Thông Thiên Nhân Vật

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Ngôi Làng Mới Có Một Không Hai, Uy Quyền Nói Một Không Hai

❊ ❊ ❊

“Lối đi hẹp”

Đó là một mùa đông khô khốc.

Trong mùa đông năm ấy, ở Hô Gia Bảo trước là có người mất tai, sau lại có người mất mạng.

Nguyên nhân bắt nguồn từ cái tai của Đức Thuận. Tai của Đức Thuận bị “Lối đi hẹp” cắn đứt.

“Lối đi hẹp” tên thật là Vu Phượng Cầm, là vợ của Vương Mạch Thăng ở đầu làng phía tây.

Người đàn bà này không có tật xấu gì khác, chỉ có điều, người ta quá tinh ranh, làm việc gì cũng tính toán, không chịu thiệt. Ở vùng đồng bằng, thế này gọi là “giành ăn”. Từ “giành ăn” này trong từ điển không có. Từ này chỉ biểu thị một loại cảm giác, là một loại phương thức hành vi hằng ngày lọt vào mắt mọi người, cũng có thể coi là một loại tác phong sinh hoạt, mang ý nghĩa cái gì cũng tranh phần trước, trong đó còn ẩn chứa sự bá đạo và ngang ngược khiến người ta ngứa mắt. Ở vùng đồng bằng còn có một câu nói vè kiểu này, gọi là “Người tâm nặng thì lùn — bị trĩ nặng”. Hai điểm này cộng lại, cơ bản đã đóng khung lấy cô ta, Vu Phượng Cầm chính là kiểu đàn bà “giành ăn” có tâm tư nặng nề này. Nhắc đến thì người ta, vóc dáng cô ta cũng không hẳn là quá lùn, là một người phụ nữ lanh lợi, làm việc rất nhanh nhẹn. Mấy năm trước, khi cô ta mới gả tới đây, từng vì chuyện chia đất mà làm ầm ĩ một trận. Đất chia đàng hoàng, đến lúc chôn mốc ranh giới, cô ta cứ khăng khăng nói rằng, luống cày của trâu lệch đi một lá lúa, nghiêng về phía nhà họ Hòe gần đó. Một lá lúa là bao nhiêu chứ? Nhà người ta không cày nữa, cô ta không chịu, nhất định bắt người ta cày lại một đường rãnh, cày trả lại cái lá lúa ấy. Cô ta chặn cửa nhà họ Hòe, chửi một mạch ba ngày, chửi đến mức người đàn bà nhà họ Hòe phải nói, cứ mặc cho cô ta cày đi, rốt cuộc lại cày lại một lần, cho cô ta chiếm thêm một lá lúa.

Ai nấy đều nói cô ta “giành ăn”, nhưng không một ai chú ý đến “ý thức Hậu Hà” của cô ta. Vu Phượng Cầm gả từ vùng Hậu Hà tới. Trong lịch sử, Hậu Hà người đông đất ít, đất đai là mạng sống của người làm ruộng, người không có “mạng” là người cần “mạng” nhất, thế nên trong huyết mạch người Hậu Hà từ lâu đã thèm khát đất đai. Người ở nơi bình thường đều “tiếc” đất, đến Hậu Hà, chữ này đã bị đổi đi, đổi thành chữ “thèm”! Thế nhưng chẳng ai biết cô ta thèm đất, thứ mà mọi người nhìn thấy rành rành ra đấy chính là tính “giành ăn” của cô ta. Điều này liên quan đến một đặc điểm nữa của người Hậu Hà.

Một đặc điểm nổi bật khác của người Hậu Hà là làm tiểu thương rất nhiều. Do ít đất, người Hậu Hà ra ngoài buôn bán nhỏ nhiều đặc biệt. Hồi đó, hễ cứ là người từ Hậu Hà bước ra, bất kể nam phụ lão ấu, ai nấy đều là kẻ cầm cán cân. Dạo ấy, người đi từng ngõ thu gom đồng nát là người Hậu Hà, người bán kim chỉ cũng phần lớn là người Hậu Hà, bạn thử nghĩ xem, làm việc buôn bán nhỏ, vốn quá ít, lãi quá mỏng, tự nhiên phải “đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành” rồi. Thế nên, cái tính “giành ăn”, cái sự “ranh mãnh” của cô ta, đều có căn nguyên lịch sử cả. Đến thời ăn cơm đại thực đường, lương thực khan hiếm, người đàn bà này lại bắt đầu tính toán, mỗi ngày cô ta đi lấy cơm ở nhà ăn, thế nào cũng bớt mang theo một lạng phiếu cơm, đến cửa sổ phát cơm, cô ta luôn quay đầu tiện tay đi mượn, miệng ngọt xớt, cô ta chỉ mượn một lạng phiếu cơm, chẳng ai nỡ không cho mượn. Cô ta tinh ranh đến mức đỉnh cao, mỗi người chỉ mượn một lần, tuyệt không lặp lại. Cô ta mượn bạn một lạng phiếu cơm, bạn đòi kiểu gì đây? Tự nhiên là không có cách nào đòi rồi. Cứ như thế, trong làng hơn hai nghìn nhân khẩu, mỗi người một lạng, vậy mà cô ta mượn ra được hơn hai trăm cân! Đây là một sự tính toán vô cùng vĩ đại mà cũng đầy quỷ quyệt, trong thời kỳ khó khăn như thế, ba đứa con trai của cô ta, Đại Nao, Nhị Nao, Tam Nao, đứa nào cũng không bị đói. Bình thường thì lại càng khỏi phải nói, cô ta mượn nhà này cọng hành nhà kia nhúm muối, chưa bao giờ đem trả. Nếu bạn mượn gì nhà cô ta, cô ta sẽ không quên đâu, một ngày ít nhất sang nhà bạn lượn ba bận, cho đến khi nào bạn nhớ ra thì thôi. Thế là, người trong làng tặng cô ta một biệt danh, gọi là “Lối đi hẹp”. Ý nói là, con đường có rộng đến đâu, hễ đến trước mặt cô ta là bạn cũng chẳng thể đi qua nổi.

Mâu thuẫn giữa Đức Thuận và “Lối đi hẹp” châm ngòi từ chuyện xây nhà.

Nhà Đức Thuận có một đứa con trai tên là Vận Lai. Người rất thật thà. Vận Lai từ mấy năm trước đã đính ước một đám vợ, là hôn ước từ thuở bé. Thế nhưng, đến lúc cưới hỏi, nhà gái lại sống chết không chịu bước chân về cửa. Nguyên nhân là vì căn nhà của nhà cậu ta, nhà cậu ta chỉ có ba gian nhà tranh rách nát. Cô con gái ấy nói, nếu không xây nhà thì cô ta sẽ không bước chân vào cửa. Cứ thế, Đức Thuận đâm ra khổ sở. Để rước được con dâu về cửa, Đức Thuận quyết định tu sửa lại ba gian nhà ấy, đổi tường đất sét thành tường gạch, lợp cỏ tranh thành ngói tiểu. Hồi đó, đây là một công trình cực kỳ gian nan. Nhà Đức Thuận đã chuẩn bị cho kế hoạch này được năm năm rồi. Trong năm năm ấy, nhà Đức Thuận chưa từng được ăn một bữa thịt, chưa từng được ăn một hạt mì, những ngày tháng ấy là đếm từng viên ngói mà sống qua ngày. Đến ngày vật liệu đã gom đủ, sống lưng của Đức Thuận đã gù xuống rồi. Giả sử sống lưng của Đức Thuận không gù, thì “Lối đi hẹp” đã chẳng cắn được tai ông ta. Đức Thuận người cao, “Lối đi hẹp” lại là người vóc dáng nhỏ bé, cô ta có nhón chân cũng với không tới ông ta.

Đến lúc động thổ xây dựng, “Lối đi hẹp” hoàn toàn không nói gì cả. Hai nhà chung nhau một bức tường viện, bức tường ấy bị dỡ đi, khi đặt móng, “Lối đi hệp” vẫn không hề hó hé. Cho đến tận lúc móng nhà đã đắp xong, chuẩn bị xây tường lên, “Lối đi hẹp” mới đứng ra.

“Lối đi hẹp” nói: “Lão Đức, ông đừng xây vội nhé, bức tường đó của ông xây lệch rồi!”

Đức Thuận nói: “Lệch chỗ nào chứ? Đây là móng cũ nhà xưa của tôi, sao lại lệch được?”

“Lối đi hẹp” nói: “Ông xây dư ra một thước rưỡi đấy. Tôi vẫn luôn theo dõi đấy, chỉ muốn xem ông xây thế nào thôi.”

Đức Thuận nổi giận, nói: “Đây là nhà cũ của tôi, tôi muốn xây thế nào thì xây, cô không quản được.”

“Lối đi hẹp” nói: “Sao tôi lại không quản được?! Sao tôi lại không quản được chứ? Ông không chừa khe nước chảy mái hiên, ông phải chừa khe nước chảy cho tôi!”

Đức Thuận cũng chẳng biết ăn nói thế nào, ông chỉ biết nói: “Đây là nhà cũ của tôi! Đây là nhà cũ của tôi!”

Nào ngờ, vừa nói qua nói lại, “Lối đi hẹp” liền lao bổ vào, cô ta xông lên “lộc cộc lộp cộp”, ba đường hai nhát, đã dỡ luôn bức tường mới xây cao ba thước ra một khoảng trống lớn! Người ngồi ngay vào khoảng trống đó, nói: “Ông xây đi, tao cứ thách mày xây được đấy!”

Đức Thuận tức đến mức suýt ngất, ông mắng: “Mẹ kiếp! Đây là cố tình ức hiếp người ta rồi!” Vừa nói, ông vừa lồm cồm lao lên để kéo người ta ra. Ông sơ ý không đề phòng, trong tay vẫn còn cầm một cái bay thợ hồ.

Lúc này, chỉ nghe “Lối đi hẹp” cất giọng hét lớn: “Giết người rồi! Giết người rồi!” Tiếp đó lại hét lên: “Đại Nao, Nhị Nao, Tam Nao, tụi mày mau ra đây hết cho tao, hôm nay nó mà dám động vào một ngón tay của tao, tụi mày cứ trói nghiến nó lại cho tao!” Vừa dứt lời, ba đứa con trai của “Lối đi hẹp” mặt mày hung hãn, ào cả ra ngoài.

Đức Thuận nhìn thấy thế, tức đến ngây người, miệng lẩm bẩm: “Mẹ kiếp, mẹ kiếp!”

Đại Nao liền nói: “Mày mắng ai đấy?!”

Đức Thuận nói: “Tao mắng tao đấy, mẹ kiếp!” Mọi chuyện cứ thế giằng co ở đó.

Sau đó, có người trong làng hiến kế cho Đức Thuận, bảo rằng ban ngày cô ta không cho xây thì ông xây vào ban đêm. Tranh thủ lúc cô ta không đề phòng, ông cứ việc xây, chỉ cần xây lên rồi thì cô ta không dỡ nổi nữa. Đức Thuận bèn lén lút xây vào ban đêm. Nào ngờ, “Lối đi hẹp” vẫn luôn để mắt tới, hễ cứ xây lên cao được ba thước là cô ta lại chạy ra, lại “lộc cộc lộp cộp” dỡ phắt đi cho ông! Xây ba lần, bị dỡ ba lần! Lần cuối cùng, Đức Thuận tức điên người, lao bổ tới định kéo cô ta ra, nào ngờ, vừa tới nơi, “Lối đi hẹp” vốn dĩ lanh lẹ, chồm tới là cắn ngay! Bị cắn một cú đau điếng, Đức Thuận hoảng lên, vội giơ tay đẩy cô ta một cái, đẩy trúng ngay ngực. “Lối đi hẹp” bỗng thấy mình bị “quấy rối”, tức giận lồng lộn lên, cứ thế cắn chặt lấy không chịu nhả ra, sống sượng cắn đứt nửa cái tai của Đức Thuận!

Cứ thế, chuyện lớn to tát rồi. Nửa khuôn mặt của Đức Thuận đẫm máu... Người họ Hô không chịu nổi nữa. Bản gia của Đức Thuận lần lượt đứng ra chỉ trích “Lối đi hẹp”. “Lối đi hẹp” cũng chẳng phải dạng vừa. Thế là, cô ta nhảy cẫng lên vừa khóc vừa gào thét rằng: “Mặt dày không thèm hổ thẹn mà, nó sờ ‘núm’ (chỗ kín) của tao! Nó sờ ‘núm’ của tao kìa!” Nghe cô ta gào lên như thế, sự việc trở nên phức tạp. Người nhà họ Vương cũng không chịu nổi nữa. Nhà họ Vương là một trong ba họ lớn trong bổn thôn, nhân khẩu bổn gia vô cùng đông đúc. Ngược dòng lên trên, ông Mạch Thăng có ba anh em, bố Mạch Thăng có bốn anh em, Mạch Thăng lại có bốn anh em. Nhìn xuống dưới, lớp chị em dâu của Vu Phượng Cầm sinh ra những đứa con còn đông hơn nữa, cành nhánh chia ra như thế, thế lực liền lớn mạnh. Chuyện vừa bùng nổ, đường làng ngõ xóm liền tụ tập rất nhiều người, một nửa là người nhà họ Vương, một nửa là người nhà họ Hô, mỗi người trên tay đều lăm lăm hung khí, mặc dù quan điểm của mọi người lớn nhỏ khác nhau, nhưng lập trường thì vô cùng rạch ròi. Chỉ nghe thấy người của hai nhà đang chửi với nhau:

“Đồ chó! Chó cắn tai!”

“Đồ lừa! Lừa sờ ‘núm’!”

Đây vốn dĩ chỉ là tranh chấp xóm giềng, nếu Hô Thiên Thành có nhà thì đã không đến mức náo loạn đến bước này. Khổ nỗi Hô Thiên Thành lại vừa đi tham quan Đại Trại mất rồi, đi liền bảy ngày, đợi đến khi ông ta về tới nơi thì nửa cái tai của Đức Thuận đã biến thành miếng thịt hun khói khô quắt từ đời nào rồi.

Hô Thiên Thành vừa về đến làng, đầu tiên là có vị trưởng bối Vạn Phát gia do người họ Hô đề cử đứng ra tìm Hô Thiên Thành. Râu của Vạn Phát gia đã bạc trắng cả, ông chống gậy lẩy bẩy đi đến nhà Hô Thiên Thành, nói: “Thiên Thành à, chuyện này cậu phải quản đấy. Cậu mà không quản, tôi sẽ dùng gậy gõ đầu cậu đấy!” Hô Thiên Thành hết sức niềm nở nói: “Vạn Phát gia, ngài cứ yên tâm. Cháu quản, cháu quản ạ.” Tiếp đó, tam nãi nãi có vai vế cao nhất nhà họ Vương cũng tìm tới cửa. Tam nãi nãi không chỉ vai vế lớn, mà còn nắm giữ hai bên cửa ngõ, bà vừa là tổ tông nhà họ Vương, vừa là cô nãi nãi nhà họ Hô cơ đấy. Bà được người ta dùng xe cút kít đẩy đến nhà Hô Thiên Thành, tam nãi nãi vừa bước vào cửa đã nói: “Thiên Thành, chuyện của nhà họ Vương, nếu cháu không quản, ta nhất định không tha cho cháu đâu!” Hô Thiên Thành liền cười đáp: “Tam nãi nãi, ngài lớn tuổi thế này rồi, đến một chuyến không dễ dàng gì. Ngài cứ yên tâm, cháu sẽ xử lý ổn thỏa.”

Vì chuyện này, Hô Thiên Thành đã nằm liền ba ngày trên giường cỏ. Ba ngày sau, khi bước ra khỏi túp lều tranh, anh ta chỉ nói một câu duy nhất, anh ta nói: “Xem ra, đất đai đúng là nên xới lên một phen rồi.”

Thế là, Hô Thiên Thành triệu tập đại hội xã viên toàn thôn. Anh ta nói tại đại hội: “Đầu tiên, tôi xin tuyên bố một điểm. Tôi là người đứng đầu lo toan cho toàn thể dân làng, chứ không chỉ lo cho riêng người họ Hô. Cho nên, tôi tuyệt đối sẽ không thiên vị bên này hay bên kia, điểm này xin các cụ ông cụ bà, các anh chị em cứ yên tâm.” Tiếp theo, anh ta lại nói: “Trong làng xảy ra chuyện thế này, là sự sỉ nhục của toàn thể dân làng! Tại sao lại xảy ra chuyện như vậy? Theo tôi thấy, chỉ vì một chữ: Chữ ‘ích kỷ’. Chính cái chữ ‘ích kỷ’ này đang làm mưa làm gió! Hôm nay, chúng ta tạm gác lại chuyện đúng sai, trước tiên hãy dọn kho cho sạch sẽ, đem chữ ‘ích kỷ’ này ra đấu tố cái đã. Sau đó mới bàn đến chuyện xử lý ra sao. Cuối cùng, xử lý cụ thể thế nào, do mọi người cùng thảo luận, cùng đưa ra ý kiến.”

Kể từ ngày hôm ấy, một cuộc tranh chấp chòm xóm đã biến thành phong trào “Đấu tư phê tu” ở Hô Gia Bảo. Khẩu hiệu của phong trào này là “Đấu tranh tột độ tư tâm vụn vặt, phát động tổng vệ sinh tư tưởng!” Khẩu hiệu này thậm chí không phải do Hô Thiên Thành nghĩ ra, mà là do một thanh niên choai choai trong làng nghĩ ra sau khi Hô Thiên Thành triệu tập cuộc họp đó. Khi Hô Thiên Thành triệu tập hội nghị lần đó, chẳng vì thế mà người trong làng ai nấy đều vô cùng kích động! Ban đêm họ thậm chí còn không ngủ nổi, liên tục có những suy nghĩ mới mẻ nảy sinh, có ý nghĩ rồi là lại đi tìm Hô Thiên Thành báo cáo, Hô Thiên Thành đương nhiên rất ủng hộ, cũng không ngừng khích lệ họ vài câu. Trên thực tế, Hô Thiên Thành nắm rất rõ, ở chốn thôn quê, đấu tranh tư tưởng “ích kỷ” là việc dễ dàng nhất. Nói cho cùng, ai mà chẳng có tâm tư vụn vặt? Ai cũng có tư tâm, thế nhưng ai nấy đều cho rằng người khác mới có tư tâm, chứ chưa từng có một ai tự nhận tư tâm của mình là lớn nhất. Đây là một màn diễn mới mẻ, là một phương pháp phơi bày linh hồn. Hô Thiên Thành thầm nghĩ trong lòng, đem ra phơi nắng một phen cũng hay đấy chứ, cứ để họ phơi bày một trận đi.

Trong những ngày tháng đó, khắp thôn đâu đâu cũng hân hoan vui vẻ, người ta cứ ngỡ như đang đón Tết lớn vậy. Ban đầu chỉ là toàn thể dân làng tụ tập lại mở đại hội. Rất nhanh sau đó đã có người đề xuất, bảo rằng họp kiểu này là “không khoa học”. Phải là “lao động nam” họp một chỗ, “lao động nữ” họp một chỗ mới đúng, bởi vì “lao động nam” và “lao động nữ” làm việc không chung một chỗ, không nắm rõ tình hình. Hơn nữa, nam nữ ngồi chung với nhau, họ hàng chú bác thím dâu cả đống, vướng víu về vai vế, thể diện, rất khó mở lời. Thế là, Hô Thiên Thành rất sảng khoái tiếp nhận đề nghị ấy, cho nam nữ tách ra, hội trường của “lao động nam” riêng, hội trường của “lao động nữ” riêng.

Hội trường của “lao động nam” được bố trí ở sân phơi lúa. Mới đầu, tự nhiên là để Đức Thuận lên “đấu tư” trước. Đàn ông gan dạ hơn một chút, Đức Thuận lại là người hiền lành chất phác, bình thường mọi người cũng không có ý kiến gì lớn với ông ta. Cho nên, lúc nói chuyện, vẫn cho ông ta ngồi nói. Ông ta cũng chỉ kể lại quá trình xây nhà thế nào... Sau đó, có mấy thanh niên choai choai nói đã là “đấu tư” thì phải đứng lên chứ! Ông ta bèn đứng lên kể, lưng ông ta bị gù, là một gã gù lưng, đứng lên cũng chẳng cao hơn bao nhiêu, cái lưng còng gập xuống tận đầu, hệt như một cuộc họp đấu tố vậy. Cứ thế, vừa kể chuyện, liền nói đến đoạn ông ta sờ “núm” của người ta. Vừa nhắc đến đây, mọi người mới bắt đầu kích động hẳn lên, bèn bắt ông ta khai ra “tư tưởng sống”. Đức Thuận khai rằng: “Tôi không hề muốn sờ ‘núm’ của cô ta, có ông trời trên cao chứng giám, tôi thực sự không hề muốn sờ ‘núm’ của cô ta đâu. Cô ta có cả một đàn con nhúc nhích rồi, tôi lại đi tơ tưởng đến ‘núm’ của cô ta làm gì chứ? Xây cái nhà khó nhọc biết bao, cô ta không cho xây, tôi tới kéo cô ta ra, cô ta cắn tôi. Cô ta vừa cắn tôi, tôi hoảng quá, bèn giơ tay đẩy cô ta, vô tình đẩy trúng chỗ đó. Tôi cũng đâu có cố ý đẩy trúng chỗ đó, tôi là vì quá hoảng nên mới đẩy trúng vào đấy thôi...” Có người liền hỏi, nói nghe xem lúc đó ông nghĩ thế nào? Sao ông lại đẩy một phát là trúng ngay vào chỗ ấy thế giới này?! Đức Thuận bèn khai rằng: “Lúc đó tôi chẳng nghĩ gì cả, trong đầu chỉ nghĩ đến việc xây nhà, một lòng một dạ đều dán vào ngôi nhà. Đẩy trúng vào đó tôi cũng chẳng nghĩ ngợi gì, đẩy trúng vào chỗ ấy thấy mềm mềm, tôi vừa nhận ra nó mềm mềm là tay tôi rụt lại ngay. Mấy lời mấy ông nói toàn là lời nhảm nhí!...” Có người lại bảo, kể nghe xem cái “chớp nhoáng” lúc ấy của ông là gì, cái “chớp nhoáng” trong đầu ông lúc đó là thế nào? Đức Thuận đáp: “Cái ‘chớp nhoáng’ đó chẳng qua chỉ là thấy mềm mềm thôi, chẳng có gì khác cả, chỉ thấy mềm mềm, lại hơi ấm ấm, ấm một tí. Trong lòng cũng chẳng màng nghĩ ngợi chuyện gì khác nữa. Lo lắng đủ điều tao nhã khổ sở, tôi lo đến phát sầu rồi đây này, mấy người bảo tôi còn tâm trí đâu mà nghĩ ngợi chuyện khác nữa chứ?” Chuyện cái “núm” cũng chỉ nói dăm ba ngày là hết, càng về sau thì càng khó lòng nói tiếp được nữa. Đàn ông dẫu sao cũng rộng lượng hơn, cũng chỉ là nói qua loa thế thôi. Tiếp đó, người ta lôi những kẻ lười biếng, những kẻ làm việc qua quýt không chịu bỏ sức ra, từng kẻ một lên, lôi được kẻ nào là bắt kẻ ấy đứng lên, đứng cùng một chỗ với Đức Thuận, để mặc cho mọi người tha hồ đếm xỉa chì trích. Trong đó tự nhiên không thể thiếu Tôn Bố Đái.

Đến ngày họp thứ bảy, Đức Thuận chịu đựng hết nổi rồi. Ban đêm, ông ta lén lút tìm đến nhà Hô Thiên Thành, ngồi xổm trước cửa nhà anh ta mà bật khóc. Ông ta nói: “Thiên Thành ơi, tôi chỉ dựng cái nhà thôi mà, thì gây ra tội tày đình gì cơ chứ?” Hô Thiên Thành gọi ông ta vào nhà, nhỏ giọng an ủi rằng: “Đức Thuận thúc, thúc đừng có nghĩ quẩn đấy nhé. Họp hành là để ‘đấu tư’ mà, cũng đâu phải chỉ có một mình thúc, ai nấy đều có phần cả. Thúc cứ phóng khoáng tâm trí ra, thúc chẳng có tội lỗi gì sảng sảng cả. Chỉ là, những lời cháu dặn thúc đây, tuyệt đối không được nói ra ngoài đấy nhé.” Đức Thuận nghe xong lời này, tảng đá trong lòng mới chịu hạ xuống. Ông ta gật đầu liên hồi đáp: “Không nói, ta không nói đâu.”

Hội trường của “lao động nữ” được đặt ở vườn cây ăn quả, đây là hội trường náo động và sôi nổi nhất. Ở chốn thôn quê, phụ nữ hầu như bị đàn ông đè đầu cưỡi cổ quản thúc, phụ nữ luôn chịu sự áp bức kìm nén của đàn ông. Một khi phụ nữ đã tách rời khỏi đàn ông rồi, thì bản tính ấy sẽ triệt để bộc lộ ra ngoài. Ở vùng đồng bằng có câu tục ngữ gọi là “Ba người phụ nữ thành một chợ”, chính là nói lên rằng một khi phụ nữ đã tụ tập lại với nhau thì cái sự “phát cuồng” ấy là không cách nào phanh lại nổi. Con người ta ham thích đấu tranh đến nhường nào chứ! Nhất là phụ nữ. Ở vùng đồng bằng, tính chiến đấu của phụ nữ là mạnh mẽ nhất, cũng là triệt để nhất. Đúng vậy, ngày tháng vốn dĩ vụn vặt và dài đằng đẵng biết bao, sự nhọc nhằn cứ lặp đi lặp lại từng ngày từng năm, lặp lại đến mức khiến người ta trở nên tê dại. Những mộng tưởng ảo tưởng đã xuất hiện lần này đến lần khác trong những giấc mơ kể từ khi còn là thiếu nữ, cứ trơ mắt nhìn từng ngày từng ngày tiêu tan vỡ nát, thứ còn lại rốt cuộc là gì? Giờ đây, cuối cùng họ cũng có được một cơ hội. Ở nơi này, sự đấu tranh đã biến thành một sự trút xả đối với sự tầm thường tẻ nhạt, biến thành một hành vi đường hoàng chính đáng để soi mói người khác, biến thành một chốn công khai so bì hơn kém. Đây mới là một sân khấu tuyệt vời làm sao, màn trình diễn ấy lại gắn liền với cuộc sống, gắn liền với thực tế ngay trước mắt biết bao. Sự gần gũi đến mức ấy khiến người ta không kìm được mà trở nên hưng phấn kích động! Trương Tam chính là Trương Tam, Lý Tứ chính là Lý Tứ, khi họ bước lên sân khấu ra mắt, thì những ngày tháng xoay quanh cái xoong cái chảo ấy đã được giải tỏa triệt để tại nơi này.

“Hội trường của phụ nữ” vừa bắt đầu đã vô cùng dữ dội quyết liệt, khi “Lối đi hẹp” là người đầu tiên lên “đấu tư” đứng ở phía trước hội trường, thì từ phía sau hội trường bất ngờ truyền đến một trận tiếng reo hò ồn ào của các bà các chị! Họ dùng chiếc đế giày đang khâu dang dở che mặt lại, lớn tiếng hò hét rằng: “Không nhìn thấy! Không nhìn thấy đâu...” Vóc dáng của “Lối đi hẹp” quả thực có thấp hơn một chút, thế nhưng tiếng hò hét này thuần túy cũng chỉ để lấy vui, là một thứ “vui trên sự đau khổ của người khác” không thốt nên lời. Thế là, có những người phụ nữ gan góc đanh đá bước lên trước, đặt một chiếc ghế đẩu nhỏ ngay trước mặt cô ta, nói: “Đứng lên trên đó cho tao!” “Lối đi hẹp” đành phải đứng lên chiếc ghế đẩu ấy. Cô ta đứng trên chiếc ghế đẩu nhỏ bé chật hẹp nhường ấy, bắt đầu “đấu tranh tột độ tư tâm vụn vặt trong chớp nhoáng” rồi.

Cô ta nói: “Ổng là một gã đàn ông đầu đội trời chân đạp đất, tao chỉ là một đứa đàn bà nhà quê. Ổng sờ ‘núm’ của tao. Ổng mà không sờ ‘núm’ của tao thì tao cũng chẳng thèm cắn ổng đâu. Ổng vừa sờ ‘núm’ của tao, tao mới dám cắn ổng chứ.” Cô ta còn chưa nói dứt lời, đã có người phụ nữ lớn tiếng quát lên: “Đừng có chỉ nói chuyện của người ta không thôi. Tự kiểm điểm bản thân mình đi! Phơi bày tư tâm không sợ xấu hổ, đấu tranh tư tâm không sợ đau đớn! Đấu tư chính là để tự kiểm điểm bản thân. Chuyện của người ta thì để người ta tự nói!” “Lối đi hẹp” đành phải nói lại lần nữa: “Chủ yếu là vì ổng sờ ‘núm’ của tao. Tao cắn ổng là không đúng, nhưng ổng mà không sờ ‘núm’ của tao thì tao cũng chẳng dám cắn ổng đâu. Ổng cứ nhè ngực tao mà thò tay vào, sờ ‘núm’ của tao, tao mới phải ra tay độc ác...” Tiếp theo đó, trong hội trường lại vang lên một mảng tiếng hò hét hỗn loạn: “Tự nói về mình đi! Mày không có lấy một chút tư tâm nào chắc? Chữ ‘ích kỷ’ của mày còn nhỏ lắm à?”

Giây phút vạch trần đã đến. Khi “Lối đi hẹp” đang đứng trên chiếc ghế đẩu ngẩng phắt đầu lên lần nữa, cô ta mới phát hiện ra, những người phụ nữ trong làng căm hận cô ta biết bao! Nhân duyên của cô ta tồi tệ đến mức nào chứ! Nhất là sự ghi hận của phụ nữ, toàn bộ đều do từng chuyện nhỏ nhặt tích tụ lại mà thành. Cuộc sống thôn quê được thể hiện qua từng chuyện nhỏ nhặt, trung tâm cuộc sống của phụ nữ chính là những chuyện vụn vặt không tên. Ánh mắt của họ dĩ nhiên cũng đều dán chặt vào những chuyện nhỏ nhặt ấy. Dường như trong lòng ai nấy đều thủ sẵn một cuốn sổ sách, giờ đây cuốn sổ sách ấy đã được bàyhết ra ánh sáng một cách triệt để rồi! Từng người phụ nữ bước lên vạch trần cô ta đều với vẻ mặt căm phẫn sục sôi chỉ thẳng vào mũi cô ta mà nói rằng: Năm ấy vào ngày đó tháng đó, mày đã lén lút hái trộm của nhà tao một giỏ mận chín vàng! Buổi trưa đứng bóng, mày hái hai quả là không được à? Cố tình hái hẳn một giỏ đầy! Sau đó liền hỏi cô ta có hay không? “Lối đi hẹp” đành phải đáp, có. Năm ấy vào ngày đó tháng đó, lúc chia rau, mày thấy đống rau đó to hơn, cố tình cướp lấy trước mặt nhà tao, đem đống rau đó cướp đi mất! Sau đó hỏi cô ta có hay không? “Lối đi hẹp” cúi gằm cổ đáp, có. Năm ấy vào ngày đó tháng đó, lúc mày làm cỏ, mày kêu đau ngực, nằm ì dưới đất không chịu đứng dậy, đám cỏ đó là tao làm thay cho mày đấy, thế mà sau khi chia dưa chuột, mày chạy đầu tiên, sợ không được phần. Mày nói xem, mày có phải là kẻ làm việc qua quýt không chịu bỏ sức không hả?! “Lối đi hẹp” túa mồ hôi đầm đìa đáp: Phải. Năm ấy vào ngày đó tháng đó, đứa Tam Nao nhà mày gây sự với Tiểu Bảo nhà tao, Tam Nao nhà mày rõ ràng lớn tuổi hơn con nhà tao, thế mà mày vừa xông ra đã giáng cho Tiểu Bảo nhà tao một bạt tai! Đánh cho đứa con nhà tao khóc ré lên, sao mày lại nhẫn tâm thế hả?! Năm ấy vào ngày đó tháng đó, đội chia khoai lang, mày dùng một chân lén lút chặn dưới tấm ván cân bàn, ba trăm cân khoai lang, mày vác đi không chỉ bốn cân đâu nhỉ? Chuyện này có hay không?!...

Tiếp theo đó, những người phụ nữ bước lên vạch trần cô ta ngày một nhiều hơn. Ban đầu chỉ là những người phụ nữ họ khác bước lên tố cáo, đến tận sau này, những người thím người bác cùng tộc với cô ta, những người chị em dâu gần gũi với cô ta, rồi cả chị dâu hai, chị dâu ba, cô em chồng của cô ta, cũng lần lượt từng người một bước lên. Tính “giành ăn” của cô ta, không chỉ một hai lần làm tổn thương người thân họ hàng của mình, những thứ vụn vặt lặt vặt trong sinh hoạt hằng ngày ấy, đều trở thành nhân tố của lòng căm hận, sự thù hận cứ từng bước từng bước bị khơi gợi lên như thế. Quả “bom” cuối cùng do chính người chị dâu cả của cô ta bắn ra.

Tại đại hội, người chị dâu cả vẫn luôn không hề lên tiếng. Giữa các chị em dâu với nhau, hai người họ khá gần gũi, cũng thường xuyên tụ tập nói chuyện phiếm với nhau. Thế nhưng trong một hội trường như thế này, người chị dâu cả của cô ta cuối cùng cũng không nhịn được nữa. Ngày thường, đây là một người đàn bà vô cùng thật thà chất phác, chưa từng tranh chấp so đo với ai chuyện gì. Thế nhưng cứ ngồi mãi ngồi mãi, cô ta bỗng thu cuộn chỉ gai trong tay lại, lê đôi bàn chân to bước lạch bạch chạy lên nói: Mạch Thăng gia này, xét ra chúng ta là chị em dâu với nhau, lẽ ra tôi không nên nói cô đâu. Nhưng mà cái việc cô làm ấy, lúc nào cũng tiểu nhân bỉ ổi! Năm đó, câu nói mà cô thốt ra với Hoài Khánh là gì hả? Cô tự nói ra xem nào?!...

Chỉ là một câu nói không đầu không cuối ấy, cơ thể Vu Phượng Cầm chao đảo một cú, suýt chút nữa ngã nhào từ chiếc ghế đẩu xuống đất! Chỉ thấy cô ta nhắm nghiền hai mắt, khuôn mặt đầm đìa nước mắt! Cô ta tuyệt đối không ngờ rằng, người chị dâu vốn thân thiết với cô ta nhất, cũng sẽ bước lên vạch trần tội lỗi của cô ta. Ngay lúc đó, những người phụ nữ bên dưới đồng thanh tru lên rằng: Nói đi! Bảo cô ta nói đi! Thế là, những thói xấu của cô ta từng cái từng cái bị phơi bày dưới ánh nắng ban trời, những chỗ thầm kín nhất của cô ta cũng bị người ta lôi tuột ra từng chuyện một. Biệt danh bị người ta gọi là “Lối đi hẹp” ấy hết lần này đến lần khác bị nhắc lại. Những người phụ nữ dường như càng nói càng tức giận, càng nghĩ càng căm phẫn. Vừa nói vừa có người nhổ nước bọt thẳng vào mặt cô ta! Mọi người bước lên trên, “phì” một bãi, “phì” một bãi nhổ nước bọt vào người cô ta. Ban đầu là nhổ xuống đất, tiếp đó liền nhổ thẳng lên mặt cô ta! Các bà các chị đồng thanh đồng sắc hô hào: Nhổ vào mặt nó đi! Nhổ chết nó đi!

Trên đời này không có việc gì là nhỏ cả. Những chuyện nhỏ nhặt thì không chịu nổi sự săm soi nghiền ngẫm, lòng căm hận cũng là thứ không dám nghĩ ngợi nhiều. Cứ cách một đêm, lại có những tư liệu mới bị vạch trần ra. Đến ngày họp thứ tám, “hội trường phụ nữ” bắt đầu bước vào công đoạn “rây mặt bột”. “Rây mặt bột” có thể coi là phát minh độc đáo của phụ nữ Hô Gia Bảo. Cũng chỉ có phụ nữ mới nghĩ ra nổi cái chủ ý quái đản như thế, đầu tiên là qua “rây thô”, sau đó mới qua “rây tinh”. “Rây thô” là tám người phụ nữ cùng rây, đứng phía trước bốn người, đứng phía sau bốn người, người đứng phía trước đẩy cô ta ra sau, người ở phía sau lại đẩy cô ta ngược về trước, cứ thế hệt như rây bột mì mà đẩy qua đẩy lại để “rây” cô ta; còn qua “rây tinh” thì lại hoàn toàn khác. “Rây tinh” là vây quanh một vòng phụ nữ, tất cả mọi người cùng xắn tay vào, vừa xoay vòng vừa “rây” cô ta, bạn đẩy cô ta qua, tôi đẩy cô ta lại, con người ta hệt như một chiếc bao tải, bị xô đẩy qua lại giữa đám đông... Đây quả là một khoảnh khắc kích động làm sao! Khuôn mặt của các bà các chị đỏ bừng bừng, ai nấy vừa hú hét “á á” vừa đồng loạt dồn sức, hết lần này đến lần khác dùng sức đẩy “Lối đi hẹp” văng ra ngoài! Lại có những người phụ nữ giấu chiếc kim khâu đế giày to bản trong ống tay áo, lúc “rây”, liền bất ngờ len lén chọc cho cô ta một nhát, chọc cho cô ta kêu ré lên oai oái...! Chẳng mất bao lâu, cô ta đã bị “rây” cho thành một con nữ quỷ tóc tai rũ rượi rồi...

Đến ngày họp thứ chín, đột nhiên có một người phụ nữ đứng bật dậy nói: Đây là buổi họp gì thế này? Đây là buổi họp “đấu tư”. Vừa họp vừa khâu đế giày, thế có tính là có tư tâm hay không?! Mọi người lại một lần nữa hưng phấn hẳn lên, ngay lập tức, từng người lớn tiếng hô hào: Tính chứ! Tính chứ!

Thế là, những người phụ nữ vừa họp vừa tranh thủ khâu đế giày ấy, ai nấy hoảng sợ cuống cuồng như thỏ đế, vội vã nhét đế giày vào cạp quần. Nhét chậm một chút là bị tóm lôi ra ngay. Những người phụ nữ bị lôi ra theo kiểu đó, hễ vừa lên là bắt đầu phải chịu phạt qua màn “rây” trước đã! Qua “rây thô” xong lại qua “rây tinh”, “rây” xong xuôi lại bắt cô ta “phơi bày tư tâm, đấu tranh tư tâm”... Cứ thế, buổi họp liền trở nên hỗn loạn. Hết người này đến người khác bị lôi lên trên, lôi lên được một người, đám đông xúm lại bảy mồm tám miệng vạch trần xong xuôi, thì lại dây dưa dính líu đến một người nào đó, thế là người tiếp theo lại tiếp tục bị lôi ra...

Kết quả là hội nghị “Đấu tư phê tu” đã biến thành một sợi xích khóa chặt, nó tròng dây thừng vào gần như toàn bộ dân làng! Đầu tiên nó làm xói mòn tình cảm họ hàng người thân của con người ta, phân rã quan hệ huyết thống giữa các gia tộc với nhau, khiến cho giữa người với người phát sinh hiềm khích và thù hận. Tiếp đó lại khiến con người ta phát điên trong sự kích động phấn khích! Hệt như màn diễn trên sân khấu vậy, đến một thời điểm nhất định, bạn sẽ phát hiện ra, chẳng còn lấy nổi một người tốt nào nữa rồi.

Hôm hai mươi tư tháng Chạp, Tú Nha chạy đi tìm Hô Thiên Thành. Đối với những buổi họp “Đấu tư phê tu” như thế này, thủa ban đầu, cô ta rất đỗi kích động. Đấu tranh tư tâm “ích kỷ” mà, chính là muốn để cho những kẻ có tư tâm lớn phải chịu đựng sự giáo dục. Cho nên, hai ngày đầu, cô ta cũng hùa theo những người phụ nữ ấy mà hò hét. Thế nhưng họp mãi họp mãi, cô ta bắt đầu thấy hơi chịu không nổi nữa. Nhắc đến thì cô ta là bác sĩ vườn của làng, suốt ngày bốc thuốc châm cứu cho người ta, ăn nói lại ngọt ngào dễ nghe, cho nên, cô ta chưa từng đắc tội với ai cả, cho đến thời điểm hiện tại, cũng chưa từng bị người ta lôi lên trên. Thế nhưng hễ nhìn thấy trận địa thế này, cô ta cũng đành phải hết lần này đến lần khác ngầm tự kiểm điểm lại bản thân, và cô ta phát hiện ra rằng, một khi để cho cô ta đứng lên phơi bày tư tâm, cô ta sẽ còn bốc mùi hơn cả đống phân chó! Những chuyện đó, nếu có ai chỉ điểm ra, thì cô ta còn mặt mũi nào mà sống tiếp đây? Hơn nữa, lại còn phải qua màn “rây”, cô ta thật sự không tài nào chịu nổi... Cứ như thế, cô ta trở thành người phụ nữ duy nhất ở Hô Gia Bảo dám đưa ra hoài nghi đối với phong trào “đấu tư”. Khi tìm đến Hô Thiên Thành, mặt cô ta cắt không còn một giọt máu.

Cô ta nói: “Em có phải cũng phải nói ra những suy nghĩ trong lòng mình không?” Hô Thiên Thành liếc nhìn cô ta một cái, đáp: “Không cần.” Tú Nha bật khóc nức nở, cô ta vừa khóc vừa nói: “Thiên Thành ơi, ai mà chẳng có tư tâm chứ? Anh không có tư tâm chắc?” Hô Thiên Thành lại nhìn cô ta một cái, trầm mặc đáp: “Có.” Tú Nha liền nói: “Cứ tiếp tục thành thật khai báo thế này, có một ngày, cũng sẽ đổ ụp lên đầu anh thôi!” Hô Thiên Thành bình thản nói: “Anh biết chứ.” Tú Nha đầm đìa nước mắt nói: “Em cầu xin anh, đừng làm thế nữa, đừng tiếp tục thế này nữa. Cứ tiếp tục họp nữa, em chỉ còn nước bước lên trên đó tự thú mà thôi!” Hô Thiên Thành trầm mặc nhìn cô ta một lúc, rồi nói: “Những buổi họp như thế này, chủ yếu là để xây dựng chính khí. Những gì nói trong cuộc họp, em cũng đừng quá coi là thật. Họp hành mà, cũng phải có đầu có đuôi chứ, cứ họp thêm hai ngày nữa đi.” Tú Nha nói: “Vậy, họp thì cứ họp, sao lại còn lôi người ra mà ‘rây’ thế chứ?!” Hô Thiên Thành đáp: “Anh đã phê bình họ rồi. Trên báo chẳng nói rồi sao, phải chạm đến linh hồn, chứ đừng chạm đến da thịt.”

Lần này, “Lối đi hẹp” Vu Phượng Cầm đã thực sự chạm đến linh hồn rồi. Cô ta vốn dĩ là một “Lối đi hẹp” nổi danh tiếng tỏi, thế nhưng cuối cùng cô ta lại tự bước vào bên trong cái “Lối đi hẹp” ấy. Sáng sớm ngày hai mươi bảy tháng Chạp, cô ta đã treo cổ mình lên cành cây ở vườn cây ăn quả.

Con người ta để nhận thức được chính mình vốn không phải chuyện dễ dàng gì, lần này thì cô ta đã thực sự nhận thức được bản thân rồi. Cô ta từng là một người đàn bà “giành ăn” đến nhường nào cơ chứ! Thế nhưng mãi cho đến tận bây giờ cô ta mới phát hiện ra, cái chút lợi lộc dù là nhỏ xíu ti ti mà cô ta tranh giành, chiếm đoạt được ấy, thực ra vô cùng hạn hẹp. Vậy mà cô ta lại đắc tội với biết bao nhiêu, biết bao nhiêu con người! Đổi lại biết bao nhiêu, biết bao nhiêu bãi nước bọt! Con người sống trên đời có phải rất bi ai lắm không hả?! Cô ta từng tự kiểm điểm lại bản thân chứ, cô ta đã từng hết lần này đến lần khác tự kiểm điểm lại chính mình, nhưng càng kiểm điểm, cô ta lại càng cảm thấy không còn mặt mũi nào để sống trên đời này nữa. Phụ nữ họ khác nhổ nước bọt vào người cô ta, “rây” cô ta, cô ta đành ngậm đắng nuốt cay thừa nhận, nhưng ngay cả những người chị em dâu thịt xương liền cành cũng nhổ nước bọt, cũng “rây” cô ta ư?! Những người chị dâu của cô ta, cô em chồng của cô ta cũng từng người một bước lên nhổ nước bọt “rây” cô ta ư?... Sai cũng được, tội cũng được, cô ta thật sự đã chịu đựng đủ lắm rồi; trở về nhà, chồng cũng ném cho cô ta ánh mắt hình viên đạn, chồng Mạch Thăng nói: “Sao cô lại làm đến bước này thế hả? Cả nhà đều bị cô làm cho mất mặt xấu hổ!” Đại Nao, Nhị Nao, Tam Nao của cô ta, phỏng chừng cũng đã nghe ngóng được điều gì từ buổi họp, đứa nào đứa nấy đều dùng ánh mắt xa lạ nhìn cô ta...

Vu Phượng Cầm đã bao nhiêu đêm không chợp mắt nổi, nước mắt trong hốc mắt cô ta cũng đã cạn khô từ lâu, nghĩ đi nghĩ lại chỉ cảm thấy con đường phía trước đã đi đến tận cùng rồi, không còn mặt mũi nào gặp ai nữa. Thế là, vào lúc canh năm rạng sáng, cô ta lủi thủi một mình đến hội trường từ sớm, lại thầm lặng, theo thói quen đứng lên chiếc ghế đẩu nhỏ bé ấy. Mùa đông không có lấy một trận tuyết, bầu trời xanh ngắt một màu. Khi cô ta đạp phăng chiếc ghế đẩu nhỏ đã đứng qua bao nhiêu ngày tháng xuống dưới chân, linh hồn của cô ta đã bay vút lên bầu trời xanh thẳm, ngay trong khoảnh khắc này, cô ta bỗng nhiên nhận ra rằng: Trời đất hóa ra lại rộng lớn đến nhường này!

Khi những người phụ nữ bước vào hội trường trong ngày cuối cùng, họ vô cùng kinh ngạc khi phát hiện ra, Vu Phượng Cầm đã treo lơ lửng trên cành cây!

Một người phụ nữ nhỏ thó “giành ăn”, cô ta đã thắt cổ tự vẫn rồi!

Lúc chết, trên người cô ta mặc một chiếc áo vải lam nhạt, chiếc áo ấy mặc rất miễn cưỡng trùm lên bên ngoài chiếc áo bông dày, trên bọc vai đắp một miếng vá mới khâu. Đây phỏng chừng là bộ quần áo sạch sẽ nhất của cô ta rồi.

Tám gốc cây

Cái chết của Vu Phượng Cầm, đã phủ lên phong trào tổng vệ sinh tư tưởng của Hô Gia Bảo một tầng mây u ám.

Mùa đông năm ấy, mặc dù không có tuyết, nhưng gió lại vô cùng dữ dội. Gió lạnh vi vu rít gào, thổi tung lên từng cột khói bụi trên cánh đồng. Gió lạnh từng trận từng trận gào thét, trước tiên làm nứt toác vỏ cây, làm tơi tả lớp đất trên mặt đất, tiếp đó lại thổi nứt nẻ da mặt người, thổi sưng vù những ngón tay giấu trong ống tay áo. Ở nơi này, gió đúng là biết cắn người đấy. Khi gió thổi táp vào mặt, không thấy đau, mà là tê cứng. Nhất là kiểu gió lốc xoáy ấy, hễ ở ngoài đồng mà bám lấy bạn thì chẳng thể nào trốn thoát được, bạn chỉ có cách ngồi xổm ngay tại chỗ, để cho nó cưỡi lên người qua trước đã. Bằng không mà nói, vỡ lỡ trúng phải cơn gió độc ấy, nhẹ thì nửa bên mặt sẽ biến thành màu đen; nặng thì chắc chắn tàn phế không thể nghi ngờ! Lại thêm cả gió cát vàng mù mịt, lúc gió nổi lên, một nửa bầu trời đều vàng rực một màu, bạn nhìn thấy tưởng chừng còn ở xa lắm, thế mà trong chớp mắt nó đã ập tới rồi, hệt như một chiếc nồi lớn, ụp một phát là nuốt chửng lấy bạn vào trong. Tiến lên trước là một màu vàng đặc quánh, lùi về sau vẫn là một màu vàng óng, khắp nơi đều vàng rực, xám xịt, bên tai vang lên một mảng âm thanh gào thét ù ù, lách cách đổ vỡ! Bạn hệt như bị chôn vùi trong lớp đất vàng ngàn năm, dẫu có bước đi thế nào cũng chẳng tài nào bước ra nổi. Nếu bạn dám chạy, vậy thì cứ chạy đi, chạy thế nào cũng không thoát nổi đâu, một khi chạy ra mồ hôi, thì sẽ bị trúng gió, nói không chừng cái mạng nhỏ cứ thế mà bỏ oan uổng! Thế nhưng ngặt một nỗi gió ở nơi này lại cực kỳ thích hợp với những kẻ lười nhác lờ đờ. Giả sử như, bạn là một kẻ lười nhác chẳng vội chẳng nôn nóng gì, bạn là cái thứ ba đấm không tóe nổi một giọt rắm, bạn hoàn toàn chẳng vội vã chút nào. Thế thì, bạn cứ cắn răng chịu đựng, nhẫn nhịn, chịu khổ đi, cúi gậm đầu, nhắm nghiền mắt, rúc cổ lại, mặc kệ nó mây mù hay sương khói, mặc kệ nó hố sâu hay giếng cạn, bạn cứ từ từ lê bước mà đi, biết rằng nghĩ ngợi cũng vô ích, thế thì chẳng cần phải nghĩ nữa, từ từ rồi gió rốt cuộc cũng sẽ qua đi thôi. Cho nên, người ở vùng đồng bằng, không sợ mưa, không sợ tuyết, chỉ sợ gió. Gió ở vùng đồng bằng nhào nặn nên con người. Gió ở vùng đồng bằng cắn người không nhả xương. Cũng có những người hào sảng phóng khoáng, hễ nhắc đến chuyện khó khăn nào đó, nhắc đến những chướng ngại vật không tài nào vượt qua nổi, liền gọi đó là “một trận gió”!

“Đấu tư phê tu”, đối với người Hô Gia Bảo mà nói, cũng chỉ là “một trận gió” mà thôi. Gió đã thổi đến tầm này rồi, ngẫm ra thì cũng nên qua đi thôi. Thế nhưng Hô Thiên Thành lại cứ kiên quyết đòi họp thêm một ngày nữa!

Nói khách quan mà xem, ngay cả Hô Thiên Thành cũng không ngờ rằng, người đàn bà nhỏ thó ấy lại đi thắt cổ tự vẫn. Từ trong thâm tâm, anh ta vốn chán ghét người đàn bà này, chướng mắt cái tính “giành ăn” hễ hở ra là húp trọn chiếm đoạt một chút lợi lộc của cô ta. Trị đốn tư tâm của cô ta một trận thì có, chứ chưa bao giờ nghĩ rằng cô ta sẽ chết.

Thế nhưng cô ta đã chết rồi.

Trong làng có người chết, đây phải coi là chuyện lớn. Hô Thiên Thành ngay lập tức phải đối mặt với một tình cảnh tiến thoái lưỡng nan, một là, anh ta buộc phải thừa nhận rằng, buổi họp này đã họp sai rồi. Cứ thế dừng tay, từ nay về sau những buổi họp thế này sẽ không bao giờ mở ra nữa; hai là, anh ta phải khẳng định rằng, cuộc họp không hề có điểm nào sai trái cả, hội họp vẫn sẽ tiếp tục diễn ra. Vậy thì, một cái xác đang nằm lù lù ở đó, tiếp theo đây, phải họp tiếp thế nào đây?

Hô Thiên Thành thừa biết trong lòng, anh ta lại vừa bước đến một khúc cua sinh tử rồi. Nếu anh ta không thể kiên định, nếu anh ta có dù chỉ một mảy may thoái lui chùn bước, thì đừng hòng nói đến chuyện nhà họ Vương sẽ mượn chuyện có người chết để làm ầm ĩ. Kể từ nay về sau, nếu anh ta còn muốn thúc đẩy bất cứ chuyện gì nữa, thì sẽ khó như lên trời. Thế nên, anh ta ngả bài.

Anh ta nghiến răng họp thêm một ngày nữa. Anh ta triệu tập toàn bộ dân làng tập trung lại ở sân phơi lúa. Sau đó, anh ta đứng lên chiếc cối đá ở giữa sân phơi, mặt đen sì tuyên bố: “Đối trước toàn thể các cụ các ông các bà các anh các chị trong làng. Hôm nay, tôi trước tiên sẽ tự đấu tranh cái chữ ‘ích kỷ’ của bản thân mình. Con người tôi, mọi người đều biết cả rồi, tính tình thối tha, có đôi khi ăn nói không màng phương thức, từng nói những lời sai quấy, làm những việc sai trái, những điều này tôi đều thừa nhận cả. Có đôi khi, cũng không phải lúc nào cũng kiên trì được nguyên tắc trong mọi chuyện, trong làng họ hàng chú bác thím dâu cả đống, cũng có những lúc nể nang mặt mũi, không vượt qua được tình cảm, đây là lỗi của tôi, tôi xin nhận lỗi và sửa chữa!” Vừa nói, giọng anh ta bỗng cao vút lên, “Thế nhưng, tôi muốn nhấn mạnh một điểm: Buổi họp ‘đấu tư’ này, không hề sai. Cho dù vạn năm sau cũng tuyệt đối không sai! Những buổi họp như thế này, sau này năm nào cũng phải tiếp tục mở ra.” Khi nói đến đây, đầu anh ta ngẩng cao lên, ánh mắt lướt qua một vòng thật nhanh khắp hội trường.

Thế là, anh ta phát hiện ra, mọi người đã bắt đầu có cảm giác tội lỗi rồi. Nhất là những người phụ nữ, từng người một cúi gằm cổ xuống, phỏng chừng trong lòng ai nấy đều đang thầm tính toán lại những hành vi của mình trong mấy ngày qua. Trái tim của phụ nữ dẫu sao vẫn mềm mại hơn, đến lúc tĩnh tâm lại rồi, họ bắt đầu cảm thấy ăn năn hối hận.

Chính thứ sắc thái ngoan ngoãn như bầy cừu ấy, đã mang lại cho Hô Thiên Thành một cảm hứng, mang lại cho anh ta một tư duy để giải quyết nguy cơ. Tiếp đó, Hô Thiên Thành lớn tiếng nói: “Hội nghị ‘đấu tư’, theo lời của Quốc Thắng, Quốc Thắng là học sinh cấp ba của làng ta, là người có tư tưởng. Là cái gì nhỉ? Là cái gọi là, cái gọi là phát động tổng vệ sinh tư tưởng ấy mà, là tự giáo dục lấy chính mình đấy mà. Tôi cũng từng nói tại đại hội rồi, Chủ tịch Mao đã bảo rằng, phải chạm đến linh hồn, chứ không chạm đến da thịt mà. Theo tôi thấy, việc ‘rây’ người là không đúng. Rốt cuộc là đứa nào bảo các người đi ‘rây’ người hả?! Cứ làm loạn tung cả lên thế này! Hôm nay, tôi phải phê bình các người một trận!” Khi nói đến câu này, ánh mắt của Hô Thiên Thành sắc lạnh như đạn bắn vèo vèo phóng ra, rà quét trên khuôn mặt của những người phụ nữ ấy. Tiếp đó, anh ta quát lớn: “Phàm là đứa nào đã từng ‘rây’ người, giơ tay hết lên cho tao!”

Trong hội trường, đám phụ nữ đầu tiên là sững sờ ngẩn người ra, tiếp theo đó, bạn nhìn tôi, tôi nhìn bạn, ai nấy ngốc nghếch hệt như những kẻ đần độn! Mấy người thật thà hơn một chút, ngoan ngoãn giơ tay lên không chút chần chừ. Thế nhưng đại đa số phụ nữ vẫn không dám giơ tay, vẫn đang ngập ngừng do dự. Thế là, Hô Thiên Thành bước xuống khỏi chiếc cối đá, chậm rãi nói: “Sợ rồi à? Có gì mà phải sợ chứ? Bạo dạn phát động phê bình vẫn là đúng đắn, vẫn nên được biểu dương chứ lị! Cho dù có ‘rây’ người đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân mà thôi, có sai thì sửa là được chứ gì. Giơ tay lên giơ lại lần nữa xem nào!” Lần này, ào một tiếng, lại có thêm một nhóm phụ nữ giơ tay lên.

Thế nhưng Hô Thiên Thành vẫn không hề dừng lại. Trong lòng anh ta hiểu rất rõ, thị phi ở chốn thôn quê, phần lớn đều do đám phụ nữ thổi phồng khơi mào bên gối. Đó chính là một thứ “gió thổi bên gối” đấy! Thế nên, ánh mắt của Hô Thiên Thành tựa như một chiếc sàng gạo, lọc đi lọc lại giữa đám đông. Ánh mắt của anh ta lúc nào cũng vô tình hay cố ý liếc về phía chỗ đám chị em dâu nhà họ Vương đang đứng, đầu tiên là nhìn chị dâu hai của Vu Phượng Cầm, nhìn chằm chằm cho đến khi ả ta cúi gằm cổ xuống, khuôn mặt từ từ đỏ bừng lên; tiếp đó lại nhìn chị dâu ba của ả, người đàn bà này không có chủ kiến, vừa bị nhìn một cái đã hoảng loạn cả lên, hoảng đến mức tay chân chẳng biết cất vào đâu cho chỗ đặt; tiếp theo nữa, anh ta ghim chặt ánh mắt vào cô em chồng của ả, ả ta vẫn còn là một cô thiếu nữ chưa chồng, tính tình vô cùng chua ngoa đanh đá. Tầm mắt của anh ta cứ lướt đi lướt lại trên khuôn mặt bọn họ liền ba bận! Kế đó, anh ta thở dài một hơi, ôn hòa nói: “Đã ‘rây’ thì chính là ‘rây’ rồi, đây cũng đâu phải chuyện của riêng một người, tất cả mọi người đều nhìn thấy cả đấy thôi. Thừa nhận rồi, thì vẫn là xã viên tốt. Còn nếu không chịu giơ tay, để tra ra được, thì lúc đó sẽ không hay ho đâu đấy...”

Bất ngờ, anh ta dồn hết toàn lực gầm lên một tiếng:

“Giơ tay lên lần nữa cho tao!”

Chỉ bằng tiếng quát dõng dạc ấy, đại đa số phụ nữ trong hội trường đều giơ cao tay lên. Nhất là đám chị em dâu nhà họ Vương, ai nấy cũng đều giơ tay lên hết. Mặc dù rất miễn cưỡng gượng gạo, nhưng suy cho cùng thì cũng đã giơ tay rồi. Chị dâu cả của Vu Phượng Cầm, lúc giơ tay, thậm chí sợ đến mức phát khóc thét lên một tiếng “oa” lớn! Cô ta vừa khóc lên như thế, liền hút trọn ánh mắt của toàn bộ dân làng đổ dồn sang, mọi người đều nhìn về phía chỗ đám chị em dâu nhà họ Vương đứng, nhìn thấy những người phụ nữ nhà họ Vương đang giơ cao tay đó...

Đến tận lúc này, Hô Thiên Thành mới thầm thở phào nhẹ nhõm. Hô Thiên Thành nói: “Phong trào mà, mọi người đều thấy cả rồi, cũng chẳng phải chuyện của riêng cá nhân ai cả. Thôi được rồi, hạ tay xuống hết đi thôi, chuyện này đến đây là chấm dứt. Phượng Cầm vẫn là xã viên, cứ để đội ra tiền lo liệu ma chay chôn cất đi. Có trách nhiệm gì, tôi gánh hết.” Nói đến đây, lời văn của Hô Thiên Thành xoay chuyển ngoặt một cái, nói tiếp: “Bây giờ, tất cả mọi người đi theo tôi!”

Cứ như thế, cả một làng người, cả một làng người đấy! Trong lúc vẫn chưa hoàn hồn lại sau cú sốc, đã ngoan ngoãn răm rắp đi theo anh ta. Đây chính là ma lực, Hô Thiên Thành có một thứ ma lực lớn nhường ấy! Hô Thiên Thành dẫn toàn bộ dân làng đến ngay trước cửa nhà mình, ngay sau đó, đám dân binh từ trong viện nhà anh ta khênh ra ngoài tám cây đại thụ! Tám cây đại thụ này là do anh ta hạ lệnh đốn ngã ngay trong đêm. Khi dân làng nhìn thấy những cây du này từng cây từng cây được khênh ra từ trong viện, lập tức ùa tụ tập lại xung quanh, ai nấy tặc lưỡi xuýt xoa khen ngợi: “Trời ạ, toàn là những vật liệu làm rường cột xịn thế này cơ chứ!”

Đến tận lúc này, Hô Thiên Thành mới tuyên bố: “Bây giờ tôi mới nói cho mọi người biết, hơn nửa tháng nay liên tục họp hành là để làm gì thế? Là để tụ họp lòng người đấy! Tụ họp lòng người để làm gì? Chỉ một câu thôi: Xây dựng ngôi làng mới!” Sau khi lật bài ngửa ra rồi, Hô Thiên Thành lại nói tiếp: “Hô Gia Bảo chúng ta từ đời này qua đời khác phải đau đầu vì chuyện cất nhà dựng cửa, vì tranh chấp đất làm nhà, tuyệt đối không thể để con cháu chúng ta sau này lại phải lo lắng sầu muộn vì chuyện nhà cửa nữa! Bắt đầu từ ngày hôm nay, Hô Gia Bảo chúng ta sẽ do tập thể thôn đứng ra xây nhà, xây nhà hàng dãy liền kề nhau! Sau này hễ có ai đến Hô Gia Bảo chúng ta tham quan, thì chúng ta chính là những người bước chân vào ‘lầu trên lầu dưới, đèn điện điện thoại’ sờ sờ ra đấy rồi! Tôi, với tư cách là người đương gia gánh vác Hô Gia Bảo này, hôm nay xin đi đầu làm gương trước, hiến dâng tám cây đại thụ của nhà tôi đây, dùng để đóng góp vào việc xây dựng làng mới cho bà con dân làng!”

Lòng người chẳng lẽ không phải là cái cân hay sao? Thế nhưng lòng người lại dễ đem ra cân đong đo đếm biết bao. Tám cây gỗ, đã cân đo ra được lòng người. Tám cây gỗ, đã mua đứt được tâm can của toàn thể dân làng. Trái tim dẫu sao đâu phải làm bằng đậu phụ, trái tim được kết tụ từ huyết mạch máu thịt, thế nhưng huyết mạch máu thịt rốt cuộc là thứ gì? Huyết mạch là do ngũ cốc hoa màu nuôi dưỡng lớn lên, thế nhưng nuôi dưỡng mãi nuôi dưỡng hoài, thứ được nuôi lớn chẳng phải chính là hai chữ “sinh tồn” hay sao?! Giờ khắc này đây, người ta cảm thấy, tám cây gỗ ấy đã là một con số khổng lồ rồi. Tám cây gỗ ấy, đã đủ để khiến người ta tâm phục khẩu phục người gia chủ đang chèo chống nhà mình. Thế là, mọi người lại một lần nữa xúc động nghẹn ngào, dân làng lần lượt hô hào lên: Xây! Thiên Thành à, chỉ cần cậu — bí thư chi bộ chống đỡ gánh vác đến cùng, có đập nồi bán sắt chúng ta cũng phải xây dựng cho bằng được!

Lúc này, mẹ Thiên Thành từ trong viện bước ra. Bà bước ra ngoài, cứ thế lẳng lặng đứng ngây ở cửa, một câu cũng không nói. Hô Thiên Thành liếc nhìn mẹ một cái, rồi lớn tiếng nói: “Mẹ ơi, mẹ cũng đừng trách con nhé. Ai bảo con trai mẹ lại là người đương gia của Hô Gia Bảo này cơ chứ! Chỉ cần ngôi làng mới được xây dựng hoàn thành, con có nhắm mắt xuôi tay cũng cảm thấy mãn nguyện rồi!”

Chính là một câu nói ấy, lại càng khiến dân làng thêm phần kích động sục sôi. Đức Thuận giậm chân một cái nói: “Đã muốn xây nhà hàng dãy rồi, gạch ngói xây nhà của tôi đấy, cũng xin hiến dâng ra nốt!”

Thế là, Hô Thiên Thành dẫn đầu vỗ tay!

Chốc lát sau, đường làng ngõ xóm lại rộn rã tiếng vỗ tay như sấm dậy!

Thế nhưng, tuyệt đối không một ai ngờ tới, tất cả những chuyện này, từ lúc Hô Thiên Thành trên đường đi tham quan Đại Trại trở về đã sớm được tính toán mưu vạch sẵn trong đầu từ lâu rồi. Khi Hô Thiên Thành đi tham quan ở Đại Trại, cảm xúc mang lại vô cùng sâu sắc đấy! Anh ta vô cùng yêu thích những ngôi nhà hang đá ở Đại Trại, từng hàng nhà hang đá quây quần mới mẻ ấy, từng mang lại cho anh ta ấn tượng vô cùng sâu sắc. Nhất là vào ban đêm, từng hàng từng lớp ánh đèn rực sáng ấy, hệt như những đoàn tàu đang lăn bánh tiến về phía trước vậy, có sức chấn nhiếp lòng người vô cùng lớn lao! Thế là, trên đường trở về, anh ta đã sớm nhẩm tính trong đầu, anh ta muốn san bằng những ngôi nhà cũ kỹ của từng hộ gia đình, để xây dựng lên một ngôi làng mới.

Anh ta nhất định phải xây dựng ngôi làng mới. Anh ta là một kẻ làm việc lớn, thứ anh ta muốn xây dựng không chỉ đơn thuần là những căn nhà quy củ đồng đều tăm tắp, thứ mà anh ta muốn tạo dựng, chính là một “ngôi làng mới” tràn đầy sức mạnh ngưng tụ gắn kết! Ngôi làng ấy ở khắp cả nước, cũng sẽ là một chốn có một không hai. Ý niệm này đã được chôn giấu trong lòng anh ta từ rất lâu rồi. Giờ đây, nó ngày một trở nên rõ ràng rành mạch hơn. Anh ta vô cùng hiểu rõ trong lòng, xây nhà hàng dãy vốn dĩ không phải là mục đích cuối cùng của anh ta. Đầu tiên, anh ta muốn đập tan cái nền móng mà ba họ Hô, Vương, Lưu bấy lâu nay vẫn nương tựa vào để sinh tồn, đập tan cái thứ “vai vế” vẫn luôn cản trở ngáng đường anh ta. Nhà cửa chính là gốc rễ của con người cơ mà, những nền móng nhà được truyền từ đời này qua đời khác ấy, đã xuyên suốt biết bao câu chuyện huyết mạch máu thịt của bao nhiêu con người? Lại gắn kết biết bao nhiêu tình cảm họ hàng và những mối rối ren chằng chịt? Ở vùng quê đồng bằng, cất nhà dựng cửa chính là thời điểm tốt nhất để thắt chặt tình cảm giao hảo, hồi đó, bất kể nhà ai xây nhà, hễ là có chút họ hàng thân thích dính dáng đến đều phải tới để giúp một tay. Bạn phụ một tay, tôi giúp một sức, cứ tơ hồng vương vấn liên kết như thế, đời đời kiếp kiếp mãi mãi chẳng thể nào gỡ ra cho đứt nổi. Thứ đắp trên bức tường ấy không chỉ là đất vàng, đó là thời gian, là “vai vế”, là sự gắn kết khăng khít giữa họ này với họ kia. Ở chốn thôn quê, cái “vai vế” ấy, cái sự gắn kết gỡ không dứt ấy, dư sức để tiêu diệt bất kỳ uy quyền nào! Vậy thì, để thực sự thiết lập nên được một thứ uy quyền vững chãi, bắt buộc phải tháo dỡ những thứ này đi. Nền móng nhà là thứ dung thân che chở cho con người, đập bỏ nền móng nhà của từng hộ gia đình đi, con người ta sẽ chẳng còn nơi nào để ẩn nấp nữa. Đến thời điểm ấy, nhà cửa là của tập thể thôn xóm, cái nền tảng để con người nương tựa sinh tồn sẽ triệt để thay đổi hoàn toàn.

Những điều này, Hô Thiên Thành sẽ không dễ dàng thổ lộ với người khác đâu.

Anh ta muốn xây dựng ở Hô Gia Bảo một “ngôi làng mới” mang đậm tính lý tưởng!

Ngay vào đêm hôm đó, Tú Nha lại một lần nữa tìm đến túp lều tranh trong vườn cây ăn quả.

Vừa bước vào cửa, Tú Nha trầm mặc nói: “Sắp xây làng mới rồi nhỉ.”

Hô Thiên Thành đáp: “Đúng vậy.”

Tú Nha nói: “Phượng Cầm chết rồi...”

Hô Thiên Thành đột nhiên lên tiếng: “Loại người như thế này, chết đi cho rảnh nợ.”

Toàn thân Tú Nha lạnh toát, lẩm bẩm nói: “Anh nhẫn tâm quá rồi đấy.”

Hô Thiên Thành nhạt giọng đáp: “Bầy cừu có những lúc đúng là phải đuổi chúng đi, mày không đuổi, nó không chịu di chuyển.”

Tú Nha thầm lặng nói: “Dẫu sao cũng là con người bằng xương bằng thịt mà...”

Hô Thiên Thành liếc nhìn ra ngoài cửa một cái, rồi nói: “Em nghe thử âm thanh bên ngoài xem kìa, tiếng động ấy sắp kéo đến rồi đấy. Đó có phải là tiếng người nữa đâu? Con người ta đến một thời điểm nhất định nào đó, thì cũng chẳng còn là con người nữa đâu.”

Tú Nha thầm nghĩ trong lòng, rốt cuộc tại sao mình lại thích anh ta cơ chứ? Tại sao mình lại cứ thích anh ta thế nhỉ? Bất kể anh ta làm chuyện gì đi chăng nữa, sao mình lại cứ đơn độc cắm đầu vào thích một mình anh ta thế này cơ chứ?!

Hô Thiên Thành lạnh lùng cất lời: “Cởi ra!”

Sân triển lãm

Mùa xuân năm ấy, Hô Thiên Thành đã tổ chức một sân triển lãm vô cùng độc đáo mới lạ ngay tại Hô Gia Bảo.

Trên sân triển lãm này, thứ được trưng bày đầu tiên chính là ngón tay của Vương Mạch Thăng.

Mạch Thăng bị đứt ngón tay là trong lúc dỡ nhà cũ bị dao xây chém đứt. Trong khoảng thời gian đó, tinh thần Mạch Thăng vẫn luôn ngẩn ngơ, thẫn thờ. Vợ chết, lại là chết thắt cổ. Chuyện này, đối với anh ta mà nói, là nỗi đau thấu xương thịt. Quan trọng nhất là, anh ta không còn vợ nữa. Lúc vợ còn sống, cũng chẳng thấy có gì nổi bật, chỉ cảm thấy cô ấy lợi hại, "cứng cỏi". Nhưng một khi vợ chết, nhà trông không ra nhà nữa. Thế là, đủ mọi điểm tốt của vợ lúc này mới lộ ra. Vợ tuy người nhỏ nhắn, nhưng lại tháo vát lắm! Ở nhà luôn tay luôn chân cầm chổi quét nhà, cho lợn ăn, cho gà ăn, nấu cơm, cọ nồi, cứ đến ban đêm, cái chăn lúc nào cũng ấm áp, cậu chạm vào cô ấy một cái, cô ấy còn run lên cơ. Ba đứa con, Đại Nao, Nhị Nao, Tam Nao, Mạch Thăng chưa từng quản lý bao giờ, toàn do vợ quản cả. Ban đêm, vợ luôn trèo từ chiếc giường này sang chiếc giường kia, đắp chăn cho đứa này, dắt chăn cho đứa kia, hoặc vỗ cho một bạt tai là lũ trẻ ngoan ngoãn ngủ ngay. Cứ đến sáng ra, tiếng mắng chửi của vợ lại vang lên, đó đích thị là tiếng kèn thức dậy của nhà hắn Vương Mạch Thăng...

Vợ không thể tính là một người vợ tốt, nhưng dẫu sao cũng là vợ của hắn. Đi rồi, không tìm ai để lý luận, cũng chẳng thể lý luận được. Hắn xót xa, trong lòng nén lại nỗi căm hận. Nhưng hận ai cơ chứ, lại chẳng nói rõ được. Thế nên, mỗi ngày bước ra ngoài, hắn lại ngây ra như phỗng, đôi mắt phóng ra thứ ánh sáng quái dị, đờ đẫn. Lúc làm việc thì hung hăng, ra tay rất nặng. Có một hôm, khi hắn giơ cao chiếc bay thợ hồ trong tay, lại nhìn thấy rõ mồn một vợ đang đi về phía mình, vợ tươi tắn, rạng rỡ... Chỉ vì lơ đễnh thế mà hắn đã tự chém đứt ngón tay mình!

Khoảnh khắc ngón tay bị chém đứt, tim hắn nhói lên một cái, nhưng sau đó thì không thấy đau nữa, chỉ thấy ngón tay tê dại đi, có cái gì đó ướt đẫm chảy ra, trong lòng lại vô cùng sảng khoái. Ngay lập tức, có đám đông vây lại nói: "Ngón tay! Ngón tay của Mạch Thăng kìa!"

Thế là, mọi người hoảng hốt, quay sang tìm kiếm nửa đốt ngón tay rơi trong kẽ gạch, bới qua bới lại, cuối cùng cũng tìm thấy. Có người giơ lên nói: "Xem này, tìm thấy rồi, ngón tay của Mạch Thăng! Ngón tay của Mạch Thăng này!"

Mạch Thăng lại ngẩn ngơ đứng đó, giơ một bàn tay của mình lên.

Có người hỏi hắn: "Đau không?"

Hắn nhíu mày nói: "Không đau." Hắn không đau thật, bàn tay đã tê rần đi rồi. Chỗ cụt trắng hếu lộ ra mẩu xương, nhưng lại chẳng có máu.

Lúc này, Hô Thiên Thành bước tới, nhận lấy nửa đốt ngón tay dính đầy đất từ tay mọi người, liếc nhìn một cái, rồi nói với Mạch Thăng: "Đi băng lại đi."

Mạch Thăng lạnh lùng đáp: "Thôi khỏi."

Hô Thiên Thành lặp lại lần nữa: "Băng lại đi. Để Phượng Cô băng cho cậu."

Đến lúc này, máu trên tay Mạch Thăng mới trào ra, có người liền kéo giật hắn đi đến phòng y tế.

Sáng hôm sau, khi mọi người đi làm, Hô Thiên Thành dẫn toàn thôn đến trước cửa trụ sở đại đội, nơi đó đã dựng lên một cái "bàn trưng bày" màu đỏ nữa rồi. Trên bàn trưng bày có ba chữ lớn màu vàng óng: Bảng anh hùng. Phía dưới "Bảng anh hùng", người ta đóng một hàng đinh...

Hô Thiên Thành giơ cao tay, chỉ thấy trong tay anh ta đang cầm một dải vải đỏ thắm, buộc trên dải vải ấy chính là nửa đốt ngón tay của Mạch Thăng!

Nói rồi, Hô Thiên Thành vô cùng trang trọng treo nửa đốt ngón tay được buộc dải vải đỏ ấy lên chiếc đinh đầu tiên ở phía dưới "Bảng anh hùng"!

Cứ từ ngày đó trở đi, mỗi khi đến giờ đi làm, Hô Thiên Thành lại dẫn toàn thôn đến trước "bàn trưng bày", để mọi người nhìn ngắm "ngón tay đứt" được treo ở đó, rồi cúi đầu ba vái trước "ngón tay đứt" ấy! Sau này, trong quá trình xây dựng "thôn mới", việc này đã trở thành một nghi thức của Hô Gia Bảo.

Khi ngón tay của Vương Mạch Thăng được treo ở đó rồi, Mạch Thăng liền cảm thấy bản thân mình cũng được treo lên theo. Giống như một sự thăng hoa về tinh thần, Mạch Thăng bỗng nhiên cảm thấy anh ta không còn là mình của ngày trước nữa. Rõ ràng đây là một sự "đề bạt". Ở vùng bình nguyên, từ "đề bạt" là từ được người ta thường xuyên sử dụng trên miệng, điều mà dân làng coi trọng nhất chính là có được "đề bạt" hay không. Ở đây, "đề bạt" không chỉ đơn thuần là sự coi trọng, nó còn là tiền đề của "thể diện", là một thứ "địa vị" được công nhận, là sự cao cả mang ý nghĩa thân phận nào đó, cũng có thể nói là niềm vui lớn nhất của người sống. Có được "đề bạt" hay không, hầu như đã trở thành mưu cầu tinh thần lớn nhất của người dân quê.

Mạch Thăng đương nhiên không ngờ mình lại nhận được sự "đề bạt" nhường này, thoạt đầu anh ta có hơi thụ sủng nhược kinh, thậm chí có chút luống cuống không biết làm sao. Thế nhưng, rất nhanh sau đó, anh ta cứ như biến thành một con người khác vậy. Vốn dĩ là một kẻ câm như hến, bỗng chốc lại trở nên thích nói cười, lại còn thích sang nhà hàng xóm đi lại. Trên công trường phá dỡ nhà, mỗi khi xuất hiện trước mặt mọi người, anh ta luôn giơ cái tay quấn vải gạc trắng đó lên. Anh ta giơ cái tay ấy và nói: "Vạn Tài, cậu đi sang phía Đông đi." Thế là Vạn Tài liền đi sang phía Đông. Anh ta lại sai bảo: "Du Gia, cậu đi đỡ rui gỗ đi!" Vợ Du Gia liền đi ra đỡ rui gỗ, trông rất ra dáng oai phong. Anh ta giơ cái tay quấn vải gạc đầy vết thương ấy lên, lúc nào cũng cẩn thận từng chút một, giống như đang nâng niu sinh mạng của chính mình vậy. Cho đến tận sau này, khi ngón tay đã lành hẳn, anh ta vẫn kiên quyết quấn một miếng vải gạc trắng như thế.

Trong một khoảng thời gian rất dài, cái "ngón tay đứt" treo trên bàn trưng bày ấy lại biến thành "người vợ" của Vương Mạch Thăng. Đó là tình yêu chưa từng có trong suốt cuộc đời anh ta, luôn gắn bó khăng khít thịt da. Ngoài nghi thức mỗi ngày ra, hễ cứ rảnh rỗi là anh ta lại lén lút chạy ra trước "bàn trưng bày" đó, để ngắm cái ngón tay đứt buộc dải vải đỏ ấy, ngắm hết lần này đến lần khác. Ngón tay đứt được treo ở đó, giống như níu chặt lấy tâm can anh ta vậy. Có đêm ngủ đến nửa đêm, anh ta lại ngẩn ngơ cầm nửa đoạn nến ra xem lại lần nữa, đúng lúc đụng độ tuần tra dân phòng, mọi người hỏi anh ta, nửa đêm nửa hôm thế này, anh dậy làm gì? Anh ta ấp úng nói: "Tôi... xem lại mấy thanh rui. Nổi gió rồi, tôi xem lại mấy thanh rui." Lời đã nói ra thế rồi, anh ta đành phải ngồi xổm ở đó ngắm nghễnh những thanh rui cũ tháo ra từ ngôi nhà cổ suốt cả đêm... Đúng vậy, người ta đã "đề bạt" anh ta thế cơ mà, anh ta có thể không làm việc cho đàng hoàng được sao, anh ta liều mạng làm việc ấy chứ!

Vào tháng Tư, người thứ hai được treo lên "bàn trưng bày" chính là ngón tay của Từ Tam Ni.

Nhà họ Từ là hộ độc đinh. Ở Hô Gia Bảo, họ Từ chỉ có mỗi nhà cô ta. Nhà họ Từ không có con trai, chỉ có con gái, Tam Ni là đứa con gái xấu xí nhất nhà, người thô mập lùn tịt như củ cải, trên miệng lại có một vết sứt hở nhỏ, nói chuyện lọt gió, cứ ú ớ ngọng ngịu. Thế nên, mọi người đều gọi cô ta là "Hở". "Hở" ở nhà là kẻ "gánh tạ". Từ "gánh tạ" này ở vùng bình nguyên mang một ý nghĩa đặc thù, đó là nhân vật chịu đựng nhiều bắt nạt nhất (nói cách khác, tất cả chuyện tốt đều không đến lượt cô; tất cả việc bẩn thỉu, mệt nhọc cô đều phải làm; mà cuối cùng tất cả xui xẻo lại đều đổ trúng đầu cô).

“Hở” lớn lên trong một môi trường như thế, cô chưa từng nhận được sắc mặt tốt nào từ người nhà, cái chổi cùn trong tay mẹ cô hầu như ngày nào cũng quất lên đầu cô! Mẹ cô có biệt danh là "Lão Oa Tứ Thẩm". Tiếng mắng chửi của "Lão Oa Tứ Thẩm" trong thôn cũng có chút tiếng tăm, thế nhưng tiếng mắng của bà ta chỉ nhắm vào một người, đó chính là con "Hở" nhà mình. Khi "Hở" mười tám tuổi, hai người chị của cô lần lượt đi lấy chồng. Một năm sau, có một hôm, "Lão Oa Tứ Thẩm" đứng giữa đường thôn nói chuyện phiếm: "Đứa nào mà lấy con ‘Hở’ nhà tao, tao tặng cho một xe phân đại tiện!" Nói dứt lời, mọi người cười ồ lên. Khi bà ta nói xong câu đó, ngoảnh đầu lại, liền thấy con "Hở" nhà mình đang thong thả bước ra từ tiệm bách hóa gần nhà, trên tay xách một chai giấm mới mua. Câu nói ấy, rõ ràng cô đã nghe thấy, thế nhưng cô không hề quay đầu lại.

Trong một thời gian rất dài, vẫn không một ai có thể hiểu nổi tại sao "Hở" lại có thể nhẫn nhịn như thế. Ngón tay của cô bị dập đứt trong lúc ném gạch, đỡ gạch. Đó là một chồng gạch xiên góc đè lên hai ngón tay của cô, lúc ấy đã bị dập đứt phăng rồi, thế nhưng gân vẫn còn dính liền, gân cứ giật tưng tưng! Không ai có thể ngờ rằng, ngay lúc ấy, "Hở" vươn tay chộp lấy một cây rìu, chỉ trong chớp mắt, vậy mà lại tự tay chặt đứt lìa hai ngón tay còn đang vương vãi gân thịt ấy xuống! Ngón tay đứt lìa rơi xuống đất vẫn còn giật nảy lên trên viên gạch, thế nhưng cô lại làm như không có chuyện gì xảy ra, tiện tay bốc một nắm đất áp lên những ngón tay đang rỉ máu. Cảnh tượng này khiến tất cả những ai chứng kiến đều trợn mắt há mồm! Mọi người hoảng hốt chạy tới nói: "'Hở' ơi, mày ngu à?! Không đau chắc?"

"Hở" ú a ú ớ đáp: "Không đau."

Trong lòng mọi người lạnh toát, lại hỏi tiếp: "Sao lại không đau?"

Cô đáp một cách cứng ngắc: "Không đau!"

Ngày hôm sau, khỏi phải nói, ngón tay đứt của Từ Tam Ni lại vinh dự được treo lên "bàn trưng bày". Khoảnh khắc ngón tay đứt được treo lên ấy, "Hở" bỗng bật khóc không thành tiếng, chỉ thấy nước mắt đầm đìa khắp mặt! Ngay lúc ấy, Hô Thiên Thành quay đầu lại, liếc nhìn cô một cái, chính cái nhìn này đã giúp anh ta phát hiện ra một tử sĩ dũng cảm! Hô Thiên Thành tuyệt đối sẽ không nhìn nhầm người. Thế thế là, anh ta vẫy tay nói: "Tam Ni, em bước ra đây."

“Hở” khựng lại một lát, từ từ bước ra từ đám đông. Hô Thiên Thành nói với mọi người: "Mọi người nhìn cho rõ vào, đây là Tam Ni! Tam Ni là tấm gương cho chúng ta học tập. Từ hôm nay trở đi, không được gọi người ta là ‘Hở’ nữa. Tôi nói rồi, do đội bỏ tiền ra, đưa Tam Ni đến bệnh viện lớn trên thành phố, vá lại cái vết sứt này cho con bé! Tao xem đứa nào còn dám gọi người ta là ‘Hở, Hở’ nữa..."

Hô Thiên Thành nói là làm, ngay chiều hôm đó, "Hở" được Tú Nha đi cùng đến bệnh viện lớn trên thành phố. Nửa tháng sau, khi Tam Ni từ bệnh viện trở về, cô đã không còn về nhà nữa. Vết sứt trên miệng cô đã được bác sĩ vá lại rồi, nói chuyện không còn bị lọt gió nữa. Đương nhiên cũng chẳng còn ai dám gọi cô là "Hở" nữa. Quan trọng hơn là, trong suốt tám năm dài đằng đẵng sau đó, chính người con gái đen đúa xấu xí này đã tạo nên một trận cuồng phong nữ giới tại Hô Gia Bảo! Không ai dũng cảm hơn cô nữa, ở Hô Gia Bảo, cô trở thành người phụ nữ đầu tiên cầm bay thợ hồ leo lên mái nhà. Trên mái nhà, sự lỳ lợm của cô từng khiến nhiều nam nhân phải hổ thẹn, những bức tường do cô xây nên cũng từng khiến những tên thợ hồ lăn lộn nhiều năm phải âm thầm líu lưỡi lè lưỡi! Cũng chính nhờ sự dẫn dắt của cô mà phụ nữ Hô Gia Bảo sau đó lần lượt đều leo lên được mái nhà, trong một thời gian khá dài sau đó, một nửa số tường của những dãy nhà liền kề ở Hô Gia Bảo đều do phụ nữ xây nên. Từ Tam Ni thậm chí còn đánh bại cả mẹ mình — "Lão Oa Tứ Thẩm". Kể từ khi cô không về nhà, "Lão Oa Tứ Thẩm" đã ra công trường mắng chửi cô ba lần. Lần thứ nhất, cô im phăng phắc, chỉ trừng mắt lườm mẹ mình một cái! Hai hôm sau, "Lão Oa Tứ Thẩm" lại tới mắng một trận nữa, Từ Tam Ni chỉ trừng mắt căm phẫn nhìn bà ta, không nói một lời nào. Đến lần thứ ba, "Lão Oa Tứ Thẩm" mắng suốt cả một con phố! "Lão Oa Tứ Thẩm" đương nhiên mắng rất khó nghe, vừa mắng vừa chửi, bỗng thấy trên tường nhà "vèo" một cái, nhảy xuống một kẻ người ngợm dính đầy bùn đất, kẻ trông ngó chẳng còn ra hình người nữa, giống y như một đống "lừa đất"! "Lừa đất" một tay cầm bay thợ hồ, một tay túm lấy cổ áo "Lão Oa Tứ Thẩm", hung tợn nói: "Mày mà còn dám mắng thêm một câu nữa, tao chặt đứt cổ mày!"

Lập tức, "Lão Oa Tứ Thẩm" câm họng, những lời chửi rủa bị nghẹn ngược vào trong cổ họng. Thứ bà ta nhìn thấy là một đôi mắt bò đầy kiến độc, trong ánh nhìn đầy độc ác và rạng ngời sức sống ấy, bà ta nhìn thấy một thứ có thể chích người, ở trong đó viết rành rành một chữ "Giết"! Thế nên, dẫu có lắm từ ngữ mắng chửi hay ho đi chăng nữa, "Lão Oa Tứ Thẩm" cũng đành phải cứng cổ nuốt ngược vào trong. Bà ta trợn trừng đôi mắt già nua đầy sợ hãi, ngẩn ngơ nhìn chằm chằm người đang đứng trước mặt, thầm nghĩ trong lòng, lạy trời đất ơi, đây có phải là con "Hở" nhà mình không vậy?!

Phải nói rằng, cái tên Từ Tam Ni là do Hô Thiên Thành gọi lại lần nữa, chính anh ta đã khiến cái tên ấy một lần nữa quay trở lại trên miệng mọi người. Đương nhiên, kể từ đó về sau, chẳng còn ai dám nói trước mặt Từ Tam Ni một chữ "Không" về Hô Thiên Thành nữa, chỉ cần có người nói một câu không tốt về Hô Thiên Thành, dù chỉ là có ý định đó thôi, Từ Tam Ni chắc chắn sẽ liếc nhìn người đó một cái, ánh nhìn ấy vô cùng độc địa!

“Bàn trưng bày” có thể nói là một phát minh lớn khác của Hô Thiên Thành. Không ai ngờ rằng, tác dụng của một chiếc "bàn trưng bày" lại có thể lớn đến thế! Những ngón tay đứt được buộc dải vải đỏ, treo trên "bảng vinh quang" ấy sau những trận gió thổi nắng táp cứ đen dần và tóp lại, có cái trông giống như một củ gừng đen nhỏ xíu, có cái thậm chí còn bu bám đầy ruồi nhặng, thế nhưng ý nghĩa "vĩ đại" của nó thì không thể xem nhẹ. Những ngón tay "vinh quang" này trong suốt nhiều năm trời đã trở thành một phong cảnh của Hô Gia Bảo, trở thành vật được mọi người kính ngưỡng. Ở đây, "tinh thần" đã được cụ thể hóa hoàn toàn, nó đồng nghĩa với những "ngón tay" ấy. Chính những "ngón tay" đó đã chỉ ra cho mọi người một hướng đi không thể nghi ngờ. Hồi đó, ở Hô Gia Bảo ngày nào cũng có rất nhiều người vừa giơ cao tay vừa đi lại, ngón tay của những người này đều được quấn vải gạc trắng (đương nhiên trong số đó có không ít là "hàng giả" do tự làm dập bị thương), việc giơ cao một bàn tay quấn vải gạc trắng đã trở thành một mốt thời thượng và niềm vinh quang ở Hô Gia Bảo.

Chỉ có Bát Quanh là kẻ thích hớt hải "lắm mồm". Bát Quanh hằng ngày gánh phân trong thôn, có lần lại dám gánh đôi quang gánh lén lút nói với người ta rằng, những ngón tay đứt treo trên "bàn trưng bày" kia, cậu ta đều đã xem qua hết rồi, không có ngón nào là "vân tay hình xoáy tròn" cả, toàn là "vân tay hình sọt rác" hết. Thế là, đương nhiên cậu ta bị mọi người tố giác, phải đứng cúi đầu trước "bàn trưng bày" suốt ba ngày, coi như là nhận tội. Có người chỉ vào đầu Bát Quanh mà hỏi: "Bát Quanh, cái treo ở trên đó là cái gì?"

Bát Quanh cúi gằm cổ đáp: "Vinh quang, đó là vinh quang."

Đến năm thứ hai, lần lượt có thêm tám đốt ngón tay đứt được treo lên "bàn trưng bày". Ngón tay của Vương Mã Hổ bị máy cưa cắt đứt, hắn ta bảo mình chỉ hoa mắt một chút, "phập" một tiếng, ngón tay đã biến mất rồi, mẹ kiếp hắn ta còn cười được chứ; ngón tay của nhà họ Thằng bị kẹt đứt trong đống gỗ, nguyên nhân là đi nhổ một cái đinh; ngón tay của Lưu Trường Hữu bị tiện đứt trên máy bào điện, hắn ta bảo cứ như là thái củ cải vậy, vẫn là vết chém xiên góc; ngón tay của Vương Quốc Thắng thì có hơi đáng ngờ, có người bảo hắn ta dùng liềm cắt lúa trong ruộng lúa mì tự cắt bị thương, có người bảo bị dập trên công trường, lại có người bảo là do "cái tên em vợ" đó cố ý làm bị thương. Thế nên, Hô Thiên Thành liền phán rằng, thôi thì "cầu đại đồng tồn tiểu dị" vậy. Cuối cùng vẫn được treo lên.

Cho đến tận sau này, khi những người cụt ngón tay ngày một nhiều lên, ngay cả Hô Thiên Thành cũng đành phải giải thích lại rằng, vẫn phải chú ý an toàn.

Một chú thích của chữ Hán

Đó là một ngày vô cùng thê lương.

Vào ngày hôm đó, Hô Gia Bảo xảy ra tai nạn lớn.

Đó là năm thứ tư xây dựng "thôn mới". Buổi sáng, Tôn Tiểu Hữu và Lưu Thanh Hà cùng nhau ra cửa, hai người vừa đi vừa nói cười vui vẻ đến công trường. Đến buổi trưa, thì một người chết, một người ngơ ngẩn.

Năm đó, Tôn Tiểu Hữu mới mười sáu tuổi, Lưu Thanh Hà cũng chỉ vừa hơn mười bảy một chút, Tôn Tiểu Hữu là đứa da trắng trẻo, Lưu Thanh Hà là đứa da ngăm đen, hai đứa từ nhỏ đã chơi với nhau. Lớn hơn chút nữa, lại học cùng một lớp, vẫn luôn rất thân thiết. Sáng nay, lúc sắp ra cửa, Lưu Thanh Hà còn nói với Tôn Tiểu Hữu rằng: "Hữu này, phía Tây vườn cây có một tổ ong vò vẽ, to bằng cái chậu đấy, tụi mình qua chọc nó đi?"

Tôn Tiểu Hữu đáp: "Tớ chịu đấy, nó đốt chết người đấy."

Lưu Thanh Hà nói: "Cậu nhát gan thế. Trưa nay tụi mình qua chọc nó."

Tôn Tiểu Hữu nói: "Nó mà đốt người thì tính sao?"

Lưu Thanh Hà nói: "Cậu đứng một bên trông chừng, để tớ chọc, có chết thì tớ chết. Thế được chưa?"

Ai mà ngờ được, câu nói ấy lại ứng nghiệm thành lời sấm truyền!

Lưu Thanh Hà không đi chọc tổ ong vò vẽ. Sáng hôm đó, Lưu Thanh Hà làm việc cùng Tôn Tiểu Hữu tại xưởng xẻ gỗ trên công trường. Ở xưởng xẻ có một cỗ máy lớn dài mười mấy mét, gọi là cỗ máy cưa vòng, cỗ máy cưa vòng này vẫn là do Hô Thiên Thành nhờ vả người trên mới phê duyệt cho đấy. Lưu Thanh Hà và Tôn Tiểu Hữu cùng với thợ cả Lưu Toàn phụ giúp khiêng gỗ ở xưởng xẻ. Sau sự việc đó, có người bảo rằng, lúc ấy, Lưu Toàn không nên đi tiểu mới phải, nếu ông ta không đi tiểu thì đã chẳng có chuyện gì rồi. Lưu Toàn lại bảo, hai đứa nó vẫn làm việc ở đây suốt, tôi cũng ngày nào chẳng đi tiểu, đâu phải chỉ riêng lúc đó mới đi. Sức tôi mà sớm biết trước, có nhịn chết tôi cũng chẳng đi tiểu nữa.

Chính vào lúc Lưu Toàn đi tiểu, tai nạn đã xảy ra.

Lúc ấy, khúc gỗ đang cưa vừa hay là một khúc gỗ tạp lâu năm, trên khúc gỗ có rất nhiều thớ gỗ đan xen phức tạp, cưa mãi mà không tiến lên được, ấy là do lưỡi cưa bị thớ gỗ kẹt cứng lại. Trước đây, cứ đến lúc này, đều phải dừng lại để dọn dẹp lưỡi cưa, hoặc là bên này đẩy một cái, bên kia kéo một cái, là khúc gỗ lại trôi qua ngay. Thế là, Lưu Thanh Hà và Tôn Tiểu Hữu vẫn như mọi khi, một người đẩy bên này, một người kéo bên kia. Nhưng Lưu Thanh Hà rõ dùng sức hơi mạnh quá (theo lời mẹ cậu ta kể lại sau đó, sáng hôm đó, cậu ta ăn nhiều hơn một chiếc bánh ngô), lúc cậu ta đẩy ở bên này, liền cảm thấy khúc gỗ kia như có từ tính vậy, cậu ta vừa đẩy một cái, chỉ nghe "Xì — cạch!" một tiếng, giữa không trung đột nhiên bùng lên một trận mưa máu hung bạo, trận mưa máu cuốn theo cả thịt vụn bay thẳng tắp vào người Tôn Tiểu Hữu ở đối diện!

Ngay trong khoảnh khắc Tôn Tiểu Hữu còn đang ngây người thần người ra, cậu nhìn thấy Lưu Thanh Hà đã đứng ngay trước mặt mình rồi, lúc này Lưu Thanh Hà vẫn là một con người vẹn toàn nguyên vẹn, trên người Lưu Thanh Hà chỉ có thêm một đường kẻ đỏ thẳng tắp, đường kẻ đỏ ấy bổ thẳng vào chính giữa người Lưu Thanh Hà! Tôn Tiểu Hữu há hốc mồm, ngơ ngác nhìn Lưu Thanh Hà, trong đầu đầy hoài nghi thầm nghĩ, ơ, sao cậu ấy lại chạy qua đây rồi nhỉ?! Cậu dường như vẫn nhớ miệng Lưu Thanh Hà còn hơi nhếch lên một chút. Lúc này, Tôn Tiểu Hữu nói một câu ngốc nghếch đến cực điểm, cậu nói: "Ơ, cậu chạy qua đây làm gì thế?"

Thế rồi, lời vừa dứt khỏi miệng, thi thể ấy liền từ từ tách ra làm đôi, thi thể bị chẻ đôi ra, đổ gục ngay trước mặt Tôn Tiểu Hữu!

Trời rất quang đãng. Trên bầu trời xanh thẳm, có những đám mây mảnh ngói màu trắng đang trôi lững lờ, mây mảnh ngói được xếp rất đều tăm tắp, tựa như từng đội quân đang đi đều bước vậy. Có tiếng động từ đằng xa vọng lại, đó là tiếng người ngoài đồng hô "ô ô — hừ hừ" lùa súc vật, tiếng roi quất tạo nên những âm điệu lảnh lót giòn giã.

Dưới bầu trời xanh mây trắng, Tôn Tiểu Hữu người đẫm mưa máu ngẩn ngơ đứng đờ ra đó, chẳng khác nào một cỗ tượng gỗ!

Đến khi thợ cả Lưu Toàn thắt lưng quần bước ra từ nhà vệ sinh, ông ta hoảng loạn hoàn toàn. Ông ta nhìn thấy Tôn Tiểu Hữu đã biến thành một người máu đỏ lòm! Ông ta vừa đi vừa buột miệng kêu lên: "Sao thế? Sao thế?!"

Khi bước đến lán cưa vòng, đôi chân ông ta bỗng bủn rủn cả đi, ông ta gần như nhuyễn rũn ra như một bãi bùn lầy! Ông ta há hốc mồm mà không thốt nổi nên lời, toàn thân run lẩy bẩy như sàng gạo, khi ông ta ngã sụp xuống đất, liền nghe thấy Tôn Tiểu Hữu lẩm bẩm lầm bầm một câu: "Ong vò vẽ."

Rồi sau đó, liền nghe thấy trong đường thôn nhốn nháo hệt như có đoàn kỵ binh phi qua, mọi người ào ào chạy rần rần... Có người hét lên: Lạy trời đất ơi, xảy ra chuyện lớn rồi!

Thợ cả Lưu Toàn được các cán bộ thôn khiêng đến trước mặt Hô Thiên Thành, ông ta đã không còn tự đi nổi nữa rồi. Khi Hô Thiên Thành nghe được tin tức động trời này, anh ta quay lưng đi, cất giọng nói: "Trước tiên hãy để dân phòng phong tỏa hiện trường lại, không cho bất kỳ ai bước vào."

Nói xong câu đó, chỉ thấy anh ta bước về phía giường hai bước, xoay người một cái, ngả lưng nằm lên giường. Các cán bộ thôn từng người một hoảng hốt như kiến bò chảo nóng, nháo nhào hô hoán lên rằng: "Trời ơi! Thế này thì phải làm sao đây? Chuyện này tính sao đây trời?!"

Nói rồi, có người còn bật khóc toáng lên. Lúc này, chỉ nghe Hô Thiên Thành cất giọng quát lớn: "Ra ngoài hết đi! Cút ra ngoài cho tôi!"

Nghe lệnh xong, các cán bộ lần lượt lủi thủi đi ra ngoài. Cán bộ vừa bước ra khỏi cửa chẳng ai dám rời đi, đều đứng lủi thủi ở ngoài cửa, chỉ chực chờ Hô Thiên Thành đưa ra chủ ý.

Thế nhưng, một canh giờ trôi qua, hai canh giờ trôi qua, Hô Thiên Thành vẫn nằm ì trên giường, anh ta trông hệt như đang ngủ say vậy! Có kẻ lén lút áp mặt vào cửa sổ ngó vào, vậy mà lại nghe thấy tiếng ngáy khò khò của anh ta!

Ngay lúc ấy, phó bí thư chi bộ thôn là Lưu Thư Chí nhảyồng lên. Lưu Thư Chí là chú ruột của Lưu Thanh Hà, cháu ruột gặp chuyện lớn, đương nhiên ông ta sốt ruột rồi. Ông ta đứng ngồi không yên trong sân, cứ đi qua đi lại mãi, vừa đi vừa giậm chân cất cao giọng kêu la: "Thế này thì không được, không thể thế được. Chuyện tày trời liên quan đến tính mạng con người! Sao lại có thể thế được cơ chứ?!"

Có người lên tiếng: "Xảy ra chuyện lớn nhường này, cũng phải để Thiên Thành suy tính chứ."

Lưu Thư Chí bướng bỉnh cằm cổ, ruột gan nóng như lửa đốt quát tháo: "Nó đã không muốn quản thì mặc kệ nó, có người khác quản!"

Câu nói này nói ra nặng quá, trong số các cán bộ chẳng một ai dám tiếp lời của ông ta...

Mãi cho đến lúc chạng vạng tối, Hô Thiên Thành mới từ từ ngồi dậy từ trên giường. Các cán bộ lập tức ùa hết cả vào từ bên ngoài, Hô Thiên Thành liếc nhìn Lưu Thư Chí một cái, thản nhiên cất lời: "Các người xem lại mình đi, đều là cán bộ cả đấy, vừa xảy ra chút chuyện thôi mà đã hoảng loạn thành thế này rồi ư? Hoảng hốt thì giải quyết được vấn đề chắc? Giữ vững tĩnh khí lại xem nào."

Đến lúc này, Hô Thiên Thành dường như đã suy xét thấu đáo mọi chuyện rồi, thế nhưng anh ta lại chẳng hề đưa ra biện pháp gì cả. Anh ta chỉ nói với mọi người: "Mọi người nói xem, trong chuyện này có uẩn khúc gì không?"

Nghe Hô Thiên Thành nói vậy, mọi người cũng nhao nhao bàn tán xôn xao.

Có người lập tức lên tiếng: "Đúng thế, có uẩn khúc. Tôi thấy có uẩn khúc đấy! Tôi nhớ ra rồi, Lưu Thanh Hà là con cháu liệt sĩ cơ mà, bác ruột của nó đã hy sinh trên chiến trường kháng Mỹ cứu nước rồi đấy. Đây chỉ sợ là hành vi trả thù, đây chính là trả thù!"

Hô Thiên Thành chầm chậm cất lời: "Nếu như có uẩn khúc, vậy thì đây chính là sự kiện chính trị rồi."

Lưu Thư Chí hỏa tốc cuống cuồng lên nói: "Sự kiện chính trị. Trói cổ nó lại đi!"

Vừa nhắc đến đây, sắc mặt của các cán bộ đều biến đổi hoàn toàn, họ cũng từng người một phụ họa theo: "Đúng, đúng, tôi thấy chính là trả thù. Cái thằng con nhà thành phần xấu đó chẳng phải là kẻ thối tha sao..."

Có kẻ còn nói: "Phải đấy, nếu không thì sao con người ta lại bị chẻ thành hai nửa cơ chứ?!"

Có người nhỏ giọng lầm bầm: "Cái này... cái này cũng... không thể tính là 'sự kiện' đâu nhỉ?"

Có người lập tức cãi lại: "Sao lại không tính là 'sự kiện'? Người ta đã bị chẻ đôi ra rồi cơ mà, cái này mà không tính là 'sự kiện' thì cái gì mới tính là 'sự kiện'?"

Lúc này, Hô Thiên Thành liếc nhìn mọi người, thản nhiên bảo: "Thông báo cho cục công an đi, bảo họ phái người đến khám nghiệm hiện trường."

Có người hỏi: "Thế... còn Tiểu Hữu thì tính sao?"

Hô Thiên Thành đáp: "Trước tiên cứ để lực lượng dân phòng canh giữ đã, đợi người của cục công an tới rồi tính tiếp."

Khi các đội viên dân phòng cầm thừng đến trói Tôn Tiểu Hữu, Tiểu Hữu vẫn đang ngẩn ngơ ngồi ngay bên cạnh thi thể bị chẻ làm đôi của Lưu Thanh Hà, miệng vẫn lải nhải lặp đi lặp lại: "Ong vò vẽ. Ong vò vẽ."

Ngay trong đêm hôm đó, khắp cả thôn xóm đều lan truyền một âm thanh như thế, âm thanh ấy phát ra từ cái miệng của Lưu Thư Chí: Hô Gia Bảo xảy ra chuyện lớn rồi! Đây là có kẻ cố ý trả thù đấy. Thử nghĩ mà xem, một đứa là con nhà thành phần xấu, một đứa là hậu duệ liệt sĩ, con người ta bị chẻ ngoặt thành hai nửa cơ mà! Đợi đấy mà xem, tuyệt đối sẽ không dễ dàng tha cho nó đâu...

Khi một nỗi hoài nghi được đặt ra, bản tính của người dân vùng bình nguyên liền bộc lộ rõ ràng. Ở đây, một khi nghi vấn đã được xác lập, người ta liền vứt bỏ luôn cả những mối hoài nghi ban đầu. Người ta bám chặt lấy nghi vấn ấy, để "dò theo manh mối mà tìm ra gốc rễ". Dò theo manh mối tìm gốc rễ đã trở thành phương thức tư duy của người dân bình nguyên từ lâu rồi.

Ở vùng bình nguyên, lao động vốn dĩ đơn điệu và lặp đi lặp lại, phương thức tư duy của người ta cũng ngày một đơn hóa, tuyến tính hóa theo. Ở đây, tư tưởng của con người bị công việc đồng áng mài mòn thành một sợi dây thừng. Thế nên, "nguyên nhân" rất ít khi được ai nhắc đến, thứ mà người ta bàn tán mãi không thôi, toàn là "kết quả". Ví dụ như, một người đàn ông cưới một người vợ, người ta chưa bao giờ hỏi người phụ nữ ấy được cưới về bằng cách nào, người ta chỉ nói, anh ta đã cưới một người vợ. Đó chính là "kết quả" rồi. Xa hơn nữa, người ta lại tiếp tục bàn rằng, người phụ nữ này sinh ra một đứa con, đây vẫn là "kết quả". Ở chốn này, "nguyên nhân" chẳng có chút quan trọng gì sất, "nguyên nhân" ngược lại còn biến thành một thứ trò đùa cợt và khiếu hài hước trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của người ta. Về mặt sinh nở sinh đẻ, ngôn ngữ cửa miệng của người dân ở đây đã biến thành "làm", "chơi", "đụ", đó chính là kho tàng ngôn từ trong sinh hoạt của người dân bình nguyên.

Đương nhiên, đối mặt với đại sự tày trời liên quan đến tính mạng con người, người ta vô cùng coi trọng, thế nhưng thứ mà người ta coi trọng, vẫn cứ là "kết quả". Điều khiến người ta khiếp sợ nhất, chính là cảnh tượng "bị chẻ làm đôi". Thế là, nghi vấn liền theo đó mà sinh ra, đây chẳng lẽ không phải là hành vi trả thù thì là gì cơ chứ?!

Khi đêm đã về khuya, Tú Nha hớt hải chạy đến tìm Hô Thiên Thành. Cô bước vào căn lều tranh, chẳng thốt lấy một lời, cứ thế lặng lẽ quỳ sụp xuống đất.

Hô Thiên Thành liếc nhìn cô một cái, cất lời: "Cô đứng lên đi."

Tú Nha không đứng dậy, cô vẫn quỳ phục dưới đất, nghẹn ngào nói: "Anh cứu lấy đứa con của tôi với, chỉ có anh mới cứu được nó thôi."

Hô Thiên Thành đáp: "Chuyện này quá lớn, tôi nói không có trọng lượng."

Tú Nha đầm đìa nước mắt nói: "Anh cứu nó đi mà."

Hô Thiên Thành nói: "Đó là một mạng người."

Tú Nha bảo: "Anh cứu nó đi, nó không cố ý đâu."

Hô Thiên Thành hỏi: "Là Bối Đãi bảo cô đến à?"

Tú Nha đáp: "Không phải. Đây là con trai của tôi."

Hô Thiên Thành đáp: "Cũng là con trai của Bối Đãi."

Tú Nha căm phẫn nói: "Chuyện này trách anh, không trách đứa nhỏ."

Tiếp đó, Hô Thiên Thành chìm vào im lặng. Anh ta trầm mặc rất lâu rất lâu, mới lẩm bẩm buông một câu: "Hô Gia Bảo vốn dĩ nên xuất hiện một vị liệt sĩ mới phải..."

Tú Nha lại một lần nữa van xin: "Thiên Thành, nể tình quen biết bao nhiêu năm qua, anh cứu lấy đứa con của tôi đi."

Hô Thiên Thành quay phắt mặt đi nơi khác. Lúc này, trên vách tường hắt lên một cái bóng đen khổng lồ, cái bóng đen lặng lẽ đứng trân trân trên tường, một lúc lâu sau, cái bóng đen ấy mới nhúc nhích một chút, cất lời: "Xem ra, tôi nợ cô."

Tú Nha cứ quỳ lỳ ở đó mãi không chịu đứng dậy, cô chẳng nói thêm lời nào nữa, cứ thế chết trân quỳ phục dưới đất...

Hô Thiên Thành quay người lại, cất giọng bảo: "Cô về đi."

Tú Nha vẫn bất động.

Hô Thiên Thành cuối cùng cũng thỏa hiệp: "Tôi đồng ý với cô."

Tú Nha âm thầm đứng dậy, ngước nhìn Hô Thiên Thành, dường như vẫn còn muốn nói điều gì đó. Thế nhưng Hô Thiên Thành xua xua tay, cất lời: "Về nói với Bối Đãi rằng, hắn nợ tôi... một mạng người."

Tú Nha ngây dại bước đi được hai bước, bỗng nhiên ngoắt đầu quay lại, một bàn tay vắt lên vạt áo trước ngực, thẫn thờ cởi ra cất tiếng hỏi: "Còn cởi nữa không?"

Giờ phút này, Hô Thiên Thành bỗng chốc ngẩn ngơ chết trân tại chỗ. Phải một lúc lâu sau, anh ta mới vỡ vẽ hiểu ra ý nghĩa đằng sau câu nói của cô. Ngay trong chớp mắt ấy, trong lòng anh ta bỗng lạnh buốt! Anh ta phát hiện ra rằng, trên người mình chẳng còn lại chút cảm giác nào nữa, toàn bộ con người anh ta trống rỗng như thể bị rút ruột. Anh ta, anh ta đã biến thành một khẩu súng lép tự bao giờ vậy?! Anh ta đã mòn mỏi chờ đợi suốt bao nhiêu năm trời, kiên nhẫn đợi chờ lâu đến thế, anh ta vẫn luôn hằng mong ngóng khoảnh khắc ngày hôm đó đến. Thế nhưng, thứ thần lực tích tụ từ lâu trên người anh ta, thứ cảm giác hừng hực như ngọn lửa ấy, lại bất thình lình biến mất không một dấu vết, chẳng rõ đầu đuôi ra sao cả... Hô Thiên Thành cứ thế đứng như tượng đá ở đó, suốt một khoảng thời gian rất dài, anh ta chẳng thốt nổi lấy một lời, thậm chí anh ta còn chẳng biết mình nên nói cái gì nữa. Lúc này, khuôn mặt anh ta đông cứng lại hệt như một khối sắt đen sì!

Lại qua rất lâu rất lâu sau, Hô Thiên Thành thở dài một tiếng, phất phất tay nói: "Cô đi đi."

Ngày hôm sau, khi người của cục công an đến khám nghiệm hiện trường xong xuôi. Phó cục trưởng cục công an huyện phụ trách mảng trinh sát hình sự là lão Tần đã nói với Hô Thiên Thành rằng: "Lão Hô à, vụ việc lần này, dưới tình hình hiện tại, có hai cách xử lý. Một cách, định tính là 'sự kiện', nếu như thế, tôi sẽ áp giải người đi, còn kết án thế nào thì chính là tử hình. Cách thứ hai, định tính là 'tai nạn', nếu như vậy, chúng tôi sẽ không nhúng tay vào nữa..."

Tuy đây chỉ là sự khác biệt có một chữ, thế nhưng chữ này lại nặng tựa ngàn cân đấy! Lão Tần là chỗ quen biết cũ lâu năm với Hô Thiên Thành, trong câu nói ấy còn ẩn chứa ý tứ thâm sâu khác. Trong hoàn cảnh như thế, lão Tần đã nói cực kỳ rõ ràng rành mạch rồi.

Thế là, Hô Thiên Thành lên tiếng: "Lão Tần à, xảy ra chuyện thế này, ai mà chẳng đau xót cơ chứ. Theo tôi thấy, tụi nhỏ từ nhỏ đã chơi với nhau từ bé, cũng chẳng có thù hằn gì căm hờn gì cả, thôi thì cứ định là 'tai nạn' đi."

Lão Tần lặp lại lần nữa: "Tai nạn?"

Hô Thiên Thành đáp: "Tai nạn."

Sau sự việc đó, khi người dân cuối cùng cũng bừng tỉnh hoànการ nhận thức lại, cách giải quyết vụ việc lần này từng mang lại cho Hô Thiên Thành uy tín vô cùng to lớn. Dân làng lần này qua lần khác tấm tắc khen ngợi, quả nhiên vẫn là người nhà ta Thiên Thành là có chủ kiến cao minh mà! Nghe tin xong người ta nằm ì trên giường ngẫm nghĩ nửa ngày trời mà chẳng hề hoảng hốt chút nào cả. Đổi lại là người khác, chỉ sợ đã sợ chết khiếp đi được rồi đằng này! Thế nhưng người ta vẫn điềm tĩnh thản nhiên xử lý xong xuôi mọi chuyện. Lại có người xuýt xoa khen ngợi, lạy trời đất ơi, chênh lệch có mỗi một chữ, mà ý nghĩa lại một trời một vực đấy! Thiên Thành đã sống sượng cướp lại được mạng sống cho một người trẻ tuổi đấy...

Thế nhưng, lại chẳng có lấy một ai hay biết rằng, ngay trong đêm tối hôm đó, Tú Nha đã từng quỳ gối van xin Hô Thiên Thành.

Mười ngày sau, chức phó bí thư chi bộ của Lưu Thư Chí bị bãi nhiệm. Nguyên nhân xuất phát từ một luống ngô...

Mười quy tắc

“Mười quy tắc” còn được gọi là “Quy tắc Hô Gia Bảo”.

“Quy tắc Hô Gia Bảo” là một hợp phần quan trọng của Hô Thiên Thành liên quan đến công tác xây dựng thôn mới, nó được hoàn thiện từng bước trong suốt khoảng thời gian mười năm, có thể nói là sự thể hiện cụ thể cho nghệ thuật lãnh đạo của Hô Thiên Thành. Khi nó được áp dụng lên đầu người dân, liền biến thành một thứ chế độ bắt buộc phải tuân thủ.

Một, Ca khúc thôn.

Khúc nhạc buổi sáng (một): 《Đông Phương Hồng》.

Khúc nhạc ban đêm (hai): 《Đại Hải Hàng Hành Khác Đà Thủ》.

Chú thích (một): Khúc nhạc 《Đông Phương Hồng》 là khúc nhạc buổi sáng của Hô Gia Bảo, còn gọi là "khúc nhạc thức tỉnh". Hằng ngày vào lúc năm rưỡi sáng, trạm phát thanh Hô Gia Bảo sẽ phát đúng giờ khúc nhạc này. Mà mỗi một người dân Hô Gia Bảo hễ nghe thấy khúc nhạc này, đều phải thức dậy đúng giờ, bước nhanh chân ra quảng trường Hô Gia Bảo. Kẻ đến muộn sẽ bị trừ đi nửa "điểm chính trị".

Chú thích (hai): Khúc nhạc 《Đại Hải Hàng Hành Khác Đà Thủ》 là khúc nhạc ban đêm của Hô Gia Bảo, còn được gọi là "khúc nhạc suy ngẫm", đồng thời cũng là "khúc nhạc tổng kết" sau một ngày lao động mệt nhọc của người dân. Hô Thiên Thành bảo rằng, làm lụng vất vả cả ngày rồi, phải dừng lại để suy ngẫm một chút.

Kỳ tích: Mùa hè năm 1975, trong thôn Hô Gia Bảo từng xuất hiện "sự việc tiên tiến" thế này. Con dâu của dân làng Lưu Nhị Nao sinh hạ được một đứa con gái nặng bảy cân rưỡi, đứa bé nuy nuy này sinh ra được mười ngày, vào một buổi sáng lúc năm rưỡi, cái miệng nhỏ cứ chép chép, trong miệng đột nhiên thốt ra âm thanh "đùng đùng đùng", từ đó về sau ngày nào cũng vậy. Con dâu của Lưu Nhị Nao sau nhiều lần lắng nghe kỹ càng, cuối cùng cũng phát hiện ra âm thanh phát ra từ miệng con bé chính là "đùng đùng, đùng đùng, đùng — đùng đùng, đùng đùng, đùng — đùng đùng, đùng đùng, đùng đùng đùng — đùng đùng, đùng đùng, đùng đùng đùng, đùng đùng, đùng đùng, đùng đùng, đùng đùng đùng đùng". Sau nhiều lần tranh luận chứng minh, mọi người cuối cùng cũng xác thực được rằng, đây vậy mà lại chính là tiết tấu của khúc nhạc 《Đông Phương Hồng》! Hô Thiên Thành sau khi nghe được tin tức này, vui mừng khôn xiết bảo rằng, thế này mới gọi là "thấm sâu vào lòng người" chứ. Thế là, con bé nuy nuy này được đặt tên là "Ca đồng".

Hai, Thể dục thôn.

Thể dục thôn còn được gọi là "Thể dục dưỡng sinh Hô Gia Bảo". Bộ bài tập này gồm có tám động tác, do Hô Thiên Thành tự mình phát minh ra.

Động tác thứ nhất: Vận động đòn gánh, còn có tên gọi khác là "Vận động gánh phân". Chú thích: Hai cánh tay duỗi thẳng ngang vai, bốn nhịp đầu duỗi trước duỗi sau, bốn nhịp sau lắc sang trái sang phải, duỗi trước rồi vung sau, hai chân giậm bước nhịp nhàng theo.

Động tác thứ hai: Vận động xới đất, chú thích: Mô phỏng tư thế xới đất, bốn nhịp đầu chân trái khuỵu chân phải rướn, bốn nhịp sau chân phải khuỵu chân trái rướn, tay chân phối hợp nhịp nhàng, kết hợp cả trên lẫn dưới.

Động tác thứ ba: Vận động hái bông, còn có tên gọi khác là "Vận động vặn thừng". Chú thích: Mô phỏng tư thế bẻ nhánh bông, hai tay duỗi về phía trước, một trên một dưới, thân người uốn lượn theo, trước tiên vặn sang trái sau đó vặn sang phải.

Động tác thứ tư: Vận động tung lúa. Chú thích: Mô phỏng tư thế tung lúa, hai tay dùng lực vung ra phía trước, sau đó hất ngược lên trên, trước tiên hất sang trái, sau đó hất sang phải.

Động tác thứ năm: Vận động tạo luống, còn có tên gọi khác là "Ông lão dẫm bờ ruộng". Chú thích: Hai tay chắp sau lưng, hai chân lần lượt nhấc cao đặt xuống thấp, trước khi chạm đất thì thầm dùng lực giẫm mạnh một cái. Trước tiên bước sang trái, sau đó bước sang phải.

Động tác thứ sáu: Vận động chặt cao lương, còn có tên gọi khác là "Vợ cả canh dưa". Chú thích: Mô phỏng tư thế thu hoạch cao lương, lưng cúi gập xuống hết mức có thể, hai tay phối hợp với động tác cúi lưng, tay trái với sang phải tay phải vớt sang trái, sau đó tay phải với sang trái tay trái vớt sang phải.

Động tác thứ bảy: Vận động treo sào, còn có tên gọi khác là "Treo sào thuốc lá". Chú thích: Mô phỏng tư thế treo sào thuốc lá trong phòng sấy thuốc, trước tiên khuỵu gối ngồi xổm xuống, sau đó nhún nhảy bật người lên cao, lúc nhảy lên cao thì một tay nắm hờ nửa nắm đấm giơ cao lên trời, trước trái sau phải.

Động tác thứ tám: Vận động lau mồ hôi, đồng thời cũng là động tác thu thế kết thúc. Chú thích: Hai tay đưa trước ngực lau sang trái sang phải trước sau, hai chân nhún bước nhỏ lên xuống nhịp nhàng.

Quy định: Toàn thể già trẻ lớn bé trong thôn, ngoại trừ có bệnh xin nghỉ phép ra, hằng ngày bắt buộc phải tham gia tập thể dục buổi sáng. Ai không tham gia tập thể dục đúng giờ sẽ bị trừ một điểm công.

Kỳ tích: Ông cụ Vạn Phát đã bước sang tuổi tám mươi sáu trong thôn, ngày nào buổi sáng cũng chống gậy đứng dậy tham gia tập thể dục đúng giờ. Lúc nào cũng là người đến đầu tiên, người rời đi cuối cùng. Có hôm sau buổi tập thể dục, khi mọi người đã thực hiện đến động tác "lau mồ hôi" rồi, mới phát hiện ra ông cụ vẫn giơ cao cánh tay, miễn cưỡng thực hiện cho đến động tác "treo sào", bèn chạy tới giúp ông cụ hạ tay xuống, kết quả lại phát hiện ra người đã cứng đờ như khúc gỗ rồi. Ông cụ đã trút hơi thở cuối cùng ngay trên sân tập thể dục, trở thành người đầu tiên thực hiện được phương châm "sống đến già làm việc đến già", được thôn xóm biểu dương khen ngợi.

Ba, Quy định thôn.

Quy định thôn (một): Tiếng chuông chính là mệnh lệnh.

Chú thích: Tiếng chuông đơn là đi làm, âm thanh là "Đang, đang, đang —"; tiếng chuông kép là tan làm, âm thanh là "Đang đang, đang đang, đang đang —"; tiếng chuông ba tiếng là họp hoặc tập trung khẩn cấp, âm thanh là "Đang đang đang, đang đang đang —". Sau này trong thôn lắp chuông điện, tiếng chuông đi làm là "dài ngắn dài"; tiếng chuông tan làm là "ngắn dài ngắn"; việc họp hành hoặc tập trung khẩn cấp được đổi thành thông báo qua loa phát thanh.

Kỳ tích: Có một buổi sáng, Hô Đôn Tử ở tít đầu bên kia thôn đang đi tiểu trong nhà vệ sinh ở nhà, nghe thấy tiếng chuông liền kéo vắt quần chạy thục mạng. Đến nơi, quần vẫn còn ướt sũng, nước vẫn đang nhỏ giọt tỏng tỏng. Hô Thiên Thành hỏi cậu ta đầu đuôi ra sao. Cậu ta mặt đỏ tía tai đáp: "Đang tè dở nửa chừng." Thế là, Hô Đôn Tử ngay lập tức được biểu dương khen ngợi, đồng thời được bổ nhiệm làm đại đội trưởng dân phòng. Từ đó về sau, trong thôn xuất hiện thêm một câu thành ngữ khôi hài: "Đôn Tử làm đại đội trưởng — tè dở nửa chừng".

Quy định thôn (hai): "Chiếc hộp phát thanh" được lắp đặt ngay phía trên cửa ra vào của mỗi hộ gia đình không được phép tắt, càng không được tự ý tháo dỡ. Hô Thiên Thành nói, phải chú ý lắng nghe "tư tưởng tinh thần".

Chú thích: Phát thanh viên của thôn có biệt danh là "Bánh phân bò" Khương Hồng Đậu, ngày nào cũng phát thanh ba lần sáng, trưa, tối. Khương Hồng Đậu bảo rằng, cô ấy sử dụng "ngôn ngữ vô cùng phổ thông". Dân làng trong thôn thì bảo rằng, cô ấy nói kiểu "tiếng phổ thông nấu khoai lang — nửa sống nửa chín".

Kỳ tích: Trong một thời gian dài, "chiếc hộp phát thanh" của Hô Gia Bảo hầu như đã trở thành chiếc "đồng hồ tinh thần" của người dân Hô Gia Bảo. Buổi sáng, hễ "chiếc hộp phát thanh" vang lên là toàn thể dân làng không một ai là không tỉnh giấc. Có một buổi tối, ông lão Thuận Phát sáu bảy tuổi trong thôn và vợ là Tam nãi nãi nghe thấy "chiếc hộp phát thanh" đột nhiên reo lên, vì cả hai vợ chồng đều lãng tai, một người bảo rằng: "Mẹ con nhà Căn à, phát thanh rồi kìa, đầu phía Tây họp hành đấy." Người kia lại bảo: "Ồ, nghe thấy rồi. Đầu phía Đông cơ." Ông cụ lớn tiếng quát: "Đầu phía Tây!" Bà cụ đáp lời: "Đi trước đi đã. Tôi biết thừa, đầu phía Đông mà." Cứ thế, một người chống gậy đi về phía Tây, một người đi về phía Đông, đứng ngây ra đến nửa đêm vẫn chẳng thấy bóng dáng ai tới, lúc ấy mới vỡ lẽ là nhầm lẫn. Hai vợ chồng quay về nhà, lại lao vào đánh nhau một trận tơi bời! Nguyên nhân là vì trách nhau lỡ mất buổi họp. Người thì bảo họp ở đầu phía Đông, người thì khăng khăng cãi họp ở đầu phía Tây... Vừa cãi vừa lao vào tẩn nhau. Đã có tuổi cả rồi, sức vóc thực sự không đánh đấm nổi nữa, bèn quay sang "nhổ nước bọt" vào mặt nhau, mãi đến tận ngày hôm sau mới vỡ lẽ ra, hóa ra lúc đó Khương Hồng Đậu dùng "ngôn ngữ vô cùng phổ thông" để phát thanh một bài "chỉ thị tối cao" mà thôi.

Quy định thôn (ba): "Cấm đánh rắm". Đây là ngữ lục. Hô Thiên Thành nói, đặc biệt là thằng Bát Quanh.

Chú thích: Hễ có người ngoài đến tham quan, chuyện gì nên nói thì nói, chuyện gì không nên nói thì đừng có hé răng. Những lời có lợi cho "công tác xây dựng" thì nói nhiều vào, lời bất lợi cho "công tác xây dựng" thì tuyệt đối không nói. Ví dụ như, có thể nói về cây bông chẳng hạn.

Kỳ tích: Bát Quanh là một kẻ "lắm mồm", cái miệng lúc nào cũng không tài nào kìm chế nổi. Cậu ta bảo mình sinh ra là để hát bội, không được nói chuyện thì trong lòng thấy khó chịu ngứa ngáy lắm. Có một lần, cấp trên phái đến một đoàn tham quan, lưu lại trong thôn suốt ba ngày liền. Hồi đó Bát Quanh vẫn còn đang gánh phân trong thôn, khách tham quan vừa nhìn thấy cậu ta liền gọi một tiếng đại gia. Bát Quanh là "thành phần loại bốn", đương nhiên không dám cả gan nhận xằng người ta gọi mình là đại gia. Thế là hễ người ta gọi cậu ta một tiếng đại gia, cậu ta liền giơ tay chỉ chỉ vào cái miệng, miệng cậu ta bị bịt kín bởi một chiếc khẩu trang rách rưới. Suốt ba liền ngày liền, vậy mà không thốt ra nửa chữ! Ngược lại còn kiếm được khối tiếng tạ ơn "ông đại gia câm điếc". Mãi sau này, khách đi rồi, cậu ta mới hé miệng nói, hóa ra lưỡi cậu ta mọc một cái nhọt độc.

Quy định thôn (bốn): Cấm đánh nhau ẩu đả, cấm chơi bài giấy.

Chú thích: hễ bị bắt gặp một lần, bất kể là ở trong thôn hay ở ngoài thôn, tất cả những ai tham gia đều phải đứng trước đại hội xã viên toàn thôn để kiểm điểm, toàn bộ gia đình bị cắt điện trong vòng một tháng.

Quy định thôn (năm): Cấm nuôi chó.

Chú thích (một): Hô Thiên Thành nói, thôn chúng ta có lực lượng dân phòng cơ mà.

Chú thích (deux): Trưởng tiểu đội dân phòng Hô Đôn Tử tuyên bố, vợ nhà nào mấy giờ dậy đi tiểu, giường nhà nào mấy giờ phát ra tiếng kót kít, cậu ta đều nắm rõ trong lòng bàn tay.

Bốn, Pháp môn bình nghị, còn gọi là "Tháng tháng hồng".

Chú thích (một): Từ trước tới nay, Hô Gia Bảo vẫn luôn áp dụng phương thức phân phối "bình công ghi điểm, làm theo năng lực hưởng theo lao động". Điểm cao nhất: mười điểm. Điểm thấp nhất: năm điểm. Quyết toán cuối năm, chia cổ tức theo điểm số.

Chú thích (hai): Vẫn có ngoại lệ. Đại Đầu trong thôn, vốn là lao động hạng mười điểm, vì bàn chân to dẫm bẹp hai cây ngô non, Hô Thiên Thành phán rằng, Đại Đầu ngay cả phụ nữ cũng không bằng! Qua quần áo quần chúng nghiêm túc bình nghị cho có bốn điểm rưỡi, ý chê bai là không bằng cả phụ nữ. Sau này, Hô Thiên Thành lại bảo, Đại Đầu nhìn chung vẫn khá. Phải mất ròng rã nửa năm trời sau mới được bình nghị lại mức mười điểm.

Chi tiết (một): "Đấu lưng vào nhau" ("Bối đối bối").

Chú thích: "Đấu lưng vào nhau" là một sáng tạo khác của Hô Thiên Thành, đây cũng đồng thời là một cuộc "đại quét tước tư tưởng" mang tính chế độ. Trong thôn tiến hành bình công ghi điểm, mỗi tháng một lần. Phương pháp bình nghị là "đấu lưng vào nhau". Nghĩa là bình nghị đến ai, người đó phải rời khỏi hội trường, đi ra ngoài ruộng đi dạo một vòng. Đợi khi bình nghị xong xuôi mới gọi người đó quay lại, công khai kết quả bình nghị ngay tại chỗ. Hô Thiên Thành nói, "đấu lưng vào nhau" chính là bàn tán xôn xao dăm ba câu, có thể bình nghị con người, cũng có thể bình nghị sự việc, từ bố vợ mẹ chồng cho đến ông chú bác hai, tất cả đều cào bằng tuốt tuồn tuột, tuyệt đối không nể nang sáu thân bất định.

Chi tiết (hai): "Đối mặt nhau" ("Diện đối diện").

Chú thích: Bình nghị xong một người rồi, phải gọi người đó quay lại, chỉ ra khuyết điểm và thiếu sót của người đó ngay trước mặt, lúc chỉ ra thiếu sót thì tất cả mọi người đều phải phát biểu ý kiến. Hô Thiên Thành nói, không được làm "kẻ ba phải". Ai dám làm "kẻ ba phải" thì cho người đó điểm thấp nhất! Triệt để quét sạch cái thói hư tật xấu "trước mặt không dám nói, sau lưng bàn tán loạn xạ".

Chi tiết (ba): "Cởi quần" ("Thoạt khố tử").

Chú thích: "Cởi quần" chính là một phương pháp tự kiểm điểm bản thân. Nếu như trong đợt bình nghị tháng đó, điểm số bị hạ xuống, thì người đó buộc phải "cởi quần" trước đông đảo mọi người, đối mặt với quần chúng để sâu sắc đào bới nguồn gốc tư tưởng của chính mình. Như cô con dâu của Lưu Thiết Chùy, có một thời gian đi làm lười biếng uể oải, "đào bới sâu sắc" ba lần đều không qua cửa. Sau này, cô ta tự cởi quần của mình ra, công khai cho mọi người tận mắt chứng kiến cô ta quả thực "đang đến kỳ kinh nguyệt", lúc ấy mọi người mới quay mặt đi nơi khác, cất lời: Qua rồi, qua rồi.

Năm, Pháp môn cán bộ, cũng chính là "Pháp môn ra mắt", còn được gọi là "Treo trên vách tường".

Từ trước tới nay, Hô Gia Bảo vẫn luôn áp dụng "chế độ cán bộ tạm thời". "Chế độ cán bộ tạm thời" là một cơ chế khích lệ, hễ ai có biểu hiện xuất sắc trong công tác, không phân biệt già trẻ gái trai, đều có thể trở thành cán bộ của Hô Gia Bảo. Cán bộ phải chịu sự giám sát và kiểm tra của quần chúng, phải được treo lên tường hệt như bức tranh vậy, để quần chúng cùng nhau bình nghị.

Điển hình (một): Ví dụ như Hô Quốc Khánh khi mới tròn chín tuổi, từng làm "nhóm ghi công tạm thời" trong ba ngày. Lúc mười tuổi, từng làm "tổ trưởng tạm thời" của tiểu đội ba. Đến năm mười lăm tuổi, từng làm "nhân viên cân đong đại đội", phụ trách việc chia khoai lang cho toàn thôn.

Điển hình (hai): Ví dụ như Từ Tam Ni, tức là con "Hở". Mới mười tám tuổi đã làm "người phụ trách tạm thời" của thôn mới, từng dẫn dắt toàn thể phụ nữ trong thôn cầm bay thợ hồ leo lên tường xây nhà. Công tác cực kỳ có trách nhiệm, sau này được tuyển chọn làm ủy viên chi bộ trong thôn. Từ Tam Ni sau đó tuyên bố thà làm gái ế cả đời chứ quyết không lấy chồng xa (có người bảo là vì không lấy nổi chồng), thế nên được Hô Thiên Thành ban cho danh hiệu "Ủy viên chi bộ vĩnh viễn". Thế là, Từ Tam Ni trở thành vị cán bộ chung thân duy nhất của Hô Gia Bảo.

Điển hình ( ba): Ngay cả "thành phần loại bốn" như Bát Quanh cũng từng làm cán bộ. Có một dạo, vì Bát Quanh thể hiện tương đối tốt, từng được cử làm "trạm trưởng nhà vệ sinh" trong ba ngày, phụ trách tám "nhà xí" của toàn thôn. Sau đó vì cái miệng không biết giữ kẽ, ăn nói xằng bậy, lại bị cách chức. Việc này thể hiện vô cùng sinh động phương châm "không câu nệ một khuôn phép nào trong việc tuyển chọn nhân tài".

Chi tiết cán bộ (một): "Trẻ con đi tiểu" (lời của Hô Thiên Thành).

Chú thích: "Trẻ con đi tiểu" có nghĩa là chuyên trách từng việc cụ thể, phụ trách chuyên môn. Ví dụ như lúc đổ phân, thì bổ nhiệm một vị trạm trưởng phân, đổ phân xong xuôi, trạm trưởng phân cũng tự động mãn nhiệm chức vụ. Lúc làm sân phúa lúa, thì bổ nhiệm một vị trạm trưởng sân phơi, thu hoạch lúa xong xuôi, trạm trưởng sân phơi cũng tự động bãi nhiệm.

Chi tiết cán bộ (hai): "Thay quần áo" (lời của Hô Thiên Thành).

Chú thích: "Thay quần áo" là một cách ví von cho việc luân chuyển cán bộ. Cán bộ ở Hô Gia Bảo không bao giờ cố định một chỗ, mười tiểu đội trong thôn, cán bộ phần lớn đều áp dụng phương pháp luân chuyển. Ví dụ như, làm việc ở tiểu đội một được một năm, sẽ được điều chuyển sang tiểu đội ba làm tiểu đội trưởng, hoặc điều chuyển sang tiểu đội năm làm kế toán v.v. Mục đích chính là để rèn luyện cán bộ.

Chi tiết cán bộ (ba): "Nhổ múa non" ("Bạt thanh miêu").

Chú thích: "Nhổ múa non" có ý nghĩa là chú ý bồi dưỡng cán bộ trẻ tuổi, chú ý bồi dưỡng những kẻ "ngựa chứng" dám đấu tranh chống lại kẻ xấu việc ác. Ví dụ như mẹ của Kim Hoán lén hái trộm một quả cà chua lúc chia rau. Kim Hoán nhìn thấy liền đẩy bà ta một cái rồi chất vấn: "Mẹ đang làm cái trò gì thế này?" khiến mẹ cô ta đỏ bừng cả mặt! Thế nên, Kim Hoán vì có "trái tim đỏ rực đôi mắt sáng ngời", liền được cất nhắc lên làm tổ trưởng tổ chia rau.

Sáu, Pháp môn học tập, còn gọi là chế độ "Ba bài văn cũ" ("Lão tam thiên").

Chú thích: Ngoại trừ nội dung học tập do cấp trên giao phó ra, nội dung học tập chủ yếu của Hô Gia Bảo chính là "Ba bài văn cũ", có thể nói là mỗi người một cuốn. Ở đây, điểm học tập quan trọng hơn điểm lao động, điểm biểu hiện chính trị cũng quan trọng hơn điểm lao động, thế nên hễ cứ đến giờ học tập là người ta tập trung đông đủ nhất. Như mẹ Hồng Hồng, đôi chân bó giò bé tí, vậy mà lại chủ động múa một điệu múa quạt "Ba bài văn cũ" ngay tại hội trường, thế là lập tức được biểu dương, thưởng cho hai mươi "điểm chính trị".

Bảy, Pháp môn thưởng phạt, còn gọi là "Lưỡi lê dính máu" ("Thích đao kiến hồng").

Chú thích (một): Chế độ khen thưởng ở Hô Gia Bảo vô cùng đa dạng phong phú, phần lớn mang tính chất vinh danh. Ví dụ như "Xã viên năm tốt", "Cá nhân tiên tiến", "Cao thủ gặt lúa mì", "Kiện tướng trồng bông" v.v., thậm chí phát biểu tích cực trong các cuộc họp cũng được biểu dương là "Phần tử tích cực hội nghị". Như nguyên chủ nhiệm phụ nữ Mạch Hoa, phát thanh viên trong thôn Khương Hồng Đậu v.v., đều nhờ vào việc phát biểu tích cực mà được tuyển chọn làm cán bộ.

Chú thích (2): Chế độ trừng phạt của Hô gia bảo có rất nhiều tên gọi, đa phần mang tính chất "chạm đến linh hồn". Ví dụ như "tẩy tâm", chính là kiểm điểm trước đại hội quần chúng; như "tỉnh não", chính là đứng trước "bàn thỉnh thị" để nhận tội; như "lọc tư tưởng", chính là để quần chúng từng người một chỉ ra khuyết điểm trong linh hồn của kẻ đó; như "mở hội giúp đỡ", chính là để các cụ bà kể về nỗi khổ xã hội cũ vào ban đêm, giúp anh ta hoặc cô ta nâng cao nhận thức. Ví dụ như người nào phạm lỗi đặc biệt nghiêm trọng, sẽ bị cắt điện, cắt nước trong một tháng để quan sát thêm hiệu quả.

Tám, Chế độ tuần tra của dân binh.

Khẩu hiệu: Đêm không đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi!

Chú thích: Vì không được phép nuôi chó, từ lâu Hô gia ban đã áp dụng chế độ tuần tra của dân binh. Ban ngày là "ban người cao tuổi", ban đêm là "ban thanh tráng niên". Người tuần tra ban ngày đeo "băng đỏ"; ban đêm đeo "băng trắng", mỗi người được trang bị một chiếc đèn pin lớn bốn khúc. Hai mươi bốn tiếng chưa từng gián đoạn. Cho nên, Hô gia bảo hầu như chưa từng có trộm cắp. Từng bắt được mấy kẻ "lưu manh" đang yêu đương, cũng là do người làng bên làm. Cho nên, người Hô gia bảo trời vừa tối là đi ngủ, ngủ rất ngon.

Chín, Luật hôn nhân, lại gọi là "Luật truyền thống".

Chú thích: Việc cưới xin gả chồng của người Hô gia bảo, ngoài việc tuân thủ pháp luật quốc gia ra, còn phải tuân thủ một quy định đặc biệt của Hô gia bảo. Bất kể nhà nào cưới vợ hay gả con gái, đều phải tiếp nhận một lần giáo dục truyền thống của "ban lãnh đạo". Nàng dâu sắp cưới phải gặp mặt người của "ban lãnh đạo" trước, sau khi tiếp nhận giáo dục truyền thống mới được vào cửa; gả con gái cũng vậy, sau khi tiếp nhận giáo dục, tặng một bộ "Tam thiên", mới được lên đường.

Mười, Chế độ xin nghỉ phép, lại gọi là "phép nghỉ ngơi".

Chú thích: Chế độ xin nghỉ phép của Hô gia bảo là chế độ tam thẩm. Xin nghỉ nửa ngày do tổ trưởng phê chuẩn; xin nghỉ một ngày do đội trưởng phê chuẩn; xin nghỉ ba ngày do chính Hô Thiên Thành phê chuẩn...

Kỳ tích: Trong phong trào thi đua "so, học, đuổi, giúp, vượt", phụ nữ thể hiện đặc biệt nổi bật. Con dâu nhà họ Vạn sinh con ba ngày xuống giường, xuống giường là đi làm, được biểu dương. Tiếp theo, Vương Mạch Hoa lúc sinh con gái, vừa sinh ra, cắt rốn, đứng dậy là đi, tức thì ra đồng làm việc luôn. Được biểu dương trước đại hội. Đặc biệt là đại đội trưởng dân binh Hô Đôn Tử, trong mười năm vậy mà chưa từng xin nghỉ phép một ngày nào! Lại còn nhận được gấp đôi điểm công (anh ta dẫn ban tuần tra ban đêm), mệnh danh là "Hô người sắt". Chỉ vì có một lần khi tuần tra lại "lên nhầm giường", bị người ta phát hiện, mới bị khai trừ khỏi "hàng ngũ dân binh", vĩnh viễn không tuyển dụng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lý Bội Phủ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.