Thông Thiên Nhân Vật

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
Tân Thôn Dưới Lòng Đất, Chủ Nhân Trên Mặt Đất

❊ ❊ ❊

Trên mặt đất và dưới lòng đất

“Tân thôn” (thôn mới) của Hô gia bảo chia làm hai loại: trên mặt đất và dưới lòng đất.

Tân thôn trên mặt đất là nơi người sống ở. Từng tòa từng tòa, đều có biển số nhà.

Còn dưới lòng đất? Là nơi người chết ở. Từng hàng từng hàng, cũng có biển số mộ.

Đây lại là một sáng kiến vĩ đại nữa của Hô Thiên Thành.

Thời kỳ "Văn hóa Đại cách mạng", đâu đâu cũng phá "Tứ cũ", phá hồi lâu thì phá đến cả đầu người chết. Cấp trên ra một lệnh, yêu cầu các thôn đều phải san bằng mồ mả. Thế là, những ngôi mộ của các bậc tiên nhân lần lượt bị san bằng, sau đó được cày cấy trồng hoa màu. Vốn dĩ trong thôn ba họ lớn Hô, Lưu, Vương có ba bãi tha ma rất lớn, sau khi san bằng tất cả, dân làng cũng chẳng còn chỗ để thắp hương đốt giấy. Cứ đến tiết Thanh Minh, các nàng dâu lại qua loa tìm đại một chỗ nào đó để đốt, coi như bày tỏ chút lòng thành. Sau thời kỳ "Văn hóa Đại cách mạng", gió thanh không còn quá gắt gao nữa, thấy các thôn láng giềng đều dựng lại mồ mả của tổ tiên, người Hô gia bảo cũng muốn làm như vậy, nhưng lại chẳng ai dám. Sau đó, các bậc trưởng bối của ba họ lớn Hô, Lưu, Vương đã tìm Hô Thiên Thành, nói về chuyện "tổ tiên". Lúc ấy, Hô Thiên Thành đang dẫn dắt dân làng tập trung tinh thần xây dựng tân thôn, không lo suể, bèn nói: "Chuyện này tôi ghi nhớ rồi, để tôi suy nghĩ đã." Đợi đến khi tân thôn trên mặt đất đã có chút manh mối, vào một đêm nọ, Hô Thiên Thành bỗng nổi lên ý lạ, nói chi bằng chúng ta cũng xây một "tân thôn dưới lòng đất", để những người đã khuất xuống Âm phủ cũng được trải qua cuộc sống tập thể này, đỡ phải cô đơn sau khi chết. Vừa nói lời này xong, các bậc trưởng bối của ba họ Hô, Lưu, Vương nhìn trân trối vào nhau, nhưng nhất thời lại không đưa ra được ý kiến phản đối nào, thế là mọi chuyện cứ thế mà quyết định.

Âm trạch của "tân thôn dưới lòng đất" là do chính Hô Thiên Thành dẫn người đi chọn. Chọn tới chọn lui, cuối cùng chọn ở Tây Cương. Tây Cương là một bãi đất hoang hướng về phía đông, chỉ có điều không có nguồn nước chảy qua. Hô Thiên Thành xem xong liền nói nơi này tốt. Nơi này vừa không chiếm đất canh tác tốt, ánh nắng lại vô cùng dồi dào, đón gió tứ bề, quả là một nơi tốt. Thế là, chuyện này đã được định đoạt.

Thế nhưng, đến lúc dời mồ mả, rắc rối lại phát sinh. Đầu tiên, ý kiến của ba họ lớn Hô, Lưu, Vương rất khó thống nhất. Do mồ mả đã bị san bằng nhiều năm, rất nhiều người thậm chí còn không nhớ rõ tên họ của tổ tiên mình. Ba họ Hô, Lưu, Vương nên sắp xếp theo họ tộc, hay nên sắp xếp theo thứ bậc vai vế đây? Mọi người bàn tán xôn xao, mỗi người một ý. Các bậc trưởng bối nói, thế nào cũng phải có quy củ chứ. Người mang các họ tạp nham khác thì lại càng phiền phức hơn... Kết quả là tranh cãi hồi lâu, chẳng ai chịu phục ai. Lúc bọn họ tranh cãi, Hô Thiên Thành vẫn luôn im lặng không nói gì. Đến cuối cùng, mọi người bảo, cứ để Thiên Thành định đoạt đi. Thế là, lại một lần nữa Hô Thiên Thành vạch ra một nguyên tắc. Ông nói, đã là "tân thôn", thì phải có dáng vẻ của "tân thôn". Cứ xếp theo số thứ tự đi, các họ chôn theo các họ, đánh số thống nhất, trong thôn sẽ lập bia chung.

Ở Tây Cương, Hô Thiên Thành cho người dựng riêng một bức tường hoa bằng gạch, trồng mấy hàng thông bách, lại xây một cái cổng lớn, còn đặt hai con sư tử đá ở trước cổng, phía trên cổng viết bốn chữ lớn: Tân thôn dưới lòng đất. Còn bia mộ được làm thống nhất bằng các tấm bê tông. Dù sao đi nữa, khi tổ tiên quy vị, ít nhất cũng có một "thân phận". "Thân phận" này đối với các bậc tiên nhân mà nói, chính là một mã số. Kỳ thực, lúc dời mồ mả, rất nhiều cỗ quan tài sau khi mở ra bên trong đã trống không, chẳng còn gì cả. Có quan tài chỉ sót lại một mảnh vải, có quan tài sót lại hai mảnh xương vụn, thậm chí có quan tài đến xương cũng chẳng tìm thấy, chỉ là một ít mụn gỗ đã bị mục nát. Lại thêm một vấn đề nan giải lớn nhất nữa là, từng nhà từng nhà, từng họ từng họ, ai là ai đây? Người có trí nhớ tốt chỉ có thể nhớ được phương hướng đại khái, chứ cũng chẳng rõ mồn một. Bạn bảo đó là ngũ thúc của bạn, người ta lại bảo đó là lục gia của mình, lại có người nói e là tứ nãi nãi nhà tôi chăng?... Cứ thế mà mơ mơ màng màng dời đi.

Kết quả là, những người dời đến khu "tân thôn" này, nhiều nhất cũng chỉ có thể coi là linh hồn của các bậc tiên nhân mà thôi. Ở đây, mỗi một linh hồn đều trở thành một con số, bắt đầu từ 001, tiếp theo là 002, 003, 004... cứ thế xếp dài xuống dưới. Xếp qua xếp lại lại phát sinh chuyện. Trong tổ tiên nhà họ Lưu có một người bị trấn áp vào thời kỳ đầu giải phóng; nhà họ Vương cũng có một người hy sinh trong thời kỳ kháng Mỹ viện Triều. Thế là, người nhà họ Vương liền nói: "Ông Thổ Thành nhà tôi là liệt sĩ! Sao có thể đem ra xếp chung một chỗ với Lưu Lão Mậu được chứ?" Người nhà họ Lưu nói: "Người đã chết lâu thế này rồi, xương cốt cũng hóa tro rồi, còn bàn cái này cái nọ làm gì nữa?" Người nhà họ Vương đáp: "Sao lại không thể bàn chứ, liệt sĩ lúc nào cũng là liệt sĩ." Kết quả, tranh cãi một hồi, vẫn là Hô Thiên Thành chốt lại một câu: "Thôi thế này đi, những ai bị trấn áp thì không nhắc đến nữa; còn ai là liệt sĩ, thì gắn thêm một ngôi sao đỏ để biểu thị sự khác biệt."

Sau khi tổ tiên quy vị, năm đầu tiên đến tiết Thanh Minh, những người phụ nữ trong thôn lại từng tốp từng tốp đứng trong "tân thôn dưới lòng đất" cất tiếng gọi:

"Ông nhà ta là số mấy thế?"

Bên này có người lớn tiếng hô: "Ông nhà ta là 175, bà nhà ta là 143!"

Bên kia liền nói: "Sao lại lệch số thế kia?"

Bên này đáp: "Bà nhà ta đi sớm! Cũng chẳng biết có phải bà nhà ta không nữa, lộn xộn hết cả lên. Cứ để vậy đi."

Lại có người gọi lớn: "287 là bố nhà ta, hay là mẹ nhà ta vậy?!"

Bên kia vội vàng la lên: "Tam thúc ơi, đó là tam thúc của chúng ta đấy!"

Sau đó, Hô Thiên Thành bảo, chúng ta cũng đừng làm mấy cái trò mê tín phong kiến này nữa. Đến tiết Thanh Minh, cả thôn cùng góp mua hai vòng hoa, đến tưởng niệm một chút, để cho bọn họ "liên hoan" với nhau đi. Thế là, cũng chẳng còn ai đến đốt "tiền âm phủ" nữa, cứ để mặc cho bọn họ tự "liên hoan".

Cứ như vậy, lâu dần, khi cúng tế tổ tiên, ký ức về những con số dần dần lấn át cả ký ức huyết mạch. Chẳng hiểu vì sao, hễ nhắc đến những người đã khuất, người ta lại không kìm được mà nhớ ngay đến những con số trên bia mộ trong "tân thôn dưới lòng đất", những con số ấy ngay lập tức hiện lên trong đầu. Cứ nhắc đến là lại "mấy chấm mấy, mấy chấm mấy".

Kết quả là, ở Hô gia bảo, sức mạnh của vai vế và họ tộc tự nhiên phai nhạt đi rất nhiều.

Nhưng chẳng ai ngờ tới, người chết một khi đã có sự phân biệt, thì người sống cũng muốn được "phân biệt" đôi chút. Về chuyện này, người có phản ứng mãnh liệt nhất lại chính là Bát Quanh!

Mùa đông năm ấy, Bát Quanh ngã bệnh, ông ta bệnh rất nặng. Hai ngày trước, vẫn có người nhìn thấy ông ta chống gậy đi gót phân ở ruộng rau, thế mà chỉ qua mấy ngày ngắn ngủi, con người đã chẳng thể xuống giường nổi nữa. Tính theo tuổi tác, Bát Quanh đã được coi là sống thọ, con người trông có vẻ ốm o bệnh tật ấy vậy mà lại sống đến hơn tám mươi tuổi. Vì Bát Quanh cả đời không kết hôn, được coi là một cụ già cô độc neo đơn, cho nên dù ông ta sống một mình, nhưng sinh sống ra sao thì vẫn do thôn quản lý. Vừa ngã bệnh, Bát Quanh liền nói với mọi người: "Người xưa có câu, bảy mươi ba, tám mươi tư, Diêm Vương không tìm thì tự mình đi. Nhìn tình hình này, tôi sống chẳng còn mấy ngày nữa đâu. Liệu có thể cho tôi gặp Thiên Thành một lần không?" Mọi người liền khuyên ông ta rằng: "Quanh gia ơi, ông có gì cứ nói thẳng ra, bệnh tình thế nào thì chữa thế ấy. Hô bá bận rộn như vậy, ông gặp ngài ấy làm gì?" Ông ta bảo: "Tôi chỉ có một thỉnh cầu duy nhất, là được gặp Thiên Thành." Nhưng khoảng thời gian đó Hô Thiên Thành quá bận rộn, vẫn luôn không có thời gian trống. Thế là, Bát Quanh bắt đầu "dâng biểu" (viết thư thỉnh nguyện). Nằm trên giường bệnh, ông ta liên tiếp nhờ người viết thư thay cho Hô Thiên Thành. Mỗi lần "dâng biểu", ông ta lại trừng trừng hai mắt, vẻ mặt đầy nghiêm túc đọc cho chép lại: "Kính gửi Thiên Thành..." Đến bức thư thứ hai thì đổi thành: "Kính yêu đồng chí Thiên Thành..." Đến bức thứ ba là: "Đồng chí Thiên Thành vô cùng vô cùng kính yêu, tôi là một kẻ sắp chết đây..."

Cứ liên tiếp viết ba bức thư như thế, vào một buổi tối nọ, Hô Thiên Thành quả nhiên đã đến thăm ông ta. Vừa nhìn thấy Hô Thiên Thành, hai mắt Bát Quanh sáng bừng lên, cất tiếng gọi: "Thiên Thành đấy à, cuối cùng cậu cũng đến rồi."

Hô Thiên Thành bước đến bên giường, mỉm cười nói: "Quanh thúc, thư của chú tôi nhận được rồi. Thế nào rồi? Để đại nhân đến khám lại cho chú nhé?"

Bát Quanh nói: "Không cần khám đâu. Thiên Thành này, tôi không qua khỏi được nữa rồi. Có một câu nói, tôi muốn nói với cậu..."

Hô Thiên Thành nói: "Quanh thúc, chú cũng đừng bi quan quá như vậy, con người mà, ai chẳng có lúc già đi. Chú có lời gì thì cứ nói đi."

Bàn tay run rẩy của Bát Quanh vươn ra từ trong chăn, trong tay ông ta đang cầm một tờ giấy, ông ta run run giơ tờ giấy trong tay lên và nói: "Thiên Thành, cậu xem đi, tôi được minh oan rồi đấy nhé. Đoàn kịch huyện từ lâu đã minh oan cho tôi rồi. Ở đây có văn bản đầu đỏ, chính thức hẳn hoi đấy."

Hô Thiên Thành gật đầu, nói: "Tôi biết rồi. Quanh thúc, tôi biết chú được minh oan rồi. Chú có chuyện gì thì cứ nói đi."

Bát Quanh thở dốc một hơi, rồi nói: "Nửa đời trước của tôi, hát kịch nửa đời người; nửa đời sau, gánh phân nửa đời người, cũng coi như đã cống hiến cho nhân dân rồi chứ..."

Hô Thiên Thành nói: "Đúng thế, đúng thế. Cống hiến cũng không nhỏ đâu."

Bát Quanh nói: "Thế bây giờ tôi được coi là... 'nhân dân' rồi chứ?"

Hô Thiên Thành mỉm cười nói: "Đương nhiên là nhân dân rồi. Không phải nhân dân thì chú là gì chứ?"

Đến lúc này, khuôn mặt Bát Quanh chợt ửng đỏ lên một chút, sắc đỏ ấy tựa như thiếu nữ, lại mang theo một chút thẹn thùng. Bát Quanh nói: "Thế thì tôi có một thỉnh cầu nho nhỏ..."

Hô Thiên Thành nói: "Quanh thúc, chú cũng đừng ấp úng nữa, có thỉnh cầu gì cứ nói đi."

Bát Quanh cẩn thận từng chút một nói: "Tôi là kẻ sắp xuống lỗ rồi. Lúc bước vào cái 'tân thôn dưới lòng đất' kia, liệu có thể ban cho tôi mấy chữ được không?"

Hô Thiên Thành hỏi: "Chữ gì cơ?"

Bát Quanh nói: "Cậu xem, tôi là người gánh hát, vẫn luôn chuyên vai đào, tôi có nghệ danh cơ mà... Đến dưới đó rồi, tôi vẫn muốn, vẫn muốn được hát tặng mọi người vài câu."

Hô Thiên Thành cười nói: "Thế thì tốt quá chứ sao. Chú nói đi, chữ gì nào?"

Thế là, Bát Quanh nhìn Hô Thiên Thành với ánh mắt mong mỏi tựa trẻ thơ, nói: "Cậu xem, trên tấm bia kia, liệu có thể viết cho tôi bốn chữ: Nhân dân nghệ nhân."

Ngay lập tức, Hô Thiên Thành im bặt. Ông trầm mặc một lát, rồi bỗng nhiên bật cười. Ông mỉm cười nói: "Quanh thúc, yêu cầu của chú không thấp chút nào đâu đấy."

Khuôn mặt Bát Quanh bỗng chốc đỏ bừng lên, ông ta vội vã nói: "Cậu xem, cậu xem, tôi là 'nhân dân' cơ mà? Vừa rồi chính miệng cậu còn bảo tôi là 'nhân dân' mà..."

Hô Thiên Thành nói: "Quanh thúc, chú là nhân dân thì không sai. Chưa có lúc nào tôi nói chú không phải nhân dân cả. Nhưng còn bốn chữ 'nhân dân nghệ nhân' này... cái này, cái này, tôi thấy thôi bỏ đi."

Bát Quanh mang ánh mắt khẩn khoản nói: "Thiên Thành, cậu xem, tôi hát kịch đại đa số cuộc đời, điều này chắc chắn là thật phải không?"

Hô Thiên Thành gật đầu: "Thật."

Bát Quanh nói: "Thế tôi được coi là nghệ nhân chứ?"

Hô Thiên Thành đáp: "Nghệ nhân, chú chính là nghệ nhân."

Vừa nói, Bát Quanh vừa khóc. Bát Quanh run run tờ giấy trong tay, nức nở lặp đi lặp lại: "Cậu xem, các người đều nói tôi là 'nhân dân', đây, tôi lại là một nghệ nhân... Tôi đều được minh oan rồi, con dấu đỏ chói đóng rành rành ra đấy, cái này đâu phải giả? Thế mà cậu lại không thể ban cho tôi nổi bốn chữ..."

Hô Thiên Thành nói: "Quanh thúc, chú muốn cái gì khác cháu cũng có thể đồng ý..."

Bát Quanh nói: "Tôi chẳng cần gì khác cả, tôi chỉ cần bốn chữ này thôi..."

Hô Thiên Thành nói: "Quanh thúc, không phải là cháu không chiều theo ý chú. Bốn chữ này quá nặng, xưa nay chưa từng có tiền lệ. Nếu viết cho chú, thì người khác có viết không? Chuyện này, e là phải bàn bạc lại đã..."

Bát Quanh mơ màng nói: "Những năm tháng trước đây, tôi nổi tiếng lắm đấy. Hồi đó, cậu không biết tôi nổi tiếng cỡ nào đâu. Đến một thôn nào đó hát kịch cho người ta xem, khán giả đông nghịt đen nghịt, có người còn trốn dưới tấm ván sân khấu, khoét qua khe hở để ngắm đôi chân của tôi... Lúc rời đi, các cô gái lớn nàng dâu nhỏ đi thành từng đám, tiễn đưa ra tận ngoài mười dặm, bọn họ đều gọi tôi là 'Thập Lí Hương' (Hương thơm mười dặm), lại có người gọi tôi là 'Lãng Bán Thành' (Lãng tử nửa thành), những chuyện này đều là thật cả đấy..."

Hô Thiên Thành quay lưng đi, không thốt một lời.

Lúc này, có người ở bên cạnh nhắc nhở ông rằng: "Quanh gia, ông đừng nói nữa, đó là xã hội cũ mà..."

Bát Quanh vẫn mơ màng nói: "Xã hội cũ tôi hát kịch, xã hội mới tôi vẫn hát kịch, chỉ là lời ca khác nhau mà thôi. Ở dương gian tôi có thể hát, chẳng lẽ xuống âm phủ rồi, tôi lại không được hát kịch nữa chắc?"

Hô Thiên Thành vẫn trầm mặc không nói tiếng nào.

Thấy Hô Thiên Thành không lên tiếng, Bát Quanh liền nói: "Thiên Thành này, tôi chỉ cần bốn chữ này thôi, các người cứ bàn bạc đi. Tôi chờ, khi nào bàn bạc xong, khi ấy tôi mới nhắm mắt..."

Hô Thiên Thành thở dài một hơi, cuối cùng cũng lên tiếng: "Vậy chú cứ đợi đấy."

Trong khoảng thời gian sau đó, Bát Quanh vẫn luôn ngóng chờ như thế. Ông ta trừng trừng hai mắt, ngẩn ngơ nhìn trân trối lên trần nhà, qua một hồi lâu mới thở ra một hơi, nhưng hễ có ai đến thăm mình, ông ta lại nôn nóng hỏi dồn: "Đã phê chuẩn xuống chưa?"

Hội nghị bình nghị "Nhân dân"

Bát Quanh trút hơi thở cuối cùng vào năm ngày sau.

Trong khoảng thời gian năm ngày ấy, có một bận thôn tổ chức cuộc họp cán bộ, Hô Thiên Thành vẫn đem yêu cầu của Bát Quanh ra bàn bạc. Ông nói: "Bát Quanh có yêu cầu này, mọi người thảo luận xem thế nào đi."

Thư ký thôn Căn Bảo nói: "Người đã chết rồi, cần cái đó làm gì chứ?"

Có người nói: "Đó là linh hồn đấy. Báo chí đã đưa tin rồi, 'linh hồn' là chuyện lớn!"

Phó thôn trưởng Hô Quốc Thuận nói: "Theo tôi thấy, người chết như ngọn đèn tắt, hai mắt nhắm nghiền lại là hết, kỳ thực chẳng có cái gì là cái gì cả. Con người ta ấy mà..."

Hô Nhị Báo nói: "Đồ con điểu! Chẳng phải chỉ là bốn chữ thôi sao? Tính cái gì chứ."

Có người lập tức cắt lời hắn: "Đó chỉ là bốn chữ thôi sao? Đó là vinh dự đấy!"

Nghe người ta nói vậy, Hô Nhị Báo liền đổi giọng ngay lập tức: "Đúng thế, cái ông Quanh gia này, cứ y như đàn bà con gái ấy. Nói năng ẻo lả thì chớ, đi đứng còn uốn éo, ngón tay thì cứểnh lên mãi, lẳng lơ hết chỗ nói, chẳng có chút nam tính nào cả! Tôi nghe ông nội tôi kể, hồi trẻ ông ta chính là một cây dùi bông, đi đến đâu là gieo rắc tình ý đến đấy, đi đến đâu cũng đi mồi chài phụ nữ nhà người ta, lại hay la cà mấy chớp tuồng nhỏ, chà, vậy mà khối người lại cứ thích hắn ta cơ chứ..."

Trường trưởng trại chăn nuôi cừu Hô Bình Quân nói: "Theo tôi thấy, bản thân chú ta vốn là người gánh hát, khắc lên đó thì cũng chẳng có sai sót gì lớn. Cả đời chú ta đến một người phụ nữ cũng không có. Có một lần, tôi còn thấy chú ta lén lút rình rộn bên bức tường nhà vệ sinh, chẳng biết là đang nhìn cái gì nữa? Nghĩ lại thì, cũng đáng thương lắm chứ bộ..."

Chủ nhiệm phụ nữ Mã Phượng Tiên tranh thủ nói ngay: "Anh còn dám mở miệng nói nữa cơ à, chú ta thế này là lưu manh! Tôi không đồng ý. Nghệ danh của Bát Quanh là gì? Mọi người có biết nghệ danh của Bát Quanh là gì không? Chính là 'Lãng Bát Quanh' (Bát Quanh lẳng lơ)! Mọi người nghe thử xem, có buồn nôn hay không cơ chứ? Thế mà cũng xứng đáng làm 'Nhân dân nghệ nhân' á? Nếu khắc cho hắn ta, thế thì ai mà chẳng được khắc! Bố tôi chăn bò cả đời, có được khắc không? Đến lúc đó, cũng khắc lên đấy dòng chữ 'Nhân dân người chăn bò' chắc?"

Bí thư đoàn thanh niên mới nhậm chức Khương Hồng Đậu bĩu môi, nói: "Đó chỉ là bốn chữ thôi sao? Sao lại có thể đơn giản là bốn chữ được cơ chứ?! Cái ông Quanh gia này, phản động thì không nói làm gì rồi, lại còn nam không ra nam nữ không ra nữ, chú ta tính là 'nhân dân nghệ nhân' cái nỗi gì chứ? 'Nhân dân nghệ nhân' là một danh hiệu vinh dự cơ mà, vinh quang biết bao nhiêu! Đó là thứ mà người bình thường có thể dùng được chắc?"

Ủy viên lão thành Từ Tam Ni lớn tiếng nói: "Mọi người có biết món sở trường nhất trước kia của Bát Quanh là gì không?《 Thập Bát Mỗ 》(Mười tám cái vuốt ve), còn có《 Tiểu quả phụ thượng phần 》(Góa phụ nhỏ lên mộ), món sở trường nhất của hắn chính là 《 Thập Bát Mỗ 》. Trước giải phóng, hễ hắn bước lên sân khấu là bên dưới gào lên oai oái! Miệng hô mười tám cái vuốt ve, mười tám cái vuốt ve... toàn là ca khúc màu vàng đồi trụy!"

Mã Phượng Tiên lập tức tiếp lời: "Mọi người nghe chưa, thế này mà cũng có thể là 'nhân dân nghệ nhân' á?"

Có người nhỏ giọng nói: "Dương gian không quản chuyện âm phủ. Thế nhưng mà hắn, chẳng phải sắp đi về thế giới bên kia rồi hay sao. Hắn có ở bên này nữa đâu, hắn muốn hát vài câu, theo tôi thấy, cứ quách để cho hắn hát đi chứ sao. Hắn có phải lúc nào cũng chỉ hát 《 Thập Bát Mỗ 》 đâu, hắn còn từng hát 《 Lý Thiên Bao điếu tang 》, 《 Vương Kim Đô mượn lương 》 nữa cơ mà..."

Mã Phượng Tiên nói: "Bên kia thì sao chứ? Bên kia cũng là 'tân thôn' đấy thôi, chẳng lẽ không quản gì nữa à? Mặc kệ cho hắn muốn hát gì thì hát á? Thế này thì cũng không đúng đâu nhỉ?"

Thế là, các cán bộ đồng thanh hô lên, không thể khắc được! Tuyệt đối không thể khắc cái này được! Hai chữ "nhân dân" sao có thể tùy tiện khắc bừa bãi được cơ chứ?

Lúc này, bỗng có người lên tiếng: "Có cách rồi, có cách rồi. Chi bằng cứ khắc cho hắn bốn chữ 'Lãng Bát Quanh' đi, chẳng phải đó là nghệ danh của hắn sao?"

Ngay lập tức, một tiếng "ộp" vang lên, tất cả mọi người đều phì cười.

Đến lúc này, Mã Phượng Tiên lại nghiêm túc nói: "Theo tôi thấy, cái ông Quanh gia này tư tưởng có vấn đề! Báo chí chẳng đã nói rồi đó sao, tư tưởng chính là linh hồn! Không phải ai muốn thế nào cũng được khắc đâu. Giả sử nhà nào hộ nào cũng đưa ra yêu cầu này thì phải làm sao đây? Phải định ra một quy củ chứ lị."

Có người nói: "Chuyện này chúng ta phải suy tính cho cẩn thận, bằng không, đến lúc xuất hồn mà hắn không chịu đi thì phải làm thế nào đây?"

Giờ phút này, tất cả mọi người đều im bặt không nói tiếng nào.

Hô Thiên Thành đảo mắt nhìn mọi người một lượt, rồi cất giọng hỏi: "Chúng ta hãy bàn trước xem, Quanh thúc có đủ tư cách hay không đã?"

Các cán bộ liền nhao nhao tranh luận ỏm tỏi. Đa số mọi người đều cho rằng, không đủ tư cách! Lại có người nói, miễn cưỡng thì được. Cũng có người bảo người chết rồi thì chẳng còn biết gì nữa, chi bằng cứ đồng ý với ông ta trước đã...

Mọi người bàn luận một hồi như thế, Hô Thiên Thành mới nói: "Nếu xét cho kỹ, Quanh thúc vẫn có cống hiến đấy chứ, gánh phân nửa đời người trong thôn, đến lúc tuổi già sức yếu lại có yêu cầu thế này, cũng không có gì là quá đáng cả. Mấu chốt là chúng ta phải có một tiêu chuẩn, giống như lời Phượng Tiên nói, phải có một thước đo thống nhất. Bằng không, ai cũng đòi khắc thế này, ai cũng đòi khắc thế kia, thì sẽ loạn hết cả lên..."

Mọi người đều phụ họa, phải đấy, phải đấy.

Hô Thiên Thành lại nói tiếp: "Tôi là người không tin vào mấy thứ mê tín dị đoan này nọ đâu. Hồn phơi hồn phế gì chứ, chẳng qua cũng chỉ là một cách nói mà thôi. Nói toẹt ra, tôn kính người chết, chẳng qua đều là để cho người sống xem mà thôi. Đã vầy Bát Quanh đã đề xuất rồi, thì những người khác sau này cũng sẽ đề xuất thôi. 'Tân thôn dưới lòng đất' của chúng ta đã làm rồi, thì phải làm cho thật tốt vào. Theo ý tôi ấy mà, con người ta cống hiến cả một đời, lúc ra đi, cái gì nên được vinh danh thì cũng phải cho người ta được vinh quang một phen, phàm là những ai từng có cống hiến cho Hô gia bảo, lúc tổ chức lễ truy điệu, hãy đọc to lên trước mọi người, để cho các thế hệ sau cũng được biết đến, đây cũng là một cách khích lệ thế hệ mai sau. Bây giờ, mọi người cứ thảo luận xem thế nào đi?"

Mọi người trầm mặc trong chốc lát, có người mỉm cười nói: "Thế này chẳng khác nào bảo rằng, từ tân thôn này sang báo đáo ở 'tân thôn' kia, thì phải cấp cho một tờ giấy giới thiệu chắc?"

Mọi người đều bảo: Cách này hay, cách này hay. Lúc đi, cấp cho một tờ "giấy giới thiệu", để đỡ phải sang bên đó..."

Mã Phượng Tiên bỗng giơ tay lên nói: "Có rồi, có rồi. Tôi nhớ ra rồi, chi bằng chúng ta chia thành ba cấp bậc: Kim hồn, Ngân hồn, Đồng hồn. Cống hiến lớn thì khắc chữ 'Kim hồn'; cống hiến bình thường thì khắc chữ 'Ngân hồn'; cống hiến nhỏ thì khắc chữ 'Đồng hồn'..."

Có người lập tức phản đối: "Thế này không ổn đâu nhỉ? Thế này không hay đâu."

Trường trưởng trại heo nói: "Tôi có một ý kiến, mọi người xem có được không nhé? Theo tôi, cái con dấu dùng để làm gì cơ chứ, dấu chính là để đóng lên đó. Lúc đi, mỗi người viết lấy hai câu, đóng con dấu lớn của thôn lên... Các bác nghe tôi nói hết đã chứ lị, đóng ba con dấu thì là loại đặc biệt xuất sắc; đóng hai con dấu thì là loại khá tốt; còn đóng một con dấu thì là..."

Có người chen ngang chặn họng: "Không được, không được đâu. Anh tưởng đang bán thịt đấy à? Ai ai cũng đóng mộc lên người thế chắc?! Đây chẳng phải là làm trò hề hay sao tới bến rồi trời ạ!"

Khuôn mặt Khương Hồng Đậu thoạt đầu đỏ bừng lên một chút, rồi nói: "Hô bá đã bảo rồi, gặp chuyện thì phải động não suy nghĩ nhiều vào. Em ấy à, nghĩ đến mức đầu óc muốn nổ tung luôn rồi đây này, nghĩ ra được một chủ ý, nhưng chẳng biết có được hay không nữa. Hiện tại chẳng phải đang đề cao văn minh đó sao? Cấp trên làm cái gì cũng có bốn sao, năm sao, chúng ta có thể làm cái gọi là 'Ngũ tinh hồn' được không nhỉ? Em vẫn chưa suy nghĩ kỹ càng lắm đâu, cũng chỉ là một ý kiến đề xuất mà thôi."

Đúng lúc này, có người hớt hơ hớt hải chạy vào hô lớn: "Quanh gia sắp không qua khỏi nữa rồi! Ông ấy bảo, ông ấy không làm khó các vị cán bộ nữa đâu. Nếu cái danh hiệu 'Nhân dân nghệ nhân' đó không được phê chuẩn, thì coi như thôi vậy. Ngẫm lại xem, hai chữ 'Nhân dân' này quả thực quá nặng nề, không khắc thì thôi vậy. Ông ấy bảo, dù sao thì bản thân ông ấy tính ra cũng được coi là một nghệ nhân, nếu như có thể khắc được, thì chi bằng cứ khắc cho ông ấy bốn chữ 'Nghệ nhân Lãng Bát Quanh' đi. Ông ấy bảo, ông ấy không sợ mất mặt đâu..."

Mọi người nghe xong, ngươi nhìn ta, ta nhìn ngươi, đều trân trối nhìn nhau ngơ ngác. Sau đó, tất cả lại đồng loạt hướng ánh mắt về phía Hô Thiên Thành. Hô Thiên Thành nói: "Nói cho cùng, Bát Quanh cũng chẳng có sai lầm gì lớn lao cả, tính ra thì vẫn là một người tốt."

Lúc này, mọi người lại đồng thanh cất lời: Người tốt, người tốt mà.

Thế là, trong đầu mọi người đều nhớ lại những điểm tốt của Bát Quanh. Kể từ khi Bát Quanh trở về thôn, ông ta vẫn luôn trở thành "trò hề" để người ta cười chê. Hồi đó, ai nấy đều biết ông ta là một "kẻ xướng ca vô tình", là một "phần tử thành phần bốn loại". Thế nhưng, lại chẳng có một ai nhìn thấy ông ta hát kịch bao giờ. Rõ ràng ông ta biết hát kịch, thế nhưng sau khi về đây, ông ta đến một tiếng hừ giọng cũng chẳng thèm hừ lấy một tiếng, những gì mà người ta nghe được, hoàn toàn chỉ là một vài truyền thuyết mà thôi. Bát Quanh trong mắt mọi người, chẳng qua chỉ là một Bát Quanh gánh phân mà thôi. Về sau, trong những tháng ngày đằng đẵng ấy, Bát Quanh gần như đã trở thành một phong cảnh quen thuộc của thôn. Cứ mỗi lần ông ta gánh một đôi thùng phân xuất hiện trên đường làng, người ta lại không kìm được mà buồn cười. Hồi ấy, trên miệng ông ta lúc nào cũng che một chiếc khẩu trang rách rưới. Dù trời lạnh hay trời nóng, ông ta vẫn kiên định không dời che đậy chiếc khẩu trang rách bươm ấy. Chiếc khẩu trang bám đầy vết bẩn đen sì, trông y như cái rọ mõm đeo trên đầu trâu bò, nhìn chẳng ra làm sao cả. Điều càng khiến người ta buồn cười hơn nữa, chính là tư thế gánh phân của ông ta. Có một dạo, hễ cứ thấy ông ta gánh phân bước ra từ nhà vệ sinh, là người ta lại vô cùng hào hứng cất cao giọng hô to: "Nhìn kìa, Bát Quanh ra rồi kìa! Bát Quanh ra rồi kìa!"

Bát Quanh gánh quang gánh phân đi đường thì không chỗ nào là không run rẩy, trông hệt như một gốc liễu đang tỏa ra mùi hôi thối. Bước chân của ông ta, từ trước đến nay lúc nào cũng là những bước chân chúm chím nhỏ xíu, hệt như có ai đang bóp chặt lấy chân ông ta vậy, một bước nhún một bước bồng, một bước bồng một bước nhún, không những mũi chân nhểnh lên, mà gót chân cũng kiễng lên nốt, khiến người ta không khỏi hoài nghi rốt cuộc có phải ông ta đang đi bằng lòng bàn chân hay không nữa. Còn cái eo của ông ta thì mềm oặt mềm oèo, rõ ràng đang gánh một gánh phân nặng trịch, thế mà lại uyển chuyển hệt như cô dâu mới về nhà chồng thăm thân vậy, biên độ lắc lư của cái mông cực kỳ lớn, lắc sang trái rồi lại lắc sang phải, lắc qua lắc lại, lúc lắc sang trái thì đầu lại nghiêng sang phải, lúc lắc sang phải thì đầu lại oặt sang trái, cái mông nhỏ nhắn ấy, trông không giống như mọc trên người con người cho lắm, ngược lại trông giống như hai cục bông gòn được nhồi nắn, nảy tưng tưng khiến người ta nhìn mà thót cả tim. Hai cánh tay, một tay gác lên đòn gánh, gác lên đòn gánh thì cũng thôi đi, đằng này năm ngón tay của ông ta lại cứ ve vẩy chổng ngược lên trời, quãi ra một cái tư thế trông vô cùng chướng mắt người xem. Người sành sỏi bảo, thế gọi là "tay hoa lan". Thế nhưng "tay hoa lan" của Bát Quanh lại khác với trên sân khấu kịch, "tay hoa lan" của Bát Quanh nhà quê hơn nhiều, nhà quê đến mức chẳng giống tay người gì cả, chính miệng ông ta từng nói, thời đương thời, ông ta có thể làm ra bảy loại dáng hoa tay cơ đấy. Còn cánh tay kia, không phải là đưa đẩy đơn thuần, mà là múa may quay cuồng, một lật một thuận, tựa hồ như tay áo rất dài, chốc thì vung ra, chốc lại thu về, hệt như trong ống tay áo đang giấu một chú chim nhỏ vậy, lúc thì bay vụt ra ngoài, lúc lại bay lượn trở về... Còn những ngón tay bên này thì sao, biên độ quãi ra nhỏ hơn một chút, chỉ là liên tục xoay tròn, xoay đến mức làm cho hoa cả mắt chóng cả mặt...

Chẳng hiểu vì sao, viên trưởng tiểu đội dân binh Hô Đôn Tử hồi đó lại căm ghét ông ta nhất, hắn thường hay len lén đi theo sau lưng ông ta, rồi bất thình lình giáng cho một cước vào mông ông ta, miệng mắng: "Nhìn xem cái xã hội cũ đã giày vò con người ta thành cái dạng gì thế này không biết!" Bát Quanh quay đầu nhìn hắn, nhỏ giọng nói: "Đôn Tử, tao trêu chọc gì mày à?" Hô Đôn Tử đáp: "Đm mày chứ, mày kiêu ngạo cái nỗi gì hả? Ngày nào cũng làm cho tao một bồ lửa giận!" Bát Quanh chớp chớp mắt, chẳng hiểu hắn có ý gì, nên cũng không dám lên tiếng nữa.

Độc đáo nhất ở Bát Quanh còn có hai ngón nghề gia truyền, một là bước chân khi ông ta đặt chân bước vào nhà vệ sinh. Hồi đó, nhà vệ sinh trong thôn đều là loại sơ sài tạm bợ, dùng tường đất đắp lên, ở giữa ngăn cách bởi một bức tường, dùng vôi quét lên tường một chữ "Nam" và một chữ "Nữ" là thành nhà vệ sinh nam nữ. Loại nhà vệ sinh này vốn chẳng có cửa nẻo gì cả, để đề phòng heo vào ủi phá, người ta thường dùng mấy khúc gỗ chặn ngang lại một đoạn. Hàng rào gỗ phòng heo này cao hơn một thước, cho nên, mỗi lần Bát Quanh vào nhà vệ sinh gánh phân đều phải bước qua hàng rào chắn này trước đã. Thế là, bước nhảy này đã trở thành tuyệt kỹ của Bát Quanh. Mỗi lần cất bước vượt qua chướng ngại vật này, ông ta thế nào cũng phải lùi ra xa tít tắp, hít sâu một hơi, gánh đôi thùng phân trống rỗng, người vặn vẹo uốn éo ra cái tư thế yểu điệu thục nữ con nhà quyền quý, lướt thướt chạy bước nhỏ xíu, miệng niệm câu "chân, chân, chân, chân... chân!" Tiếng "chân" cuối cùng này được kéo dài ra đặc biệt lâu, thoắt cái đã "kim kê độc lập", đứng ngạo nghễ trên khúc gỗ dùng làm hàng rào chắn kia, một chân vậy mà lại hất ngược về phía sau, thân người vươn dài về phía trước, trông y hệt như cánh én đang chao lượn run rẩy bồng bềnh! Đứng sừng sững tại chỗ trong chốc lát, ông ta mới eo ót lắc mình một cái, vặn người tuột xuống khỏi khúc gỗ ấy. Lúc ấy ông ta đã sáu mươi mấy tuổi, thế võ "nhất cước" này thường làm cho người xem được phen kinh ngạc đến ngây cả người! Có người hỏi ông ta, bảo rằng: "Quanh thúc, chú đang làm trò gì thế này?" Ông ta ngẩn ngơ ngốc nghếch, chẳng thèm ú ớ nửa lời. Về sau nữa, ông ta mới lén lút rỉ tai người ta nói: "Các người thì biết cái quái gì chứ? Thế này gọi là 'Nha hoàn lên lầu thêu'." Tiếp theo lại vội vàng đốp chát tự vả vào miệng mình, nói: "Đánh miệng, đánh miệng. Đây là 'Tứ cũ'."

Tuyệt kỹ thứ hai của Bát Quanh, chính là tay nghề may vá thêu thùa của ông ta. Thế nhưng Bát Quanh từ trước đến nay chưa từng thừa nhận đó là may vá, Bát Quanh bảo, thế này gọi là "nữ hồng". Tay nghề "nữ hồng" của Bát Quanh thường được thực hiện bằng cách ngồi xổm dựa lưng vào bức tường phía nam của nhà vệ sinh. Những ngày thời tiết ấm áp, Bát Quanh sau khi gánh phân xong thường hay ngồi xổm dưới ánh nắng mặt trời để vá chiếc áo bông rách của mình. Mỗi khi vá áo, ông ta lúc nào cũng kéo một sợi chỉ thật dài, cây kim thì là kim thêu hoa nhỏ xíu, sợi chỉ là sợi chỉ thuần tịnh đỏ thắm, cây kim nhỏ xíu ấy được kẹp giữa những ngón tay, làm dáng làm điệu ra chiều ta đây đài các lắm, từng động tác đều được thực hiện vô cùng có tiết tấu có quy củ, nhịp nhàng đâu ra đấy, cẩn thận đâm kim xuyên qua rồi kéo dài sợi chỉ ra, chốc thì thắt lại một nốt hoa, chốc lại thắt thêm một nốt hoa, những ngón tay uyển chuyển uyển chuyển khẽ động, một lật, một hất, một quấn, một gài, cứ thế dùng đôi bàn tay làm ra từng chiếc áo nhỏ với dáng vẻ ngốc nghếch, quyến rũ, kiều diễm, thẹn thùng vô cùng sinh động! Nhìn gần lại (chỉ ngắm nghía tư thế của đôi bàn tay), thì trông hệt như một tiểu thư khuê các đang ôm mộng xuân thì ngồi thêu hoa; còn nhìn từ xa thì đích thị là hai chú chim bồ câu đang vờn nhau âu yếm mỏm mỏm môi kề môi... Giả sử có người phụ nữ nào đang thắt lưng quần đi ra từ nhà vệ sinh, nhìn thấy cảnh này, thế nào cũng không kìm được mà nhổ bọt nước bọt lên bức tường bên cạnh, trong lòng thầm mắng: Phỉ nhổ, cái thứ đê tiện õng à õng ẹo! Thế nhưng mỗi khi đến lúc này, ở góc tường phía đối diện nhà vệ sinh, lúc nào cũng có từng đám từng đám đàn ông ngồi xổm sưởi nắng. Ngoài mặt thì đám đàn ông ấy đang "sưởi nắng", nhưng kỳ thực thì đôi mắt cứ trừng trừng dán chặt vào, đều đang ngắm nhìn Bát Quanh làm "nữ hồng"! Ngắm thì cứ ngắm, nhưng từng người từng người một ngoài miệng lại lơ đễnh cất tiếng chê bai: "Đúng là mẹ kiếp làm người ta buồn nôn chết đi được!" Tuy nhiên, trong những tháng ngày ấy, những chuyện xấu hổ chẳng dám thốt nên lời của Bát Quanh, lại nghiễm nhiên trở thành một khung cảnh thu hút đông đảo người xem nhất ở Hô gia bảo...

Giờ đây, khoảng thời gian tại thế của Bát Quanh chẳng còn lại bao nhiêu nữa. Lúc sắp ra đi, ông ta muốn có được cái danh phận "Nhân dân nghệ nhân". Xem ra điều này là không thể khắc lên bia được rồi. Đã không thể khắc "Nhân dân nghệ nhân", thì cái danh xưng "Lãng Bát Quanh" lại càng tuyệt đối không thể khắc lên được. Nếu như khắc lên đó, thì không những làm mất mặt Bát Quanh, mà ngay cả danh tiếng của Hô gia bảo cũng sẽ bị bôi nhọ tơi bời. Thế là, các cán bộ đều nhất trí cho rằng, không ổn, thế này không ổn chút nào cả. Nếu như thực sự khắc lên đó dòng chữ "Lãng Bát Quanh", thì thà rằng đừng khắc còn hơn.

Bàn qua tính lại hồi lâu, thế mà vẫn chẳng thảo luận ra được cái đầu cua tai nheo gì cả. Sau đó có người cất tiếng: "Ước gì Bát Quanh đầu thai kiếp sau làm một người phụ nữ thì tốt biết mấy."

Mọi người nghe vậy cũng nhao nhao phụ họa: "Đúng thế. Quanh gia mà là phụ nữ, thì mọi chuyện đã dễ giải quyết rồi."

Đến cuối cùng, mọi người đều đổ dồn ánh mắt chờ đợi Hô Thiên Thành cất lời, thế nhưng ông lại nheo nheo đôi mắt, đến một câu cũng không thèm hé răng.

Đúng vào lúc này, lại có người hớt hải chạy xồng xộc vào, thở hồng hộc báo tin: "Quanh gia trút hơi thở cuối cùng rồi!..."

Các cán bộ giật mình sững sờ, đồng loạt đứng phắt dậy, chỉ nghe Hô Thiên Thành cất giọng trầm đục nói: "Giải tán thôi."

Hai ngày sau, lúc chôn cất, tấm bia mộ của Bát Quanh khắc con số: 311.

Ai là chủ

Chẳng ai có thể ngờ tới, người được an táng ngay sát cạnh Bát Quanh, lại chính là mẹ của Hô Thiên Thành.

Thế thì, nếu tính theo thứ tự bình thường, trên biển số mộ của "tân thôn dưới lòng đất", Lục nãi nãi sẽ là: 312.

Có lẽ Lục nãi nãi không thích con số trên tấm bia này cho lắm. Bà là một người có đức tin vào "Chúa". Chẳng biết từ khoảng thời gian nào bắt đầu, bà đã tin theo "Chúa" rồi. Vào những ngày trời chuyển tối, từng có người nhìn thấy bà chống đôi chân bó hoa sen nhỏ xíu, vội vã chạy tất tả sang thôn láng giềng, hóa ra đó là đi làm lễ cầu nguyện.

Hồi ấy, Hô Thiên Thành vẫn luôn bận rộn đầu tắt mặt tối, hễ bận rộn lên là thường xuyên mấy tháng trời không về nhà, dẫu có thỉnh thoảng ghé về nhà một chuyến đi chăng nữa, thì cũng vội vội vàng vàng, cầm lấy đồ đạc là đi ngay. Cho nên, Hô Thiên Thành hoàn toàn không hề hay biết chuyện mẹ mình tin theo "Chúa". Mãi cho đến khi Lục nãi nãi lâm bệnh nặng, ông mới vỡ lẽ ra rằng mẹ mình đã quy y theo "Chúa" rồi.

Ở những vùng quê vùng đồng bằng, phàm là những ai tin theo "Chúa", đại đa số đều là những người mắc phải những căn bệnh kỳ quái tà quái nào đó. Những người này chẳng biết vì sao lại mắc phải đủ mọi thứ căn bệnh lạ lùng, chữa trị mãi mà không khỏi, thế rồi trên con đường đi tìm các bài thuốc dân gian chữa bệnh, người này truyền tai người kia, người kia truyền tai người nọ, cuối cùng đều tin theo "Chúa" cả. "Chúa" ở đây chính là một thứ niệm tưởng, là một sự giải thoát tinh thần sau những bất lực khốn cùng, là một "cánh cửa vô hình" sau khi đã đường cùng không nơi nương tựa để cầu cứu. Nó trọng ở chữ "tin". Cho nên, ở vùng đồng bằng, giáo lý của "Chúa" đa số đều được truyền miệng, nói ra thì toàn là những lời ăn tiếng nói bình dị, thực tế thường ngày và đầy tính thực dụng. Ví dụ như, bạn cứ tin đi, tin thì bệnh sẽ khỏi. Ví dụ như, "Chúa" dạy con người ta hướng thiện, làm nhiều việc thiện, không làm việc ác. "Chúa" đã dạy rồi, không trộm cắp không sờ mó không cướp giật, bề trên phải hiếu thuận với bố mẹ chồng, bề dưới phải hòa thuận thân thiết với xóm giang láng giềng và chị em dâu họ, khi ra đi là có thể bước vào thiên đường. Bước được vào thiên đường rồi thì kiếp sau sẽ không phải chịu khổ nữa, đến lúc đó, cũng sẽ giống như thời kỳ "chủ nghĩa cộng sản" vậy, muốn ăn gì thì ăn nấy, muốn gì được nấy... Cứ đến ngày lễ cầu nguyện, bọn họ lại tụ tập lại với nhau, lớn tiếng đọc tụng một số câu cú mà ngay cả bản thân họ cũng chẳng hiểu rõ ý nghĩa là gì, hoặc là lẩm nhẩm mặc niệm hết lần này đến lần khác cầu nguyện với "Chúa", giãi bày tâm sự. Bình thường, bọn họ đều là những người trầm ngâm ít nói, thế nhưng ở đây, từng người từng người một lại chẳng chút thẹn thùng cất cao tiếng hát xướng, giữa tập thể mà gào thét những uất ức dồn nén trong lòng ra ngoài, đem cái "bệnh" giấu kín trong tâm trí trút hết lần này đến lần khác cho "Amen"... Sau đó là cùng nhau giao lưu chia sẻ một vài cảm nhận, hàn huyên trò chuyện về tình trạng bệnh tật của mỗi người. "Bệnh" chính là nguyên nhân của họ, còn "tin" chính là kết quả của họ. Thế là những buổi tụ tập của họ, lại trở thành những ngày hội để họ trút bỏ ma bệnh trong linh hồn mình.

Lục nãi nãi vốn là một người kiệm lời ít nói. Bởi vì Lục gia ra đi từ sớm, bà đã thủ tiết thờ chồng nuôi con suốt ba mươi tám năm ròng rã nay rồi. Hồi ấy, ai nấy đều bảo Lục nãi nãi có phúc lớn, sinh được một người con trai ngoan ngoãn giỏi giang, thế nhưng Lục nãi nãi khi ở trong thôn lại chưa từng phô trương kiêu ngạo bao giờ. Ngày thường, Lục nãi nãi rất ít khi mở miệng nói chuyện, những năm tháng trước kia, bà cũng giống như bao người khác ra đồng làm mấy công việc nhổ cỏ, luôn lủi thủi đến trong thầm lặng, rồi lại thầm lặng quay về, lê đôi chân bó nhọn hoắt. Về sau nữa, tuổi tác đã cao, bà rất ít khi ra khỏi cửa. Thoạt đầu, Lục nãi nãi mắc bệnh đau nửa đầu. Về đêm, bà thường xuyên trằn trọc không sao chợp mắt nổi, lúc nào cũng phải dùng tay bóp chặt lấy một vị trí nào đó trên đầu, thì mới cảm thấy dễ chịu hơn một chút. Hồi đó, mỗi lần ra khỏi cửa, vùng thái dương của bà lúc nào cũng hằn lên một vết bầm tím do chính tay mình bấm ra. Đến khi điều kiện khá giả hơn một chút, cũng từng chạy chữa thuốc men qua một khoảng thời gian, nhưng rốt cuộc vẫn không thể chữa khỏi. Về sau, tại thôn Phương Trang sát bên cạnh, bà đã quy y tin theo "Chúa". Điều kỳ lạ là, sau khi tin theo "Chúa", căn bệnh đau nửa đầu của bà quả nhiên đã thuyên giảm đi rất nhiều. Thế là, bà trở thành người đầu tiên ở Hô gia bảo tin theo "Chúa".

Hô Thiên Thành nằm mơ cũng không thể ngờ tới, cái chết của người mẹ lại trở thành một sự khiêu khích một lần nữa đối với ông! Nếu như ông thuận theo ý mẹ, thế thì ở Hô gia bảo, người tin theo "Chúa" sẽ không chỉ có một mình bà nữa.

Đêm hôm ấy, giẫm lên ánh trăng sáng rọi, Hô Thiên Thành về nhà một chuyến. Vừa bước chân qua cổng viện, ông bỗng phát hiện trong gian phòng của mẹ có rất nhiều bóng người đang thấp thoáng cử động. Thế là, ông đẩy tung cánh cửa phòng mẹ ra. Lúc này, ông nhìn thấy trong phòng của mẹ có năm sáu cụ già trùm khăn đầu đen đang đứng đó. Dưới ánh đèn, chỉ thấy các cụ già người nào người nấy đều còng lưng cúi đầu, chép chép miệng, hai bàn tay chắp lại với nhau, miệng lẩm bẩm "lộc bộc, lộc bộc..." chẳng biết đang đọc tụng lầm rầm cái gì. Hô Thiên Thành giật mình sững sờ, cất tiếng hỏi: "Mấy người đang làm cái trò gì thế này?" Thế nhưng, chẳng một ai thèm lên tiếng đáp lời, những cụ già ấy vẫn phớt lờ xem như không có ai bên cạnh mà tiếp tục lẩm bẩm cái gì đó. Trong giây lát, chỉ thấy phía sau cánh cửa có một người đứng bật dậy, người nọ ho khan một tiếng, rồi lên tiếng nói: "Mẹ anh đổ bệnh rồi." Hô Thiên Thành ngoảnh đầu nhìn lại một cái, nhận ra người đó chính là người cậu đã hơn bảy mươi tuổi của mình. Người cậu sống ở thôn Phương Trang láng giềng. Ông ta nói: "Cậu út, cậu đã đến rồi đấy à." Hô Thiên Thành trợn trừng mắt nhìn ông ta một cái, chẳng nói năng gì. Hô Thiên Thành lại cất giọng hỏi: "Đây là đang làm cái gì thế này?" Cậu út đáp: "Mẹ anh đổ bệnh rồi, mà anh chẳng hay biết gì hết à?" Hô Thiên Thành nói: "Sao tôi lại không biết chứ. Có bệnh thì phải chạy chữa chứ. Đây là đang làm cái gì cơ chứ?" Vừa nói, ông vừa sải bước đi về phía giường của mẹ, thế nhưng trước giường lại đứng vây quanh một vòng các cụ già đang lẩm bẩm "lộc bộc lộc bộc", ông đành vòng qua những cụ già đó, đi đến góc giường. Lúc này, ông nhìn thấy mẹ đang nằm bất động trên giường, đôi mắt nhắm nghiền nửa hờ, miệng vậy mà cũng đang lẩm bẩm "lộc bộc..."! Thế là, Hô Thiên Thành đứng thẫn thờ trong phòng một lát, rồi lặng lẽ bước ra ngoài.

Lúc ông bước ra đứng ở sân viện, người vợ bước lại gần cất giọng nhỏ xíu nói: "Mẹ đã tin theo 'Chúa' rồi. Bọn họ đến để cầu nguyện cho mẹ đấy..."

Hô Thiên Thành không thèm đếm xỉa gì đến vợ nữa. Hô Thiên Thành đứng đó, trầm mặc chốc lát, rồi hướng về phía trong phòng cất giọng gọi lớn một tiếng: "Cậu út, cậu ra đây một lát xem nào."

Cậu út từ trong phòng bước ra, bộp chộp cất lời trách móc ngay: "Tính ra anh cũng là một cán bộ đấy chứ, mẹ anh bệnh ra nông nỗi này rồi mà anh chẳng thèm quan tâm màng tới gì cả à?"

Hô Thiên Thành nói: "Sao tôi lại không quan tâm chứ? Có bệnh thì phải chạy chữa chứ, chẳng phải vẫn đang truyền nước biển đó sao. Tôi đi gọi bác sĩ đến ngay đây."

Cậu út gạt phắt đi nói: "Anh có gọi cũng chẳng ích gì đâu, bà ấy đã lớn tuổi từng này rồi, đừng có hành hạ bà ấy nữa. Mẹ anh đã tin theo 'Chúa' rồi, bác sĩ không chữa nổi bệnh cho bà ấy đâu."

Hô Thiên Thành hỏi: "Bác sĩ không chữa nổi, thế còn ai chữa nổi nữa?"

Cậu út đáp: "Chúa'. Bệnh của mẹ anh là tâm bệnh, chỉ có 'Chúa' mới chữa khỏi được bệnh cho bà ấy thôi."

Hô Thiên Thành liếc nhìn cậu út một cái, hỏi: "Cậu út, mấy người kia là do một tay cậu dẫn đến à?"

Cậu út đáp: "Ừ. Nhìn người ta kìa, toàn là tự nguyện đến để cầu nguyện cho mẹ anh đấy."

Hô Thiên Thành nói: "Cậu dẫn tất cả những người này đi đi, mẹ bệnh tôi sẽ lo."

Cậu út trợn trừng hai mắt, quát lên: "Tôi nói cho anh hay, mẹ anh đã tin theo 'Chúa' rồi —— Amen. Mẹ anh cũng chẳng còn tâm nguyện gì khác nữa, chỉ muốn đi theo 'Chúa' bước vào thiên đường —— Amen. Đây chính là tâm nguyện của mẹ anh. Chẳng lẽ anh lại đi chắn ngang con đường của mẹ anh chắc?" Cậu út cứ nói một câu, lại vội vã cúi đầu "Amen" một tiếng...

Hô Thiên Thành lạnh lùng nói: "Thiên đường cái giời gì chứ? Tôi từ trước đến nay không tin mấy thứ này."

Cậu út đáp: "Anh không tin à? Anh không tin thì tùy anh. Mẹ anh tin!"

Hô Thiên Thành nổi giận, lớn tiếng nói: "Cậu út, cậu dẫn đám người này cút khỏi đây cho tôi, cậu không dẫn họ đi thì tôi mặc thây không quản nữa đấy!"

Cậu út tức đến mức nước bọt văng tứ tung, thét lên: "Anh không quản thì thôi, chuyến này tôi dứt khoát không cho anh quản nữa!"

Hô Thiên Thành hỏi: "Cậu út, lời này chính là do cậu nói đấy nhé?"

Cậu út lắc lắc cái đầu bạc trắng, nhảy cẫng lên chửi bới: "Sao hả? Là tao nói đấy! Tao là cậu ruột của mày, mày còn dám đánh tao chắc?!"

Hô Thiên Thành đứng thừ người ra ở sân viện một lát, rồi nói: "Được rồi. Đã thế cậu không cho tôi quản, thì tôi mặc kệ không quản nữa." Nói dứt lời, ông quay phắt đầu bước thẳng ra ngoài.

Đúng lúc này, cậu út nhảy cẫng lên chửi với theo: "Tao là cậu ruột của mày đấy! Lại còn muốn phản tổ à? Mày là cái vung nồi giáp sắt, tao chính là cái liếp nồi gang! Mày có giỏi thì đừng có bén mảng trở về nhà nữa. Mẹ mày có trút hơi thở cuối cùng mày cũng đừng có mà quay đầu về bước chân qua cái cửa này!"

Hô Thiên Thành đứng sững ở ngưỡng cửa, ngoảnh đầu liếc nhìn cậu út một cái. Kể từ dạo đó, Hô Thiên Thành thực sự không bao giờ bước chân về nhà thêm một lần nào nữa...

Chẳng ngờ rằng, sang đến ngày hôm sau, cậu út lại càng trở nên "cuồng loạn" hơn. Tầm ngọ trưa, lần lượt có hơn một trăm tín đồ "tin Chúa" kéo đến Hô gia bảo! Phần lớn những người này là phụ nữ và người cao tuổi, bọn họ mỗi người tự gùi theo lương khô, từng tốp từng tốp đi bộ từ khắp bốn bề thôn xóm kéo đến, sau đó tụ tập lại thành từng đám ngồi vây quanh trước cổng nhà Hô Thiên Thành, ngồi bệt xuống đất, tiếp đó trên đường làng vang lên một âm thanh lẩm bẩm "lộc bộc..." liên hồi, bọn họ vừa cầu nguyện vừa không ngừng vẽ hình chữ "thập" trước ngực, trên khuôn mặt mang theo một vẻ biểu cảm trang nghiêm, thành kính, cuối cùng là đồng thanh hô vang "Amen!" Tiếng "Amen" ấy vang vọng bay bổng trên bầu trời Hô gia bảo, hồi lâu vẫn không tan đi.

Dần dần, thoạt đầu là những cụ già ở Hô gia bảo bồng bế cháu chắt ra xem, tiếp theo số lượng người đứng xem vây quanh ngày một đông thêm. Đến giữa trưa, trước cửa nhà Hô Thiên Thành đã bị vây kín mít không lọt lấy một giọt nước. Chỉ thấy những tín đồ "tin Chúa" ấy người nào người nấy ngồi ngay ngắn nghiêm cẩn ở đó, cái miệng không ngừng lẩm bẩm "lộc bộc, lộc bộc, lộc bộc..." Bọn họ thỉnh thoảng cũng có lúc ngừng "lộc bộc". Một khi đã ngừng lại, bọn họ liền chuyền tay nhau số lương khô và nước uống mang theo, người này đưa cho người kia, ngươi đưa cho ta, đồ của anh chính là của tôi, đồ của tôi chính là của anh, đói bụng thì gặm một miếng lương khô; khát nước thì uống một ngụm nước đựng trong chai nhựa... Lúc này, vậy mà có rất nhiều cụ già đem lương khô trong tay mình đưa cho những người đang đứng xem vây quanh, miệng bảo: "Ăn một miếng đi, đây là phúc lành do 'Chúa' ban tặng đấy." Rất nhanh chóng, các cụ già ở Hô gia bảo đã bắt chuyện được với những tín đồ kia. Có người lên tiếng hỏi: "Ai bảo các người đến đây thế?"

Các tín đồ liền đáp: "Là 'Chúa' bảo chúng tôi đến đấy."

Lại hỏi tiếp: "Chúa' là ai?"

Các tín đồ đáp: "Chúa chính là Thượng Đế, chúng ta đều là những chú chiên ngoan đạo của Thượng Đế. Chúa Giê-su của tôi..."

Lại hỏi: "Tin theo Chúa thì có gì tốt đẹp cơ chứ?"

Các tín đồ đáp: "Tin đi. Đây tuyệt đối không phải là mê tín đâu nhé. Cấp trên có chính sách, bảo là tự do tín ngưỡng mà. Anh cũng cứ tự do một phen đi, tin theo 'Chúa' tốt lắm đấy. Có bệnh thì chữa bệnh, không bệnh thì tiêu tai giải hạn..."

Có người liền hỏi: "Bệnh gì cũng chữa khỏi được hết sao?"

Các tín đồ liền đáp: "Đúng thế. Bệnh gì cũng chữa khỏi được hết. Trương Trang ở phía tây sông có họ Mã, chết đi ba ngày rồi, thế mà vẫn hoàn dương sống lại được đấy. Đó là do 'Chúa' không muốn để ông ấy đi. 'Chúa' bảo, tội lỗi của ông ấy vẫn chưa thụ hình xong..."

Có người liền hỏi: "Thế sao bệnh của Lục nãi nãi lại mãi không khỏi hẳn thế kia?"

Các tín đồ liền đáp: "Tội lỗi của Lục nãi nãi đã được 'Chúa' tha thứ rồi, Lục nãi nãi sắp sửa được bước vào thiên đường rồi đấy. Vào được thiên đường thì sướng lắm nhé, thiên đường cũng y sì đúc như chủ nghĩa cộng sản vậy thôi..."

Đang lúc nói chuyện rôm rả, bỗng có một cụ già hát vống lên một câu gì đó, thế là tất cả các tín đồ đều cất tiếng hát theo. Bọn họ ê a cất giọng hát ca, dưới ánh nắng gay gắt giữa trưa, tiếng ca trầm đục khàn khàn ấy vừa khiến người ta đắm say vừa khiến người ta mờ mịt hoang mang.

Vừa qua ngọ trưa, cậu út của Hô Thiên Thành nhảy tót từ trong nhà bước ra ngoài. Ông ta đứng giữa đường làng, giậm chân hầm hè chửi rủa lớn tiếng: "Mẹ kiếp tổ tiên nhà tụi mày, làm ăn kiểu cách ra dáng phết nhở?! Đến một ngụm nước cũng không thèm chuẩn bị trước lấy một ngụm à? Cái giống gì thế không biết nữa?!..."

Ngay lập tức, có tín đồ lên tiếng nhắc nhở: "Đừng mắng chửi nữa đừng mắng chửi nữa, chúng ta là tự nguyện đến mà. Ông đót bụng rồi phỏng? Ở đây có bánh màn thầu này... Đã tin theo 'Chúa' rồi, chúng ta tuyệt đối không được phép mở miệng chửi bới thô tục đâu đấy."

Cậu út liền lảo đảo bước tới, nói: "Tụi mày không được mắng chửi, chứ tao thì tao có quyền mắng. Tao là cậu ruột của nó, tao là cậu ruột thịt hoi nòi của nó đấy! Cậu ruột thì dùng để làm gì cơ chứ? Cậu ruột chính là đến để trút giận thay cho người nhà mẹ đẻ đấy! Đóng vai trò là cán bộ đấy phỏng, cán bộ cái nỗi gì chứ? Cán bộ ăn cứt à! Mấy cái lễ nghĩa phép tắc học hết vào trong lũng quần rồi phỏng? Thiên Thành đâu, gọi Thiên Thành ra đây cho tao mau lên! Cả ngày trời rồi, đến cái mặt mũi cũng chẳng thèm ló dạng ra một cái à?!..."

Nghe ông ta chửi mắng như tát nước vào mặt thế, đám người đứng xem xung quanh ngược lại từng người từng người một chuồn êm đi mất tăm mất dạng. Bọn họ hệt như đang né tránh thứ gì ghê gớm lắm vậy, hễ bảo đi là chuồn thẳng một mạch không ngoảnh lại. Thoắt cái, giữa đường làng trống hoác chỉ còn trơ trọi lại mỗi đám tín đồ vẫn đang lẩm bẩm những câu "lộc bộc" không ngớt... Đám tín đồ đưa mắt nhìn xung quanh bốn phía, vẻ mặt hết sức kinh ngạc thốt lên: "Người ở cái chốn này sao mà quái đản thế nhỉ?"

Thế là, cậu út lại càng cất cao giọng gào thét chửi rủa thậm tệ hơn. Cậu út vốn dĩ là một tín đồ tin Chúa, thế nhưng hễ mở miệng mắng chửi là bản chất thô tục lại hiện nguyên hình. Ông ta dùng những từ ngữ đậm chất truyền thống ra để mắng chửi: "... Sáu cào cào bảy bắp ngô, đuôi lừa treo chùy gông, không ra cái thá gì cả! Chồn vàng lai thỏ con, một ổ chẳng bằng một ổ! Quả óc chó mùa thu đập hồng xanh, toàn là lũ đầu dẹt cục mịch! Then cài cửa treo lụa vàng, ra vẻ ta đây cái thá gì chứ?! Cắn hạt dưa mà cắn ra con rệp, đây còn được coi là con người nữa không hả? Thế này mà cũng có thể coi là con người ư?! Con người là cái thá gì chứ? Con người chẳng lẽ không phải do ngũ cốc hoa màu nuôi lớn lên hay sao? Con người là do chó sinh lợn dưỡng ngựa đụ ra chắc? Tao đụ tổ tông nhà tụi mày đấy!..."

Những lời chửi rủa này cuối cùng lại lọt đến tai Hô Thiên Thành. Ngay vào lúc đám tín đồ đang "lộc bộc, lộc bộc" cầu nguyện cho mẹ mình, thì Hô Thiên Thành lại đang nằm bẹp dí trên chiếc giường rơm ở gian lách tồi tàn... Lúc này, liên tiếp có người chạy đến báo tin cho ông biết: "Đến đông lắm, đông lắm luôn ấy, toàn là truyền bá mê tín dị đoan thôi, toàn mê tín dị đoan thôi đấy!" Lại có người chạy đến hỏi dồn: "Có nên đuổi đám bọn họ đi không? Trong miệng lúc nào cũng lẩm bẩm 'lộc bộc, lộc bộc', cũng chẳng biết đang 'lộc bộc' cái quái quỷ gì nữa?" Lại có người chạy đến bẩm báo: "Chửi bới tơi bời hoa lá rồi kìa, chửi mắng rùm beng lên rồi kìa, cậu út của anh đang đứng ngoài kia chửi mắng om sòm, nhảy cẫng lên chửi bới tít mù..." Thế nhưng mặc cho bất kỳ ai nói gì đi chăng nữa, Hô Thiên Thành vẫn một mực im thin thít không thèm hé răng nửa lời, ông cứ nằm bất động như thế trên giường.

Cứ nháo nhào náo động cho đến tận lúc chập tối, người vợ với khuôn mặt tái mét hớt hơ hớt hải chạy vào báo tin: "Mẹ mở mắt ra rồi, mẹ cứ đảo mắt nhìn xung quanh bốn phía khắp nơi, chắc là mẹ đang muốn gặp mặt anh đấy..."

Hô Thiên Thành không thèm lên tiếng.

Người vợ lại nói: "Đã đành mẹ đã tin theo rồi, thì cứ để cho mẹ được toại nguyện tin theo một lần đi..."

Hô Thiên Thành vẫn im thin thít không một tiếng động.

Đến nửa đêm về sáng, người vợ lại thình thịch thình thịch chạy bở hơi tai vào. Người vợ giàn giụa nước mắt nức nở nói: "Mẹ e là không qua khỏi được nữa rồi, bác sĩ bảo, nước cũng không thể truyền vào được nữa rồi..."

Người vợ nghẹn ngào nói: "Đôi mắt của mẹ vẫn chưa nhắm lại đâu, đến cuối đời rồi, chẳng lẽ anh không thèm gặp mặt mẹ lấy một lần hay sao?"

Lúc này, các cán bộ đều đứng túc trực ở bên ngoài, chờ đợi Hô Thiên Thành cất lời, thế nhưng Hô Thiên Thành vẫn trầm mặc nét mặt tối sầm, từ đầu đến cuối không nói nửa lời.

Đêm hôm ấy, hầu như nhà nhà ở Hô gia bảo đều thắp sáng đèn, người ta chốc chốc lại thò đầu ra ngoài ngóng trông, tựa hồ như đang chờ đợi điều gì đó, cứ lẳng lặng chờ đợi như thế suốt đêm dài...

Đến một giờ rạng sáng, cậu út đến. Cậu út là do được đám cán bộ trong thôn khuyên nhủ mới chịu đến đấy. Cậu út thở phì phò hổn hển, đứng sừng sững trước cửa gian lách. Cậu út đứng ở trước cửa một hồi lâu, cuối cùng cũng cất giọng nói: "Mẹ anh sắp không qua khỏi nữa rồi, mẹ anh bắt đầu thở hắt ra rồi đấy... Anh về nhà đi thôi. Tao đi đây, tao đi ngay lập tức đây. Kể từ nay về sau, người chị cả này của tao vừa nhắm mắt xuôi tay, coi như anh em chúng ta tuyệt tình đoạn nghĩa từ đây! Tao sẽ không bao giờ bén mảng bước chân qua cái cửa nhà anh thêm một lần nào nữa!" Nói dứt lời, cậu út phẩy hai tay ra sau lưng, cắm cổ cắm cổ cúi đầu bước đi.

Trở về nhà họ Hô, cậu út quụp sụp xuống quỳ sụp trước mép giường, oà khóc nức nở thảm thiết: "Chị cả ơi, chị cả ơi! Chị chỉ có mỗi một tâm nguyện này thôi, mà em cũng không thể lo liệu chu toàn cho chị được, em đúng là một thằng em vô dụng hết chỗ nói mà!..." Khóc lóc một hồi xong, ông ta bước ra khỏi cửa phòng, ngửa mặt thở dài một hơi thật dài, hướng về bầu trời đêm tối mịt mờ thầm gọi: "Chúa ơi..." Sau đó, ông ta lại quay sang nói với đám "tín đồ" đã kiên trì kiên nhẫn bám trụ suốt một ngày một đêm: "Đi thôi, đi thôi, chúng ta đi thôi!"

Cuối cùng, dù vạn phần bất đắc dĩ, đám "tín đồ" sau khi đồng thanh hô vang câu "Amen" xong, cuối cùng vẫn thu mình rút lui. Hô Thiên Thành trở về nhà vào lúc trời vừa hửng sáng. Lúc bấy giờ, mẹ đã trút hơi thở cuối cùng từ bao giờ. Hô Thiên Thành từng bước từng bước cất bước vượt qua ngưỡng cửa bước vào trong phòng, ông đứng lặng thinh trước linh cữu của mẹ một lát, rồi cất giọng cứng ngắc nói: "... Mặc quần áo tang đi thôi. Chiếu theo quy định của thôn, ngày mai tổ chức lễ truy điệu."

Thế nhưng Hô Thiên Thành rốt cuộc vẫn không tham gia buổi lễ truy điệu của mẹ. Ông lăn ra ngủ, ông ngủ liền tù tì suốt ba ngày ba đêm. Có người lén lút thì thầm bảo nhau, Hô bá quả thực là đang ngủ say như chết, có người còn nghe thấy cả tiếng ngáy khò khò của Hô bá nữa cơ... kể ra cũng lạ đời...

Cho đến tận cuối cùng, Lục nãi nãi cũng chẳng thể ra đi theo đúng chỉ dụ của "Chúa", mà trong "tân thôn dưới lòng đất" trên gò cao kia, biển số mộ của bà vẫn y nguyên là: 312.

Về sau, có người bảo rằng, từ trước đến nay chưa từng thấy ai có tính cách "cứng cỏi" như Hô Thiên Thành. Mẹ mất, vậy mà đến một giọt nước mắt cũng không thèm rơi lấy một giọt!

Linh hồn mang "sao"

Ở Hô gia bảo, lão Tào nghiễm nhiên trở thành linh hồn đầu tiên được gắn "sao".

Lão Tào qua đời vào mùa hè của năm ấy.

Trong buổi trưa mùa hè năm đó, lão Tào bất cẩn giẫm phải chiếc bánh đà truyền động, ông ta hệt như một chiếc bánh tráng nướng trên lò gang vậy, bị cuốn vào lật qua lật lại mấy vòng, cuối cùng biến thành tờ giấy đầu tiên của nhà máy giấy Hô gia bảo.

Lão Tào vốn dĩ là một thợ hoạn heo chuyên nghiệp. Hồi đó, ông ta quanh năm suốt tháng lang thang rày đây mai đó khắp nơi, phần lớn thời gian đều ở các vùng quê lân cận nhận hoạn heo thuê cho người ta, đương nhiên hễ có cơ hội là ông ta lại kiêm thêm mấy việc khác nữa, ví dụ như sửa chữa máy nổ die-sel này, mô-tơ điện nọ. Lão Tào là một người có tài cán, đôi bàn tay vô cùng khéo léo, làm bất cứ việc gì cũng thuộc diện nhìn qua là biết làm ngay. Con người lão Tào từ trước đến nay chưa từng qua lại thân thiết với ai trong thôn cả, thế nhưng người mà ông ta tôn kính nhất, lại chính là Hô Thiên Thành. Sau khi lang thang bươn chải ở bên ngoài một thời gian, ông ta tự cho rằng mình đã phát hiện ra được một "nghề phụ" vô cùng ngon ăn béo bở. Thế là, ông ta chạy hộc tốc về tìm Hô Thiên Thành và nói rằng, bí thư ơi, chi bằng thôn chúng ta cũng mở một nhà máy giấy đi thôi, thấy người ta mở nhà máy giấy ở bên ngoài kiếm được bộn tiền lắm đấy. Hô Thiên Thành hỏi ông ta, anh làm nổi không? Ông ta đáp, làm nổi chứ. Con chó dữ cỡ nào đi chăng nữa, tôi cũng thu phục được tuốt. Hô Thiên Thành trầm mặc lặng thinh nhìn ông ta một cái. Ông ta vội vã bồi thêm câu nữa, tôi biết người trong thôn ai nấy đều căm ghét tôi, nhưng tôi chỉ là muốn làm một việc tốt cho dân làng mà thôi.

Thế là, Hô Thiên Thành đã đồng ý. Ông chỉ dựa vào uy tín của bản thân, chạy ngược chạy xuôi lên thành phố mấy chuyến, mua thiếu về được một chiếc lò hơi cũ kỹ và một cỗ máy sấy. Còn máy nghiền bột giấy là do chính tay lão Tào mày mò tự chế tạo lấy. Lão Tào bảo, máy nghiền giấy thì không cần tốn tiền mua nữa đâu, tụi mình tự làm lấy được mà. Thế là, lão Tào chạy sang nhà máy giấy của người ta lén lút quan sát mấy bận, vẽ hổ theo miêu miêu, cứ thế tự mày mò làm lấy. Hồi đó người trong thôn ai nấy đều vô cùng phấn khích hào hứng, xuýt xoa khen ngợi lão Tào quả thực không phải dạng tầm thường!

Đó là chuyện vào giữa tháng tư. Lúc bấy giờ, Hô Thiên Thành ra một mệnh lệnh cho Lão Tào, bảo là ngày "Mùng Một tháng Năm" phải ra giấy. Lão Tào rất nghe lời, toàn tâm toàn ý bận rộn chuyện ra giấy vào dịp "Mùng Một tháng Năm". Thế nhưng, điều mà không ai ngờ tới là, đến ngày "Mùng Một tháng Năm" đó, Lão Tào lại trở thành tờ giấy đầu tiên do nhà máy giấy Hô Gia Bảo sản xuất ra!

Nhà máy giấy Hô Gia Bảo bắt đầu chạy thử nghiệm vào ngày hai mươi bảy tháng tư. Dưới sự dẫn dắt của "kỹ thuật thổ" Lão Tào, chạy thử liền ba ngày ba đêm, thế mà cứ không tài nào làm ra giấy, không phải chỗ này có vấn đề thì cũng là chỗ kia có hỏng hóc, thứ làm ra chỉ là những món đồ giống như mảnh bao tải, chẳng có lấy một miếng nguyên vẹn... Lão Tào liền nói, đừng hoảng, tôi bảo nó ra thì kiểu gì nó cũng phải ra. Lúc đó Lão Tào đã ba ngày ba đêm không chợp mắt, đôi mắt của hắn bị thức đêm đến mức đỏ ngầu như hồ lô máu, vậy mà vẫn không cam lòng. Lần chạy thử cuối cùng, hắn đặc biệt bảo người gọi Hô Thiên Thành tới, nói lần này chắc chắn thành công. Khi mọi người gọi Hô Thiên Thành đến, Lão Tào nói với Hô Thiên Thành, bắt đầu nhé? Hô Thiên Thành nhìn quanh bốn phía, hỏi: Thế nào? Hắn nói: Được, lần này chắc chắn được. Hô Thiên Thành bèn gật đầu nói, vậy thì bắt đầu đi. Thế là, Lão Tào hớt hãi chạy đi tự tay đẩy cầu dao. Lão Tào lùn quá, Lão Tào rướn người nhảy chồm chồm hai cái, giơ tay vẫn không với tới cái dao gạt treo trên tường, hắn dứt khoát rướn cong người, nhân đà giẫm luôn lên bánh đà curoa, giơ cao một cánh tay, chỉ nghe "ầm" một tiếng, cầu dao đã được đẩy lên, máy móc cũng quay theo, nhưng Lão Tào hoa mắt một trận, lại bị cuốn vào dây curoa như một chiếc bánh nướng... Chỉ trong chớp mắt, lại nghe một tiếng "rầm" vang dội, người đứng ở phía bên kia liền lớn tiếng hô lên: "Ra rồi! Ra rồi!"

Khi mọi người vây lại xem, lại thấy trong máng giấy một một màu đỏ rực, mọi người kinh ngạc nói: Ôi, sao lại là giấy đỏ?!

Thế nhưng, đó lại chính là máu của Lão Tào...

Khi máy móc dừng lại, đôi mắt của Lão Tào vẫn trừng trừng trợn ngược, nhưng con người thì đã thành một tờ giấy nát.

Lập tức, mọi người đều chết sững vì sợ. Từng người ngây như phỗng, trừng mắt nhìn nhau...

Chỉ có một mình Hô Thiên Thành lặng lẽ bước lên trước, nhìn Lão Tào. Lúc này Lão Tào đã thành một tờ giấy đỏ cuộn một nửa! Đôi mắt của hắn trợn trừng lồi cả ra ngoài, giống như một con rắn da bẹp dí bị rút gân, trông vô cùng khó coi. Xương trên người Lão Tào vỡ nát hoàn toàn, những mẩu xương vụn đâm phòi ra từng đoạn từng đoạn, cắm nát bét thân mình trông như một cái bánh hồng ngâm bị nát...

Hồi lâu sau, Hô Thiên Thành ngẩng đầu lên, lớn tiếng tuyên bố rằng: "Lão Tào hy sinh vì công vụ, anh ấy là liệt sĩ, anh ấy là anh hùng của Hô Gia Bảo chúng ta!"

Lúc này, mọi người mới từ từ định thần lại. Lại một lúc sau, Hô Thiên Thành nói với những kẻ đang ngẩn người đứng đó: "Tất cả các anh đều lại đây." Thế là, mọi người đều rụt rè bước tới. Hô Thiên Thành nói: "Các anh xem, Lão Tào đã nhắm mắt chưa?" Đến lúc này, mọi người mới từng người lấy hết can đảm bước lên trước, nhìn Lão Tào, rồi nói: "Chưa." Hô Thiên Thành bèn nói: "Lão Tào chết không nhắm mắt đấy! Các anh bảo phải làm sao?!" Mọi người đều im phăng phắc, chẳng ai biết phải làm thế nào. Hô Thiên Thành liền nói: "Thế nào cũng phải làm cho Lão Tào nhắm mắt chứ! Các anh nói có phải không?" Mọi người đều nói: "Phải." Tiếp đó, Hô Thiên Thành lại nói: "Chúng ta có không làm nữa, cũng phải làm cho bằng được tờ giấy đầu tiên ra lò!" Thế là, hắn lập tức phái người vội vã vào thành, nói dù thế nào cũng phải mời bằng được kỹ thuật viên của nhà máy giấy đến; đồng thời, lại dặn dò người ta lập ngay một linh đường cho Lão Tào tại chỗ.

Sau đó, Hô Thiên Thành đi vuốt mắt cho Lão Tào, nhưng mắt Lão Tào lồi to như quả trứng bóng phồng lên, đã nổ tung cả hốc mắt, vuốt hồi lâu cũng không sao vuốt lại được. Thế là, Hô Thiên Thành lặng lẽ đứng dậy, đứng thẳng trước linh cữu Lão Tào, cứ đứng im bất động như thế...

Trải qua một ngày một đêm, qua sự điều chỉnh đi chỉnh lại nhiều lần của kỹ thuật viên, máy móc cuối cùng cũng sản xuất ra được một tờ giấy hoàn chỉnh. Đến lúc này, Hô Thiên Thành mới quay người lại, tự tay đắp tờ giấy đó lên người Lão Tào, nói: "Lão Tào, anh hãy nhắm mắt lại đi."

Tiếp đó, các cán bộ lần lượt lên phát biểu, đều nói rất nhiều điều tốt đẹp về Lão Tào...

Lão Tào là kẻ "ở rể" đến Hô Gia Bảo. Vợ Lão Tào nằm mơ cũng không thể ngờ được, Lão Tào lại "ra đi" một cách vẻ vang đến thế! Hồi đó, mỗi khi Lão Tào về làng, hầu như đều là có người túm gáy lôi cổ về, trên người còn từng đeo bảng "đầu cơ trục xuất"... Bây giờ Lão Tào đã là "liệt sĩ" rồi. Mấy người con trai của Lão Tào cũng chạy cả lên hỗn loạn dập đầu trước Hô Thiên Thành. Không ngờ, Hô Thiên Thành lại quát lên: "Làm gì thế? Dứng lên, đứng lên, có đầu thì đi mà dập đầu với bố các cháu ấy! Sau này phải học tập cho thật tốt vào đấy!"

Tối hôm đó, lúc canh giữ linh cữu, thằng út nhà Lão Tào lén lút nói với hai người anh: "Bố chúng ta ngày sắp chết, giữa trưa còn về nhà một chuyến..."

Thứ hai nhà họ Tào nói: "Về nhà làm gì thế?"

Thằng út ghé tai nói nhỏ: "Mang về một cái vòng bi, bằng đồng."

Thằng cả giáng cho nó một bạt tai ngay đỉnh đầu: "Hồ ngôn loạn ngữ!"

Thằng út nói: "Thật mà. Em nhìn thấy rồi. Bọc giấy dầu, bố giấu trên đầu xà nhà rồi."

Thằng cả nói: "Còn dám ăn nói hàm hồ nữa, tao đánh rách miệng mày ra đấy!"

Thằng út cãi lại: "Thật đấy. Không tin các anh đi mà xem."

Vợ Lão Tào giật mình, mặt cắt không còn giọt máu nói: "Ra ngoài thì không được nói nhảm đâu đấy. Bố các con là liệt sĩ, bố các con bây giờ là liệt sĩ rồi..."

Thằng út nói: "Em biết rồi, ra ngoài em không nói đâu." Tiếp đó lại nói nhỏ, "Em dùng lưỡi liếm thử rồi, đúng là bằng đồng thật."

Hôm sau, Hô Thiên Thành trực tiếp dẫn đầu già trẻ gái trai toàn thôn đi tiễn đưa Lão Tào về nơi an nghỉ cuối cùng. Lão Tào vốn là người họ khác, anh ta là con rể của Hô Gia Bảo. Phải nói rằng, cả đời Lão Tào rất bất đắc chí. Ánh mắt của anh ta lúc nào cũng đầy vẻ âm u. Ở trong thôn, anh ta chưa từng nhận được sự tôn trọng của mọi người, mỗi khi nhìn thấy anh ta, mọi người đều bảo Lão Tào là kẻ tà tâm, ánh mắt tà, bảo anh ta mang một đôi mắt chó. Từ lâu lắm rồi, anh ta vẫn luôn là một kẻ "ở rể". Ở vùng đồng bằng, "ở rể" là một từ ngữ rất thấp hèn, đó là một hành vi khiến người ta coi thường. Điều này cũng có nghĩa là, anh ta vì đàn bà mà bán rẻ họ của mình, cũng bán rẻ cả đời sau của mình. Ở trong thôn, mọi người thậm chí còn chẳng biết tên thật của anh ta rốt cuộc là gì, dù là người lớn hay trẻ con, đều gọi anh ta là Lão Tào. Ở đây, "Lão Tào" chỉ đơn thuần là một mật danh, đó là sự khách sáo đối với một kẻ ngoài họ, cũng là sự xa cách ăn sâu vào tận xương tủy. Thế nhưng, chẳng ai có thể ngờ tới, tang lễ của anh ta lại có thể long trọng đến thế! Hai chiếc loa phóng thanh to đại bố trí ở cổng "Thôn mới dưới lòng đất" gác trên sư tử đá, trong loa phát ra khúc nhạc ai điếu. Lúc hạ huyệt, tất cả mọi người đều cúi đầu ba vái trước cỗ quan tài của anh ta, bày tỏ sự tiếc thương đối với linh hồn của người đàn ông lùn tịt nhỏ thỏm này...

Khi mọi người xếp hàng đến tưởng niệm Lão Tào, trong lòng ai nấy đều cất giấu một thứ cảm giác khó tả. Ai nấy đều cảm thấy Lão Tào hình như không đáng được hưởng một tang lễ long trọng nhường này, Lão Tào là cái thá gì chứ? Anh ta chẳng qua chỉ là một kẻ ngoại tộc người ngoài mà thôi. Phải đấy, Lão Tào chết rất thê thảm, Lão Tào vừa đẩy cầu dao điện là đi đời nhà ma, nói cách khác chỉ trong chớp mắt, Lão Tào đã thành một tờ thịt giấy màu đỏ. Nhưng cái này thì trách ai được chứ? Một kẻ hoạn lợn, đây chẳng phải là thích thể hiện đấy ư? Thế nhưng chẳng ai nói ra những lời thật lòng trong lòng mình cả. Mọi người chỉ bước đi một cách vô cảm, việc tưởng niệm cũng rất "mang tính thủ tục". Chẳng ai nói rõ được tại sao Hô Thiên Thành lại phải làm như vậy. Lúc mẹ ruột hắn chết, hắn không rơi lấy một giọt nước mắt, hắn thậm chí còn chẳng thèm đến nghĩa địa. Thế mà đối với Lão Tào, sao hắn lại coi trọng đến thế cơ chứ? Rốt cuộc là tại sao?! Chẳng ai nghĩ thông suốt cả. Thế nhưng hắn lại cứ khăng khăng làm như vậy. Mọi người đành phải cắm cổ đi theo thôi.

Cắm cổ đi theo chớ sao!

Thế là, trong "Thôn mới dưới lòng đất", trên bia mộ của Lão Tào vinh dự được đục một ngôi sao. Đây là ngôi sao đầu tiên được gắn cho người chết ở Hô Gia Bảo trong nhiều năm qua. Ngôi sao này dưới ánh mắt của bao người, do lão Lưu Toàn từng nhát búa từng nhát búa khắc lên, sau đó lại quét thêm hai lớp sơn đỏ. Chói lọi làm sao! Vinh quang này dẫu là sau khi chết, nhưng nó hắt vào mắt mọi người, lại trở thành một thứ kích thích con người ta vô cùng.

Sau khi tang lễ kết thúc, Hô Thiên Thành một mình đứng lặng trong "Thôn mới dưới lòng đất" rất lâu.

Trời quang mây tạnh, có những đám mây trôi lững lờ, miên man ở tận chân trời xa tắp. Địa thế Tây Cương cao cấp, đứng ở đây, đập vào mắt là vùng đồng bằng mênh mông vô tận, đan xen dọc ngang. Tháng năm, lúa mì đã trổ bông, đâu đâu cũng là một một màu xanh ngắt. Trong ruộng cải dầu, là một khoảng vàng rực rỡ. Đi xuống phía dưới nữa, chính là thôn xóm, dãy nhà này tiếp dãy nhà kia, đã có hình có dạng. Phía sau là người chết, trước mắt là vật sống. Hai cái "thôn mới". Sự sống và cái chết, khoảng cách thật gần gũi làm sao. Cái chết là sự giải thích cho sự sống, sự sống cũng là chốn gửi gắm của cái chết. Xem ra, con người ta sống là vì một niệm tưởng, chỉ cần một niệm tưởng, là có thể sinh ra một số thứ sống động như thật. Chỉ cần ngươi dám nghĩ, chỉ cần ngươi tận tâm, thì không có việc gì là không làm được, đôi khi, ngươi bắt buộc phải làm việc siêu thường, ngươi bắt buộc phải gây ra điều bất ngờ, giống như con trâu cày đất vậy, nếu ngươi bất ngờ quất cho nó một roi, nó sẽ giật nảy mình ngay lập tức! Nếu những chuyện không thể có khả năng trở thành có thể, thì...

Đó là một ngôi sao ư? Đó là một con đường! Một vĩ nhân đã nói, sức mạnh của tấm gương là vô cùng tận. Đây chính là "tấm gương"!

Thế nhưng, cái nhà máy giấy mà Lão Tào làm ra, cũng chỉ sản xuất ngắt quãng được ba tháng, sản xuất ra một đống giấy chùi đít chẳng ai thèm. Đám giấy đó chẳng bán được tờ nào, sau đó đều chia về từng nhà từng hộ, để cho người ta dùng chùi đít.

Trong "Thôn mới dưới lòng đất", Lão Tào vẫn là "liệt sĩ".

Đại đạo và tiểu tặc

Mùa xuân năm sau, sau trận mưa đầu tiên, ở Hô Gia Bảo lại có thêm một người nữa được đưa vào "Thôn mới dưới lòng đất" để hưởng phúc. Số thứ tự của hắn là: 313.

313 chính là Tôn Bao Tải.

Tôn Bao Tải cuối cùng ra đi với nụ cười trên môi.

Đó vẫn là vào tháng mười một, có một hôm, Hô Thiên Thành từ trong thành họp trở về, vừa đi đến đầu thôn, thì bị một người chặn lại.

Đó lại chính là Tú Nha.

Tú Nha nói: "Em đợi anh cả ngày rồi đấy."

Hô Thiên Thành liếc nhìn cô ta một cái, nói: "Có chuyện gì à?"

Tú Nha ấp ú nói: "Anh ấy... sắp chết rồi. Anh ấy muốn gặp mặt anh một lần, nói chuyện với anh vài câu."

Hô Thiên Thành chần chừ giây lát, ngẩng đầu lên, liếc nhìn Tú Nha một cái, giơ tay vỗ vỗ lên trán, suy nghĩ rồi nói: "Được. Tôi sẽ gặp anh ta."

Thế là, hai người đi trước đi sau, Hô Thiên Thành cứ thế đi theo Tú Nha. Bước vào nhà, Hô Thiên Thành mới phát hiện, Tôn Bao Tải quả nhiên bệnh rất nặng, chỉ thấy hắn ủ rũ nằm trên một chiếc giường gỗ nhỏ, lộ ra một cái đầu trắng phớ. Con người đúng là sẽ thay đổi nha! Tôn Bao Tải vốn có vóc dáng rất cao to, người đã teo tóp lại biến dạng, hắn nằm lì ở đó như một đứa trẻ, trông vừa gầy vừa nhỏ. Tôn Bao Tải sau đó vẫn luôn chăn cừu trong thôn, hắn chăn cừu gần ba mươi năm, đến lúc này, trên người hắn vẫn còn vương vấn một mùi hôi cừu nồng nặc đến nhức mũi.

Nhìn thấy Hô Thiên Thành bước vào, Tôn Bao Tải khẽ ngẩng đầu lên, trên mặt lập tức bừng lên một vệt đỏ ửng vì bệnh tật. Hắn cười, hắn thở dốc từng hơi thật to, cười nói: "Cuối cùng anh cũng đến."

Hô Thiên Thành nhìn hắn, lặng lẽ nói: "Bao Tải, có bệnh sao không đi chữa?"

Tôn Bao Tải nói: "Đến số rồi, chữa cũng vô ích. Anh ngồi đi." Vừa nói, hắn vừa cố sức ho khan một trận, tròng trắng mắt đảo lên, nhìn Tú Nha và cô con gái đang đứng một bên, nói: "Ra ngoài đi, các người ra ngoài hết đi. Để tôi nói chuyện riêng với lão Hô."

Đợi mọi người ra ngoài hết rồi, Tôn Bao Tải chậm rãi nói: "Trước kia, tôi vẫn luôn sợ anh, tôi sợ anh cả một đời, bây giờ tôi không sợ anh nữa rồi."

Hô Thiên Thành cười, nhạt giọng nói: "Anh sợ tôi cái gì?"

"Trước kia, cứ nhìn thấy anh là tôi lại muốn tè. Thật đấy." Tôn Bao Tải nói.

Hô Thiên Thành nhìn hắn, nói: "Sợ thật á?"

Tôn Bao Tải nói: "Sợ thật chứ."

Hô Thiên Thành trầm mặc một lát, vung bàn tay to lên nói: "Thôi đi, anh bệnh thành thế này rồi, mấy chuyện đó đừng so đo nữa. Anh nói xem?"

Tôn Bao Tải lầm bầm nói: "Chẳng còn mấy ngày nữa đâu, tính ra chỉ tầm hai ba ngày nữa thôi, tôi đã bảo người ta xem 'số' cho tôi rồi. Đến bên đó, phần mộ xếp ở phía sau anh ba tôi, tôi là 313. Cái 'số' này đẹp đấy chứ."

Hô Thiên Thành híp mắt nhìn hắn, một câu cũng không nói.

Tôn Bao Tải gắng sức ho khan một trận, nói: "Lão Hô này, hồi trẻ tôi từng ăn trộm hoa màu, mang cái tiếng tội danh kẻ trộm cả đời. Thật ra, tôi thật sự rất muốn trộm lại một lần nữa, nếu được trộm lại một lần nữa thì tốt biết mấy. Chỉ là tôi sống chẳng còn mấy ngày nữa..."

Hô Thiên Thành nheo mắt nhìn Tôn Bao Tải, cười nói: "Bao Tải, hồi đó, có cái gì là anh chưa từng trộm chứ? Anh trộm khéo lắm cơ mà."

Tôn Bao Tải cũng cười, hắn cười nói: "Có một lần, tôi trộm sáu lạng vừng, không một ai hay biết..." Nói đoạn, Tôn Bao Tải thở dốc một hơi, mang theo vài phần ranh mãnh nói: "Nhưng tôi trộm không lại anh. Anh mới là đại đạo, tôi chỉ có thể tính là tiểu tặc thôi. Cả đời này, tôi chưa từng trộm đàn bà bao giờ nhỉ?"

Hô Thiên Thành nhìn hắn, lắc đầu, lặng lẽ nói: "Bao Tải, bao năm nay, anh cũng đâu có rảnh rỗi đâu. Tôi biết, anh vẫn luôn muốn túm thóp tôi..."

Tôn Bao Tải dịch người lên trên một chút, lầm bầm nói: "Anh đều biết cả rồi à?"

Hô Thiên Thành nhìn thẳng vào hắn, gật đầu.

Tôn Bao Tải nói: "Thật ra, tôi còn phải cảm ơn anh đấy. Thật đấy. Anh cũng biết đấy, tôi vốn là một kẻ lười biếng, chính anh đã khiến tôi trở nên chăm chỉ hơn."

Hô Thiên Thành cười nói: "Ồ? Thế à."

Vết đỏ trên mặt Tôn Bao Tải càng đậm hơn, một tay hắn bấu chặt lấy ván giường, nghiêng người nói: "Chứ sao nữa. Nhưng tôi theo dõi anh bao nhiêu năm như thế, rốt cuộc vẫn chẳng túm được anh..."

Hô Thiên Thành nhạt giọng nói: "Anh cũng chẳng dễ dàng gì."

"Tôi biết tôi đấu không lại anh. Vốn dĩ, tôi đã có cơ hội..." Tôn Bao Tải có chút tiếc nuối nói.

"Tôi cũng từng cho anh cơ hội mà."

Tôn Bao Tải lầm bầm nói: "Đúng thế. Có một đêm trăng sáng vằng vặc, suýt chút nữa là tôi túm được anh rồi..."

Khuôn mặt Hô Thiên Thành hiện lên một nụ cười nhạt: "Tôi vẫn luôn đợi anh đấy chứ."

Tôn Bao Tải nói: "Thật ra, muốn túm được anh cũng dễ thôi. Hồi đó, tôi nào có được ngủ giấc nào, tôi canh chừng từng đêm từng đêm, hễ có chút động tĩnh gì là tôi qua ngay..."

Hô Thiên Thành tiếp lời: "Cái tiếng động ấy cứ như mèo giấu cứt ấy."

Lúc này, Tôn Bao Tải rướn người, đột nhiên chìa hai bàn tay từ trong chăn ra. Đôi bàn tay ấy quắp lại như móng gà, đã chẳng thể duỗi thẳng ra được nữa, hắn vừa lắc lắc đôi tay vừa nói: "Anh xem, tôi chăn cừu ba mươi năm, anh chăn 'tôi' ba mươi năm, con người ta cuối cùng cũng chẳng khác gì súc vật."

Hô Thiên Thành hơi tỏ ra ngạc nhiên nhìn hắn, nói: "Bao Tải, anh cũng có kiến thức rồi đấy."

Tôn Bao Tải nói: "Con người ta già rồi, phá hoại lương thực nhiều quá..."

Hô Thiên Thành nói: "Tôi cũng già rồi."

Tôn Bao Tải nói: "Con người ta hễ già đi, là thành kẻ trộm."

"Lão tặc?"

"Lão tặc."

Hô Thiên Thành gật đầu: "Có lý."

Tôn Bao Tải nói: "Anh ngửi ra được rồi chứ? Trên người tôi có một mùi. Bọn trẻ đều không thèm đếm xỉa gì đến tôi, trên người tôi có mùi hôi cừu. Hồi đó, tôi ngủ luôn trong chuồng cừu, ngày qua ngày, tôi cảm thấy mình sắp biến thành sói đến nơi rồi..." Nói đến đây, Tôn Bao Tải trầm mặc một lát, lại lầm bầm lặp lại rằng, "Tôi chăn cừu gần ba mươi năm, trên người có mùi rồi." Tôn Bao Tải vừa nói, trong mắt đột nhiên xuất hiện một điểm sáng chói chang, điểm sáng ấy bắn ra khỏi hốc mắt như một đốm lửa nhỏ, thiêu đốt thẳng vào Hô Thiên Thành: "Có một năm, tôi từng bóp chết một con cừu con, anh không biết đúng không?" Tiếp theo, hắn cười hì hì nói: "Mà anh có biết, thì đã sớm đấu chết tôi rồi."

Hô Thiên Thành nói: "Tại sao?"

Tôn Bao Tải thở dốc nói: "Tôi hận anh."

Tôn Bao Tải lại nói: "Tôi cưới cho anh một người đàn bà..."

Hô Thiên Thành quay lưng đi, không thốt một lời.

Tôn Bao Tải căm hận nói: "Tôi vứt cả cái mặt già này đi, kết quả là cưới cho anh một người đàn bà..."

Hô Thiên Thành lặng lẽ nói: "Thật ra anh không nên cưới cô ấy."

Tôn Bao Tải vung tay hất một cái, chống người dậy, ép nửa thân người lên bằng được, hắn thở hồng hộc nói: "Đó là thứ tôi đổi về bằng cái 'mặt' đấy!"

Hô Thiên Thành sau một hồi trầm mặc lâu dài, cuối cùng cũng lên tiếng: "Cả đời tôi, chỉ làm mỗi một chuyện sai lầm này."

Tôn Bao Tải đột nhiên ho khan, hắn ho sũ sụ một trận, rồi nói: "Anh không chỉ hại tôi, anh cũng hại cả cô ấy nữa. Anh không biết đâu, tôi cứ bóp cổ cô ấy suốt, tôi bóp cổ cô ấy hết đêm này qua đêm khác, ban đêm, tôi chỉ bóp đúng cái chỗ đó thôi, bóp đến mức tím tái rồi thâm xì, thâm xì rồi lại tím tái! Vậy mà cô ấy chẳng hé răng kêu một tiếng..."

Hơi thở của Hô Thiên Thành chợt thô ráp hẳn lên.

Tôn Bao Tải nói: "Các người đều không coi tôi ra gì, thế thì tôi cũng chẳng thèm làm người nữa, làm một con người khó chết mẹ..."

Tôn Bao Tải lại nói: "Cuốn sách đó, là tôi xúi giục Bát Quanh mang cống nạp cho anh đấy. Anh không biết đúng không?"

Hô Thiên Thành sững người lại, nói: "Sách gì?"

Tôn Bao Tải nói: "Chính là cuốn sách đó, luyện 'Đồng tử công'..."

Hô Thiên Thành đứng ngây ở đó, im thin thít không nói một lời.

Chỉ một lát sau, đã thấy hắn sải bước đi đến bên giường, khom người xuống, trân trân nhìn chằm chằm vào đôi mắt vẩn đục ấy, hạ thấp giọng nói: "Bao Tải, tôi đi gọi xe ngay đây, lập tức phái người đưa anh đến bệnh viện lớn trên tỉnh, để bệnh viện toàn lực cứu chữa cho anh! Anh phải sống, anh cứ sống cho tốt vào."

Tôn Bao Tải chớp chớp mắt, trong mắt vậy mà lại ánh lên một tia hoảng sợ: "Tôi... tè rồi. Cứ nhìn thấy anh là tôi lại muốn tè." Tiếp đó, hắn thở dốc một hơi, nói: "Anh, là muốn hành hạ tôi phải không?"

Hô Thiên Thành nói: "Hành hạ anh làm gì? Tôi muốn anh sống cho thật tốt. Anh đã chăn cừu cho Hô Gia Bảo ba mươi năm, anh là công thần của Hô Gia Bảo."

Tôn Bao Tải đờ đẫn nói: "Tôi biết mà, anh là muốn xem trò cười của tôi chứ gì."

Hô Thiên Thành nói: "Vẫn cứ sống là tốt hơn."

Tôn Bao Tải ngẩn người một lát, bất chợt phì cười. Những nếp nhăn trên mặt hắn chồng chất lên nhau, những đường nhăn nheo đã khô khốc ấy từ từ đỏ ửng lên, toàn bộ khuôn mặt thoắt cái trở nên đỏ hây hây. Hắn bỗng chốc biến thành một đứa trẻ nghịch ngợm, hắn vỗ đét một cái lên ván giường, vui vẻ hớn hở nói: "Nhưng tôi sống thế quái nào được nữa. Đại bưu sĩ trên huyện nói rồi, tôi bị ung thư, lại còn là giai đoạn cuối, cái gì cái gì cũng di căn hết rồi. Thật đấy, tôi sống chẳng nổi đâu."

Hô Thiên Thành lặng lẽ nhìn hắn, ra vẻ vô cùng thất vọng mà nói: "Bao Tải, anh vẫn đừng đi thì hơn."

Tôn Bao Tải nói: "Sao cơ, anh cản được chắc?"

Hô Thiên Thành nhíu mày: "Ý tôi là, anh mà đi rồi, tôi sẽ chẳng còn đối thủ nào nữa."

Đến lúc này, Tôn Bao Tải oà khóc. Hắn khóc hu hu như một con sói rồi nói: "Tôi đấu với anh cả một đời, tóc cũng bạc trắng vì lo nghĩ, chưa từng thắng nổi lấy một lần..."

Hô Thiên Thành nói: "Lần này, anh thắng rồi." Nói xong, hắn quay đầu bỏ đi luôn.

Tôn Bao Tải đuổi theo sau lưng hắn nói: "Tôi thắng rồi ư? Tôi cũng được thắng một lần cơ á?"

Đời là phải vận động

Đúng vào đêm chôn cất Tôn Bao Tải hôm đó, Hô Thiên Thành đã gọi Tú Nha ra ngoài.

Đó là một đêm tối trời không một bóng trăng, màn đêm đen đặc như đáy nồi, xung quanh văng vẳng tiếng côn trùng mùa xuân kêu rả rích, tiếng kêu ấy cắn xé hòa nhịp vào nhau, gợi lên biết bao xuân ý. Hô Thiên Thành nói: Đi dạo thôi. Tú Nha không đáp lời, chỉ lặng lẽ đi theo sau hắn.

Mùa xuân rồi, trong gió đã không còn chút khí lạnh nào nữa, những luồng gió bắt đầu vắt tơ, gió luồn lách vắt từng sợi qua kẽ tay, thậm chí có thể lọt qua cả kẽ ngón tay mà đi mất. Thế nhưng lại cứ cảm thấy màn đêm vô tận ấy thật ma quái, tựa như mọc ra rất nhiều những bàn tay nhỏ xíu. Thế nên, Tú Nha cứ chốc chốc lại phải quay đầu nhìn lại đằng sau, thế nhưng ngặt nỗi chẳng có gì cả. Thế mà, đi mãi đi mãi, Tú Nha chợt thốt lên một tiếng "Ứ" nhẹ, tiếng kêu này rất khẽ, nhưng cũng đủ thu hút sự chú ý của Hô Thiên Thành. Hô Thiên Thành nói: "Sợ rồi à?" Tiếp đó, Hô Thiên Thành lại nói: "Đi theo tôi thì còn có gì phải sợ nữa."

Tú Nha im bặt. Nhưng trong lòng cô ta lại dấy lên mối nghi ngờ. Cô ta thầm nghĩ, sao đi mãi đi mãi, lại đi lên gò đất thế này? Cô ta nhìn thấy "ma trơi", ở đằng xa xa, cô ta nhìn thấy thứ "ma trơi" xanh lè chập chờn lúc ẩn lúc hiện ấy. Đi thêm chút nữa, trước mắt xuất hiện một mảng đen ngòm, Tú Nha bấy giờ mới vỡ lẽ, hóa ra đây là "Thôn mới dưới lòng đất". Hô Thiên Thành vậy mà lại dẫn cô ta đến tận chốn này. Ban ngày ban mặt, cô ta vừa mới chôn cất người đàn ông của mình ở chính nơi đây...

Tú Nha lập tức đứng khựng lại. Cô ta không đi nữa.

Lúc này, Hô Thiên Thành ngoảnh đầu liếc nhìn cô ta một cái, nói: "Tôi từ trước đến nay vốn không tin vào mấy chuyện mê tín dị đoan. Cô không nghe người ta nói câu đời là phải vận động đấy à."

Câu nói này rất mập mờ. Lời của hắn lúc nào cũng mập mờ khó hiểu như vậy, Tú Nha hoàn toàn chẳng tài nào hiểu nổi ý hắn là gì. Thế nhưng cô ta không thể không bước tiếp, giọng nói của người đàn ông này giống như nam châm vậy, chớp mắt đã hút chặt lấy cô ta vào rồi. Cho dù hắn có nói gì đi chăng nữa, cô ta cũng sẽ nghe theo hết. Trong mắt cô ta, hắn từ trước tới nay chưa bao giờ làm sai cả. Thế là, trong lòng dẫu có chút sợ hãi, cô ta vẫn tiếp tục cắm cổ đi theo phía trước. Cô ta thầm nhủ trong lòng, mình phát điên mất rồi, điên đến mức chẳng còn vũng bờ nào nữa rồi. Bao năm nay, hễ cứ nhìn thấy hắn, bảo chết cô ta cũng nguyện ý.

Đi tiếp lên nữa, chính là "Thôn mới dưới lòng đất". Trước mắt là một bức tường đen sì, ở phía sau bức tường ấy, là từng ngôi mộ chôn người chết, Tú Nha không dám nhìn thẳng phía trước, nhìn rồi là da đầu cô ta cứ dựng cả lên. Thế nhưng Hô Thiên Thành vẫn cứ cắm cổ đi tuốt ở phía trước cô ta, hắn gan dạ thật đấy chứ! Nơi này là do một tay hắn đặt tên đấy, hắn bảo gọi là gì, thì nó thành cái đó.

Lúc này, cô ta nghe thấy Hô Thiên Thành nói: "Ở đây yên tĩnh biết bao. Đợi đến lúc chúng ta già rồi, cũng sẽ ngủ lại ở chốn này thôi. Thế nên cô chẳng có gì phải sợ cả, cô mà sợ, chẳng qua là tự mình dọa mình mà thôi."

Con người ta ngâm mình trong bóng đêm lâu ngày, thì sẽ từ từ hòa làm một thể với bóng đêm. Tới lúc này, xung quanh hình như sáng sủa hơn hẳn, màn đêm cũng không còn vẻ dày đặc đến thế nữa, màn đêm đã hóa thành từng luồng khí đen, lượn lờ qua lại quanh người cô ta. Thế là, những tấm bia mộ kia tựa như từng cái từng cái đứng thẳng người lên, tỏa ra một màng hơi lạnh màu mực xanh biếc. Mùa xuân rồi, màn đêm cũng trở nên dịu dàng hơn rất nhiều. Mang theo một hơi ấm thấm đẫm lòng người. Trời đen kịt, các vì sao ở khoảng cách rất gần, nhưng lại vô cùng mờ ảo, khắp nơi đều là những đốm sáng lấp lánh tựa kim khâu chớp chớp. Đột nhiên, luồng khí đen đan cài dày đặc ấy tản chạy tứ tung, cuộn cuốn đi như một tấm vải màn, bầu trời bỗng chốc trở nên sáng bừng lên, các vì sao ngày càng lùi xa ra, một vầng trăng non vàng óng ả đột ngột xuất hiện trên bầu trời đêm, dưới nghĩa địa hắt lên rõ mồn một bóng hình của hai con người. Ánh sáng đột ngột xuất hiện này dọa cho Tú Nha sợ khiếp vía, cô ta ào một cái nhào vào lòng Hô Thiên Thành, cứng đờ bất động... Đợi đến khi Tú Nha mở bừng mắt ra, cô ta phát hiện ra rằng, mình đang đứng ngay trước ngôi mộ của người đàn ông chết tiệt nhà cô ta!

Đất mới, trước mắt là một gò đất mới. Ánh trăng chiếu lên tấm bia mộ làm bằng xi măng, trên đó có khắc số hiệu bia mộ mới tinh: 313.

Tú Nha vô thức buông tay ra, lùi lại phía sau hai bước. Ngay lúc ấy, cô ta nghe thấy Hô Thiên Thành nói: "Tôi từ trước đến nay vốn không mê tín!"

Tú Nha cúi gằm đầu xuống, lầm bầm nói: "Anh... đang làm cái gì thế này?"

Thế nhưng, Hô Thiên Thành liếc nhìn cô ta một cái, lại cất lời một cách đột ngột: "Cởi."

Trên người Tú Nha chợt dấy lên một tia hàn ý, thân thể cô ta run lẩy bẩy như sàng gạo, miệng lắp bắp nói: "Cái... cái này là đang làm gì thế?"

Hô Thiên Thành nói: "Bao nhiêu năm nay, tôi chưa từng miễn cưỡng cô bao giờ, cô nếu không muốn thì thôi vậy."

Tú Nha oà khóc, Tú Nha vừa khóc vừa nói: "...Đang làm cái quái gì thế này?"

Hô Thiên Thành bỗng nhiên đổi giọng, hắn ôn tồn bảo: "Tú, cô không phải sợ đâu, có tôi đây rồi."

Thân thể Tú Nha không còn run lẩy bẩy nữa, cô ta thấp giọng nói: "Ngay ở đây luôn á?"

Hô Thiên Thành nói: "Ngay ở đây."

Tú Nha trầm mặc một lát, hạ giọng nói: "Hay là đổi chỗ khác đi, ở đây âm khí... nặng lắm, em sợ anh sẽ nhiễm... bệnh."

Hô Thiên Thành nói: "Tôi đây dương khí vượng, tôi chẳng sợ mấy thứ vớ vẩn này đâu."

Tú Nha đứng chôn chân tại chỗ, vẫn còn chần chừ do dự. Thoắt cái, trời lại tối sầm xuống, từng trận gió âm u thổi ập tới phía cô ta, trong mông lung, cô ta cảm giác như người đàn ông của mình đang chầm chậm ngồi dậy từ trong quan tài, trân trân không chớp mắt nhìn chằm chằm vào cô ta...

Hô Thiên Thành nhìn cô ta nói: "Anh ta chết rồi mà cô còn sợ anh ta à?"

Cô ta bảo: "Em không sợ, em chẳng sợ chút nào cả, chỉ là thấy hơi gợn ghéo..." Vừa nói, chẳng hiểu sao, trong người Tú Nha bỗng dâng lên một luồng sức mạnh. Cô ta nhìn Hô Thiên Thành, trước tiên là tháo đôi giày trên chân ra, đó là một đôi giày vải đen có đính vải tang, cô ta cởi giày vứt bệt xuống đất, tựa như vừa trút bỏ được một thứ gông cùm xiềng xích nào đó. Sau đó, cô ta nhanh chóng cởi bỏ xiêm y trên thân trên, lúc này cô ta dùng lực hơi quá đà, chẳng cẩn thận làm bứt tung mất một chiếc cúc áo, chiếc cúc áo màu đỏ ấy giống như một ngôi sao băng bay vút về phía đằng xa. Tiếp đó, cô ta cắn chặt răng, cởi luôn cả quần ra, cứ thế trần như nhộng đứng lộng gió trước gió...

Cô ta thầm nhủ trong lòng: "Bao Tải, cái đồ quỷ chết tiệt kia, anh mà trong lòng có cục tức, thì cứ trút hết lên người tôi đi."

Lúc này, Hô Thiên Thành cất lời: "Tú Nha, cô nằm xuống đi."

Thế là, cô ta vô cùng ngoan ngoãn nằm xuống, nằm bẹp xuống bãi cỏ ngay trước phần mộ...

Cho đến tận lúc này, Hô Thiên Thành vẫn ngồi nguyên ở đó, hắn móc thuốc lá trong túi ra, châm lửa, thong thả hút... Sau đó, hắn lên tiếng: "Tú Nha, cô là người phụ nữ của tôi, từ trước tới nay vẫn luôn là thế. Điều này không sai chứ?"

Tú Nha lặng lẽ nói: "Vâng."

Hô Thiên Thành lại nói: "Tôi chưa từng ép buộc cô lần nào phải không?"

Tú Nha đáp: "Không có."

Hô Thiên Thành nói: "Cả đời này tôi chỉ làm sai một chuyện, tôi có lỗi với cô."

Tú Nha nói: "Em không trách anh, em chưa từng oán hận anh bao giờ."

Hô Thiên Thành nghiến răng nghiến lợi nói: "Hắn từng bóp cổ cô, hắn bóp cổ cô hết đêm này qua đêm khác, phải vậy không?"

Tú Nha khóc, cô ta vừa khóc vừa nói: "Đừng nói nữa..."

Hô Thiên Thành thở dài một tiếng, nói: "Tôi nợ cô nhiều quá, e rằng kiếp này trả không hết rồi."

Tú Nha đẫm lệ nói: "Anh đừng nói nữa, đừng nói nữa mà."

Tiếp theo đó, Hô Thiên Thành cứ ngồi im ở đó lặng lẽ hút thuốc, đốm lửa nhỏ hắt hiu sáng tắt trước mắt hắn, cho đến khi điếu thuốc đó hút xong xuôi, Hô Thiên Thành mới phát ra một tiếng "hừ", căm hận nói: "Hắn tưởng hắn thắng rồi, nhưng chưa bao giờ hắn thắng được tôi cả." Tiếp đó, hắn ngoảnh đầu lại, trừng mắt nhìn tấm bia mộ rồi nói: "Bao Tải, anh tưởng tôi sợ anh chắc? Chưa có lúc nào tôi sợ anh cả. Mày mà có gan, thì lăn ra khỏi cái quan tài này cho tao!" Vừa nói, hắn vừa đứng phắt dậy, dập tắt mẩu thuốc lá đang cháy dở lên tấm bia mộ, bấy giờ mới quay người lại bảo Tú Nha: "Cô đứng lên đi, thôi nào, dưới đất lạnh lắm."

Tú Nha đột ngột ngồi phắt dậy, đôi gò bồng đảo trước ngực cứ nảy lên đung đưa theo từng nhịp thở. Cô ta thốt lên một câu bất ngờ: "Anh ta chết rồi mà anh vẫn còn hận anh ta cơ à."

Hô Thiên Thành bảo: "Người chết như đèn tắt, tôi hận hắn làm gì? Hơn nữa, hắn cũng chẳng đáng để tôi hận..."

Tiếp theo đó, cô ta lại bồi thêm một câu: "Anh cũng hận em."

Hô Thiên Thành nói: "Sao tôi lại hận cô được cơ chứ?"

Tú Nha lớn tiếng nói: "Vậy thì, anh 'viết' em đi, anh mau 'viết' em đi! Em không sợ quỷ chết tiệt này, em cũng chẳng sợ mất mặt đâu, làm đi, cứ để anh ta trơ mắt ra mà nhìn, anh 'viết' đi chứ?!"

Hô Thiên Thành ngây người ra mất mấy giây.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lý Bội Phủ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.