Bệnh viện... ngày... tháng... năm...
Juy-li-ét nàng hỡi!
Lại một lần nữa như cả triệu lần, ta muốn kêu lên rằng ta yêu nàng. Trái tim ta, miếng phổi ta, tảng gan ta, túi dạ dày ta cùng với tất cả các bộ phận có liên quan đều thuộc về nàng mãi mãi.
Không gì có thể lay chuyển được tình yêu đó, và tại vì sao lại lay chuyển chứ? Nếu như trước sắc đẹp của nàng mặt trời sẽ ngừng mọc, tinh tú sẽ lu mờ và thần công lý sẽ bẻ gãy gương thiêng liêng mà quỳ dưới chân nàng đúng như Sếch-xpia đã viết thì tại sao ta lại không nghe lời ông ấy. Ta không cự cãi làm gì.
Tình yêu của hai ta là bất tử. Nó vượt lên không gian (chắc nàng cũng biết, những tên gian thần ở đâu cũng có, kể cả ái tình). Chúng ta là mãi mãi. Chúng ta sẽ làm cho các từ như ly dị, cằn nhằn, theo dõi, lục túi, xem trộm tin nhắn trong điện thoại hoặc tra khảo nhau khi về khuya... sẽ không còn đất sống trong hạnh phúc gia đình.
Juy-li-ét nàng hỡi!
Ta chưa khi nào nghi ngờ, và cho phép kẻ nào nghi ngờ tình yêu bất diệt của hai đứa mình. Một số vở kịch về Rô-mê-ô và Juy-li-ét được dàn dựng cẩu thả, một số bộ phim về Juy-li-ét và Rô-mê-ô dùng tài tử già, nhưng điều đó không hề ngăn cản hai chúng ta đi vào truyền thuyết của nhân loại và đọng lại ở đó một cách kiêu hùng.
Juy-li-ét bé bỏng!
Nếu chúng ta cưới nhau, chắc chắn tình yêu sẽ trở nên tuyệt đỉnh, nhưng muốn thế thì phải cưới có mặt. Muốn có mặt thì phải tới dự.
Toàn thế giới đều biết khi nàng tỉnh dậy thì ta đã uống thuốc độc nằm đó. Tâm hồn ta không thể tới dự được, còn một số thể xác dù cao quý đến đâu, nhưng bất động thì có tới cũng chả ích gì. Vậy là nàng bèn vội vã uống thuốc và cũng đi luôn. Đám cưới không thành. Tình yêu tan tành như cái bình pha lê rơi từ ngọn cây đầy hoa xuống đất.
Nhưng thực ra không phải thế, Juy-li-ét nàng hỡi! Ta biết, thực ra câu chuyện đơn giản và có sức sống, có giá trị nhân bản hơn nhiều, và bi kịch hơn nhiều.
Nàng lao tới chỗ Rô-mê-ô để làm đám cưới. Lao đi bằng đôi chân trần xinh xinh, bé nhỏ, trăng trắng như đôi cánh chim câu. Mắt nàng mở to, miệng nàng hé ra, tóc nàng tung bay như một thiên thần.
Nhưng đường thì dài (đường của các cặp tình nhân chính, khốn khổ thay, bao giờ cũng dài). Do đó, nàng đói, nàng cần phải ăn. Ôi cuộc sống, ôi hạnh phúc, ôi tình yêu. Ta cầu trời có một cách gì để không ăn mà vẫn nhảy múa, vẫn tay trong tay, vẫn ngồi dưới ánh trăng và nói những lời có cánh. Nhưng cái cách thanh cao rực sáng ấy lại chưa đến, và chúng ta vẫn cứ phải nhẫn nhục ăn trong khi chờ đợi.
Nàng muốn ăn, vì thứ nhất nàng đói. Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với nàng. Thứ hai, nàng quá hiểu là nếu không ăn thì trong đám cưới cô dâu và chú rể sẽ chả còn sức ăn gì. Họ bị chìm ngập trong chúc tụng và trong việc chào quan khách; họ kiệt sức vì cắt bánh và vì đếm phong bì. Tất cả sách vở đều căn dặn ăn trước là khôn trong mọi vấn đề, đặc biệt là vấn đề cưới xin.
Cho nên nàng đưa mắt nhìn quanh. Tìm một chỗ ăn hợp khẩu vị, hợp thời gian và hợp túi tiền. Kia rồi, một quán bún bò ở ven đường. Một quán quen thuộc, thân thương và thuận tiện như hàng trăm hàng ngàn quán ăn trong kinh thành cổ kính.
Juy-li-ét dịu dàng khép nép như bản chất quý tộc của nàng, ngự xuống một chiếc ghế đẩu nhựa và gọi một tô. Nàng còn nhẹ nhàng dặn kỹ bà bán hàng là lấy giò nạc. Vì bún bò, như sử sách đã viết, có loại nạc, loại gân, loại mỡ và loại bèo nhèo. Tất cả các loại đều bình đẳng với nhau và sự phân biệt hay đối xử bất công đều là tội ác. Nàng kêu nạc chỉ vì nàng thích nạc, chứ chẳng có ngụ ý gì như các nhà phê bình nghệ thuật hay đồn thổi.
Sau đó, khi tô bún được bưng ra, Juy-li-ét cũng xử sự như hàng triệu thiếu nữ thành phố rơi vào hoàn cảnh đó: nàng ăn. Nhưng là một tiểu thư khả ái, sự ăn của nàng mới quyến rũ làm sao. Cách cắn của nàng đầy thơ mộng, cách nhằn xương của nàng đầy tinh tế và cách trộn rau của nàng đầy kiều diễm. Đấy không phải là nhai, nuốt thông thường. Đấy là kiệt tác.
Ăn xong tô bún, nàng lau miệng bằng cái khăn tay trắng muốt do ta tặng, có thêu hai con chim bồ câu đang ngậm mỏ nhau. Đấy là một chủ đề vĩnh cửu, ta mua trên phố Hàng Đào, khăn thoang thoảng mùi nước hoa vì rất ít khi dùng để lau. Với tình yêu, khăn thường để vẫy.
Rồi nàng gọi thêm một tô nữa. Có ba lý do để làm việc này. Nàng còn đói, bún quá ngon, và quá rẻ. Mặc dù chưa khi nào là một thiếu nữ tính toán, nàng vẫn hiểu hôn nhân còn dài, và sự phát sinh chi phí sẽ diễn ra ngay sau đám cưới, phát sinh đến đầu bạc răng long, và chẳng có gì hại đến việc tiết kiệm sớm.
Cách tiết kiệm dễ chịu nhất là gặp gì rẻ thì hãy ăn thêm.
Thế là Juy-li-ét của ta làm tô bún thứ hai. Ít thịt, ít bún hơn nhưng vẫn giữ nguyên rau sống. Rau sống là một thực phẩm rất đẹp da.
Ăn xong, nàng đứng dậy, nàng lại chạy tiếp đến Rô-mê-ô, đến chỗ hai họ, đến chỗ cả trái đất đang chờ. Nếu Rô-mê-ô và Juy-li-ét cưới được nhau, chả có ai còn lý do để trì hoãn.
Nhưng số phận thật tàn ác. Hạnh phúc thật là mong manh, cuộc đời thật bất công. Mới chạy vài trăm mét, bụng nàng sôi lên. Một kiểu sôi hoàn toàn khác lối sôi của trái tim, của trí tuệ. Một kiểu sôi có tên rất tầm thường, không chút nên thơ và lãng mạn, có cái tên thô lỗ là tiêu chảy cấp.
Juy-li-ét nàng hỡi!
Ta sẽ chỉ nhắc tới cái danh từ kém tế nhị đấy một lần thôi. Vì nó hoàn toàn tương phản với vẻ đẹp và sự thánh thiện của nàng. Nhưng bệnh tật thì phải chữa, muốn chữa phải gọi đúng tên.
Vậy là nàng chạy thẳng vô phòng cấp cứu. Chạy với tốc độ mà con nai, con báo cũng phải thèm thuồng. Chạy tới nơi, nàng ngã vật ra, và ở trong đó mười ngày liên tiếp.
Juy-li-ét nàng hỡi!
Vậy là đám cưới chúng ta không thành. Tình yêu của chúng ta gián đoạn. Một tô rưỡi bún bò, cộng thêm hai phần rau sống rửa qua loa đã giết hại tình yêu một cách dã man.
Chắc ta không cần nói với nàng là ta buồn và đau khổ thế nào. Trái tim ta đã nát nhừ như canh bún. Nhưng ta vẫn đợi nàng. Bệnh tật rồi sẽ qua đi. Chỉ có tình yêu là bất diệt.