Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 316 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NẰM BỆNH - 1

❊ ❊ ❊

Suốt bảy tháng trời tôi không ngồi vào bàn viết giờ khắc nào hết. Xa bạn đọc lâu ngày, tôi cảm thấy buồn. Số là ngày mồng Bảy tháng Mười một năm ngoái, tôi đi trong nhà ngã gãy chân trái, phải vào bệnh viện. Tôi sinh hoạt liền hai tháng với cái giá gỗ mà bác sĩ đóng cho, ngày này sang đêm khác dài dằng dặc. Tôi bị hồi ức và những cơn ác mộng giày vò hết nỗi và luôn luôn gây phiền hà, lo lắng cho những người thân vào săn sóc tôi (con gái, con rể, con trai, cháu gái và mấy người thân thích ít tuổi, họ thay nhau vào ở trong bệnh viện, thường bị tôi làm cho hoảng sợ, không ngủ được). Tôi thường nói mê, lẫn lộn cảnh thực và cảnh mộng. Có lần, anh con rể nghe tôi nằm trên giường nói một mình: "Một tấn bi kịch kết thúc rồi..."[1] làm anh ta hãi quá. Lúc đầu óc tỉnh táo, đặc biệt những đêm dài không ngủ được, tôi cứ trằn trọc tìm trả lời câu hỏi: "Ta kết thúc đời ta ở đây ư? Ta không chịu như thế, ta còn mắc nợ nhiều, không thể phủi tay mà đi như thế này!". Tự hỏi rồi tự trả lời, ngày này qua ngày khác, cứ như thế, rồi tình hình tựa hồ khá dần. Cuối cùng, tôi xuống giường bắt đầu tập đi. Nửa năm trôi qua.

Tôi ra viện. Nhưng còn lâu mới gọi là "bình phục”, thậm chí tôi mang những cơn ác mộng về nhà. Ngủ không yên giấc, đêm khuya thì gào lên hoặc nói lảm nhảm mấy câu một cách nghiêm túc. Các thứ di chứng làm khổ tôi, tinh thần tôi không thể nào bình tĩnh được. Ban ngày không thoải mái, ăn không ngon miệng, người gầy xọp. Tôi vẫn tiếp tục tập đi, nhưng không có kế hoạch, mà cũng không tin tưởng. Mấy hôm trước, tôi rất sợ bóng tối, sợ ngủ. Đêm nằm trên giường, đầu óc cứ như bị con quái vật nào giày vò. Người ta lo cho tôi, tôi cũng không thể không hoài nghi: “Đã gần lúc kết thúc rồi chăng?”, Nhưng tôi vẫn chưa nản lòng. Tôi cứ đinh ninh rằng tôi phải sống. Tôi không tin những cơn ác mộng có thể thắng nổi tôi. Hai đêm qua, tôi ngủ được yên giấc, không nằm mộng, cũng không bị quấy nhiễu. Anh con rể đem một cái quạt máy đặt bên người, chẳng biết có phải vì nó có tác dụng hay không. Tóm lại là tôi không sợ ngủ nữa.

Trong khi nằm bệnh, tôi nhận được bao nhiêu thư của bạn bè và độc giả gửi tới. Nhiều người quen thuộc và cũng nhiều người chưa từng gặp mặt. Ngoài những lời động viên hoặc hỏi thăm, còn có cả kinh nghiệm chữa trị, phương thuốc gia truyền, các thứ thuốc quí v.v… Ba tháng đầu, tôi nằm trên giường không cử động được, chỉ đọc cho nghe mà thôi. Thân thiết bao nhiêu. Nước mắt tôi ràn rụa như con trẻ. Tôi không có cách nào trả lời, vả lại, những cơn ác mộng cứ giày vò không ngớt. Tôi cũng không nhớ được những lời đầy thiện ý kia. Thư cứ gửi đến liên tiếp, từng tập từng tập, chất trong ngăn kéo bên giường bệnh, lại bảo mấy đứa con cháu cất đi. Tôi cũng không nhớ ai gửi. Nhưng những bức thư của bạn bè (kể cả của độc giả) ấy đều cũng chẳng phải như những hòn đá chìm nghỉm xuống đáy biển, mà chúng đã đem lại cho con bệnh là tôi lòng can đảm muốn sống. Giả sử không có những bức thư kia, e rằng hôm nay, tôi chưa rời khỏi bệnh viện.

Tin tôi ra viện đăng trên tờ "Đại công báo", bạn bè người Nhật cũng gửi thư đến chúc mừng, ở bệnh viện, quả thực tôi được ưu đãi, mấy lần tiếp khách nước ngoài trong phòng, lại còn được dẫn ra gặp Tổng thống Pháp. Mấy người trong tổ quay phim "Đêm lạnh" (Hàn dạ, 1940) đến tìm tôi hỏi kinh nghiệm xây dựng nhận vật và cách nhìn của tôi ngày nay. Lại có người vào bệnh viện xin nặn tượng hoặc chụp ảnh. Làm tôi cảm động nhất là ngày xuân, các cháu Cung thiếu nhi vào múa hát úy lạo bệnh nhân, có một tốp diễn viên trẻ vào phòng tôi biểu diễn cho "Cụ Ba Kim" thưởng thức. Một cô nhanh nhẹn, ngây thơ đi tới gần tôi, ghé vào tai tôi báo cáo tiết mục, lại giải thích thêm. Các cô múa hát thật hay, thật đẹp. Khi các cô cáo từ đi ra, tôi chảy nước mắt.

Tôi ăn tết trong bệnh viện. Chiều Ba mươi, đứa con gái thưa với tôi rằng: chúng rất muốn tổ chức một bữa cơm đoàn tụ cùng tôi. Lúc đầu tôi không đồng ý. Tôi nghĩ rằng mình gây ra tai họa thì mình phải gắng chịu lấy, vả lại tôi đã sống trong bệnh viện quen rồi. Nhưng chúng nó nhất định không nghe, kéo nhau vào cả. Mọi người ngồi xung quanh một chiếc bàn nhỏ, ăn xì xụp, nhưng không khí không lấy gì làm vui. Tôi ăn vài miếng, nhưng trong bụng chan chứa tình cảm. Ăn xong bữa cơm đoàn tụ, chúng nó đi dọn bát đĩa sửa soạn về nhà. (Đêm đó, chú em tôi trực thay). Vợ chồng Tào Ngu đến, nói rằng đón giao thừa với tôi, lại hẹn cả vợ chồng ông La Tốn cùng đến. Bọn con về rồi, vợ chồng Tào Ngu ngồi lại đến tám giờ. Họ ở khách sạn An Tân, đi lại thuận tiện. Cuộc sống lạnh lẽo của tôi làm cho vợ chồng họ cảm động. Tào Ngu lại là người bạn cũ rất quan tâm đến tôi. Lần này ra Thượng Hải, gần như ngày nào cũng vào thăm. Anh vốn thích vui nhộn, nên không muốn tôi cô đơn. Tôi và chú em nói mãi mới thuyết phục được vợ chồng họ khoác áo ra về.

Chú em săn sóc cho tôi nằm ngủ, được một lát thì vợ chồng La Tốn vào. Họ bận chút việc, nên đến chậm, nói là để chờ giao thừa với tôi. Nhưng Tào Ngu nói tôi đã đi nằm đang mơ màng, nên họ ngồi nói chuyện với chú em tôi một chốc rồi buồn bã cáo lui.

Tôi nghĩ bây giờ tôi sẽ ngủ được một giấc ngon lành, không ngờ đêm hôm đó, tôi không chợp mắt được mấy. Tình bạn đã làm cho cõi lòng tôi xao động. Trước đây tôi đã nói tôi sống nhờ vào tình bạn. Tôi rất vui mừng được chuyện trò với người quen, cùng nhau uống một chén trà, một cốc bia, có thể ngồi nói chuyện với nhau thâu đêm. Nhưng nằm trong bệnh viện tiếp đãi bạn bè, nói nhiều một chút, ngồi lâu một chút, tôi cảm thấy không thể yên tâm, không còn hơi sức nữa. Lẽ nào tôi thay đổi rồi chăng? Tôi không trả lời được, mồ hôi toát đầm người.

"Hãy tìm lại cái tôi ngày trước”. Bỗng nhiên tôi thốt ra như thế. Không phải tôi chỉ nói trong những đêm u tịch, mà suốt thời gian nằm bệnh, tôi hay nghĩ đến câu ấy. Nhưng cũng biết không thể nào tìm lại được "cái tôi ngày trước". Tinh lực của tôi đã cạn kiệt rồi. Mười năm "Văn cách" quyết không phải là một cơn ác mộng. Hậu quả tai hại của nó còn lưu lại trong tôi. Hôm nay, nó còn đục khoét máu thịt tôi từng miếng, từng miếng như tằm ăn dâu. Không thời khắc nào, tôi không phải vật lộn với nó, cho sự sinh tồn của thế hệ sau. Tôi đau khổ nhận thấy trên người con tôi, cháu tôi, những vết thương mang từ nông thôn về khó lòng hàn gắn được... Tôi lại nhớ lời tôi nói trong mộng. Dù đã đến lúc kết thúc, cũng chưa phải là "một tấn bi kịch", dù tôi có quên bạn bè trong quá khứ, tôi nghĩ rằng tôi cũng được tha thứ, nếu tôi không để lãng phí chút tinh lực cuối cùng còn lại của tôi.

Phòng tôi nằm ngoảnh về hướng Nam, phía dưới ban công là vườn hoa, cạnh bãi cỏ là một bể nước. Lần này tôi nằm ở tầng thứ ba. Tháng 7 năm 1980, tôi nằm ởtầng hai thường ra đứng tựa lan can nhìn xung quanh, sáng nào cũng thấy một người rất quen đi đi lại lại cạnh bể nước. Đó là anh Triệu Đan. Bấy giờ, anh chưa biết anh bị ung thư, tôi cũng biết ba tháng sau đó là phải vĩnh biệt ông bạn diễn viên tài hoa ấy, Ba năm đã trôi qua, lần này vào viện, tôi đi lại khó khăn, nhưng thỉnh thoảng cũng ra lan can đứng tựa một lúc. Cũng lại trông thấy có người đi quanh quẩn bên bể nước, có người thì ngồi nghỉ chân. Thấy bệnh nhân khoác áo trắng, tôi phảng phất như thấy anh Triệu Đan, nhưng còn tìm đâu ra giọng hát âm vang của anh nữa?

Đứng trước lan can, tôi thấy đồng chí Hoàng Tá Lâm đi tản bộ trên bãi cỏ. Anh được ra viện trước tôi. Anh là một diễn viên kịch nổi tiếng, nằm ở phòng cạnh phòng tôi. Sáng sớm ngày mồng Một Tết, anh sang chúc tết tôi. Cùng đến có cả đồng chí Trần Tây Hòa, biên đạo phim "Gia đình". Anh Tây Hòa ngồi trên ghế lăn, chờ người đẩy vào. Anh là bệnh nhân nằm lâu nhất ở tầng hai, người vẫn yếu lắm, nói được rất ít nhưng gặp người quen, cũng cười, cũng nói. Vài tháng sau, trước khi ra viện, tôi có xuống tầng hai thăm Tây Hòa hai lần. Vợ anh ngồi cạnh săn sóc. Anh luôn miệng than thở: "Không ra cuộc sống của con người". Tôi không nói được câu nào an ủi anh. Tôi nhớ những năm 40, ngày chúng tôi tụ họp ở phường Hà Phi, nhớ đến lần diễn xuất vở kịch "Trầm uyên" của anh. Tôi cũng không quên được phong cách sinh động của anh khi diễn vở kịch nổi tiếng "Đó chẳng qua là ngày xuân" của Lý Kiện Ngô, Tôi nuốt nước mắt lặng lẽ đi ra. Bao nhiêu lời định nói, tôi đành để bụng. Tôi hy vọng anh sống biết bao nhiêu! Không ngờ sau khi tôi ra viện không đầy 50 ngày, thì nhận được giấy cáo phó của anh. Nói gì cũng là thừa, anh không còn nghe nữa!

Mồng 5 tháng 7 năm 1984

[1] Tác phẩm của Ba Kim

2

Nằm trong phòng bệnh, tôi sợ nhất ban đêm: một là sợ ác mộng, hai là sợ mất ngủ. Thời gian đầu, tôi thường hay thấy những giấc mơ kỳ quặc, cho cái giá gỗ là ma quái hoá thân, gọi con cái, anh con rể hoặc người thân đến trực, tỉnh dậy, bảo chúng tháo ra huỷ đi hoặc đưa đi chỗ khác. Tôi không còn đủ sức "cầm trường mâu" mà đấu với nó, đành phải nhờ chúng nó giúp một tay. Giấc mơ kỳ quặc không có tác dụng gì, tôi để yên cho người ta cột chặt tôi vào giá gỗ suốt hai tháng tròn.

Sau đó, thì cái giá này được tháo ra, cũng ít mộng, nhưng lại nghĩ nhiều. Con người tôi cũng hơi kỳ, khi chân trái gãy bị cột vào giá gỗ, mặc dù nằm mộng chỉ muốn đánh nhau với cái "giá gỗ" ấy, nhưng tôi lại hy vọng và tin tưởng vào cái cách chữa trị hết sức "bảo thủ" và "cực kỳ bảo hiểm" kia. Tôi rất lạc quan, chờ cho đến lúc cái giá gỗ được tháo ra, bọn con mua bánh ga-tô về chúc mừng tôi, bấy giờ từ hy vọng, tôi đâm ra nghi hoặc. Tôi bắt đầu nghĩ lung tung, càng nghĩ càng thêm phức tạp, càng rối loạn, tự mình giải thích tính bảo hiểm của nó; khi nào đoạn xương gãy liền lại là có thể sống tiếp năm tháng cuối cùng của cuộc đời, dù phải nằm trên giường, hay phải ngồi trên xe lăn mà hoạt động, thế cũng là "tốt đẹp" lắm rồi, "hạnh phúc" lắm rồi. Cách giải thích ấy làm cho tôi đau khổ. Tôi âm thầm tự biện luận, lại âm thầm tự bác đi. Cuối cùng, tôi cảm thấy mệt mỏi, giương mắt nằm nhìn trân trân lên trần. Trong phòng có một ngọn đèn để sáng suốt đêm. Hai tháng sống với cái "giá gỗ", kết quả là đầu óc tôi cơ hồ không chuyển động được nữa, nằm nghỉ trên giường cứ theo thói quen nhìn vào một điểm nhất định.

Tôi nằm mong trời sáng. Sau sáu giờ, bệnh viện mới bắt đầu hoạt động trở lại. Bọn con trực đêm lo bữa ăn sáng cho tôi, cho tôi uống thuốc. Tự nhiên mắt tôi nhắm lại. Suốt đêm, tôi động cân não, bây giờ tinh lực cạn kiệt rồi, vả lại bóng đêm đã tiêu tan thì tôi cũng được yên tâm.

Ngủ khò khò một lúc, lại giương mắt ra, người trực đã đến. Tôi mới biết được một ít chuyện ở nhà, có thể hỏi chuyện, bảo đọc các bức thư gửi đến cho tôi nghe. Trực buổi chiều là con gái tôi và đứa cháu gái. Sau khi chị y tá rời khỏi phòng bệnh lúc hai giờ chiều, mẹ con chúng nó lau người cho tôi, đỡ tôi xuống giường, viết thư thay tôi, giúp tôi tiếp khách, khi nói năng khó khăn thì thay tôi trả lời, đưa bản thảo và tiễn những người đến phỏng vấn hoặc xin đề chữ. Hai mẹ con lại chuẩn bị bữa tối cho tôi, đỡ tôi lên giường, chờ người trực đêm đến mới ra về. Không hiểu làm sao, thấy mẹ con chúng nó rời khỏi phòng, tôi cảm thấy quyến luyến, không muốn rời. Có lẽ vì tôi sợ đêm tối lại đến.

Sau khi giá gỗ ở chân tháo ra, một ngày sinh hoạt của tôi ở bệnh viện diễn ra như thế này. Đương nhiên hàng ngày cô y tá đến trải nệm, đưa thuốc, bác sĩ đến kiểm tra, khuyến khích tôi tập đi. Vì tôi đã gần 80 tuổi rồi, bác sĩ cũng không yêu cầu nghiêm khắc, còn tối lại lười, cứ muốn tự do theo ý mình, nên kết quả không được bao nhiêu. Bác sĩ lại bàn, thấy tôi không tập đi, cũng ít kiểm tra nên đứa con trai tôi cho là tôi đã ra viện được rồi.

Lúc này tôi không còn mất ngủ nhiều nữa. Tối nào tôi cũng uống hai viên "an thần", có thể ngủ được ba, bốn tiếng đồng hồ. Ý nghĩ của đứa con trai tôi càng làm tôi yên tâm: đã ra được tức là không có gì nghiêm trọng nữa. Tình hình lại khá dần, có điều thỉnh thoảng lại có nghi ngờ một chút: ra viện như thế này thì sinh hoạt làm sao, hoạt động làm sao đây? Nhưng bạn bè cứ an ủi tôi, bác sĩ cũng an ủi tôi: "Ông tiến bộ nhanh lắm rồi". Cách nghĩ ấy không khỏi có chút tự ti.

Được vài ngày, cô Duy Am, người con gái lớn của Kiến Ngô đến Thượng Hải công tác, vào bệnh viện thăm tôi. May năm trước, khi tôi còn là “phần tử phản cách mạng” chưa bị đội mũ, cô ấy cũng từng đến Thượng Hải công tác, đến nhà tôi đem thư và tiền, đã đưa cho tôi năm trăm đồng, đó là tiền của Nhữ Long.

Sau đó Nhữ Long gửi thư nói là làm theo ý kiến của Kiến Ngô. Không bao lâu, con gái thứ hai của Kiến Ngô cũng đến Thượng Hải công tác, đưa cho tôi ba trăm đồng tặng tôi. Lúc tôi khó khăn, khốn đốn, bạn bè tham gia giúp đỡ. Gặp lại cô Duy Am trong bệnh viện, tôi nước mắt lưng tròng, nói lắp bắp. Tình bạn của bố cô quả như là "đưa than đến cho người nằm trong tuyết", cảm động lắm. Tào Ngu cũng có mặt ở đó, anh không hiểu tâm trạng của tôi, lại lo cho sức khoẻ của tôi. Anh con rể của tôi cũng vậy. Cô Duy Am cho biết tình hình của bố cô gần đây nhất, tôi mới hay anh thường ngồi trên ghế xô-pha nghỉ ngơi, cứ nhắm nghiền mắt lại, tựa hồ không đau khổ chút nào. Kỳ thực, hai ba hôm trước lúc mất, anh cảm thấy trong người khó chịu. Cô Duy Am bằng con đường cửa sau đưa bố đến hai bệnh viện, nhờ bác sĩ chuyên khoa kiểm tra, đều nói qua loa rằng lục phủ ngũ tạng chẳng sao cả, bệnh nhân cũng chẳng biết nói gì thêm, về đến nhà được một ngày thì vĩnh biệt người thân. Cô Duy Am đau khổ kể lại, tôi ngồi nghe cũng đau khổ, nhưng tôi còn muốn biết nhiều hơn về anh. Tào Ngu sợ tôi xúc động quá, sẽ xảy ra chuyện gì chăng. Anh con rể đến trực cũng lo tôi chịu đựng không nổi, anh ta nghe nói cô Duy Am còn phải đến thăm người bạn khác của bố là Trần Tây Hoà (nằm ở tầng hai, khoa nội) bèn lấy cớ là sắp hết giờ thăm bệnh nhân, giục cô đi xuống nhanh đi. Cô Duy Am không kịp kể hết thì vội vội vàng vàng đi ra. Tào Ngu cũng yên tâm mà ra về.

Cả đêm tôi cứ nghĩ đến tình cảnh của Kiến Ngô mãi. Lúc đầu tôi mừng gặp Duy Am, không để cô ấy hỏi hết những điều cô muốn hỏi. Tôi nhớ nhiều chuyện về Kiến Ngô, đối với tôi, anh không hề có chút tư tâm nào, quả thực anh đối đãi tôi như một người bạn trung thực, dù phải nằm ngửa trên giường bệnh, viết run tay, xem báo khó khăn. Tôi có thể viết gì về anh đây? Hơn năm mươi năm làm việc tích luỹ được nhiều, thành tích văn học của anh mọi người đều nhìn thấy cả. Lần cuối cùng tôi gặp anh là tại nhà anh. Anh muốn tôi viết mấy chữ ngoài bìa "Tuyển tập kịch" của anh. Tôi nói chữ tôi xấu, từ chối, anh nhất định yêu cầu tôi, tôi kiên quyết không nhận. Anh nói: "Tại sao lúc đầu anh đưa ra giới thiệu với bạn đọc”. Hai chúng tôi chẳng ai nói gì nữa. Cuối cùng tôi nhượng bộ, làm theo lời anh, anh mới vui vẻ lên. Bây giờ nhớ lại, tôi hối hận bao nhiêu. Tại sao chuyện nhỏ như thế mà phải tranh luận với anh?

Tôi nhớ đến bức thư của Nhữ Long. Đó là một bức thư trong ít bức thư tôi đọc đi đọc lại mấy lần khi nằm bệnh viện. Trong thư có đoạn người ta không thể quên được: "Đại Cách mạng Văn hoá'' vừa bắt đầu, những nhà ở cạnh chúng tôi, bên phải, bên trái, ngày nào cũng bị lục soát. Không khí thật căng thẳng quá chừng. Không ngờ một hôm anh ấy đến. Lúc đó, cả nhà đang bị dồn vào hai gian phòng bé tí, rất chật chội. Anh ấy rút trong cặp ra một phong bì nhỏ nói: Đây là hai trăm đồng, anh cầm lấy mà sống. Tôi cho rằng tôi có tội thì phải chịu khổ, không lấy. Anh lặng lẽ ra về. Hồi đó, bạn bè tôi đều chẳng ai lai vãng, mà cảnh ngộ của anh một sớm một chiều sẽ nguy đến nơi, nhưng anh không sợ bóng sợ gió, cứ đến tìm tôi giúp đỡ".

Tiếp theo, Nhữ Long than thở nói: "Thật là một tấm lòng vàng! Không phải dễ dàng mà làm được như thế". Nằm trong phòng bệnh, tôi nghĩ đến chuyện cũ của Kiến Ngô không thể quên được hai câu ấy của Nhữ Long. Đó là lời diễn từ thích đáng đối với Kiến Ngô. Tấm lòng vàng ấy không thể tiêu trầm trong cõi nhân gian này. Nằm không ngủ được, tôi cứ lẩm nhẩm tên anh "Kiến Ngô, Kiến Ngô". Thật đáng kính trọng biết bao nhiêu.

 3

19 tháng 7 năm 1989

Người ta cho rằng nằm bệnh thì có thể được nghỉ ngơi. Kỳ thực không phải.

Tôi nằm bệnh mà phải suy nghĩ nhiều quá, nghĩ bất cứ chuyện gì, và thường xoay quanh một chuyện, không dứt ra được, tựa hồ như không nghĩ cho đến cùng cực, thì chưa thôi. Thật ra, nghĩ lung tung như thế thì chẳng đi đến đâu. Thí dụ, chuyện sống chết là chuyện tôi nghĩ nhiều nhất. Tôi rất muốn biết tôi còn lại bao nhiêu thời gian nữa, nên sắp xếp như thế nào đây? Mà tôi thì cứ nằm ngửa trên giường bệnh, không cử động được, nhìn thấy thời gian đi vùn vụt, chẳng níu lại được một phút một giây nào. Càng nghĩ càng sốt ruột. Tôi không quên được những ngày ghê sợ ấy. Cùng ở địa phương này, cũng vào cỡ tháng này, chuyện xảy ra hoàn toàn khác. Trong mấy năm ấy, tôi không dám đi bệnh viện khám, vì sợ hai việc, một là, trên sổ khám, họ sẽ phê thêm cụm từ: "phản động quyền uy" hoặc là "phản cộng lão thủ", hai là nếu đến ghi tên ở chỗ đăng ký của bệnh viện quần chúng chuyên chính, thì phải tỏ ra mình đã nhận tội. Chúng tôi đi khám bệnh, phải xin phép tổ giám đốc cơ quan mình, họ tùy ý phê vào sổ khám của mình. Không cần nói cũng rõ, cách làm ấy đã bị thủ tiêu cùng một lần với "lũ bốn tên" rồi. Lần này, tôi nằm ở bệnh viện nghe từ miệng người bạn đã quá cố Tây Hòa nói câu "cuộc sống không phải của con người". Câu ấy, anh nói về nỗi đau khổ bệnh tật của bản thân anh. Thật ra, nằm ngửa trên giường bệnh, nhớ lại cuộc sống thời "Văn cách", tôi cũng mấy lần thốt ra câu ấy "Cuộc sống không phải của con người". Thời kỳ ấy, chúng tôi đâu có được đối đãi như con người?! Bao nhiêu kẻ phải trải qua cuộc sống “không phải của con người". Bao nhiêu kẻ đã phát huy thú tính mà đối đãi vối đồng bào ruột thịt!

Tôi xúc động, mồ hôi chảy ròng ròng, người run cầm cập. "Cuộc sống không phải của con người" ấy từ đâu mà ra? Nó có thể trở lại nữa không? Tôi không biết chắc chắn. Nghĩ đến cùng, nghĩ liên tiếp mấy đêm liền, kết quả là lần này lượt khác tôi nằm mộng thấy mình đấu tranh với thú. Tôi không sốt cao, nhưng cứ nói lung tung, thậm chí cảnh tượng thấy trong mộng kể lại với người trước mặt, (lúc bấy giờ cũng nghĩ là mình đang nằm mộng, nhưng lại không cách nào làm cho cảnh tượng thấy trong mộng tan biến được). Bọn con cái, chúng nó cười tôi, khuyên tôi, muốn thuyết phục tôi đừng nói lung tung nữa. Chúng nó nói, xưa nay cảnh thấy trong mộng đều là hoang đường, không nên nhọc lòng nghĩ ngợi. Chúng nó không thuyết phục được tôi, tôi lại tự thuyết phục mình. Tôi nghĩ ra rồi: Mười năm "chuồng bò" đã trừng phạt tôi, làm tôi mê muội, tin rằng đó là sự thật.

Nhớ lại đầu những năm Bảy mươi, lúc ở Trường Cán bộ 7-5 Phụng Hiền, có tên cầm đầu tổ đánh "Ba Kim" (tổ chuyên án về tôi) có đăng một bài báo đề là "Ghi chép về chăn bò", hắn đắc ý chế nhạo thái độ xấu xa của "đàn bò". Nghe người ta kể lại nội dung thiên văn chương ấy, tôi buồn vô cùng, coi con người như thú vật là bộc lộ thú tính của mình, thật là bôi tro trát trấu vào mặt cái nước văn minh lâu đời chúng ta.

Nằm trên giường bệnh, tôi nghĩ đi nghĩ lại về "cuộc sống không phải của con người" trong mười năm ấy. Chỉ vì sùng bái mù quáng mới có thể biến người thành bò, trách nhiệm chủ yếu vẫn là tự mình tôi. Không cần nói, ngày nay vẫn có người muốn làm kẻ chăn bò, nhưng tôi thì tuyệt đối không làm bò nữa! Món nợ "chuồng bò" mười năm ấy, xin để các sử gia thế hệ sau tính giùm cho. Ngày thời kỳ đen tối Trung cổ ởChâu Âu, cũng có khá nhiều chuyện như thế, lịch sử đã ghi chép lại, huống hồ là "Văn cách" mười năm, khẩu hiệu hô rầm trời, biểu ngữ giăng đầy đất.

Tôi đã nói về chuyện con cái bịt tin tức khi tôi nằm trong bệnh viện. Chúng nó không cho tôi biết chút gì về ông bạn tốt của tôi. Những người ở trong bệnh viện thường có dịp tiếp xúc với cái chết. Tôi vào nằm khoảng bốn mươi ngày, đạo diễn trứ danh Ngô Vĩnh Cương cũng ngã bị thương, vào viện. Anh nằm phòng kế bên phòng tôi, khi vào viện đã hôn mê. Nghe nói anh đang thảo luận với người nào đấy về một kịch bản mới, rất hăng, khi ngoảnh lại khạc đờm vào ống nhổ thì ngã gục, nói là đứt mạch máu não, lại nói là não bị thương tổn. Nghe nói nhà không có ai, chỉ có người con dâu đến săn sóc. Đều là những chuyện nghe nói lại. Tôi nằm ngửa trên giường bệnh, ngay trần thiết trong phòng, cũng không nhìn được rõ, huống là chuyện ởngoài, bên hàng xóm.

Tôi và đồng chí Ngô vĩnh Cương không quen nhau lắm. Hai ba năm trước, có một lần cùng bạn bè đi xem phim "Đêm mưa ở núi Ba Sơn", gặp anh. Xem xong, anh đưa tôi về một quãng đường, vừa đi vừa giải thích cấu tứ của anh khi đạo diễn phim ấy. Cuốn phim và những lời anh nói làm tôi cảm động, từ đáy lòng tôi rất cám ơn anh. Tôi cũng cảm thông với anh về chuyện anh gặp phải hơn hai mươi năm ấy. Về sau, phim "Đêm mưa ở núi Ba Sơn" được giải thưởng. Tôi mừng cho người đạo diễn kỳ cựu ấy được gặp lại ánh sáng, mong mỏi anh làm được nhiều cuốn phim hay hơn nữa. Tựa hồ anh cũng rất tin tưởng. Thật không ngờ anh đang cấu tứ, sáng tạo thì bị bệnh. Lúc đầu, đưa đi một bệnh viện khác, hôm sau chuyển đến bệnh viện này. Từ chủ nhật đến sáng thứ năm, anh bất tỉnh, các y tá thay phiên nhau trông nom anh. Qua câu chuyện của các con tôi nói với nhau, tôi cũng biết được chút ít tình hình của anh. Đứa con gái tôi thay tôi sang thăm anh. Nghe nói trên chiếc bàn đặt ngoài phòng có để sẵn bút giấy để những người đến thăm ghi tên. Tôi bảo anh con rể tôi, thay tôi sang ghi tên tỏ lòng kính trọng cuối cùng của tôi đối với đồng chí Ngô Vĩnh Cương.

Ngày 18 tháng Mười hai, sáng sớm tôi bỗng nghe có tiếng khóc, liền nói với anh con rể trực hôm ấy rằng: "Nhất định là đồng chí Vĩnh Cương đi rồi". Buổi sáng, di thể của anh do mấy người phụ trách trong giới điện ảnh đưa xuống tầng dưới. Tôi bảo mở cửa phòng tôi, nằm ngửa trên giường, thấy một đám người đi qua. Sau đó thì hành lang lại vắng ngắt.

Đó là lần đầu tôi nằm bệnh, tiếp xúc với cái chết. Đồng chí Vĩnh Cương mất đi, nhưng mấy nhân vật trong cuốn phim "Đêm mưa ở núi Ba Sơn" vẫn sống trong lòng tôi, thậm chí họ thường xuất hiện trước mắt tôi khi tôi nằm trên giường bệnh. Vì những con người ấy, tôi cần phải sống.

4

Mồng 3 tháng 8 năm 1989

Trung tuần tháng năm, tôi về nhà sau khi nằm viện sáu tháng mấy ngày. Đi cà nhắc về, tôi mới phát hiện thấy chân bị gãy, ngắn mất 3 centimet.

Khi ở trong bệnh viện, hầu như tất cả mọi người (kể cả bạn bè đến thăm hỏi) đều nói với tôi: "Anh như thế là lành nhanh đấy, bây giờ cần phải tập đi lại". Về nhà, tôi cũng nói với những người đến thăm hỏi: "Tôi cần phải tập luyện nhiều". Nhưng tôi không đặt phương án, không có kế hoạch; người này nói nên làm như thế này thì tôi làm như thế này, người kia nói nên làm như thế kia thì tôi làm như thế kia. Không có sức, tôi đi đi, lại lại ba bốn lần trước thềm tầng một là đã mệt nhoài. Có khi nhờ người dìu xuống tam cấp, đi một vòng từ sân trước ra sân sau, cố gắng lắm mới được. Định đi vài vòng, nhưng đành chịu. Nói "đi” ở đây là nói chống gậy mà bước. Người nhà không cho tôi bước xuống tam cấp, mà tôi cũng không dám mạo hiểm.

Tôi ngủ trên tầng hai, ăn cơm, hoạt động, xem truyền hình đều ở tầng dưới cả. Đi lên đi xuống cũng là một cách luyện tập. Mỗi ngày lên xuống cầu thang hai lần, có thể dựa vào lan can không phải chống gậy... Lúc đầu rất mệt, lên xuống nhiều lại sợ ngã, mỗi ngày chỉ lên xuống hai lần. Buổi sáng dậy đi xuống, ăn cơm trưa xong, đi lên, sau giấc ngủ trưa, lại đi xuống, tám chín giờ tối, lại đi lên. Có thể nói hoạt động ở tầng dưới nhiều hơn.

Lúc vừa về nhà, tôi rất chịu tập luyện, sáng sớm, chiều tối, ở tầng trên, tôi tập trên tấm thảm, đủ thứ, rồi lăn qua lăn lại trên phản gỗ, người nhễ nhại mồ hôi, thấy có tiến bộ ít nhiều, mình cũng bằng lòng với mình. Nhưng được mười ngày, lại nghe người ta nói: "nên tập vừa phải thôi, không nên quá mức. Mình cũng thấy vất vả quá, không chịu đựng được, bèn tập không căng thẳng như trước. Sau, bị cảm, tinh thần sút xuống, có một thời gian ngắn, thậm chí tôi bỏ không tập tành gì cả. Nhưng cũng không thể nói là bỏ hoàn toàn. Tôi thường đi bách bộ. Cứ ngồi một tiếng đồng hồ thì tôi lại thấy nhức nhối bên chân trái là chân bị gãy. Mà ngồi hai ba tiếng đồng hồ liền thì sốt ruột như ngồi trên một tấm thảm cắm kim. May mà tôi không ngừng việc đi bách bộ, nếu không thì giờ đây có chống gậy cũng không đi nổi.

Ngoài việc tập luyện, tôi còn nhờ một ông thầy thuốc chuyên về chữa thương tật, mỗi ngày đến hai lần xoa bóp, trị liệu cho. Ông ta gợi ý cho tôi nên uống thuốc gì, tiêm thuốc gì. Chính là nghe theo lời ông mà tôi đi khám lần thứ hai ở khoa thần kinh. Cuối cùng, lại vào viện chữa bệnh "Pac-kin-sơn". Rất có hiệu quả. Tôi phải cảm ơn ông ta. Bài tùy tưởng trong tập "Nằm bệnh" là viết trong thời gian ấy.

Tôi lại cầm bút tiếp tục viết "Tùy tưởng”, sau khi về nhà khoảng nửa tháng. Tôi ở tầng trệt suốt cả ngày, phần lớn ngồi ở phòng sưởi nắng. Chỗ này trước kia là hành lang, thời gian tôi gẫy chân nằm viện thì lắp cửa sổ kính vào, thành phòng sưởi nắng. Chương trình hoạt động của tôi hàng ngày là đi đi lại lại, tiếp bạn bè đến thăm, xem báo. Tôi thường ngồi trên ghế mây, không chống tay thì không đứng dậy được. Phòng ấy, sát cửa sổ có đặt cái bàn máy may, không có bàn, tôi ngồi đó viết cũng xong, về sau, người khỏe hơn, tôi thấy tay cũng cử động được, viết cũng là một cách luyện tập, bèn lấy trên gác một xấp giấy, kê một chiếc bàn gỗ vuông nho nhỏ, cạnh bàn máy may gần cửa sổ, ngồi xuống, bắt đầu sáng tác. Lúc đầu dùng bút bi hay bút máy, thấy nặng nghìn cân, viết được một chữ cũng hết cả hơi, mỗi ngày gắng cũng chỉ viết được khoảng trăm chữ, về sau tiêm thuốc đặc trị, tiêm chưa hết liều, tinh thần đã khá hơn hẳn, mỗi lần ngồi viết có thể viết hai ba tiếng đồng hồ. Lúc đầu, tôi định viết một ngày một trăm chữ, tô từng nét là để luyện tập cho tay đỡ run, tự cho là yên trí mình đã tìm ra cách luyện tập. Không ngờ một người bạn cũ xem chữ tôi viết xấu hơn chữ đứa cháu ngoại tôi, nhiều lần ông bạn khuyên tôi dùng máy ghi âm hoặc giả nhờ người nào viết giùm cho. Tôi không thể nói thế nào để ông bạn hiểu tâm tình của tôi, tôi đành cứ theo cách của tôi tôi làm. Bài đầu tiên, tôi viết sau khi về nhà được hình thành như vậy đấy. Đó là bài "Xin trở lại làm đất bụi". Vì sao mà viết bài này? Bởi vì trước khi gẫy chân, tôi đã viết ba đoạn mở đầu rồi, tám tháng sau tôi mới viết tiếp đoạn bỏ dở, cũng không khó khăn gì, cứ theo mạch suy nghĩ ấy mà làm. Tình cảm tôi vẫn nhất trí, không hề thay đổi. Trong lúc nằm bệnh, tôi vẫn nghĩ nhiều nhất đến gia đình, quê hương và nhân dân. Trong mấy mươi năm tình cảm của tôi thay đổi, tôi muốn làm cho rõ sự thay đổi ấy. Tuổi già, nằm bệnh lâu, hay nghĩ đến cái chết. Sau khi trở về nhà, rồi nhổ mất mấy cái răng hàm dưới, chỉ có thể ăn chút ít cháo, ăn uống không ngon miệng, sức lực yếu dần, tập luyện mãi cũng không đi đến đâu. Có lẽ đó cũng là một nguyên nhân chăng? Nghĩ đến cái chết, tôi không sợ hãi, trong bụng chỉ thấy lưu luyến mà thôi. Đời con người, thì ai cũng phải đến ngày tận số. Tôi chỉ muốn biết là tôi còn sống được bao lâu nữa, làm việc được bao lâu nữa mà thôi. Tôi trình bày tình cảm của tôi ra đây để người đời sau nhận xét, lật đi lật lại xem lời tôi nói có thành thực hay không. Tỏ điều mình ước mong trong lòng, chưa đủ, mà chỉ có nói thay lòng mình, thì xương cốt của tôi mới trở thành đất thành bụi, lưu lại dấu chân ấm nóng của người đi trước, ấm nóng là vì trong đó có lửa.

Trong những ngày ấy, nghĩ đến cái chết, tôi bị những cơn ác mộng giày vò, tôi muốn viết một bài nữa về những cơn ác mộng của tôi. Có lúc cùng con cái nhắc lại tình cảnh hồi bấy giờ, trời không lạnh mà người tôi cứ run lên, Tôi đã qua những đêm hãi hùng đó như thế nào, tôi diễn tả không hết. Dù sao đi nữa thì cũng qua khỏi rồi, sức khỏe của tôi đã dần hồi phục, tuy còn rất chậm, nhưng cuối cùng thân thể tôi đã khá hơn.

 5

Ngày 20 tháng 12 năm 1983.

Lần thứ hai, tôi vào nằm viện chữa mất ba tháng. Lúc vào cứ tưởng không đến một tháng là có thể về nhà. Mấy hôm trước đó, con gái tôi đến gặp bác sĩ chữa cho tôi lần trước, ông ta nghe nói tôi lại vào viện chữa bệnh Packinsơn, liền nói một câu: "Phải đưa cụ vào". Xem chừng tôi phải nằm lâu. Tôi cũng không bi quan, đã vào thì yên trí mà nằm. Tôi đã nằm bệnh viện quen rồi.

Hai tháng qua cũng không đến nỗi uổng phí. Tôi không thể quên được rằng, hôm mới vào, leo lên giường nằm, không trở mình được, đi tản bộ ngoài hành lang còn phải chống gậy. Ngồi trên chiếc xô-pha nhỏ trong phòng, đứng dậy còn thấy khó khăn, ăn cơm gắp thức ăn, cầm đũa tay còn run. Không cần phải nói, mặc áo, cởi áo, cài nút, cởi nút. Tôi cảm thấy rõ bệnh tình tôi mỗi ngày một khá hơn, lúc nhanh, lúc chậm, nhưng có thay đổi. Gần đây, tôi phát hiện thấy tôi dùng kéo cắt móng tay, có thể mặc chiếc áo khoác vừa dầy vừa nặng v.v… mừng quá, bởi vì tôi đã có thể tự mình phục vụ được phần nào trong sinh hoạt. Tôi gửi thư cho một ông bạn ở Bắc Kinh, nói rằng tình hình chưa đến nỗi nào, có thể nói ngày một khá hơn. (Tất nhiên là chầm chậm). Thực sự là như thế. Hôm nay, nhìn lại hôm qua, hôm sau nhìn lại hôm trước thấy không thay đổi gì, nhưng so với ngày vào viện thì khác nhiều.

Lần này, tôi cũng nằm ở bệnh viện trước, nhưng ởnhà khác, phòng tôi nằm cao nhất toà nhà lớn. Nhà ấy chỉ có mấy phòng, ở đây bệnh nhân ít, bệnh nhân nằm lâu, không mấy ai. Tôi là người nằm lâu nhất. Điều làm tôi mừng nhất là buổi tối ngồi xem vô tuyến ở phòng họp, người cùng ngồi xem cạnh tôi thường thay đổi, người vừa mới quen đã được ra viện rồi. Ngồi xem ti vi, tôi cảm thấy buồn buồn.

Lúc đầu, tôi chỉ xem mục thời sự, vì ngồi lâu thấy đau bên chân trái, rồi thắt lưng, lưng thấy mỏi, phải đứng lên đi đi lại lại vài bước, về sau, đỡ hơn có thể ngồi lâu lâu một chút, có thể ngồi xem hai, ba tiếng đồng hồ, xem kịch ti vi. Tôi rất thích xem kịch ti vi, với người già đi lại khó khăn như tôi, xem kịch ti vi là cơ hội tiếp xúc với cuộc sống ở các địa phương. Kịch ti vi cũng có cuộc sống, cũng có sáng tạo, có phim phản ảnh cuộc sống nhiều, có phim ít hơn. Những phim về thời cũ, xã hội cũ, kém hơn, hình như người đạo diễn và diễn viên không biết người và việc thời quá khứ bao nhiêu. Bọn con, chúng nó cười tôi, phim kịch nào cũng xem, xem hết mới thôi. Thật ra, không phải như thế. Có vở người ta đã biết câu chuyện sẽ phát triển ra sao, kết cục như thế nào, tôi cũng chẳng buồn xem tiếp. Có vở có cuộc sống, có nhân vật, vận mệnh của nhân vật lôi cuốn người xem làm cho người xem xúc động. Nhưng kịch tivi có đặc điểm là tiết tấu rất chậm, chờ cho đến kết thúc, tôi không thể không chuyển người luôn trên ghế. Tôi thường nói thầm trong bụng: xin nhanh lên cho. Thời gian quý lắm. Tôi không thể nhẫn nại ngồi xem đến hết, mà thở dài, đứng dậy, mỏi mệt, chống gậy đi lảo đảo về phòng. Có lúc, tiếc đã để mất hơn tiếng đồng hồ. Nhưng lần sau có tiết mục kịch, nếu trụ được, tôi vẫn ngồi xem hết. Có điều rút cục tôi là bệnh nhân, tiết mục ấy mà sắp xếp vào lúc chín mười giờ, sau đó lại kéo dài thì tôi không trụ nổi nữa. về phòng, tôi nghĩ: người già cả ít xem ti vi càng hay, để giữ gìn sức khoẻ. Những bạn nằm bệnh viện nói chuyện với nhau, họ cũng đều nói tiết mục ấy không phong phú, nhưng nếu không có thì tôi làm thế nào chịu nổi những đêm nằm ở bệnh viện?

Thuốc hiệu nghiệm, bệnh lành dần, có lúc như ngưng lại, kéo dài miên man. Để tập luyện, cứ mỗi ngày sau ba bữa cơm, tôi thường đi đi lại lại trên hành lang, ba vòng cộng cả thảy sáu trăm bước. Hai tháng đầu chống gậy, tháng thứ ba thì không dùng gậy. Lúc đầu đến vòng thứ hai đã thấy mệt, về sau hết ba vòng mới muốn nghỉ, nhưng về sau nữa, chưa đi hết vòng thứ ba đã cảm thấy mệt rồi. Để tập luyện, mỗi ngày tôi vẫn viết một hai trăm chữ, rồi dùng loại giấy kẻ ô ba trăm hoặc hai trăm bốn mươi ô. Hai ba năm trước, lúc ngã gãy chân, tôi thường than vãn mình viết càng lâu càng nhỏ dần. Ra viện lần thứ nhất, sau một thời gian tập luyện, viết đầy trang giấy thì trong một trăm chữ có đến bảy, tám mươi chữ viết được đúng trong ô vuông, bây giờ thì hầu như chữ nào cũng ở trong ô vuông, và to nhỏ đều nhau. Nhưng phải viết từng nét một và rất chậm. Có lúc, viết một bức thư ngăn ngắn cũng mất cả buổi sáng, mà lại rất mệt nữa. Tôi lại sốt ruột, lẽ nào bệnh chỉ lành được đến thế này thôi ư? Hình như đúng như vậy.

Trên kia, tôi có nói không bi quan, cứ yên trí. Kỳ thực, thỉnh thoảng cũng có bi quan không yên trí được. Những lúc đó, tôi không ngủ được, sốt ruột, nằm trằn trọc, trở đi trở lại trên giường, ngày hôm sau, tinh thần không sảng khoái. Nghe bạn bè đến hỏi thăm, nói: "Ông lành nhanh đấy", tôi cảm thấy khó chịu. Tất nhiên, đấu tranh tư tưởng mãi, tôi cũng đỡ bi quan, đỡ sốt ruột hơn. Nếu không như thế thì tôi khó lòng trụ đến ngày hôm nay.

Nằm bệnh, nghe tin bạn bè mất, tôi cũng thương cảm. Lần này tôi ở nhà phía bắc đi sang nhà phía nam hơi bất tiện, lại phải qua hành lang nối hai nhà. Tôi không thể đi một quãng dài được. Nhưng thỉnh thoảng có một vài người bạn ở nhà phía nam sang thăm tôi, như các ông Sư Đào và Lâm Phóng, chuyện trò, tôi mới biết mọi tin tức bên ấy. Nghe nói ông Kim Diêm cũng ở bên ấy. Hồi tôi nằm ở nhà phía bắc, ông Kim Diêm chưa vào. Nhiều năm nay, tôi không gặp mặt ông, sau "Văn cách" có một lần gặp ông trên tàu điện, trông ông gầy quá thể. Tôi biết, trước kia, vào khoảng những năm Sáu mươi, ông mổ dạ dày, cắt đi một phần, không phục hồi được sức khoẻ. Gần đây, ông vào viện chữa trị, chắc là sợ tuổi già lại mang bệnh không chịu nổi khí hậu mùa đông. Không ngờ vào được mấy ngày, một ông bạn đến thăm cho tôi biết tin là ông Kim Diêm đã qua đời rồi. Cũng chẳng phải là chuyện bất ngờ, nhưng tôi vẫn giật mình, nghĩ đến khí hậu mùa đông, cũng tức là nghĩ đến bản thân tôi. Muộn rồi, ông chết ở nhà phía nam, nhưng tôi không biết gì cả, không cùng ông cáo biệt trước thi hài ông, tôi nhờ người mang vòng hoa đặt trước linh cữu.

Tôi là khán giả của ông những năm Ba mươi, Bốn mươi. Những năm Năm mươi chúng tôi cùng dự Hội nghị với nhau, nhìn mặt quen lắm, nhưng Hội nghị về cũng ít lui tới. Năm 1950, Ngô Sở Phàm mang cuốn phim "Hàn dạ’’[1] nói tiếng Quảng Đông đến Thượng Hải cùng Kim Diêm đến nhà tôi. Và chúng tôi nói chuyện hợp ý nhau lắm, vui vẻ lắm rồi cùng nhau đi xem phim Hàn dạ. Ngô Sở Phàm, vừa đi lĩnh giải "Điện ảnh đại chúng" về, ông ta diễn được đông đảo khán giả tán thưởng. Trước kia, Kim Diêm là ông vua điện ảnh nói tiếng phổ thông, Ngô Sở Phàm là vua điện ảnh nói tiếng Quảng Đông. Phim Ngô đóng vai chính ngày càng nhiều, còn phim Kim Diêm đóng vai chính ngày càng thưa thớt. Sau lần chúng tôi gặp mặt nhau ấy, ông lên Tây Bắc thâm nhập thực tế, nghe nói định biên đạo hoặc đóng vai chính trong một bộ phim phản ảnh cuộc sống mới của "Tây Bắc". Kịch bản soạn chưa xong, ông đã ngã bệnh. Sau lại nghe nói ông mổ dạ dày, rồi sau một thời gian dài, không muốn ăn cái gì cả. Mùa thu 1961, tôi điều dưỡng ở Hoàng Sơn, ông cũng đến dự, người không được khỏe, không đóng được phim, ông thích làm đồ gỗ nghiệp dư. Trước "Văn cách", tôi có gặp ông khoảng hai ba lần, nếu không có ai nhắc đến ông, có lẽ tôi cũng như khán giả nói chung, đã không nhớ ông nữa. Vì sao tin ông chết làm tôi giật thót, làm tôi đau khổ?

Tôi nằm không ngủ suốt đêm, tôi đã nghĩ ra rồi: mọi người bỏ lâu ngày không sáng tác đều gặp một tình cảnh không gì buồn hơn thế. Chỉ sau hai năm bị bệnh tật giày vò, tôi mới thấu tâm tình ông bạn bất hạnh ấy.Viết xong ngày 30 tháng 1 năm 1984

[1] “Hàn dạ” là tên cuốn tiểu thuyết của Ba Kim

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.