết từ năm 1927, khi đang học ở trường Alliance Francaise[1] ở Paris. Sách in ra[2], được nhiều người biết tiếng; ông liền về nước, ở lại Thượng Hải, chuyên viết văn và dịch sách. Năm 1932, ông sang Nhật; mùa xuân năm 1934 lại trở về Trung Quốc, xuất bản tờ Văn học Quý san ở Bắc Kinh; năm 1935, trở lại Thượng Hải, mở nhà xuất bản Văn hoá Sinh hoạt. Trong chiến tranh chống Nhật, ông sống nhiều nơi, có trở lại Thành Đô, rồi đến Quế Lâm. Giai đoạn 1930-1949, ông sáng tác dồi dào, nhiều tác phẩm được xuất bản, trong đó có hai bộ tiểu thuyết trường giang: Ái tình tam bộ khúc,[3] gồm ba tập: Lộ[4], Vũ,[5] Điện[6]. Tiếp theo là Kịch lưu tam bộ khúc cũng gồm 3 tập Gia, Xuân, Thu.[7] Đã có Ba Kim tuyển tập-1936, Ba Kim đại biểu tác-1940. Sau giải phóng, có Ba Kim tuyển tập-1951, do Khai Minh, Bắc Kinh xuất bản. Ngoài những tác phẩm kể trên, ông dịch nhiều sách, phần lớn của các nhà văn Nga: Tourgueniev, Gorky... Đề tài chủ yếu của ông là nam nữ thanh niên trí thức, tình yêu và gia đình phong kiến.
Từ ngày Giải phóng, Ba Kim ít viết. Lý do là vì từ đó trở về sau, ở Trung quốc đã xảy ra nhiều cuộc đấu tranh tư tưởng cực kỳ quyết liệt, có lúc là đấu tranh chống Chủ nghĩa Cải lương, Chủ nghĩa Duy tâm, có lúc thì trực tiếp bảo vệ đường lối văn nghệ Mao Trạch Đông... dưới những khẩu hiệu: "Quán triệt phương hướng phục vụ Công, Nông, Binh, phục vụ Chủ nghĩa Xã hội", thực hiện phương châm "trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng", "Tiến hành phương pháp Chủ nghĩa Hiện thực Cách mạng kết hợp với Chủ nghĩa Lãng mạn Cách mạng".
Các cuộc đấu tranh ấy cứ kéo dài, liên lụy đến nhiều văn nghệ sĩ. Một là "Phê phán phim Vũ Huấn", năm 1951, hai là “Phê phán cuốn "Nghiên cứu Hồng lâu mộng" của Du Bình Bá”, năm 1954; ba là “Phê phán quan điểm học thuật duy tâm của Hồ Thích”, năm 1954; bốn là “Đấu tranh chống tập đoàn phản cách mạng Hồ Phong”, năm 1955; năm là “Đấu tranh chống phái hữu trên mặt trận văn nghệ”, năm 1957; sáu là "Đấu tranh chống Chủ nghĩa Xét lại”, năm 1959; bảy là “Phê phán Chủ nghĩa Giáo điều”, năm 1960; tám là "Đại cách mạng Văn hoá", từ năm 1966 đến năm 1975.
Bảy cuộc đấu tranh trước, Ba Kim không dính, nhưng đến cuộc đấu tranh thứ tám, thì ông không tránh khỏi. Và, như ông nói, đang là "người", ông đã biến thành "bò", bị nhốt vào "chuồng bò" suốt mười năm. Đại cách mạng Văn hoá chấm đứt, ông mới từ "bò" trở lại làm "người". Bấy giờ ông lại cầm bút. Biết mình không còn sống được bao nhiêu nữa, ông tranh thủ viết để bù lại mười năm mất trắng. Đó là hoàn cảnh sáng tác Tuỳ tưởng lục mà chúng tôi trích dịch. Tác phẩm này có thể nói là cuối đời ông.
Tùy tưởng lục gồm 5 tập, tập đầu xuất bản 1978, tập cuối xuất bản năm 1986. Trong thời gian này, ông vào bệnh viện chữa trị hai lần, một lần ngả gãy chân, một lần mắc bệnh thần kinh, nằm hàng tháng trời. Mặc dù tuổi cao, sức yếu, bệnh tật liên miên, ông vẫn cố hoàn thành kế hoạch đặt lúc đầu, mỗi ngày viết một ít, xong bài nào, đăng báo bài ấy. Tập đầu không có đề riêng, mà gọi là Tùy tưởng lục tập một; tập hai đề là Chân thoại[8], tập ba đề là Sách cầu[9], tập bốn đề là Bệnh trung[10], tập năm là Vô đề. Đó là tên từng tập, thật ra, mỗi bài đều có tên riêng, nghĩ đến chuyện gì, viết chuyện đó, đúng như cái tên chung "Tuỳ tưởng". Phần lớn là những thiên hồi ký, hoặc có tính chất hồi ký.
Chọn dịch những bài này, chúng tôi cho là có nhiều ý nghĩa nhất, một là những bài cũng cho chúng ta biết đời sống văn học Trung Quốc trong hơn năm mươi năm, từ 1930 trở về sau, đặc biệt là giai đoạn 1926 đến 1975 qua cảm nghĩ của một nhà văn có tiếng là nhớ lâu, nhớ tỉ mỉ. Đủ thứ chuyện, chuyện của bản thân, chuyện của người khác, không sót chuyện nào. Một điểm nữa là những điều ông nói đều là những "lời nói thật", có gì nói nấy, không che giấu, không tô vẽ, nhất là khi nói về bản thân mình, khi phân tích thái độ, tình cảm, tâm trạng của mình trong các cuộc đấu tranh. Về Tuỳ tường lục, trong Lời tựa chung, tác giả nói một cách khiêm tốn rằng: "Những trang này chỉ ghi lại cảm nghĩ của tôi, tuỳ lúc, tuỳ nơi, không có hệ thống mà cũng chẳng cao siêu gì, nhưng cũng không ôn hoà, êm thấm, không bệnh mà rên, không đau, không ngứa". "Tôi không nói những điều mọi người nói. Nói như thế thì nói cũng bằng không nói; viết cũng như không viết". Báo chí Trung Quốc thì nhận định: "Đây là một tác phẩm lớn, chân thực, sinh động, nhiệt tình của tác giả thấm qua từng trang giấy".
Người dịch
Trương Chính và Ông Văn Tùng
Bính Tí, Tháng 5 năm 1996

Nhà văn Ba Kim (1904-2005)
[1] Liên minh pháp
[2] Khai Minh, 1929
[3] Nhà xuất bản Lương Hữu 1936
[4] mây mù
[5] mưa
[6] chớp giật
[7] Nhà xuất bản Khai Minh
[8] Lời nói thật
[9] Tìm kiếm
[10] Nằm bệnh