Ông Standfast

Lượt đọc: 22 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Vùng Ngoại Vi Dãy Coolin

❊ ❊ ❊

Hiển nhiên là tôi phải tránh xa tuyến đường sắt. Nếu cảnh sát đang lùng sục tôi ở Morvern, thì tuyến đường đó chắc chắn sẽ bị siết chặt canh gác, bởi đó là một cửa ải bắt buộc tôi phải vượt qua nếu muốn tiến xa hơn về phía bắc. Qua bản đồ, tôi thấy tuyến đường ấy chạy vòng lên bờ biển, và tôi liền nhắm hướng bãi biển nằm ở phía nam khúc cua đó để tìm vận may với những chiếc thuyền qua lại. Bởi tôi thừa đinh ninh rằng bất kỳ nhân viên gác hay trưởng ga nào trên tuyến đường lửa ọp ẹp ấy cũng đều đang rất nóng lòng muốn làm quen với cái thân phận khiêm nhường của tôi.

Tôi ăn trưa bằng chỗ bánh mì kẹp mà nhà Broadbury đã cho, rồi trong buổi chiều rực rỡ nắng vàng, tôi lần sỏi đá đi xuống sườn đồi, băng qua hạ lưu của một hồ nước ngọt nhỏ, và dò theo dòng suối chảy ra biển qua những cánh rừng dẻ quánh đặc mòng. Đường đi gập ghềnh nhưng vô cùng dễ chịu, và tôi lại chìm đắm trong cảm giác thảnh thơi nhàn nhã hệt như buổi sáng hôm trước. Tôi chẳng gặp một bóng người dọc đường. Thỉnh thoảng, một chú hoẵng giật mình lao vụt ra từ lùm cây, hay một con gà gô đen già cằn nhằn khiến tôi thót tim. Khung cảnh bừng sáng màu hoa thạch nam đang độ nở rực đầu mùa, tỏa hương thơm ngát hơn cả nhựa mirh xứ Ả Rập. Đó là một thung lũng bình yên, và tôi hạnh phúc tựa một vị vua, cho đến khi cơn đói bắt đầu cồn cào và tôi sực nghĩ rằng chỉ Chúa mới biết khi nào mình mới lại có nổi một bữa ăn. Tôi vẫn còn chút sô-cô-la và bánh quy, nhưng tôi đang thèm một thứ gì đó chắc dạ hơn.

Quãng đường dài hơn tôi tưởng, và trời đã bắt đầu chạng vạng khi tôi ra đến bờ biển. Bờ biển hoang vu và rộng mở với những dải đá cuội lớn, nơi có các bụi cây tổng quán và dẻ từ sườn đồi là là lan xuống. Nhưng khi tôi cất bước về hướng bắc và vòng qua một mũi đất nhỏ, tôi nhìn thấy một ngôi nhà tranh đang tỏa khói nằm ẩn trong một khúc quanh của vịnh nhỏ. Và lê bước sát mép nước là dáng người còng còm của một người đàn ông, gánh trên vai lưới và những chiếc giỏ bắt tôm hùm. Thêm nữa, trên bãi sỏi có một chiếc thuyền đang nằm gác cạn.

Tôi rảo bước nhanh hơn và bắt kịp người ngư dân. Ông là một cụ già với bộ râu xám tả tơi, mặc đôi bốt đi biển và chiếc áo len xanh đã được vá chằng vá đúp. Ông bị lãng tai và không nghe thấy tiếng tôi gọi. Khi thoáng thấy bóng tôi, ông chẳng dừng lại, dẫu vẫn nghiêm cẩn cất lời chào buổi tối với tôi. Tôi bước song hành cùng ông, và cứ thế thầm lặng đi về phía ngôi nhà.

Ông dừng lại trước cửa nhà và trút gánh nặng trên vai xuống. Đó là một ngôi nhà hai gian lợp mái tranh, tường phủ kín dây leo hoa vàng. Sau khi duỗi thẳng tấm lưng còng, ông phóng tầm mắt ra phía biển và bầu trời như để đoán định thời tiết. Rồi ông quay sang tôi bằng ánh mắt hiền từ, đầy đăm chiêu. “Hôm nay hẳn là một ngày đẹp trời, thưa ngài. Ngài đang tìm đường đi đâu vậy?”

“Tôi đang tìm chỗ trọ qua đêm,” tôi đáp. “Tôi đã có một chuyến hành trình dài trên đồi, và tôi sẽ rất mừng nếu được nghỉ ngơi để không phải đi tiếp nữa.”

“Chúng tôi không có chỗ để tiếp đón một quý ông đâu,” ông nghiêm túc nói.

“Tôi có thể ngủ trên sàn nhà, miễn là ông cho tôi xin một chiếc chăn và chút gì đó lót dạ qua bữa tối.”

“Thực tình là không được đâu,” đoạn ông mỉm cười từ tốn. “Nhưng tôi sẽ hỏi nhà tôi xem sao. Mary, ra đây nào!”

Một bà cụ xuất hiện theo tiếng gọi của ông, khuôn mặt bà già nua đến mức trông bà như mẹ của ông vậy. Ở những vùng cao nguyên, tốc độ lão hóa giữa hai giới thường không đồng đều.

“Vị quý ông này muốn ở lại qua đêm. Tôi đang bảo với bà là nhà mình nghèo túng chật hẹp, nhưng ngài ấy bảo không phiền hà gì đâu.”

Bà nhìn tôi với nét lịch thiệp rụt rè chỉ có ở những chốn thâm sơn cùng cốc.

“Chúng tôi có thể cố gắng hết sức, thưa ngài. Vị quý ông có thể ngủ ở chiếc giường của thằng Colin trên gác xép, nhưng ngài sẽ phải chịu khó ăn đạm bạc thôi. Bữa tối đã dọn xong rồi, mời ngài bước vào nhà.”

Tôi ghé qua vũng nước gần con suối rửa mặt qua loa bằng một cục xà phòng vàng rồi bước vào căn nhà bếp đượm làn khói than bùn xanh ngắt. Bữa ăn gồm có cá luộc, bánh yến mạch và phô mai sữa gạn tách kem, kèm theo những tách trà đặc để chiêu xuống. Hai ông bà có phong thái điềm đạm như những bậc vương giả. Họ nhiệt tình giục tôi ăn và không hề gặng hỏi điều gì, cho đến khi vì phép lịch sự tối thiểu, tôi đành phải bịa ra một câu chuyện để kể về bản thân mình.

Tôi nhận ra họ có một người con trai đang phục vụ trong trung đoàn Argylls và một đứa con út trong Hải quân. Nhưng họ có vẻ không mặn mà lắm khi nói về các con hay về cuộc chiến. Chỉ nhờ một sự tình cờ, tôi đã chạm đúng vào đề tài tâm đắc nhất của cụ ông. Ông có niềm đam mê sục sôi với đất đai. Ông từng tham gia vào những phong trào đấu tranh từ lâu đã chìm vào quên lãng, và từng bị tống cổ khỏi nhà trong một tranh chấp điền chủ cổ xưa nào đó ở tận đằng bắc. Chẳng mấy chốc, ông trút hết vào lòng tôi mọi nỗi niềm thống khổ của người tá điền – những nỗi đau có vẻ cổ xưa và đã lãng quên đến độ tôi ngồi lắng nghe như nghe một khúc hát cũ. “Cậu đến từ một vùng đất mới chắc sẽ chưa từng nghe qua những chuyện này,” ông cứ lặp đi lặp lại với tôi như thế, nhưng bên bếp lửa than bùn ấy, tôi đã bù đắp lại lỗ hổng kiến thức của mình. Ông kể cho tôi nghe về những vụ cưỡng chiếm đất đai trong năm đó. Một vụ xảy ra đâu đó ở Sutherland, và những hành động nhẫn tâm ngoài Quần đảo Ngoài. Đó vượt xa một nỗi bức xúc chính trị đơn thuần. Đó là tiếng thở dài tiếc nuối của người bảo thủ trước những ngày tháng và lề thói đã phôi pha. “Mọi khi ở Skye là vùng đất tuyệt hảo để nuôi bò đen, và ai cũng có một bầy gia súc nhỏ trên sườn đồi. Nhưng các lãnh địa chủ bảo đất ấy nuôi cừu thì tốt hơn, rồi họ lại bảo nuôi cừu không tốt nữa, thế là họ biến nó thành bãi hoang thả hươu nai, và giờ đây chẳng còn bóng con bò đen nào ở Skye nữa cả.” Tôi nói thật, lắng nghe cụ già ấy kể chuyện chẳng khác nào nghe một khúc nhạc buồn tấu lên từ kèn túi. Chiến tranh và mọi thứ hiện đại chẳng có ý nghĩa gì với ông; ông sống giữa những bi kịch của tuổi trẻ và thời hoàng kim đời mình.

Bản thân tôi là một người theo trường phái Bảo thủ và cũng ủng hộ cải cách điền địa chút ít, thế nên chúng tôi nhanh chóng tìm được tiếng nói chung. Hợp ý nhau đến nỗi tôi đạt được điều mình muốn mà chẳng cần phải cất lời xin xỏ. Tôi nói với ông rằng tôi dự định đến Skye, và ông ngỏ ý muốn chở tôi sang đó bằng thuyền của mình vào sáng hôm sau. “Chẳng phiền hà gì đâu. Thật đấy. Bản thân tôi cũng có việc phải ra khơi đánh cá theo hướng đó.”

Tôi bảo ông rằng sau chiến tranh, từng sào đất của nước Anh sẽ phải được dành cho những người đã đánh đổi để giành lấy quyền sở hữu chúng. Nhưng điều đó chẳng an ủi được ông chút nào. Ông không bận tâm đến bản thân mảnh đất, mà nghĩ về những con người đã bị trục xuất khỏi đó từ năm mươi năm về trước. Mong mỏi của ông không phải là cải cách, mà là sự đền bù trả lại, và điều đó vượt quá tầm tay của bất kỳ Chính phủ nào. Tôi lên gác xép đi ngủ với một tâm trạng u buồn, suy tư, ngẫm ngợi về việc khi chúng ta thúc đẩy cỗ máy cày tân thời tiến lên, chúng ta buộc phải san bằng vô số ụ đất của loài chuột chũi, và cuộc sống của những chú chuột chũi ấy đáng quý và không gì thay thế được biết bao.

Sáng hôm sau, chúng tôi nhổ neo trong tiết trời trong lành, rực rỡ dưới ngọn gió đông nam thổi tới. Phía trước là một dải đồi thấp màu nâu, và ẩn sau đó, hơi chếch về phía bắc, chính là dãy núi lởm chởm đen ngòm mà tôi từng nhìn thấy ngày hôm qua từ mỏm Arisaig.

“Đó là dãy Coolin,” người ngư dân nói. “Đó là một chốn hiểm trở nơi ngay cả hươu nai cũng chẳng thể đặt chân tới. Nhưng toàn bộ phần còn lại của Skye xưa kia từng là vùng đất tuyệt vời cho loài bò đen.”

Khi thuyền tiến sát bờ biển, ông chỉ cho tôi thấy rất nhiều địa danh. “Nhìn kìa, thưa ngài, trong thung lũng kia. Tôi từng thấy sáu ngôi nhà tranh bốc khói ở đó, và giờ thì chẳng còn lại một mái nhà nào. Từng có ba người cùng họ với tôi có khoảnh rẫy trên những đồng cỏ ven biển phía bên kia mũi đất, và nếu ngài đến đó, ngài sẽ chỉ thấy dấu vết những mảnh vườn nhỏ của họ. Ngài sẽ nhận ra nơi ấy nhờ những cây anh đào dại.”

Khi ông thả tôi lên một bãi biển cát mịn nằm giữa những dải cỏ dương xanh rờn, ông vẫn còn đang hoài niệm về dĩ vãng. Tôi dúi vào tay ông một đồng bảng Anh – tính tiền thuyền chứ quyết không nhận sự hiếu khách qua đêm, bởi ông chắc chắn sẽ dùng dầm chèo nện cho tôi một trận nếu tôi dám đề cập đến chuyện đó. Hình ảnh cuối cùng tôi thấy về ông, lúc tôi quay người lại ở đỉnh đồi, là việc ông vẫn chưa kéo buồm lên, lặng lẽ đắm mình nhìn ngắm những vùng đất từng một thời ngập tràn tiếng cười nhân gian nay đã hóa hoang tàn.

Tôi tiếp tục rảo bước dọc theo dãy sống núi một lúc, bên tay phải là Eo biển Sleat, và bên kia eo biển là những ngọn đồi cao thuộc Knoydart và Kintail. Tôi ngóng tìm chiếc Tobermory nhưng chẳng thấy tăm hơi đâu. Một chiếc tàu hơi nước từ Mallaig chạy ra, vài chiếc tàu đánh cá nhỏ đang lặc lè rẽ sóng tiến lên eo biển, và có lúc tôi nhìn thấy cờ hiệu hải quân trắng cùng một chiếc khu trục hạm hớt hải chạy về hướng bắc, để lại đằng sau một làn khói đen cuồn cuộn. Sau đó, khi đã xem lại bản đồ, tôi băng qua cánh đồng hoang, tiếp tục giữ độ cao lớn, nhưng ngoại trừ những phút ngẫu hứng hiếm hoi, tôi hầu như khuất hẳn tầm nhìn ra biển. Tôi tự nhủ nhiệm vụ của mình là phải tiến tới vĩ tuyến của Ranna mà không lãng phí thời gian.

Ngay khi tôi đổi hướng đi, dãy Coolin liền trở thành người bạn đồng hành. Núi non luôn là niềm say mê cuồng nhiệt của tôi, và sự tối tăm cùng vẻ huyền bí của những chỏm núi hiểm trở ấy đã khiến tôi mê mẩn đầu óc. Tôi quên bẵng đi Trnag viên Fosse và vùng Cotswolds. Tôi cũng quên luôn cảm giác chủ đạo kể từ khi rời Glasgow – đó là sự phi lý trong sứ mệnh của mình. Mọi chuyện thoạt nhìn có vẻ quá xa vời và kỳ quặc. Rõ ràng tôi chẳng phải đối mặt với rủi ro cá nhân nào lớn lao, và tôi luôn mang trong lòng nỗi sợ mang mác khó chịu rằng Blenkiron có thể đã quá khôn ngoan để rồi toàn bộ vụ việc chỉ là một trò hố to bắt nhện công toi. Nhưng khối núi tối tăm ấy đã thay đổi hoàn toàn cái nhìn của tôi. Tôi bắt đầu dấy lên một trực giác kỳ lạ rằng đó chính là nơi chốn ấy, rằng có thứ gì đó đang được cất giấu ở đó, một thứ gì đó vô cùng tồi tệ. Tôi nhớ mình đã ngồi trên một đỉnh cao suốt nửa tiếng đồng hồ, dùng ống nhòm rà soát khắp các sườn đồi. Tôi nhận ra những vách đá dựng đứng vô cùng xấu xí, cùng những thung lũng chìm lấp vào màn đen nguyên thủy. Khi những tia nắng hiếm hoi chiếu vào – bởi hôm nay trời lúc nắng lúc râm – chúng chẳng làm bừng lên bất kỳ sắc màu nào, mà chỉ phản chiếu các tầng đậm nhạt của bóng râm. Chưa từng có ngọn núi nào tôi từng thấy – dù là Drakensberg, hay những gò đất đỏ ở Damaraland, hay những đỉnh núi trắng lạnh lẽo quanh Erzerum – lại mang vẻ ngoài phi nhân gian và kỳ quái đến thế.

Thật kỳ lạ làm sao, chính khung cảnh ấy lại khiến tôi nhớ đến Ivery. Trông chẳng có chút liên hệ nào giữa một kẻ ngồi ì một chỗ, điềm đạm, sống trong các căn biệt thự và giảng đường, với đám chướng ngại vật hiểm trở lởm chởm kia. Nhưng tôi cảm thấy có sự liên kết, bởi tôi bắt đầu nhận thức được tầm vóc của đối thủ mình. Blenkiron từng nói rằng hắn giăng cái bẫy vô cùng rộng lớn. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu khi áp dụng vào đám thanh niên nửa vời ở Biggleswick, các hội nhóm phản chiến, hay thậm chí là đám côn đồ trên sông Clyde. Tôi có thể nhét hắn vừa vặn vào bức tranh đó. Nhưng việc hắn tung hoành ngang dọc giữa những vách đá đen huyền bí kia lại khiến hắn trở nên vĩ đại hơn, liều lĩnh hơn, và hoàn toàn là một dạng thử thách khác hẳn. Tôi không hẳn là ghét ý tưởng này, bởi điều tôi vẫn luôn phàn nàn trong những tuần vừa qua là việc mình đang trật khỏi đường ray công việc vốn có, và vụ này có vẻ hợp gu tôi hơn. Tôi luôn cảm thấy mình làm tướng cướp giỏi hơn làm thám tử. Nhưng một chút kính sợ hòa lẫn vào sự thỏa mãn trong tôi. Tôi bắt đầu có cảm giác về Ivery hệt như cảm giác tôi từng dành cho ba tên ác quỷ thuộc hội Black Stone – những kẻ từng săn đuổi tôi trước chiến tranh, và là cảm giác tôi chưa từng dành cho bất kỳ tên Hun nào khác. Những kẻ chúng tôi chiến đấu ngoài mặt trận và những kẻ tôi từng chạm trán trong vụ Greenmantle, ngay cả lão Stumm khét tiếng, cũng chỉ là những tên tội phạm bằng xương bằng thịt. Chúng đáng sợ thật đấy, nhưng bạn hoàn toàn có thể đo lường và tính toán được năng lực của chúng. Còn cái tên Ivery này lại giống như một làn khí độc lơ lửng trong không trung, len lỏi vào từng ngóc ngách bất ngờ mà bạn chẳng tài nào chiến đấu nổi một cách đàng hoàng trực diện. Cho đến lúc đó, dẫu cho Blenkiron có tỏ ra nghiêm trọng đến đâu đi chăng nữa, tôi vẫn chỉ xem hắn như một bài toán cần giải. Nhưng giờ đây, hắn hiện lên như một kẻ thù cận kề và hiện hữu khắp nơi, đồng thời vô hình y như sự kinh hoàng của một ngôi nhà ma ám. Ngay trên sườn đồi ngập tràn ánh nắng ấy, giữa vòng vây của những cơn gió biển và tiếng chim còng cọc gọi bầy, sống lưng tôi bỗng lạnh toát mỗi khi nghĩ về hắn.

Tôi thật xấu hổ khi phải thú nhận điều này, nhưng tôi cũng đang đói cồn cào. Có điều gì đó trong chiến tranh khiến tôi ăn uống như hùm như sói, và cơ hội kiếm đồ ăn càng ít thì tôi càng thấy tồi tệ hơn. Nếu tôi đang ở Luân Đôn với hai mươi nhà hàng rộng cửa chào đón, có khi tôi lại chẳng màng mẩu xơi nào khác. Đó chính là cái sự ương bướng khó chiều của cái dạ dày tôi. Tôi vẫn còn chút sô-cô-la và đã ăn sạch chỗ bánh mì nướng phết bơ của người ngư dân cho bữa trưa, nhưng từ lâu trước khi trời tối, tâm trí tôi đã hoàn toàn bủa vây quanh cái bụng rỗng tuếch của mình.

Đêm đó tôi tá túc trong một túp lược của người chăn cừu nằm trơ trọi giữa vùng không người. Chủ nhân của nó là một gã tên Macmorran, hắn rời vùng Galloway đến đây khi ngành nuôi cừu đang phất lên. Hắn trông chẳng khác gì một kẻ hoang dã thực thụ, một gã đàn ông lùn tịt với mái tóc đỏ quạch và đôi mắt đỏ ngầu, trông y như người Pict cổ đại. Hắn sống cùng cô con gái từng có thời gian làm hầu bàn ở Glasgow, một cô ả mập mạp với khuôn mặt lấm đầy tàn nhang và cái bĩu môi hờn dỗi thành thói quen. Cũng dễ hiểu thôi, bởi cái túp lược ấy nghèo nàn tồi tàn đến tội nghiệp. Khói than bùn đặc quánh đến mức cổ họng và mắt tôi lúc nào cũng cay xè. Căn nhà xây cẩu thả, chắc chắn sẽ dột tứ bề như cái rổ rá trong những trận bão. Lão cha là một gã cáu kỉnh, suốt ngày cằn nhằn về thế giới xung quanh, về vật giá leo thang, về nỗi khổ khi di chuyển đàn cừu, sự keo kiệt của người chủ, và cái xứ sở khỉ ho cò gáy quái quỷ ở Skye này. “Nhìn tôi đây này, cả tháng trời chẳng thấy nổi mẩu bánh mì tiệm, xung quanh chẳng có ai ngoài mấy gã người Highland dốt nát cứ nhả ra toàn tiếng Gaelic. Ước gì tôi được quay về Glenkens. Và tôi sẽ xách gối đi ngay sáng mai nếu đòi đủ số tiền công chúng còn nợ.”

Tuy vậy, hắn vẫn cho tôi ăn tối – một đĩa dăm-bông thịt cừu bệnh và bánh yến mạch, và tôi đã mua lại số thức ăn thừa của hắn để dùng cho ngày hôm sau. Tôi không dám tin tưởng đám chăn của hắn, thế nên tôi đành quấn mình ngủ cạnh đống lửa trên chiếc ghế bành đã gãy nát, rồi thức dậy vào lúc rạng đông với một vị đắng nghét trong miệng. Ngụp lặn dưới dòng suối đã giúp tôi tỉnh táo hẳn, và sau một bát cháo yến mạch, tôi lại lên đường. Bởi tôi đang rất nôn nóng muốn đến được một đỉnh đồi nào đó có thể phóng tầm mắt sang Ranna.

Trước buổi trưa, tôi đã áp sát sườn đông của dãy Coolin, trên một con đường giống một đống đá lởm chởm hơn là lối mòn. Chẳng mấy chốc, tôi nhìn thấy một ngôi nhà lớn phía trước trông giống như một quán trọ, thế nên tôi bèn rẽ tránh và nhập vào đường quốc lộ dẫn đến đó ở phía xa hơn một chút về phía bắc. Sau đó, tôi hướng về phía đông, và vừa bắt đầu leo lên một ngọn đồi mà tôi phán đoán nằm chắn giữa tôi và biển, thì nghe thấy tiếng bánh xe kẽo kẹt trên đường và quay đầu nhìn lại.

Đó là một chiếc xe ngựa cộ của nông dân chở duy nhất một người đàn ông. Tôi cách đó khoảng nửa dặm, và dáng vẻ của gã trông quen thuộc làm sao. Tôi vội đưa ống nhòm lên ngắm và nhận ra một vóc dáng thấp đậm đang mặc chiếc áo mưa mackintosh, quàng chiếc khăn len quanh cổ. Khi tôi đang quan sát, gã cử động như thể đang lấy tay áo quẹt mũi. Đó là thói quen đặc trưng của một người mà tôi biết. Tôi kín đáo luồn lách qua những khóm thạch nam dài để đón đầu chiếc xe ngựa trên đường. Khi tôi bất ngờ trồi lên như một bóng ma bên vệ đường, con ngựa giật mình hoảng hốt, nhưng người đánh xe thì không.

“Cuối cùng cậu cũng có mặt,” giọng của Amos vang lên. “Tôi mang tin tức đến cho cậu đây. Tàu Tobermory lúc này chắc đã cập cảng Ranna rồi. Nó vừa chạy ngang qua Broadford hai tiếng trước. Khi nhìn thấy nó, tôi liền ách con chiến mã này lại và phóng lên đây với hy vọng bắt gặp cậu.”

“Làm quái nào mà ông biết tôi sẽ ở đây cơ chứ?” Tôi ngạc nhiên hỏi.

“Ồ, tôi đọc được suy nghĩ của cậu qua bức điện tín. Rồi tôi tự nhủ với bản thân – lão Brand đó, tôi tự nhủ, không phải là thứ dễ bị chặn đứng đâu. Nhưng tôi sợ cậu có thể chậm mất một ngày, nên đánh xe lên đây để giữ vững vị trí này. Trông cậu trẻ trung và linh hoạt hơn tôi đấy, và gã Gresson kia quả là một tay gộc đáng gờm.”

“Có một việc ông phải làm giúp tôi,” tôi nói. “Tôi không thể lai vãng vào các quán xá hay tiệm tạp hóa, nhưng tôi không thể nhịn đói được. Xem bản đồ tôi thấy có một thị trấn cách đây chừng sáu dặm. Hãy đến đó và mua cho tôi bất cứ thứ gì đóng hộp – bánh quy, lưỡi bò, cá mòi, và nếu được thì mua thêm đôi chai whisky. Vụ này có lẽ kéo dài đấy, nên cứ mua cho thật nhiều vào.”

“Tôi cất chúng ở đâu đây?” đó là câu hỏi duy nhất của ông.

Chúng tôi thống nhất chọn một điểm cất giấu, cách đường quốc lộ một trăm thước ở một nơi mà hai dải đồi bao bọc khung cảnh khiến người ta chỉ nhìn thấy một đoạn đường ngắn ngủi.

“Tôi sẽ quay lại Kyle,” ông bảo tôi, “và mọi người ở đó đều nhẵn mặt Andrew Amos cả, nhỡ cậu tìm được cách gửi tin nhắn hay tự mình mò đến đó. Ồ, tôi còn mang cho cậu một lời nhắn từ một vị phu nhân mà chúng ta đều quen biết. Cô ấy nói rằng, cậu càng sớm quay lại Vanity Fair thì cô ấy càng vui mừng chừng nấy, với điều kiện là cậu đã vượt qua được ngọn đồi Khó Khăn.”

Một nụ cười nhăn nheo trên khuôn mặt già nua và ông vẫy roi chào từ biệt. Tôi hiểu lời nhắn của Mary là một lời giục giã tăng tốc, nhưng ngặt nỗi tôi không thể đi nhanh hơn được. Đó là việc của Gresson. Tôi nghĩ mình có hơi bực mình một chút, cho đến khi tự an ủi bằng một cách hiểu khác. Cô ấy có thể lo lắng cho sự an toàn của tôi, cô ấy có thể muốn gặp lại tôi, dù thế nào đi nữa thì việc gửi lời nhắn cũng cho thấy tôi không hề bị lãng quên. Tôi chìm trong một dòng suy tưởng dễ chịu khi leo lên sườn đồi, khéo léo nấp sau những khe suối cạn. Lên đến đỉnh, tôi nhìn xuống Ranna và biển cả.

Kìa chiếc Tobermory đang bận rộn dỡ hàng. Chắc chắn sẽ mất một khoảng thời gian nữa Gresson mới có thể rời đi. Vẫn chưa có chiếc thuyền chèo nào xuất hiện ở eo biển, và có lẽ tôi phải đợi hàng tiếng đồng hồ. Tôi tìm một chỗ thoải mái giữa hai tảng đá để nép người, vừa không bị phát hiện vừa có thể bao quát rõ ràng cả biển lẫn bờ. Nhưng chẳng mấy chốc tôi nhận ra mình cần một ít thạch nam dài để làm ổ nằm, thế là tôi thò đầu ra để hái. Tôi vừa nhấc đầu lên được chưa tới một giây thì đã vội thụp người xuống. Bởi vì tôi có một người hàng xóm ở tít trên đỉnh đồi.

Gã cách tôi khoảng hai trăm thước, vừa vươn tới chỏm đồi, và không giống như tôi, gã đi lại một cách vô cùng công khai. Ánh mắt gã dán chặt vào Ranna nên không hề phát hiện ra tôi, nhưng từ nơi ẩn nấp, tôi quan sát kỹ từng đường nét trên cơ thể gã. Gã trông giống một gã nhà quê bình thường, mặc chiếc quần lửng phùng phình may cẩu thả kiểu mà đám hướng dẫn săn bắn thường hay mặc. Gã có khuôn mặt tựa một gã Do Thái Bồ Đào Nha, nhưng tôi từng thấy kiểu người đó trước đây ở những nơi mang tên xứ Highland; bọn họ có thể là người Do Thái hoặc không, nhưng họ đều nói được tiếng Gaelic. Chẳng mấy chốc gã biến mất. Gã đã làm theo gương tôi và chọn cho mình một chốn dung thân.

Trời trong xanh và oi bức, nhưng lại rất dễ chịu trong không gian thoáng đãng ấy. Hương thơm ngào ngạt phả lên từ biển, những khóm thạch nam ấm áp ngát hương, ong vàng vo ve bay lượn, và những chú mòng biển lạc loài lướt qua sống núi bằng đôi cánh rộng. Thỉnh thoảng tôi liếc mắt về phía người hàng xóm, nhưng gã đang ẩn kỹ trong chỗ trốn của mình. Phần lớn thời gian tôi dán mắt qua ống nhòm về hướng Ranna, theo dõi mọi hoạt động của con tàu Tobermory. Tàu đã cập cầu tàu nhưng có vẻ không vội vã gì việc dỡ hàng. Tôi thấy thuyền trưởng bước xuống tàu và đi lên một ngôi nhà trên sườn đồi. Sau đó, vài kẻ rỗi hơi lững thững đi xuống tàu, đứng tán gẫu và hút thuốc ngay sát mạn thuyền. Vị thuyền trưởng quay lại rồi lại rời đi. Một kẻ tay cầm xấp giấy xuất hiện, cùng một người phụ nữ cầm thứ trông giống như bức điện tín. Gã bạn đồng hành bước lên bờ trong bộ quần áo đẹp nhất. Rồi cuối cùng, qua ngọ trưa, Gresson đã xuất hiện. Hắn nhập hội với thuyền trưởng tại văn phòng trưởng bến, và chẳng mấy chốc lộ diện ở phía bên kia cầu tàu nơi có vài chiếc thuyền nhỏ đang nằm gác cạn. Một người từ tàu Tobermory xuất hiện theo tiếng gọi của hắn, một chiếc thuyền được hạ thủy và bắt đầu rẽ sóng tiến vào eo biển. Gresson ngồi ở đuôi thuyền, điềm tĩnh thưởng thức bữa trưa của mình.

Tôi theo dõi từng chi tiết của chuyến vượt biển ấy với niềm thỏa mãn vì phỏng đoán của mình đang diễn ra đúng hướng. Khi đi được nửa đường, Gresson tự tay chèo thuyền, nhưng chẳng bao lâu sau lại nhường tay dầm cho người của Tobermory và châm tẩu thuốc. Hắn lôi ra một chiếc ống nhòm và rà soát sườn đồi của tôi. Tôi cố nheo mắt nhìn xem người hàng xóm có làm hiệu gì không, nhưng mọi thứ vẫn tĩnh lặng. Chẳng mấy chốc con thuyền đã bị khối phình của sườn đồi che khuất khỏi tầm mắt tôi, và tôi nghe thấy tiếng mạn thuyền cọ sát vào bãi cát.

Gresson không phải là tay leo núi cừ khôi như người hàng xóm của tôi. Hắn mất gần cả tiếng đồng hồ mới leo lên tới đỉnh, và lên đến nơi ở một vị trí cách chỗ ẩn nấp của tôi chưa đầy hai thước. Nghe tiếng thở dốc hổn hển của hắn, tôi biết hắn đã mệt phờ. Hắn đi thẳng qua chỏm đồi cho đến khi khuất hẳn tầm nhìn xuống Ranna, rồi vật ngã người xuống đất. Lúc này hắn cách tôi chừng năm mươi thước, và tôi dịch chuyển người để rút ngắn khoảng cách. Có một rãnh cỏ chạy dọc theo phía bắc ngọn đồi, sâu và mọc um tùm những thạch nam. Tôi luồn lách qua đó cho đến khi cách hắn khoảng mười hai thước thì khựng lại vì rãnh cỏ chấm dứt. Khi ngó đầu qua đám lá ngụy trang, tôi thấy gã đàn ông kia đã nhập bọn với hắn và hai tên ngốc đó đang ôm chầm lấy nhau.

Tôi không dám nhích lên dù chỉ một inch, và vì chúng nói chuyện với giọng nhỏ thầm nên tôi chẳng nghe thấy gì. Chẳng nghe được gì ngoại trừ một cụm từ mà gã lạ mặt lặp lại tới hai lần, với giọng vô cùng quả quyết. “Tối mai,” gã nói, và tôi nhận ra giọng của gã không hề mang âm điệu vùng Highland như tôi hằng phỏng đoán. Gresson gật đầu xem giờ trên đồng hồ, và rồi cả hai bắt đầu di chuyển xuống sườn đồi hướng về con đường mà tôi đã đi qua vào sáng hôm đó.

Tôi bám theo sát nút hết sức có thể, lợi dụng một lòng máng suối khô nông do cừu giẫm thành lối mòn và giữ cho mình thấp hơn hẳn mực độ của đồng hoang. Nó dẫn tôi xuống đồi, nhưng cách khá xa hướng đi của cặp đôi kia, thế nên tôi phải liên tục trinh sát để theo dõi hành tung của chúng. Chúng vẫn còn cách con đường chừng một phần tư dặm thì khựng lại sững sờ, và tôi cũng sững sờ theo chúng. Trên con đường vắng vẻ ấy, những lữ khách hiếm hoi như những người thợ sửa đường, và thứ thu hút ánh nhìn của chúng chính là chiếc xe ngựa của người nông dân do một gã lực điền luống tuổi quàng chiếc khăn len quanh cổ cầm cương.

Tôi trải qua những giây phút thót tim, vì tính toán rằng nếu Gresson nhận ra Amos, hắn có thể sẽ hoảng sợ. Có lẽ kẻ đánh xe cũng nghĩ thế, bởi hắn có vẻ đang say mèm. Hắn vung roi, giật giật dây cương và cất giọng hát hò. Hắn nhìn về phía những bóng người trên sườn đồi và gào thét gì đó. Chiếc xe suýt nữa thì lao xuống mương, rồi để tôi thở phào nhẹ nhõm, con ngựa bỗng lồng lên phóng đi. Tròng cồng kềnh như một con tàu giữa cơn bão biển, toàn bộ cỗ xe khuất dạng sau khúc cua của ngọn đồi nơi đặt kho chứa của tôi. Nếu Amos có thể chặn con thú lại và giao hàng ở đó, thì hắn vừa thực hiện một màn hề vô cùng cao tay.

Hai gã đàn ông bật cười trước màn biểu diễn đó, rồi chúng đường ai nấy đi. Gresson quay ngược bước chân lên đồi. Kẻ còn lại – mà trong thâm tâm tôi gọi là gã Do Thái Bồ Đào Nha – rảo bước với tốc độ cực nhanh hướng về phía tây, băng qua đường và vượt qua một vùng đầm lầy lớn để tiến về mỏm phía bắc của dãy Coolin. Gã có việc bận cần giải quyết, và Gresson đều nắm rõ, và gã đang rất vội vã để hoàn thành nó. Rõ ràng nhiệm vụ của tôi là phải bám theo gã.

Tôi có một buổi chiều tồi tệ. Tên đó vượt qua những dặm đồng hoang tựa một chú hươu, còn tôi thì lầm lũi bám theo dấu chân hắn dưới cái nắng tháng Tám gay gắt. Tôi phải giữ khoảng cách khá xa và tận dụng tối đa chỗ ẩn nấp đề phòng gã quay đầu nhìn lại; điều đó có nghĩa là mỗi khi gã vượt qua một sống núi, tôi phải tăng tốc để không bị bỏ lại quá xa, và khi ở những khoảng trống, tôi phải vòng những đường vòng lớn để che giấu tung tích. Chúng tôi bắt gặp một con đường cắt ngang qua một đèo thấp và chạy dọc theo sườn núi, và chúng tôi cứ thế bám theo nó cho đến khi sang tận sườn phía tây và nhìn thấy biển. Tiết trời tuyệt đẹp, và ngoài làn nước xanh thẳm tôi nhìn thấy những cánh buồm mát rượi lướt đi cùng những cơn gió nhẹ gợn sóng mặt hồ, trong khi tôi thì nóng bừng bừng như cái lò nung. May mắn là thể lực tôi đã được rèn luyện kha khá, và tôi rất cần đến nó. Gã Do Thái Bồ Đào Nha chắc chắn đã duy trì tốc độ đều đặn sáu dặm một giờ qua địa hình hiểm trở tồi tệ.

Khoảng năm giờ chiều, chúng tôi đến một điểm mà tôi không dám bám theo nữa. Con đường chạy phẳng lì sát mép biển khiến người ta có thể nhìn rõ cả một đoạn dài phía trước. Hơn nữa, tên đó đã bắt đầu quay đầu ngó nghiêng sau mỗi vài phút. Gã sắp đến một nơi nào đó và muốn chắc chắn không có ai lai vãng xung quanh. Do đó tôi rời bỏ con đường và rẽ vào sườn đồi, thứ mà sự xui xẻo mang lại cho tôi chính là một dòng thác đá lở và những khối đá hỗn độn trải dài liên miên. Tôi thấy gã tuột xuống qua một gờ đất trông có vẻ là vành đai của một vịnh nhỏ nơi một trong những thung lũng băng hà lớn của ngọn núi đổ xuống. Phải mất ít nhất nửa tiếng sau khi tôi, ở độ cao lớn hơn và với địa hình gian nan hơn nhiều, mới tới được vành đai đó. Tôi nhìn xuống thung lũng thì hỡi ôi, người của tôi đã biến mất tăm.

Gã không thể băng qua đó được, bởi khu vực này rộng hơn tôi tưởng. Một vành đai vách đá đen kịt kéo dài áp sát bờ biển chỉ nửa dặm, và giữa chúng là một dòng suối lớn – với những vũng nông dài ở phía cửa biển và một chuỗi thác nước tầng tầng lớp lớp phía trên. Gã đã chui tít xuống đất như một con lửng ở đâu đó, và tôi không dám nhúc nhích vì sợ gã đang rình mò tôi từ sau một tảng đá nào đó.

Nhưng ngay khi tôi còn đang chần chừ, gã lại xuất hiện lần nữa, lội qua dòng suối, hướng ánh mắt kiên định về con đường chúng tôi vừa đi qua. Dù sứ mệnh của gã là gì đi nữa thì gã cũng đã hoàn thành, và đang hộc tốc quay về với chủ nhân. Thoạt đầu tôi định bám theo gã, nhưng một trực giác khác lại trỗi dậy. Gã không đời nào lại cất công đến cái chốn hoang vu này chỉ để ngắm cảnh. Đâu đó dưới thung lũng chắc chắn có thứ gì hoặc ai đó đang nắm giữ chiếc chìa khóa của bí ẩn này. Nhiệm vụ của tôi là ở lại đó cho đến khi mở khóa được nó. Hơn nữa, chỉ hai tiếng nữa là trời tối mịt, và tôi đã đi bộ đủ rã rời cho ngày hôm nay rồi.

Tôi lần mò tìm ra phía bờ suối và uống nước thỏa thuê. Thung lũng băng hà phía sau tôi rực sáng dưới ánh hoàng hôn đang buông, và những vách đá trọc lốc nhuốm một màu hồng pha vàng rực rỡ. Hai bên dòng suối là thảm cỏ xanh mướt tựa sân gôn, rộng chừng một trăm thước, rồi đến những đám thạch nam rậm rạp cùng những tảng đá lớn kéo dài tận chân những khối đá khổng lồ. Chưa bao giờ tôi được chứng kiến một buổi chiều đáng yêu nhường ấy, nhưng tôi chẳng thể tận hưởng sự bình yên đó vì nỗi bận tâm thường trực về gã Do Thái Bồ Đào Nha. Gã không ở đó quá nửa tiếng, vừa đủ thời gian để một người di chuyển đến gờ đất đầu tiên bên kia suối rồi quay về. Thế mà gã vẫn kịp hoàn thành công việc của mình. Gã có thể đã để lại một lá thư ở một nơi được định sẵn từ trước – trong trường hợp đó tôi sẽ ngồi lì ở đây cho tới khi kẻ nhận được thư xuất hiện. Hoặc giả gã đã gặp gỡ ai đó, dù tôi không cho điều đó là khả thi. Khi tôi đảo mắt nhìn qua những mẫu đồng hoang gồ ghề rồi ngắm nhìn làn nước biển vỗ nhẹ vào dải cát xám, tôi có cảm giác một bài toán hóc búa đang bày ra trước mắt mình. Trời đã quá tối để có thể lần theo dấu chân gã. Việc đó đành phải để tới sáng mai, và tôi chỉ cầu nguyện đêm nay trời đừng mưa.

Tôi ăn tối bằng phần lớn chỗ dăm-bông cừu bệnh và bánh yến mạch mang từ nhà Macmorran. Phải kìm chế lắm tôi mới làm vậy, bởi vì tôi đang đói ngấu nghiến, cốt để dành lại chút ít cho bữa sáng ngày mai. Sau đó, tôi bẻ những cành thạch nam và dương xỉ để làm ổ ngủ trong hốc của một tảng đá nằm trên một gò đất cao nhìn xuống dòng suối. Phòng ngủ của tôi được ngụy trang vô cùng kín đáo, nhưng đồng thời, nếu có bất kỳ thứ gì xuất hiện vào lúc rạng sáng, nó cũng ban cho tôi một tầm nhìn bao quát. Nhờ tấm áo mưa, tôi giữ ấm cơ thể rất tốt, và sau khi hút xong hai tẩu thuốc, tôi chìm vào giấc ngủ.

Giấc ngủ ban đêm của tôi không được trọn vẹn. Đầu tiên là một con cáo mò đến sủa ngay bên tai tôi, đánh thức tôi dậy giữa màn đêm đen kịt, lác đác vài ngôi sao le lói. Lần tiếp theo chẳng có gì ngoài cơn gió đồi hoang vu thổi qua, nhưng khi tôi ngồi dậy lắng nghe, tôi dường như nhìn thấy một đốm sáng nhỏ leo lét gần mép nước biển. Nó chỉ lóe lên trong chớp mắt, nhưng lại khiến tôi bất an. Tôi trèo ra ngoài và leo lên đỉnh tảng đá, nhưng mọi thứ vẫn tĩnh mịch ngoại trừ tiếng sóng triều vỗ nhè nhẹ và tiếng kêu khàn đợt của loài chim đêm vang lên giữa các vách đá. Lần thứ ba, tôi bỗng tỉnh giấc hoàn toàn mà không vì lý do gì, bởi tôi có mơ mộng gì đâu. Tôi từng có hàng trăm lần ngủ một mình bên cạnh con ngựa của mình trên vùng thảo nguyên veld, và tôi chưa từng thấy lý do nào dẫn đến những lần tỉnh giấc kiểu đó ngoài duy nhất một nguyên nhân: sự hiện diện của một con người ở gần tôi. Một kẻ quen sống với sự cô độc sẽ có thêm giác quan thứ sáu này, hoạt động như một chiếc chuông báo thức báo hiệu sự tiếp cận của đồng loại.

Nhưng tôi chẳng nghe thấy âm thanh nào. Chỉ có tiếng cọ xát và sột soạt trên bãi hoang, mà đó chỉ là tiếng gió cùng đám sinh vật hoang dã nhỏ bé trên đồi. Có thể là một con cáo, hay một chú thỏ rừng. Tôi tự trấn an lý trí, nhưng các giác quan thì không, và tôi nằm thức trắng suốt thời gian dài với đôi tai vểnh cao hết cỡ cùng mọi dây thần kinh căng như dây đàn. Rồi tôi cũng chìm vào giấc ngủ, cho đến khi bừng tỉnh trong ánh bình minh đầu tiên rọi chiếu.

Mặt trời nằm khuất sau dãy Coolin và những ngọn đồi đen sì như mực, nhưng tít ngoài khơi biển tây là một dải vàng rực rỡ rộng lớn. Tôi đứng dậy và tiến ra phía bờ biển. Cửa suối nông choèn, nhưng khi tôi dịch chuyển về phía nam, tôi bắt gặp một nơi có hai mũi đất nhỏ bao bọc một vịnh nhỏ. Chắc hẳn đó là một vết đứt gãy của lớp đá núi lửa, nên độ sâu của nó thật kinh khủng. Tôi cởi đồ và lao mình lặn sâu xuống vực nước lạnh buốt giá ấy, nhưng chẳng chạm tới được đáy. Tôi ngoi lên mặt nước trong cơn thở dốc, rồi bơi ra xa khơi, nằm ngửa bồng bềnh trên sóng nước và ngắm nhìn bức tường vách đá sừng sững. Tôi nhận ra nơi mình vừa trải qua một đêm thực ra chỉ là một ốc đảo xanh tươi nhỏ bé nằm dưới chân của một trong những thung lũng băng hà khắc nghiệt nhất mà trí tưởng tượng có thể vẽ ra. Nơi này hoang vắng chẳng khác gì Damaraland. Tôi cũng để ý thấy các vách đá mọc dựng đứng từ mặt phẳng một cách đột ngột đến thế nào. Có những ống khói và rãnh trũng mà một kẻ có thể dùng làm lối leo lên đỉnh, nhưng không một đường nào trong số đó có thể chinh phục được ngoại trừ một nhà leo núi chuyên nghiệp.

Lúc này tôi cảm thấy khỏe khoắn hơn nhiều khi mọi sự mệt mỏi rệu rã đã được gột rửa sạch sẽ, và tôi tự lau khô người bằng cách chạy băng băng qua lại trên thảm thạch nam. Rồi tôi chú ý đến một chi tiết. Có những dấu chân người ở ngay rìa trên của vũng nước sâu – không phải của tôi, bởi chúng nằm ở phía bên kia. Thảm cỏ biển ngắn bị giày xéo và bầm dập ở vài chỗ, cùng với những cọng dương xỉ bị bẻ gãy. Tôi nghĩ chắc hẳn có tay ngư dân nào đó vừa ghé vào đây để duỗi chân.

Nhưng điều đó lại hướng tâm trí tôi về phía gã Do Thái Bồ Đào Nha. Sau bữa sáng bằng những mẩu thức ăn cuối cùng – một mẩu thịt cừu bệnh và chút bánh yến mạch – tôi bắt đầu dò theo dấu chân gã từ nơi gã bước vào thung lũng. Để định hướng phương hướng, tôi đi ngược lại con đường mình từng đến, và sau một hồi chật vật, tôi đã tìm ra dấu vết của gã. Chúng khá rõ ràng cho đến khi tới con suối, bởi gã đã đi bộ – hoặc đúng hơn là chạy – qua những khoảng đất có nhiều sỏi đá. Sau đoạn đó thì mọi thứ trở nên khó khăn, và tôi mất hút hoàn toàn dấu vết trên đám thạch nam gồ ghề dưới chân vách đá. Tất cả những gì tôi có thể xác định chắc chắn là gã đã băng qua dòng suối, và công việc của gã, dù là gì đi nữa, đều xoay quanh vài sào đất hoang hỗn độn nằm bên dưới những vách đá dựng đứng.

Tôi đã có một buổi sáng bận rộn ở đó, nhưng chẳng tìm thấy gì ngoài bộ xương cừu đã bị đám quạ rỉa sạch thịt. Đó là một công việc vô ơn, và tôi đâm ra cáu tiết vì nó. Tôi mang một cảm giác khó chịu rằng mình đang đi nhầm đường và lãng phí thời gian. Giá mà có lão Peter đi cùng thì hay biết mấy. Lão có thể đánh hơi dấu vết giỏi như một thổ dân Bushman, và sẽ lật tung mọi ngóc ngách của khu rừng rậm trên trái đất này để tìm ra tung tích gã Do Thái Bồ Đào Nha. Đó là kỹ năng mà tôi chưa từng học hỏi, bởi trước kia tôi luôn phó mặc chuyện đó cho đám người bản địa. Tôi bỏ dở ý định, nằm thườn thượt một cách rầu rĩ trên một mảng cỏ ấm áp, vừa hút thuốc vừa nghĩ về Peter. Nhưng những suy ngẫm chính của tôi lúc đó là tôi đã ăn sáng từ lúc năm giờ, bây giờ đã là mười một giờ trưa, tôi đang đói cồn cào không chịu nổi, ở đây chẳng có nổi thứ gì cho cào cào ăn, và tôi sẽ chết đói nếu không kiếm được chút lương thực.M

Đường đến kho chứa của tôi còn rất dài, nhưng chẳng có con đường nào khác. Hy vọng duy nhất của tôi là cứ ngồi lì trong thung lũng, và việc đó có thể kéo dài hàng ngày trời. Muốn chờ đợi thì phải có cái ăn, và dẫu điều đó đồng nghĩa với việc bỏ ngỏ sự canh gác trong sáu tiếng đồng hồ, tôi vẫn phải chấp nhận mủi rủi ro. Tôi cất bước với tốc độ nhanh cùng một tâm trạng vô cùng chán nản.

Theo bản đồ, có một lối tắt băng qua đèo nằm trên dãy núi. Tôi quyết định chọn nó, và lối tắt đó, cũng như phần lớn những con đường cùng loại, chẳng hề được ơn trên phù hộ. Tôi sẽ không kể lể dài dòng về những sự khó chịu trong chuyến hành trình đó. Tôi thấy mình lúc thì trượt dài trên đám đá dở, lúc lại leo qua những ống khói đá dựng đứng, lúc thì chênh vênh bước đi trên những sống núi mỏng dính như lưỡi dao cạo. Đôi giày suýt chút nữa thì rách bươm khỏi bàn chân bởi những khối đá quỷ quái, chúng lõm lỗ chỗ như thể bị bệnh đậu mùa địa chất. Khi cuối cùng tôi cũng vượt qua được đoạn chia nước, tôi lại phải trải qua một phen khốn khổ để tuột từ tầng này xuống tầng khác trong một thung lũng băng hà rùng rợn, nơi mỗi bước chân đều đạp lên những tấm thép phẳng lì trơn tuột. Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng đặt chân được xuống vùng đầm lầy ở sườn phía đông, và tới được nơi cạnh con đường mà tôi đã thiết lập kho chứa của mình.

Gã Amos trung thành đã không làm tôi thất vọng. Ở đó có đầy đủ nhu yếu phẩm – vài ổ bánh mì nhỏ, một tá đồ hộp, và một chai whisky. Tôi ngụy trang chúng thành một chiếc ba lô gọn gàng nhất có thể bằng tấm áo mưa, treo lên gậy và bắt đầu quay bước, tự nhủ rằng trông mình lúc đó chẳng khác gì bức tranh minh họa nhân vật Christian trên trang bìa cuốn Đường Lữ Khách.

Tôi trông còn giống Christian hơn nữa trước khi đặt chân tới đích – một Christian sau khi đã vượt qua ngọn đồi Khó Khăn. Chuyến đi bộ buổi sáng đã tệ hại rồi, nhưng buổi chiều thậm chí còn tồi tệ hơn, vì tôi đang nôn nóng đến phát sốt để quay về, và sau khi đã chán ngấy cảnh trèo đèo lội suối, tôi chọn tuyến đường dài hơn mà mình đã đi ngày hôm qua. Tôi cực kỳ sợ bị phát hiện, bởi trông bộ dạng của tôi lúc này quá ư kỳ quặc, thế nên tôi né tránh mọi đoạn đường mà tôi không thể phóng tầm mắt quan sát rõ phía trước. Tôi đã phải thực hiện vô số khúc vòng vèo mệt mỏi qua những vũng than bùn, bãi đá lở và lòng suối đầy sỏi đá. Nhưng cuối cùng tôi cũng tới nơi, và cảm giác thoải mái trào dâng gần như trọn vẹn khi tôi quăng gói đồ xuống bên cạnh dòng suối nơi tôi đã qua đêm.

Tôi đánh một bữa no nê, châm tẩu thuốc, và chìm vào trạng thái điềm tĩnh vốn xuất hiện sau khi nỗi mệt mỏi qua đi và cơn đói đã được thỏa mãn. Mặt trời đang ngả về tây, và những tia nắng của nó rọi thẳng lên bức tường đá nằm phía trên nơi tôi từng từ bỏ cuộc tìm kiếm dấu vết.

Khi tôi thẩn thơ ngắm nhìn nó, tôi bỗng nhận ra một điều kỳ lạ.

Bức tường dường như bị tách làm đôi và một luồng ánh nắng mặt trời rọi xuyên qua khe hở đó. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Tôi nhìn thấy điểm tận cùng của luồng sáng chiếu xuống bãi hoang bên dưới, trong khi toàn bộ phần còn lại vẫn chìm trong bóng râm. Tôi dụi mắt và lôi ống nhòm ra. Rồi tôi đoán ra lời giải thích. Có một cột đá nằm áp sát vào mặt vách đá chính và hoàn toàn hòa lẫn vào đó nếu nhìn trực diện. Chỉ khi ánh mặt trời rọi xiên vào nó thì mới có thể phát hiện ra. Và giữa cột đá và vách núi chắc chắn phải có một khoảng rỗng khá lớn.

Phát hiện đó khiến tôi vùng đứng dậy, lao nhanh về phía điểm tận cùng của luồng ánh sáng. Tôi rời khỏi thảm thạch nam, trèo qua vài thước đá lở, rồi vật lộn vất vả trên những phiến đá trơn tuột, nơi chỉ có ma sát của vải tu-uýt và bề mặt đá nhám mới giúp tôi bám trụ nổi. Chậm rãi, tôi nhích dần về phía đốm sáng mặt trời cho đến khi túm được một điểm bám tay và đu người lọt vào khe nứt. Một bên là bức tường chính của ngọn núi, bên kia là một cột đá cao khoảng chín mươi thước, và ở giữa chúng là một khe nứt dài rộng từ ba đến sáu thước. Phía bên kia khe nứt lộ ra một khoảng biển sáng rực nhỏ xíu.

Vẫn còn điều thú vị hơn, tại điểm tôi bước vào có một phần nhô ra tạo thành một cái hang tuyệt đẹp, lối vào thấp lè tè nhưng bên trong cao tới chục thước và khô ráo tựa bùi nhùi. Nơi đây, tôi tự nhủ, chính là chốn ẩn nấp hoàn hảo. Trước khi tiến sâu hơn, tôi quyết định quay lại lấy thêm thức ăn. Việc trượt xuống chẳng lấy gì làm dễ dàng, và tôi bị tuột chân ở hai mươi thước cuối cùng, cắm đầu ngã dúi dụi xuống một bãi đá lở mềm. Bên bờ suối, tôi chiết rượu từ chai whisky đầy bình tông của mình, rồi nhét nửa ổ bánh mì, một hộp cá mòi, một hộp lưỡi bò và một gói sô-cô-la vào các túi áo mưa. Mang vác nặng nề khiến tôi mất một lúc mới leo lên lại được, nhưng cuối cùng tôi cũng xoay sở thành công và cất gọn đồ đạc vào một góc hang. Sau đó, tôi bắt đầu lên đường khám phá phần còn lại của khe nứt.

Nó dốc thoai thoải rồi lại nhô lên một nền tảng nhỏ. Sau đó nó hạ thấp xuống bằng những bậc thang dễ đi để ra tới vùng đồng hoang bên kia cột đá. Nếu gã Do Thái Bồ Đào Nha từng đến đây, thì đó chính là con đường gã đã dùng để tới nơi này, bởi gã sẽ chẳng có thời gian để trèo theo lối của tôi. Tôi dò dẫm từng bước vô cùng thận trọng, vì cảm giác mình đang đứng trước một phát hiện lớn. Nền tảng kia bị che khuất một phần tính từ hướng của tôi bởi khúc cua của khe nứt, và được che chắn ít nhiều ở phía bên kia bởi một pháo đài tiền tiêu của cột đá. Bề mặt của nó phủ đầy lớp bụi mịn màng, y như những bậc thang phía sau nó. Trong niềm phấn khích tột độ, tôi quỳ xuống kiểm tra.

Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, có dấu chân ở đây. Giờ thì tôi đã nhẵn mặt những dấu giày của gã Do Thái Bồ Đào Nha, và tôi nhận ra chúng rất rõ ràng, đặc biệt ở một góc. Nhưng bên cạnh đó còn có những dấu giày khác, hoàn toàn khác biệt. Một loại mang đế gai của giày đi địa hình miền quê, loại kia mang đế trơn không đinh. Lại một lần nữa tôi ao ước có Peter ở đây để xác thực cho chắc chắn, dù tôi khá tự tin với kết luận của mình. Tên mà tôi bám theo đã đến đây, và hắn không ở lại lâu. Một kẻ khác cũng đã lai vãng tới đây, khả năng là đến sau, bởi dấu giày đế trơn đè lên trên dấu giày có đinh gai. Kẻ đầu tiên có thể đã để lại lời nhắn cho kẻ thứ hai. Có lẽ kẻ thứ hai chính là sự hiện diện mang tính con người mà tôi đã mờ nhạt cảm nhận được trong đêm.

Tôi cẩn thận xóa sạch mọi dấu vết bàn chân của chính mình rồi quay trở lại hang. Đầu óc tôi ong ong lên vì phát hiện mới. Tôi nhớ lại lời dặn dò của Gresson dành cho đồng bọn: “Tối mai.” Theo cách suy luận của tôi, gã Do Thái Bồ Đào Nha đã mang tin nhắn từ Gresson đến cho một kẻ nào đó, và kẻ đó đã từ đâu đến để nhận nó. Bức điệp báo ấy chứa đựng một cuộc hẹn hò vào chính tối nay. Tôi đã tìm được một điểm quan sát đắc địa, bởi chẳng đời nào có kẻ nào bén mảng đến cái hang của tôi, nơi chỉ có thể tiếp cận từ đồng hoang bằng một quãng đường leo trèo đầy nhọc nhằn. Đó sẽ là nơi tôi cắm trại qua đêm và chờ xem bóng đêm mang lại điều gì. Tôi nhớ mình từng tự ngẫm về thứ vận may kinh ngạc đã phò trợ tôi cho đến lúc này. Khi tôi nhìn ra từ nơi ẩn náu của mình để quan sát màn sương chạng vảng màu xanh lam đang lan dần trên mặt nước, tim tôi đập rộn lên vì một sự mong chờ hoang dại.

Rồi tôi nghe thấy một âm thanh phát ra bên dưới, và rướn cổ vòng qua rìa cột đá. Một người đàn ông đang bám đá trèo lên theo đúng con đường mà tôi vừa đi qua.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John Buchan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.