Hắn chỉ vào mẩu giấy trên bàn.
“Anh thấy mệnh lệnh rồi chứ?”
Tôi gật đầu.
“Chuỗi ngày dài vất vả đã chấm dứt. Anh nên mừng đi thôi, vì tôi nghĩ phần việc của anh là gian nan nhất đấy. Một ngày nào đó anh sẽ kể cho tôi nghe chứ?”
Gương mặt người đàn ông này toát lên vẻ trung thực và nhân hậu, khá giống với người kỹ sư tên Gaudian mà tôi từng gặp ở Đức hai năm trước. Nhưng đôi mắt hắn lại hút hồn tôi, bởi đó là ánh mắt của kẻ mộng tưởng và cuồng tín, kẻ chừng nào còn hơi thở thì chừng ấy vẫn không từ bỏ lý tưởng của mình. Tôi thầm nghĩ Ivery quả thật khéo chọn đồng sự.
“Nhiệm vụ của tôi vẫn chưa xong,” tôi đáp. “Tôi tới đây để gặp Chelius.”
“Tối mai ông ấy mới về.”
“Muộn quá. Tôi phải gặp ông ấy ngay lập tức. Ông ấy đã sang Ý, và tôi buộc phải đuổi theo.”
“Anh là người hiểu rõ bổn phận của mình nhất,” hắn trầm ngâm nói.
“Nhưng anh phải giúp tôi. Tôi phải đón lõng ông ấy ở Santa Chiara, vì đây là việc hệ trọng đến tính mạng. Ở đây có xe ô tô nào không?”
“Có xe của tôi. Nhưng không có tài xế. Chelius đem anh ta theo rồi.”
“Tôi tự lái được và tôi biết đường. Có điều tôi không có giấy thông hành qua biên giới.”
“Chuyện đó dễ thôi,” hắn mỉm cười đáp.
Trong một chiếc tủ sách có ngăn xếp những cuốn sách giả. Hắn mở khóa ngăn này, để lộ ra một hộc tủ nhỏ rồi lấy ra chiếc hộp sắt đựng công văn. Trong số giấy tờ bên trong, hắn rút ra một tờ dường như đã có sẵn chữ ký.
“Tên là gì?” hắn hỏi.
“Cứ ghi tôi là Hans Gruber vùng Brieg,” tôi nói. “Tôi đi đón ông chủ làm nghề buôn bán gỗ.”
“Còn lúc về?”
“Tôi sẽ về bằng con đường cũ,” tôi đáp đầy bí hiểm; và nếu hắn có hiểu câu đó nghĩa là gì thì hắn còn hiểu rõ hơn cả chính tôi.
Hắn điền xong giấy tờ rồi trao cho tôi. “Tờ này sẽ giúp anh qua được các trạm gác biên phòng. Giờ đến lượt chiếc xe. Đám người làm đều đã đi ngủ vì họ vừa phải chuẩn bị cho một chuyến đi dài, nhưng đích thân tôi sẽ dắt anh ra xem. Trong bình còn đủ xăng để anh chạy tới tận Rome đấy.”
Hắn dẫn tôi qua sảnh lớn, mở khóa cửa trước, rồi chúng tôi băng qua bãi cỏ phủ đầy tuyết để tới nhà để xe. Nơi đó trống trơn, chỉ có một chiếc xe hơi cỡ lớn mang dấu vết vừa vượt qua những vùng đất thấp lầy lội. Tôi mừng rỡ nhận ra đó là một chiếc Daimler, loại xe mà tôi đã quá quen thuộc. Tôi bật đèn, nổ máy rồi lái xe ra đường.
“Anh sẽ cần một chiếc áo khoác ngoài đấy,” hắn bảo.
“Tôi chẳng bao giờ mặc cả.”
“Đồ ăn thì sao?”
“Tôi có ít sô-cô-la rồi. Tôi sẽ ăn sáng ở Santa Chiara.”
“Vậy thì chúc Chúa đi cùng anh!”
Một phút sau, tôi đã lao vun vút ven bờ hồ về phía ngôi làng St Anton.
Tôi dừng lại trước ngôi nhà gỗ trên đồi. Peter vẫn chưa ngủ. Tôi thấy anh đang ngồi bên đốm lửa cố đọc sách, nhưng nhìn nét mặt thì tôi biết anh đang bồn chồn ngóng tôi từng phút.
“Chúng ta gặp rắc rối to rồi, anh bạn già,” tôi vừa đóng cửa vừa nói. Chỉ trong chục câu ngắn ngủi, tôi kể cho anh nghe toàn bộ biến cố trong đêm, mưu đồ của Ivery và chuyến đi liều mạng sắp tới của mình.
“Anh muốn gánh vác phần việc chứ gì,” tôi kêu lên. “Vậy thì giờ đây mọi chuyện trông cậy cả vào anh đấy. Tôi phải đi đuổi theo Ivery, sống chết ra sao chỉ có Chúa mới biết. Trong lúc này, anh phải liên lạc bằng được với Blenkiron và thuật lại cho ông ấy những gì tôi vừa kể. Ông ấy phải tìm cách chuyển tin về Bộ Tổng tham mưu. Phải giăng bẫy tóm gọn đám Chim Trời trước khi chúng kịp đào tẩu. Tôi không rõ bằng cách nào, nhưng ông ấy buộc phải làm được. Hãy bảo ông ấy rằng lúc này chỉ còn trông chờ vào ông ấy và anh thôi, vì tôi coi như đứng ngoài cuộc rồi. Tôi phải cứu Mary, và nếu trời thương, tôi sẽ thanh toán sòng phẳng với Ivery. Nhưng nhiệm vụ lớn lao là của Blenkiron—và của anh. Bằng cách nào đó ông ấy đã phạm sai lầm tai hại, để cho kẻ thù đi trước một bước. Ông ấy phải trầy vi tróc vảy mà chuộc lại thôi. Lạy Chúa, Peter ơi, đây là giây phút hệ trọng nhất đời chúng ta. Tôi chưa thấy le lói tia hy vọng nào, nhưng tuyệt đối không được bỏ qua bất cứ cơ hội nào. Tôi phó thác tất cả cho anh đấy.”
Tôi nói như người lên cơn sốt, bởi sau những chuyện vừa trải qua, thần trí tôi chẳng còn được tỉnh táo hoàn toàn. Sự điềm tĩnh nơi Biệt thự Hồng đã nhường chỗ cho một nỗi bồn chồn đến cuồng loạn. Đến giờ tôi vẫn hình dung rõ Peter, đứng sừng sững trong quầng sáng đèn dầu, vịn tay vào lưng ghế, cau mày và gãi nhẹ lên chóp tai trái như thói quen mỗi khi xúc động. Nét mặt anh ánh lên vẻ rạng rỡ.
“Đừng sợ, Dick,” anh nói. “Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Ons sal ’n plan maak—chúng ta sẽ tìm ra cách mà.”
Và thế là, vẫn bị con quỷ bất an ám ảnh, tôi lại lao ra đường, nhắm thẳng hướng con đèo dẫn sang đất Ý.
Màn sương mù đã tan biến khỏi bầu trời, nhường chỗ cho những vì sao lấp lánh rạng ngời. Trăng thượng tuần đang dần lặn xuống một khe núi khi tôi vượt qua ngọn đèo thấp nối thung lũng St Anton với thung lũng Staubthal rộng lớn hơn. Trời buốt giá và lớp tuyết đông cứng lạo xạo dưới bánh xe, nhưng trong không khí phảng phất cái cảm giác báo trước một cơn bão sắp tràn về. Tôi tự hỏi không biết liệu mình có đâm sầm vào cơn bão tuyết trên các rặng núi cao hay không. Khắp chốn chìm sâu trong tĩnh mịch. Không một ánh đèn hắt ra từ những xóm làng tôi đi qua, chẳng một bóng người trên dặm trường heo hút.
Tại Staubthal, tôi nhập vào đường cái rồi ngoặt sang trái, ngược theo lòng thung lũng đang hẹp dần. Mặt đường còn rất tốt và chiếc xe lướt đi êm ru khi tôi leo qua những cánh rừng thông phủ đầy tuyết, tiến vào nơi các dãy núi áp sát lại gần nhau. Con đường uốn lượn quanh những gờ đá cheo leo hay men theo miệng vực sâu hoắm đầy hiểm trở, nơi chỉ có một hàng cọc gỗ mỏng manh ngăn cách người đi với hố sâu hun hút. Có những đoạn tuyết chất cao thành bức tường ở hai bên, nơi con đường được bàn tay con người nhọc nhằn dọn sạch để giữ cho xe cộ lưu thông. Lại có những đoạn tuyết chỉ phủ một lớp mỏng, khiến người ta dễ ngỡ như mình đang lướt qua những đồng cỏ phong quang trong bóng chiều mờ ảo.
Đầu óc tôi dần dần tỉnh táo lại, và tôi đã có thể nhìn nhận thấu đáo vấn đề của mình. Tôi gạt phăng khỏi tâm trí tình thế bỏ dở sau lưng. Chuyện đó cứ để Blenkiron tự xoay xở hết sức mình. Việc đối phó với đám Chim Trời là của ông ấy, còn mục tiêu duy nhất của tôi chỉ là Ivery. Một lúc nào đó vào sáng sớm hắn sẽ tới Santa Chiara, và Mary đang ở đó. Vượt quá mốc đó, trí tưởng tượng của tôi chẳng thể đoán định được điều gì nữa. Nàng sẽ chỉ có một mình—với sự gian xảo của hắn thì tôi dám chắc là vậy; hắn sẽ ép nàng đi theo, hoặc có thể dùng những lời dối trá để dụ dỗ nàng. Thôi thì, lạy Chúa, mong sao tôi sẽ kịp đến vào đoạn cuối của cuộc gặp gỡ ấy. Nghĩ tới đó, tôi lại buông lời nguyền rủa những con dốc dựng đứng đang phải vượt qua, thèm muốn có một phép màu nào đó nhấc bổng chiếc Daimler vượt qua đỉnh đèo rồi thả cho nó lao như tên bắn xuống sườn dốc hướng về đất Ý.
Tôi nhớ vào khoảng ba giờ rưỡi sáng thì tôi nhìn thấy ánh đèn của trạm gác biên phòng. Không khí dường như ấm hơn dưới thung lũng, và có những bông tuyết mịn táp khẽ vào má phải tôi. Hai người lính gác Thụy Sĩ mắt nhắm mắt mở, tay lăm lăm súng trường, lảo đảo bước ra khi tôi hãm xe lại.
Họ cầm giấy thông hành của tôi vào bốt gác, khiến tôi phải trải qua mười lăm phút thót tim trong lúc họ soi xét. Thủ tục tương tự lại lặp lại cách đó năm mươi thước tại trạm gác của Ý, nơi mấy tay lính gác lại có nhã ý muốn bắt chuyện khiến tôi phát hoảng. Tôi đành đóng vai một gã gia nhân lầm lì, chỉ ậm ừ đáp nhát gừng và vờ như mình ngu đần hết chỗ nói.
“Anh vừa kịp lúc đấy, anh bạn,” một người nói bằng tiếng Đức. “Thời tiết đang xấu đi và con đèo sẽ sớm bị đóng thôi. Khiếp thật, lạnh chẳng kém gì mùa đông năm ngoái trên đỉnh Tonale. Cậu còn nhớ không, Giuseppe?”
Nhưng rốt cuộc họ cũng cho tôi đi tiếp. Trong chốc lát, tôi phải mò mẫm từng bước một cách dè chừng, bởi trên đỉnh đèo đường đi quanh co uốn khúc và tuyết trắng xóa làm hoa cả mắt. Chẳng mấy chốc xuất hiện một con dốc thẳng đứng và tôi mặc sức cho chiếc Daimler lao đi. Trời càng lúc càng lạnh hơn khiến tôi khẽ rùng mình; tuyết quyện thành một màn sương trắng ướt át bao quanh quầng sáng rực của đèn pha; và con đường cứ thế dốc mãi xuống, khi thì qua những khúc cua dài, khi lại bổ nhào xuống những đoạn dốc ngắn dựng đứng, cho tới khi tôi nhận ra một thung lũng hẹp đang mở ra về phương nam. Nhờ năm tháng dài sống chốn hoang dã, tôi có được một linh cảm nhạy bén về địa hình mà chẳng cần đến mắt nhìn, nên tôi biết rõ khúc nào hẻm núi thu hẹp hay mở rộng dẫu xung quanh tối đen như mực.
Dù lòng dạ như lửa đốt, tôi vẫn buộc phải đi chậm lại, bởi sau cú lao dốc đầu tiên, tôi nhận ra nếu không cẩn thận thì chiếc xe sẽ nát bấy và hỏng bét mọi sự. Mặt đường bên sườn phía nam ngọn núi tồi tệ gấp trăm nghìn lần phía bên kia. Xe trượt bánh, văng đuôi liên tục, có lần suýt nữa quẹt vào mép vực sâu. Cảm giác này còn điên tiết hơn lúc leo dốc, bởi khi leo thì chỉ việc nghiến răng cắm đầu chạy hết công suất của chiếc Daimler, còn giờ đây tôi phải ghìm nó lại chỉ vì tay lái non nớt của chính mình. Tôi đồ rằng quãng thời gian bò lê lết xuống từ đỉnh Staub là một trong những giờ phút mệt mỏi cùng cực nhất đời tôi.
Bất thình lình, tôi thoát khỏi vùng thời tiết xấu để bước vào một bầu khí hậu hoàn toàn khác biệt. Bầu trời trên cao quang đãng, và tôi nhận thấy bình minh đã cận kề. Những rặng thông đầu tiên bắt đầu hiện ra, và cuối cùng cũng tới một đoạn dốc thẳng tắp nơi tôi có thể nhấn hết ga. Tinh thần đang ủ rũ bấy lâu của tôi bắt đầu phấn chấn trở lại, tôi thầm tính toán quãng đường còn phải đi... Thế rồi, chẳng một lời báo trước, một thế giới mới toanh bừng nở quanh tôi. Giữa màn chạng vạng xanh biếc, những hình khối trắng muốt vươn lên như bóng ma: những đỉnh chóp, những ngọn tháp nhọn hoắt và những vòm băng khổng lồ, chân núi chìm mờ trong bóng tối, nhưng ngọn núi thì bừng sáng lung linh như những viên ngọc quý. Chưa bao giờ tôi được chiêm ngưỡng một cảnh tượng như thế, và vẻ kỳ vĩ ấy trong phút chốc đã xua tan mọi nỗi âu lo trong lòng tôi. Hơn thế nữa, nó còn đem lại cho tôi một điềm báo về chiến thắng. Tôi đã trở lại với bầu không khí trong trẻo, và chắc chắn giữa cõi thanh khiết như kim cương này, những thứ nhơ bẩn ưa bóng tối ắt sẽ phải đền tội...
Và rồi, cách đó một dặm về phía trước, tôi nhìn thấy tòa nhà hình vuông mái đỏ mà tôi nhận ra ngay là quán trọ Santa Chiara.
Chính tại nơi đây vận rủi đã ập xuống đầu tôi. Vì chủ quan, tôi mải nhìn về phía ngôi nhà hơn là nhìn đường xá. Tại một khúc quanh, sườn đồi đã bị sạt lở—chắc là mới xảy ra gần đây, vì con đường vốn được bảo trì rất tốt—và tôi không hề để ý đến đống đất đá sạt lở cho tới khi xe đã đâm sầm vào đó. Tôi đánh lái gấp sang phải, ôm một vòng cua quá rộng, và trước khi kịp nhận ra thì chiếc xe đã lao qua mép đường bên kia. Tôi đạp phanh chết trân, nhưng để tránh lật xe, tôi đành phải lao hẳn ra khỏi mặt đường. Xe trượt dài xuống một bờ dốc đứng lao vào một đồng cỏ, nơi tôi lãnh đủ quả báo khi đâm sầm vào một thân cây đổ với một lực giật bắn người, hất tung tôi khỏi ghế và suýt làm gãy tay tôi. Chẳng cần xuống kiểm tra xe tôi cũng thừa biết chuyện gì đã xảy ra. Trục trước đã cong queo, còn bánh trước bên phụ thì méo mó gãy gập.
Tôi chẳng còn bụng dạ nào mà nguyền rủa sự ngu ngốc của mình. Tôi lóp ngóp bò ngược lên mặt đường rồi cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng xuống dốc. Toàn thân tôi cứng đờ như chết, bởi đòn tra tấn trên chiếc giá của Ivery chẳng tốt lành gì cho xương khớp, nhưng lúc này tôi chỉ thấy nó cản trở tốc độ của mình chứ chẳng màng đến sự đau đớn thể xác. Toàn bộ tâm trí tôi đều dồn cả vào ngôi nhà trước mặt và những gì có thể đang xảy ra ở nơi đó.
Có một người đàn ông đứng ở cửa quán trọ, vừa thoáng thấy bóng tôi, anh ta liền rảo bước lại đón. Tôi nhận ra đó là Launcelot Wake, và cảnh tượng ấy nhen nhóm trong tôi niềm hy vọng.
Nhưng nét mặt anh ta khiến tôi kinh hãi. Mặt anh hốc hác, phờ phạc như kẻ mất ngủ triền miên, đôi mắt rực lên như hai hòn than nóng.
“Hannay,” anh kêu lên, “vì Chúa, chuyện này rốt cuộc là sao?”
“Mary đâu rồi?” tôi thở hổn hển, và tôi nhớ mình đã túm chặt lấy vạt áo khoác của anh ta.
Anh kéo tôi lại bờ tường đá thấp ven đường.
“Tôi không biết,” anh khàn giọng đáp. “Bọn tôi nhận được lệnh của anh bảo tới đây sáng nay. Bọn tôi đang ở Chiavagno, nơi Blenkiron dặn đứng đợi. Nhưng tối qua Mary biến mất... Tôi phát hiện cô ấy thuê một cỗ xe ngựa rồi đi trước. Tôi đuổi theo ngay lập tức, tới đây cách đây một tiếng thì hay tin cô ấy đã đi mất rồi... Bà chủ quán đi vắng, chỉ còn lại hai người làm già. Họ bảo Mary tới đây muộn, rồi từ sáng sớm tinh mơ có một chiếc xe thùng kín vượt đèo Staub tới, bên trong có một người đàn ông. Họ bảo gã đòi gặp cô gái, hai người nói chuyện với nhau một hồi lâu, rồi sau đó cô ấy đi cùng gã trên chiếc xe hơi xuôi xuống thung lũng... Chắc hẳn tôi đã đi lướt qua chiếc xe đó trên đường lên đây... Có một âm mưu ma quỷ đen tối nào đó mà tôi không tài nào hiểu nổi. Gã đàn ông đó là ai? Gã là ai chứ?”
Anh ta nhìn tôi như muốn bóp cổ tôi đến nơi.
“Tôi có thể nói cho anh biết,” tôi đáp. “Đó là Ivery.”
Anh ta sững sờ nhìn tôi một giây như thể không hiểu. Rồi anh nhảy dựng lên, chửi thề như một tên lính thô bạo. “Anh đã làm hỏng bét mọi chuyện, tôi biết ngay mà! Tôi đã biết mấy cái trò quỷ quyệt chết tiệt của các người chẳng đem lại kết quả tốt đẹp gì đâu.” Rồi anh ta nguyền rủa cả tôi, cả Blenkiron, quân đội Anh, Ivery và tất cả mọi người xuống địa ngục.
Tôi chẳng còn hơi sức đâu mà giận dữ. “Ngồi xuống đi, anh bạn,” tôi nói, “và nghe tôi nói đây.” Tôi kể cho anh nghe những gì đã diễn ra ở Biệt thự Hồng. Anh ôm đầu lắng nghe tôi nói từ đầu đến cuối. Tình cảnh tệ đến mức chẳng còn lời chửi thề nào tả xiết.
“Đường Hầm Ngầm!” anh rên rỉ. “Nghĩ đến nó là tôi phát điên lên được. Sao anh có thể bình thản đến thế hả Hannay? Cô ấy đang nằm trong tay con quỷ xảo quyệt nhất trần đời, thế mà anh vẫn thản nhiên như không. Đáng lẽ anh phải phát điên lên như một thằng rồ mới phải.”
“Tôi cũng phát điên lên nếu chuyện đó giải quyết được gì, nhưng tôi đã phát tiết hết sự điên cuồng đêm qua trong cái hang ổ của Ivery rồi. Chúng ta phải lấy lại bình tĩnh, Wake à. Trước hết, tôi tin tưởng Mary tuyệt đối cho đến tận cùng trời cuối đất. Cô ấy đi theo hắn là do cô ấy tự nguyện. Tôi không biết tại sao, nhưng chắc chắn cô ấy phải có lý do, và hãy tin rằng đó là một lý do xác đáng, bởi cô ấy thông minh hơn anh và tôi nhiều... Chúng ta phải bám theo bằng mọi giá. Ivery đang trên đường trốn sang Đức, nhưng lộ trình của hắn phải qua Biệt thự Hồng, vì hắn tính quay lại đón tôi ở đó. Hắn đi xuôi xuống thung lũng; vậy nghĩa là hắn sẽ vào Thụy Sĩ qua đèo Marjolana. Đó là một đường vòng rất xa và sẽ ngốn gần trọn ngày của hắn. Tại sao hắn chọn con đường đó thì tôi chịu, nhưng sự thực là như vậy. Chúng ta buộc phải quay ngược lại bằng đèo Staub.”
“Anh đến đây bằng cách nào?” anh ta hỏi.
“Đó mới là cái số chó chết của chúng ta. Tôi lái một chiếc Daimler sáu xi-lanh xịn đét tới đây, nhưng giờ nó chỉ còn là đống sắt vụn nằm dưới đồng cỏ cách đây một dặm trên đường rồi. Chúng ta phải đi bộ thôi.”
“Không thể đi bộ được. Mất thời gian lắm. Hơn nữa, còn trạm biên phòng phải vượt qua nữa.”
Tôi cay đắng nhớ ra rằng đáng lẽ mình đã có thể xin một tấm giấy thông hành khứ hồi từ tên Do Thái Bồ Đào Nha, giá như lúc đó trong đầu tôi còn nghĩ được điều gì khác ngoài việc chạy cho tới Santa Chiara.
“Vậy thì ta phải đi đường vòng men theo sườn đồi để né đám lính gác. Đừng có bàn lùi nữa, Wake. Chúng ta đang lâm vào đường cùng rồi, nhưng còn nước thì còn tát, phải cố đến khi gục ngã mới thôi. Bằng không thì tôi sẽ nghe lời anh mà phát điên lên mất.”
“Và giả sử anh có về được St Anton, anh cũng chỉ thấy ngôi nhà đã khóa kín cửa và những kẻ trốn chạy đã cao chạy xa bay từ mấy tiếng trước bằng Đường Hầm Ngầm rồi.”
“Rất có thể. Nhưng này anh bạn, lúc nào chẳng le lói một tia hy vọng. Ván cờ chưa tàn thì việc gì phải vội buông tay chịu trói.”
“Thôi dẹp cái triết lý răn đời kiểu ngài Martin Tupper của anh đi, và nhìn lên đằng kia xem.”
Anh gác một chân lên bờ tường đá và nhìn chăm chú vào một khe nứt trên ngấn tuyết bên kia thung lũng. Bờ vai của một đỉnh núi cao đổ dốc dựng đứng xuống một cái khấc rồi lại vươn lên thành một đường cong thoai thoải tuyệt đẹp phủ đầy tuyết trắng. Toàn bộ phần bên dưới cái khấc đó vẫn chìm trong bóng râm thăm thẳm, nhưng nhìn vào thế đất dốc, tôi đoán có một nhánh sông băng phụ chảy từ đó xuống sông băng chính nơi đầu nguồn con sông.
“Đó là đèo Colle delle Rondini,” anh nói, “tức Đèo Én. Nó dẫn thẳng tới Staubthal gần Grünewald. Vào một ngày đẹp trời, tôi từng vượt qua nó trong bảy tiếng, nhưng đây không phải là con đèo dành cho mùa đông. Tất nhiên người ta từng đi qua nó, nhưng hiếm lắm... Dù vậy, nếu thời tiết không đổi, lúc này có khi vẫn đi được, và con đường đó sẽ đưa chúng ta về St Anton trước khi trời tối. Tôi tự hỏi”—anh đảo mắt đánh giá tôi từ đầu đến chân—“liệu anh có đủ sức kham nổi không.”
Cơn cứng đờ trong người tôi đã tan biến và tôi khao khát đem nỗi bồn chồn này trút vào một công việc lao lực thể xác.
“Nếu anh đi được thì tôi cũng đi được,” tôi đáp.
“Không. Nghĩ thế là anh nhầm to rồi. Anh là kẻ vạm vỡ, nhưng anh không phải dân leo núi, mà băng tuyết ở đèo Colle delle Rondini đòi hỏi phải có ngón nghề. Mạo hiểm đem theo một kẻ tay mơ lên đó là điên rồ, trừ phi chẳng còn đường nào khác. Nhưng khốn nỗi tôi chẳng thấy còn cách nào, và tôi đành liều một phen vậy. Chúng ta có thể lấy dây thừng và rìu phá băng ở quán trọ. Anh dám chơi không?”
“Chơi luôn. Bảy tiếng chứ gì. Chúng ta phải vượt qua nó trong sáu tiếng.”
“Lên tới bãi băng rồi anh sẽ biết khiêm nhường ngay thôi,” anh lạnh lùng bảo. “Tốt hơn hết là nên ăn sáng đi, vì có Chúa mới biết bao giờ chúng ta mới lại thấy thức ăn.”
Chúng tôi rời quán trọ lúc chín giờ kém năm, bầu trời không một gợn mây nhưng có một cơn gió dữ dội thổi từ hướng tây bắc, mà ngay cả ở dưới thung lũng sâu hoắm này chúng tôi cũng cảm nhận rõ rệt. Wake sải những bước dài, chậm rãi khiến tôi sốt cả ruột. Tôi muốn cuống cuồng chạy nhanh, nhưng anh ta bắt tôi phải bước đều chân. “Anh phải nghe lệnh tôi, vì tôi đã từng nếm trải trò này rồi. Nhớ lấy, kỷ luật là trên hết.”
Chúng tôi băng qua hẻm núi có dòng sông chảy xiết bằng một cây cầu ván, rồi lần mò men theo bờ phải, vượt qua bãi tích thạch để tới mõm sông băng. Đường đi vô cùng trắc trở, tuyết phủ kín những tảng đá tảng khiến tôi liên tục thụt chân xuống hố. Wake chưa từng giảm nhịp bước, nhưng thỉnh thoảng anh lại dừng lại hít hà không khí.
Tôi buông lời nhận xét rằng thời tiết trông có vẻ tốt, nhưng anh gạt đi: “Trời quang quá. Sẽ có một trận cuồng phong trên đèo và nhiều khả năng chiều nay tuyết sẽ rơi.” Anh chỉ tay về phía một đám mây vàng ục ịch đang bắt đầu phình to trên đỉnh núi gần nhất. Sau đó, tôi thấy anh rảo bước dài hơn.
“May mà tôi đã kịp thay đế và đóng đinh lại đôi ủng này ở Chiavagno,” đó là câu nói duy nhất của anh cho tới khi chúng tôi vượt qua những khối băng dựng đứng của dòng sông băng chính và rẽ vào nhánh băng nhỏ hơn chảy từ đèo Colle delle Rondini.
Đến mười giờ rưỡi, chúng tôi đã tới gần đỉnh nhánh sông băng, và tôi có thể nhìn thấy rõ một dải băng thuần khiết nằm kẹp giữa những vách đá đen ngòm dốc đến mức tuyết không đọng lại nổi, đó chính là lối trèo lên đèo. Bầu trời đã phủ đầy mây xám xịt, những dải mây xấu xí lơ lửng trên các sườn dốc cao. Chúng tôi buộc dây thừng vào người dưới chân khe nứt băng đáy, nơi khá dễ vượt qua nhờ có lớp tuyết mùa đông lấp đầy. Lẽ dĩ nhiên là Wake đi trước, và chẳng mấy chốc chúng tôi đã bước lên thác băng.
Đời tôi từng trèo đá rất nhiều và thường tự hứa sẽ dành một mùa lên rặng Alps để thử sức trên những đỉnh núi lớn. Nếu sau này có đi, tôi cũng sẽ chỉ leo những ngọn tháp đá sừng sững quanh Chamonix chứ dứt khoát không dây vào núi tuyết. Ngày hôm đó trên đèo Colle delle Rondini đã làm tôi tởm lợm băng tuyết tới tận cổ. Tôi dám chắc mình có thể sẽ thích nó nếu được leo trong tâm thế thảnh thơi du ngoạn, ung dung và vui vẻ. Nhưng bò lê bò càng lên cái hẻm băng dựng đứng đó với một trái tim trĩu nặng âu lo và nỗi thôi thúc phải vội vã đến tuyệt vọng thì quả là một cơn ác mộng tồi tệ nhất trần đời. Nơi đó dốc đứng như một bức tường băng đen trơn nhẵn, cứng như đá hoa cương. Wake là người bổ từng bậc thang băng, và tôi vô cùng khâm phục anh ta. Trông anh chẳng có vẻ gì là dùng nhiều sức, nhưng mỗi nhát bổ đều gọn gàng, tạo thành những bậc thang có kích thước vừa vặn và cách nhau một khoảng cách chuẩn xác. Trong công việc này, anh đích thực là một tay chuyên nghiệp. Tôi thầm cảm tạ trời đất vì Blenkiron không đi cùng, bởi cảnh tượng này đến một con sóc cũng phải chóng mặt hoa mắt. Những mảnh băng vụn trượt qua hai chân tôi và tôi có thể dõi mắt nhìn chúng lăn lông lốc cho tới khi dừng lại ngay phía trên khe nứt đáy.
Khối băng nằm trong bóng râm và trời lạnh cắt da cắt thịt. Trong lúc bò lên, tôi không được vung rìu vận động cho ấm người, nên đứng co một chân chờ bậc thang tiếp theo khiến tôi tê cóng cả đi. Tệ hơn nữa, chân tôi bắt đầu bị chuột rút. Thể lực tôi vốn tốt, nhưng quãng thời gian bị căng trên giá tra tấn của Ivery đã tàn phá các chi của tôi ghê gớm. Các thớ cơ ở bắp chân tôi co giật, nổi lên từng cục đau nhức nhối, đến mức tôi suýt bật khóc vì đau đớn. Tôi sợ đến thắt tim rằng mình sẽ trượt chân, nên mỗi lần nhúc nhích tôi đều phải cất tiếng báo trước cho Wake. Anh nhận ra tình cảnh của tôi nên luôn găm chặt mũi rìu vào băng trước khi cho phép tôi cựa quậy. Anh liên tục cất lời động viên tôi, giọng anh chẳng còn chút gắt gỏng nào thường ngày. Anh giống hệt như vài vị tướng khó tính mà tôi từng biết, trong chiến trận lại vô cùng hòa nhã, ân cần.
Tới đoạn cuối thì tuyết bắt đầu rơi, lớp tuyết bột mịn màng như tàn dư tràn qua từ một trận bão đang hoành hành dữ dội phía bên kia đỉnh đèo. Ngay sau đó, Wake cất tiếng hét bảo chỉ năm phút nữa là chúng tôi sẽ lên tới đỉnh. Anh nhìn đồng hồ đeo tay. “Thời gian tốt đấy chứ. Chỉ chậm hơn kỷ lục của tôi có hai mươi lăm phút thôi. Mới chưa đầy một giờ chiều.”
Điều tiếp theo tôi nhận thức được là mình đang nằm sõng soài trên một thảm tuyết để xoa dịu đôi chân bị chuột rút, trong khi Wake hét vào tai tôi rằng chúng tôi sắp phải đối mặt với một tình huống tồi tệ. Tôi lờ mờ nhận ra một trận bão tuyết mù mịt đang gầm rú, nhưng đầu óc tôi chẳng còn nghĩ được gì ngoài sự nhẹ nhõm ngập tràn khi cơn đau đớn vừa dứt. Tôi nằm ngửa vài phút, giơ thẳng hai chân lên trời và quặp các ngón chân vào trong, chờ cho các thớ cơ dãn ra về đúng vị trí cũ.
Nơi đây rõ ràng không phải là chỗ để nấn ná. Chúng tôi nhìn xuống một lòng máng ngập tràn sương mù cuồn cuộn, chốc chốc sương dạt sang bên để lộ ra một gờ đá đen ngòm tít tận bên dưới. Chúng tôi nhai vội vài mẩu sô-cô-la, trong khi Wake hét vào tai tôi bảo rằng giờ đây chúng tôi sẽ bớt phải bổ bậc thang hơn. Anh cố hết sức để động viên tôi, nhưng không thể giấu nổi vẻ âu lo. Mặt hai đứa tôi đóng băng trắng xóa như chiếc bánh cưới, và ngọn gió rít táp vào mí mắt bỏng rát như lằn roi quất.
Đoạn đầu khá dễ dàng, men theo một sườn tuyết chắc nịch chẳng cần phải đẽo bậc. Rồi băng lại xuất hiện, và chúng tôi phải đẽo xuyên qua lớp tuyết mới rơi trên bề mặt để khoét vào băng bên dưới. Công việc này nhọc nhằn đến mức Wake phải dạt sang những mỏm đá phía bên phải hẻm núi, nơi có phần khuất được luồng gió chính hung hãn. Tôi thấy dễ đi hơn, vì tôi vốn hiểu biết đôi chút về vách đá, nhưng đoạn đường vẫn vô cùng hiểm trở khi mọi mấu bám tay và chỗ đặt chân đều bị đóng một lớp băng trơn tuột. Chẳng mấy chốc chúng tôi lại bị dồn ép quay trở lại bãi băng, nhọc nhằn đẽo từng bước qua một cổ họng hẻm núi nơi hai vách đá thu hẹp lại. Ở đó gió thổi kinh hoàng, những khúc hẹp tạo thành một cái phễu hút gió khổng lồ, và chúng tôi phải dán chặt người vào vách đá mà trườn xuống, thở không ra hơi, trong khi cơn lốc gầm rú giật mạnh vào cơ thể như muốn hất tung chúng tôi xuống vực thẳm như những cọng rác.
Vượt qua chỗ đó, hẻm núi mở rộng hơn và chúng tôi gặp một sườn dốc dễ thở hơn, cho tới khi thình lình thấy mình đang cheo leo trên một lưỡi đá khổng lồ, nơi tuyết bay mù mịt cuộn xoáy như bọt nước giữa dòng nước xoáy. Khi dừng lại lấy lại hơi, Wake hét vào tai tôi rằng đây chính là Hòn Đá Đen.
“Cái gì cơ?” tôi hét trả.
“Schwarzstein ấy. Dân Thụy Sĩ gọi con đèo này là Schwarzsteinthor. Từ Grünewald cũng nhìn thấy nó đấy.”
Tôi đồ rằng trong lòng mỗi con người đều phảng phất chút mê tín. Nghe thấy cái tên đó giữa chốn hoang vu hung tợn này bỗng tiếp thêm cho tôi một nguồn tự tin mãnh liệt. Dường như tôi nhìn thấy mọi hành động của mình đều nằm trong một đại kế hoạch đã được tiền định từ trước. Chắc chắn chẳng phải ngẫu nhiên mà cái từ từng là chìa khóa mở màn cho chuyến phiêu lưu đầu tiên trong cuộc giằng co đằng đẵng này lại tái hiện ở chặng cuối cùng. Tôi cảm thấy đôi chân mình bừng lên sức mạnh mới và lồng ngực tràn trề sinh lực hơn. “Điềm lành đấy,” tôi hét lên. “Wake, anh bạn già, chúng ta nhất định sẽ thắng!”
“Đoạn khốn nạn nhất vẫn còn ở phía trước cơ,” anh bảo.
Anh nói chẳng sai. Lần mò xuống cái lưỡi đá đó để tiếp cận bãi tuyết bên dưới hẻm núi là một công việc vắt kiệt chút sức tàn cuối cùng của chúng tôi. Đến giờ tôi vẫn còn cảm nhận được cái mùi ẩm mốc, lạnh lẽo tanh nồng của đá ướt và băng giá, cùng cơn đau thấu buốt chạy dọc trán. Người Kaffir thường bảo có ma quỷ ngự trị trên những rặng núi cao, và chốn này đích thị là lãnh địa của các thế lực cõi trời không hề màng tới sinh mạng con người. Tôi ngỡ như mình đang lạc bước vào một thế giới tồn tại từ cõi vĩnh hằng trước cả khi con người xuất hiện trong cõi mộng. Nơi đây không có chỗ cho lòng trắc ẩn, các thế lực tự nhiên đang dốc toàn bộ sức mạnh bất tử của mình để đè bẹp hai kẻ tí hon dám cả gan mạo phạm thánh địa của chúng. Tôi thèm muốn hơi ấm, thèm ánh lửa bập bùng, thèm một cái cây hay một ngọn cỏ hay bất cứ thứ gì gợi nhắc đến sự chở che ấm cúng của cõi trần gian. Giờ thì tôi đã hiểu người Hy Lạp muốn nói gì khi nhắc đến nỗi kinh hoàng hoảng loạn, bởi tôi đã bị nỗi vô cảm của thiên nhiên dọa cho chết khiếp. Nhưng chính nỗi kinh hoàng ấy lại mang đến cho tôi một niềm an ủi kỳ lạ. Ivery và những mưu mô của hắn bỗng trở nên bớt đáng sợ hơn nhiều. Chỉ cần tôi thoát ra khỏi cái địa ngục băng giá này, tôi sẽ có thể đương đầu với hắn bằng một sự tự tin hoàn toàn mới mẻ.
Wake dẫn đường, bởi anh biết lối và con đường này đòi hỏi phải có người thông thạo. Nếu không thì đáng lẽ anh phải là người đi cuối cùng trên sợi dây thừng, bởi đó mới là vị trí của kẻ giỏi giang hơn khi xuống dốc. Tôi đã trải qua những giây phút thót tim khi bám theo sau lúc sợi dây căng ra, bởi tôi chẳng nhận được sự trợ giúp nào từ nó cả. Chúng tôi đi zíc zắc xuống vách đá, lúc thì bị dồn sang bãi băng của hẻm núi kế bên, lúc lại cheo leo trên sống đá ngoài rìa của Hòn Đá Đen, khi thì luồn lách qua những khe nứt hẹp và trườn qua những phiến đá trơn nhẵn đáng sợ. Tuyết không đọng lại trên đó, nhưng mặt đá lạo xạo vì lớp băng mỏng hoặc rỉ ra nước băng lạnh ngắt. Thường thì chỉ nhờ ơn Chúa che chở tôi mới không bị ngã nhào xuống vực, kéo theo cả Wake tuột khỏi chỗ bám rơi thẳng xuống khe nứt đáy tít mù bên dưới. Tôi đã trượt chân hơn một lần, nhưng lần nào cũng lấy lại được thăng bằng một cách thần kỳ. Tệ hơn nữa là Wake đang đuối sức dần. Tôi cảm nhận được anh níu nặng trĩu trên sợi dây, và từng cử động của anh không còn độ chuẩn xác như ban sáng nữa. Anh là dân leo núi kỳ cựu, còn tôi chỉ là kẻ mới vào nghề. Nếu anh gục ngã, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ xuống tới được thung lũng.
Gã này quả thực mang sẵn lòng can trường sắt đá trong xương tủy. Khi chúng tôi xuống tới chân ngọn tháp đá và ngồi co ro quay lưng lại với hướng gió, tôi thấy anh đã mấp mé bên bờ vực ngất xỉu. Bạn có thể đoán được nỗ lực kiên cường đó đã vắt kiệt của anh bao nhiêu ý chí, nhưng anh quyết không gục ngã cho tới khi đoạn nguy hiểm nhất đã trôi qua. Môi anh nhợt nhạt không còn giọt máu, anh nghẹn ngào vì cơn buồn nôn do kiệt sức đem lại. Tôi tìm thấy một bi-đông rượu mạnh trong túi áo anh, và một ngụm rượu đã giúp anh tỉnh táo lại phần nào.
“Tôi kiệt sức rồi,” anh nói. “Đoạn này đường dễ đi hơn rồi, tôi có thể chỉ hướng cho anh đi tiếp... Tốt hơn là anh cứ bỏ tôi lại đây. Tôi chỉ làm vướng chân anh thôi. Đợi đỡ hơn tôi sẽ đi tiếp sau.”
“Không đời nào, đồ ngốc già này. Anh đã đưa tôi qua được cái tảng băng chết tiệt đó thì tôi sẽ đưa anh về tận nhà.”
Tôi xoa bóp tay chân cho anh và bắt anh nuốt vài mẩu sô-cô-la. Nhưng khi gượng dậy đứng lên, đôi chân anh run rẩy lẩy bẩy như một ông già lụ khụ. May thay, phía trước là một sườn tuyết thoai thoải dễ đi, và chúng tôi trượt tuyết xuống bằng một tư thế chẳng theo quy tắc bài bản nào cả. Chuyển động lướt đi vun vút đã giúp anh tỉnh táo hơn đôi chút, và anh đã có thể dùng rìu hãm phanh lại để ngăn hai đứa khỏi lao đầu xuống khe nứt đáy. Chúng tôi băng qua nó bằng một cây cầu tuyết, rồi tiến vào những khối băng gồ ghề của dòng sông băng Schwarzstein.
Tôi không phải là dân leo núi—ít nhất là không thạo môn băng tuyết—nhưng tôi có thừa sức vóc và lúc này tôi cần dùng đến toàn bộ số vốn liếng ấy. Bởi những khối băng nhấp nhô kia quả thực là tác phẩm của quỷ dữ. Băng qua mê cung ấy giữa trận bão tuyết mù mịt, bên cạnh một người đồng hành sắp ngất lịm, yếu đến mức không thể nhảy qua nổi một khe nứt hẹp nhất, và cứ bám vào dây thừng nặng trịch như chì mỗi khi phải dùng đến nó, quả là vượt quá sức chịu đựng của tôi. Hơn nữa, mỗi bước đi đưa chúng tôi lại gần thung lũng lại càng thôi thúc tôi phải cuống cuồng vội vã, và việc phải loanh quanh trong mớ băng đông kết hỗn độn ấy chẳng khác nào cơn ác mộng khi bạn đứng chết trân trên đường ray nhìn đoàn tàu tốc hành lao tới mà chân tay bủn rủn không sao trèo lên được sân ga. Càng sớm càng tốt, tôi rời khỏi sông băng để bước sang sườn đồi, và dẫu con đường đó cũng nhọc nhằn chẳng kém gì, nhưng ít ra nó cũng giúp tôi nhắm thẳng một đường mà tiến. Wake chẳng nói lấy một lời. Khi tôi nhìn anh, gương mặt anh xám ngoét dưới ngọn gió cuồng phong vốn dĩ phải làm đôi má ửng hồng, và đôi mắt anh cứ nhắm nghiền một nửa. Anh đang lảo đảo bước đi ở giới hạn tột cùng của sức chịu đựng...
Chẳng mấy chốc chúng tôi đã đặt chân lên bãi tích thạch, và sau khi lội bì bõm qua hàng chục con suối băng nhỏ, chúng tôi bắt gặp một lối mòn dẫn ngược lên sườn đồi. Wake khẽ gật đầu khi tôi hỏi liệu đây có phải đường đúng không. Rồi tôi mừng rỡ tột cùng khi nhìn thấy một cây thông xù xì cằn cỗi.
Tôi tháo dây thừng ra và Wake ngã vật xuống đất như một khúc gỗ. “Bỏ tôi lại đi,” anh rên rỉ. “Tôi tàn đời rồi. Tôi sẽ tới sau.” Rồi anh nhắm nghiền mắt lại.
Đồng hồ chỉ hơn năm giờ chiều.
“Lên lưng tôi,” tôi bảo. “Tôi sẽ không rời anh chừng nào chưa tìm được một túp lều. Anh là một người hùng. Anh đã đưa tôi vượt qua rặng núi chết tiệt này giữa cơn bão tuyết, chuyện mà chẳng kẻ nào khác ở nước Anh làm nổi đâu. Lên đi.”
Anh nghe theo, bởi anh đã kiệt sức đến mức chẳng buồn tranh cãi. Tôi dùng chiếc khăn tay buộc chặt hai cổ tay anh lại trước ngực dưới cằm tôi, để dành hai tay đỡ lấy hai chân anh. Dây thừng và rìu phá băng tôi giấu lại trong một hốc dưới gốc thông. Rồi tôi bắt đầu chạy nước kiệu xuôi theo con đường mòn để tìm nơi có người ở gần nhất.
Sức lực trong tôi dường như vô tận và dòng máu sôi sục trong xương tủy hối thúc tôi lao về phía trước. Tuyết vẫn rơi, nhưng gió đã lặng dần, và sau cái địa ngục nơi ngọn đèo thì không khí ở đây dễ chịu chẳng khác nào mùa hè. Con đường ngoằn ngoèo băng qua bãi đá vụn ven sườn đồi rồi tiến vào những nơi mà vào mùa xuân chắc hẳn là những đồng cỏ xanh tươi trên cao. Rồi nó chạy xuyên qua những hàng cây, và tít phía dưới bên tay phải tôi có thể nghe thấy tiếng dòng sông băng đang cuộn sóng ầm ầm trong hẻm vực. Chẳng mấy chốc những túp lều hoang vắng hiện ra, cùng những bãi quây thô sơ, rồi tôi bước ra một gờ đất phía trên dòng suối và ngửi thấy mùi khói củi của một mái nhà có người ở.
Tôi tìm thấy một người nông dân trung niên trong căn nhà gỗ, mùa hè ông làm nghề dẫn đường leo núi còn mùa đông thì đi đốn củi.
“Tôi vừa cõng ông chủ tôi từ Santa Chiara về,” tôi nói, “vượt qua ngọn đèo Schwarzsteinthor. Ông ấy kiệt sức rồi và cần phải ngủ.”
Tôi đặt Wake ngồi xuống một chiếc ghế, đầu anh gục xuống ngực. Nhưng sắc mặt anh đã khá hơn.
“Anh với ông chủ anh đúng là đồ điên,” người đàn ông càu nhàu gắt gỏng, nhưng giọng điệu không hề ác ý. “Ông ấy phải ngủ ngay không thì phát sốt mất. Vượt Schwarzsteinthor giữa cái thời tiết quỷ tha ma bắt này ư! Ông ấy là người Anh à?”
“Phải,” tôi đáp, “người Anh ai cũng gàn dở thế đấy. Nhưng ông ấy là một ông chủ tốt, và là một tay leo núi quả cảm.”
Chúng tôi lột bỏ bộ đồng phục Hội Chữ thập đỏ của Wake—giờ chỉ còn là một mớ giẻ rách ướt sũng—rồi đặt anh nằm giữa những lớp chăn ấm, đặt một bình gốm lớn đựng nước nóng sưởi dưới chân anh. Vợ người tiều phu đun sữa nóng, rồi chúng tôi pha thêm chút rượu mạnh và ép anh uống từng hớp. Tôi hoàn toàn yên tâm về anh, bởi tôi từng chứng kiến tình trạng kiệt sức này nhiều lần rồi. Sáng mai anh sẽ cứng đờ như khúc gỗ, nhưng rồi sẽ hồi phục thôi.
“Giờ tôi phải đi St Anton đây,” tôi nói. “Tôi phải tới đó ngay trong đêm nay.”
“Anh đúng là mình đồng da sắt,” người đàn ông bật cười. “Tôi sẽ chỉ cho anh con đường tắt dẫn tới Grünewald, nơi có tuyến đường sắt. Nếu may mắn, anh có thể kịp chuyến tàu cuối cùng đấy.”
Tôi đưa cho ông ta năm mươi franc thay cho ông chủ tôi, nghe ông ta dặn dò đường đi nước bước, rồi sau khi ực một hơi cạn bát sữa dê và nhai nốt thanh sô-cô-la cuối cùng, tôi lại lên đường. Tôi vẫn đang trong trạng thái bị kích thích hoạt động như một cỗ máy, và tôi chạy thục mạng suốt ba dặm đường tới Staubthal mà không hề cảm thấy mệt mỏi. Tôi tới sớm hơn giờ tàu chạy hai mươi phút, và khi vừa ngồi phịch xuống băng ghế trên sân ga, toàn bộ sinh lực trong tôi bỗng chốc tan biến sạch sành sanh. Đó là điều tất yếu xảy ra sau một cơn gắng sức tột cùng. Tôi thèm ngủ đến rã rời, và khi đoàn tàu xịch tới, tôi lết vào toa xe như một kẻ vừa bị đột quỵ. Tay chân tôi chẳng còn chút sức lực nào nữa. Tôi nhận ra mình đã bị chứng mỏi rũ chân cẳng, căn bệnh thỉnh thoảng người ta mới thấy ở loài ngựa chứ hiếm khi gặp ở con người.
Suốt chuyến hành trình, tôi nằm đờ đẫn như khúc gỗ trong trạng thái mê man, và phải chật vật lắm tôi mới nhận ra ga đến để lảo đảo bước xuống tàu. Nhưng vừa bước chân ra khỏi nhà ga St Anton, tôi bỗng chốc hồi phục lại nguồn năng lượng thứ hai. Tuyết đã rơi rất dày kể từ hôm qua, nhưng giờ đã tạnh hẳn, bầu trời quang đãng và vầng trăng đang lơ lửng trên cao. Cảnh vật quen thuộc nơi đây kéo toàn bộ nỗi âu lo quay trở lại trong tôi. Một ngày vật lộn trên đèo Colle delle Rondini bỗng chốc bị xóa sạch khỏi tâm trí, tôi chỉ còn nhìn thấy quán trọ ở Santa Chiara và văng vẳng nghe thấy giọng nói khàn khàn của Wake khi nhắc đến Mary. Những đốm đèn lấp lánh hắt lên từ ngôi làng bên dưới, và phía bên phải, tôi nhìn thấy lùm cây bao bọc lấy Biệt thự Hồng.
Tôi đi đường tắt băng qua những cánh đồng để tránh ngôi thị trấn nhỏ. Tôi cắm đầu chạy, liên tục vấp ngã, bởi dẫu tinh thần đã tỉnh táo trở lại nhưng đôi chân tôi vẫn run rẩy chực quỵ xuống. Chiếc đồng hồ ở nhà ga lúc nãy cho tôi biết đã gần chín giờ rưỡi đêm.
Chẳng mấy chốc tôi đã ra tới đường cái, rồi đứng trước cổng Biệt thự Hồng. Như trong một giấc mơ, tôi thoáng nghe thấy ba tiếng còi rít lên lảnh lót. Rồi một chiếc xe hơi lớn lướt vụt qua tôi, hướng về phía St Anton. Trong tích tắc tôi đã toan cất tiếng gọi giật lại, nhưng chiếc xe đã lao vút qua và biến mất. Song tôi có một niềm tin chắc nịch rằng việc của mình nằm ở trong ngôi nhà, bởi tôi nghĩ Ivery đang ở đó, mà Ivery mới là kẻ quan trọng nhất.
Tôi bước dọc theo lối vào rải sỏi mà chẳng có lấy một kế hoạch nào trong đầu, chỉ lao đầu vào số phận một cách mù quáng. Tôi lờ mờ nhớ ra trong khẩu súng lục của mình vẫn còn ba viên đạn.
Cửa trước mở toang, tôi bước vào rồi rón rén đi dọc hành lang tiến về căn phòng nơi tôi từng gặp tên Do Thái Bồ Đào Nha. Chẳng ai ngăn cản tôi, nhưng không phải vì thiếu bóng người làm. Tôi có linh cảm rằng có người đang ở rất gần mình trong bóng tối, và tôi ngờ rằng mình vừa nghe thấy tiếng Đức thì thầm khe khẽ. Có ai đó đang đi phía trước tôi, có lẽ chính là người vừa cất tiếng, bởi tôi có thể nghe thấy những bước chân rón rén thận trọng. Trời tối đen như mực, nhưng có một vệt sáng hắt ra từ khe dưới cửa căn phòng. Rồi phía sau lưng tôi, cánh cửa sảnh lớn đóng sập lại một tiếng vang đanh gọn, cùng tiếng chìa khóa tra vào ổ xoay chuyển. Tôi đã bước thẳng vào một cái bẫy và mọi đường rút lui đều bị cắt đứt.
Đầu óc tôi bắt đầu hoạt động tỉnh táo hơn, dẫu mục đích vẫn còn mơ hồ. Tôi muốn tiếp cận Ivery và tôi tin rằng hắn đang ở đâu đó ngay phía trước mình. Thế rồi tôi nghĩ đến cánh cửa dẫn ra từ căn phòng nơi tôi từng bị giam cầm. Nếu có thể đột nhập bằng lối đó, tôi sẽ chiếm được lợi thế bất ngờ.
Tôi lần mò bên mép phải hành lang và tìm thấy một quả đấm cửa. Nó mở ra một nơi có vẻ là phòng ăn, bởi phảng phất có mùi thức ăn. Lại một lần nữa tôi có linh cảm có người đang ở gần, nhưng vì lý do bí hiểm nào đó họ không hề đụng đến tôi. Ở góc xa bên kia, tôi tìm thấy một cánh cửa khác dẫn sang căn phòng thứ hai, nơi tôi đoán là nằm liền kề với thư viện. Phía bên kia nó chắc hẳn phải là lối hành lang dẫn tới căn phòng có chiếc giá tra tấn. Toàn bộ ngôi nhà im lìm như một vỏ ốc rỗng.
Tôi đã đoán trúng. Tôi đang đứng trong chính đoạn hành lang mà mình từng đứng đêm qua. Phía trước mặt tôi là thư viện, và cũng có một khe sáng nhỏ hắt ra y hệt như trước. Thật khẽ khàng, tôi vặn quả đấm cửa rồi hé mở một khe nhỏ...
Điều đầu tiên đập vào mắt tôi là góc nghiêng khuôn mặt của Ivery. Hắn đang chăm chú nhìn về phía chiếc bàn viết, nơi có một người đang ngồi.