Ông Standfast

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Cánh Cổng Nhỏ

❊ ❊ ❊

Tôi đã dành một phần ba hành trình của mình để nhìn qua cửa sổ của một toa tàu hạng nhất, một phần ba tiếp theo ngồi trên ô tô địa phương chạy dọc theo dòng suối có cá hồi trong một thung lũng nông, và phần cuối cùng đi bộ băng qua một dãy đồi phấn trắng xuyên qua những cánh rừng sồi rộng lớn để đến nơi nghỉ chân qua đêm. Ở chặng đầu, tâm trạng tôi vô cùng tồi tệ; sang chặng thứ hai, tôi đâm ra lo lắng và hoang mang; nhưng sự tĩnh lặng và mờ ảo của chặng thứ ba đã làm dịu lại và khích lệ tâm hồn tôi, để rồi khi đặt chân đến những cánh cổng của Fosse Manor, tôi mang theo một cơn đói ngấu nghiến cùng một tâm trí bình yên.

Khi con tàu lướt êm ái trên tuyến đường sắt Great Western ngược thung lũng sông Thames, tôi ngậm ngùi ngẫm nghĩ về những nỗi gai góc trên con đường làm tròn bổn phận. Hơn một năm trời, tôi chưa từng cởi bỏ bộ đồ kaki, ngoại trừ những tháng ngày nằm viện. Họ giao cho tôi quyền chỉ huy tiểu đoàn trước trận Somme, và tôi bước ra khỏi trận chiến mệt mỏi ấy sau những cuộc giao tranh dữ dội đầu tiên vào tháng Chín với một vết nứt trên đầu cùng huân chương D.S.O. Tôi từng nhận huân chương C.B. nhờ chiến dịch Erzerum, thế nên, tính cả những huy chương ấy cùng huy chương Matabele, Nam Phi và Bắc Đẩu Bội Tinh, ngực áo tôi trông chẳng khác nào tấm bảng đeo ngực của Thượng tế. Tôi tái ngũ vào tháng Giêng, và nhận chức lữ đoàn trưởng ngay trước thềm trận Arras. Tại đó, chúng tôi đã lập nên một chiến công xuất sắc, bắt được số tù binh xấp xỉ số quân lính ta tung lên tuyến đầu. Sau trận ấy, chúng tôi được rút về nghỉ ngơi trong một tháng, rồi lại được bố trí vào một khúc chiến tuyến hiểm trở bên bờ sông Scarpe kèm theo lời ẩn ý rằng chúng tôi sẽ sớm phải tham gia một cuộc tổng tấn công. Rồi bất ngờ, tôi nhận được lệnh trở về nước trình diện Bộ Chiến tranh, để rồi từ đó bị chuyển giao cho Bullivant cùng bộ hạ của ông ta. Thế là giờ đây, tôi đang ngồi trong một toa tàu điện mặc bộ đồ tu-suy xám, bên trên giá hành lý là chiếc va-li mới tinh dán nhãn C.B. Các chữ cái viết tắt ấy là viết tắt của Cornelius Brand, vì đó chính là tên của tôi lúc bấy giờ. Một ông già ngồi ở góc toa cứ liên tục hỏi han tôi và lớn tiếng thắc mắc tại sao tôi không ra trận, trong khi một gã sĩ quan chuẩn úy trẻ măng với một vạch thương tích trên tay áo cứ nhìn tôi bằng ánh mắt khinh miễn.

Lão già ấy thuộc tuýp người thích tra hỏi, và sau khi mượn được bao diêm của tôi, lão bắt đầu tìm cách moi móc mọi chuyện về tôi. Lão là một kẻ cuồng chiến dữ dội, đồng thời tỏ ra khá bi quan về tiến độ chậm chạp của chúng ta ở mặt trận phía tây. Tôi bảo rằng tôi đến từ Nam Phi và là một kỹ sư khai mỏ.

– Anh từng chiến đấu cùng tướng Botha à? – lão hỏi.

– Không, – tôi đáp. – Tôi không phải loại người thích chiến đấu.

Gã chuẩn úy nhăn mũi lại.

– Nam Phi không có luật tổng động viên sao?

– Ơn Chúa là không có, – tôi nói, và thế là lão già liền xin phép tuôn ra một tràng những lời lẽ khó nghe. Tôi thừa biết loại người như lão nên chẳng thèm bận tâm. Lão thuộc kiểu người mà nếu chưa qua tuổi năm mươi, chắc chắn sẽ bò rạp dưới đất để xin hội đồng xét duyệt cho miễn dịch nghĩa vụ, nhưng vì đã quá tuổi nên lại bày đặt ra vẻ ra điều yêu nước. Tuy nhiên, tôi không mấy thích cái nhếch mép của gã chuẩn úy, bởi trông gã có vẻ là một thanh niên tử tế. Suốt quãng đường còn lại, tôi cứ chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ, và chẳng lấy làm tiếc nuối khi tàu đến ga.

Tôi đã có một cuộc gặp gỡ kỳ quặc nhất với Bullivant và Macgillivray. Ban đầu họ hỏi tôi có sẵn lòng tiếp tục tham gia trò chơi cũ nữa không, và tôi đã đáp là có. Tôi cảm thấy cay đắng như xát muối, bởi tôi đã quen với guồng máy quân sự và đã gặt hái được thành công ở đó. Nhìn lại tôi xem – một chuẩn úy chưa đầy bốn mươi tuổi, và nếu cuộc chiến kéo dài thêm một năm nữa, chẳng ai biết tôi có thể tiến xa đến đâu. Tôi dấn thân ra trận chẳng vì chút tham vọng nào, mà chỉ với một mong muốn cháy bỏng là thấy công việc này kết thúc. Nhưng giờ đây, tôi đã hình thành một mối quan tâm chuyên nghiệp đối với nó, tôi đang nắm giữ một lữ đoàn cừ khôi, và tôi đã nắm bắt cách thức của kiểu chiến tranh mới này giỏi chẳng kém bất kỳ tên mọt sách nào tốt nghiệp từ trường quân sự Sandhurst hay Camberley. Thế mà họ lại yêu cầu tôi vứt bỏ mọi thứ đã học để bắt đầu lại từ đầu với một nhiệm vụ mới. Tôi đành phải đồng ý vì kỷ luật là kỷ luật, nhưng sự bực bội khiến tôi chỉ muốn đập đầu cả hai người bọn họ vào nhau.

Tồi tệ hơn là họ không muốn, hoặc không thể, hé lộ bất cứ điều gì về mục đích họ cần tôi. Đó vẫn là trò chơi cũ kỹ là bắt tôi phải mò mẫm trong bóng tối. Họ yêu cầu tôi hãy đặt niềm tin và giao phó trọn vẹn bản thân vào tay họ. Họ bảo rằng tôi sẽ nhận được chỉ thị chi tiết sau.

Tôi hỏi liệu đây có phải là một việc quan trọng không.

Bullivant nheo mắt lại. – Nếu nó không quan trọng, anh có nghĩ bọn tôi lại có thể moi một vị lữ đoàn trưởng đang tại ngũ ra khỏi Bộ Chiến tranh được không? Nói thật là khó như nhổ răng vậy.

– Nó có mạo hiểm không? – đó là câu hỏi tiếp theo của tôi.

– Về lâu dài thì... nguy hiểm chết người đấy, – câu trả lời là vậy.

– Và các ông không thể cho tôi biết thêm gì nữa sao?

– Chưa thể lúc này. Anh sẽ nhận được chỉ thị sớm thôi. Hannay, anh thừa biết cả hai chúng tôi, và anh biết chúng tôi sẽ không phí phạm thời gian của một người tài giỏi vào những chuyện nhảm nhí. Chúng tôi sắp đòi hỏi ở anh một sự hy sinh lớn lao đối với lòng yêu nước. Đó sẽ là một nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, và có thể rất tàn nhẫn trước khi anh đi đến hồi kết, nhưng chúng tôi tin anh có thể làm được, và không một ai khác có khả năng đó... Anh hiểu khá rõ chúng tôi mà. Anh sẽ để chúng tôi quyết định thay cho anh chứ?

Tôi nhìn khuôn mặt già nua tinh anh và nhân hậu của Bullivant cùng ánh mắt kiên định của Macgillivray. Những con người này là bạn của tôi và họ sẽ không đem tôi ra làm trò đùa.

– Thôi được, – tôi nói. – Tôi đồng ý. Bước đầu tiên là gì?

– Cởi bỏ quân phục và quên đi việc anh từng là một người lính. Đổi tên đi. Tên cũ của anh, Cornelis Brandt, vẫn dùng được, nhưng lần này tốt hơn nên đánh vần là ‘Brand’. Hãy nhớ rằng anh là một kỹ sư vừa ở Nam Phi trở về, và anh chẳng mảy may quan tâm đến cuộc chiến tranh này. Anh không thể hiểu nổi lũ ngốc ấy đang đánh nhau vì cái gì, và anh nghĩ lẽ ra chúng ta có thể đạt được hòa bình ngay lập tức chỉ qua vài lời bàn chuyện thân thiện. Anh không cần phải tỏ ra thân Đức – nếu thích, anh hoàn toàn có thể chỉ trích gã Huns thật gay gắt. Nhưng anh phải tỏ ra cực kỳ nghiêm túc về việc vãn hồi hòa bình nhanh chóng.

Tôi đoán khóe miệng mình đã trĩu xuống, bởi Bullivant chợt phá lên cười lớn.

– Này anh bạn, chuyện đó có khó khăn gì cho cam. Thỉnh thoảng chính tôi cũng thấy muốn tranh luận theo hướng đó, mỗi khi chứng khó tiêu của tôi tái phát. Nó chẳng khó bằng việc lang thang khắp đất nước kẻ thù để bôi nhọ nước Anh, đó mới chính là nhiệm vụ trước đây của anh cơ mà.

– Tôi sẵn sàng rồi, – tôi nói. – Nhưng trước tiên tôi muốn tự mình làm một việc. Tôi phải đến thăm một người đồng đội trong lữ đoàn hiện đang nằm ở bệnh viện điều trị chấn thương do đạn pháo tại vùng Cotswolds. Nơi đó tên là Isham.

Hai người nhìn nhau trao đổi ánh mắt. – Chuyện này trông có vẻ như định mệnh vậy, – Bullivant nói. – Cứ đến Isham đi. Nơi công việc của anh bắt đầu chỉ cách đó chừng vài dặm. Tôi muốn anh dành trọn tối thứ Năm tới để làm khách của hai người phụ nữ độc thân tên là Wymondham tại Fosse Manor. Anh sẽ đến đó dưới thân phận một người Nam Phi cô đơn đi thăm một người bạn đang ốm. Họ là những con người hiếu khách và thường xuyên tiếp đón những vị khách quý mà chẳng hề hay biết.

– Và tôi sẽ nhận mệnh lệnh ở đó chứ?

– Anh sẽ nhận lệnh ở đó, và anh có nghĩa vụ phải tuân theo chúng. – Cả Bullivant và Macgillivray đều mỉm cười nhìn nhau.

Tôi vẫn miên man suy nghĩ về cuộc trò chuyện kỳ quặc ấy khi chiếc xe Ford nhỏ bé mà tôi đã gọi điện thuê từ quán trọ đưa tôi rời khỏi vùng ngoại ô của thị trấn hạt để đến với một vùng đất của những ngọn đồi nhấp nhô và những đồng cỏ xanh mướt ven sông. Đó là một buổi chiều tuyệt đẹp và hoa đầu tháng Sáu đang nở rộ trên khắp các cành cây. Nhưng tôi chẳng có tâm trí đâu mà ngắm cảnh quan và mùa hè, bởi bận đay nghiến Bullivant và nguyền rủa cái định mệnh quái ác của mình. Tôi căm ghét vai diễn mới này và hình dung trước sự nhục nhã ê chề đang chờ đón. Đóng giả làm một kẻ theo chủ nghĩa hòa bình đã là quá tồi tệ đối với bất kỳ ai, nhưng với tôi, một kẻ khỏe mạnh như bò mộng, da ngăm đen như dân du mục và trông chẳng giống người đã suýt soát tuổi bốn mươi, thì đó thực sự là một nỗi ô nhục đen tối. Đột nhập vào nước Đức với tư cách là một người Afrikander chống Anh là một cuộc phiêu lưu táo bạo, nhưng việc lang thang ở quê nhà để nói những lời nhảm nhí lại là một công việc hoàn toàn khác hẳn. Dạ dày tôiộn lên khi nghĩ đến điều đó, và tôi suýt chút nữa đã quyết định gửi điện tín cho Bullivant để xin rút lui. Có những việc mà không ai có quyền đòi hỏi một người đàng hoàng phải làm.

Khi đến Isham và tìm gặp tội nghiệp Blaikie, tâm trạng tôi chẳng khá lên chút nào. Cậu ấy từng là bạn của tôi ở Rhodesia, và sau khi chiến dịch Tây Nam Phi thuộc Đức kết thúc, cậu đã trở về nước để gia nhập một tiểu đoàn Pháo binh thuộc lữ đoàn của tôi tại Arras. Cậu đã bị chôn vùi bởi một quả đạn pháo lớn ngay trước khi chúng tôi chiếm được mục tiêu thứ hai, và được đào thoát lên mà không hề xây xát một miếng, nhưng trí óc thì ngớ ngẩn chẳng khác gì một kẻ điên. Tôi nghe nói cậu đang dần hồi phục, và đã hứa với gia đình sẽ ghé thăm ngay khi có cơ hội. Tôi tìm thấy cậu đang ngồi trên chiếc ghế dài trong vườn, trân trân nhìn thẳng về phía trước như một lính canh gác trên biển. Cậu nhận ra tôi ngay và phấn khởi lên được một giây, nhưng rồi rất nhanh chóng, cậu lại chìm đắm vào cái nhìn vô định ấy, và từng từ thốt ra nghe cẩn trọng như lời của một kẻ say rượu. Một chú chim bay vụt ra từ lùm cây, và tôi có thể thấy cậu đang gồng mình siết chặt người lại để kìm nén tiếng thét. Điều duy nhất tôi có thể làm là đặt tay lên vai cậu và vuốt ve như thể đang vỗ về một con ngựa hoảng sợ. Tận mắt chứng kiến cái giá đắt mà người bạn cũ của tôi phải trả càng khiến tôi thêm căm ghét cái thứ chủ nghĩa hòa bình kia.

Chúng tôi trò chuyện về những sĩ quan đồng ngũ và Nam Phi, bởi tôi muốn hướng suy nghĩ của cậu rời xa cuộc chiến, nhưng cậu cứ chực hướng câu chuyện quay trở lại đó.

– Cái quái quỷ này bao giờ mới kết thúc đây? – cậu hỏi.

– Ồ, thực ra nó sắp kết thúc rồi, – tôi dối trá trấn an. – Sẽ chẳng còn chiến đấu gì cho cậu và rất ít cho tớ nữa đâu. Bọn Đức đã hoàn toàn tiêu đời rồi... Việc cậu cần làm lúc này, anh bạn ạ, là ngủ mười bốn tiếng mỗi ngày và dành nửa thời gian còn lại để câu cá hồi. Mùa thu này chúng ta sẽ cùng nhau đi săn gà gù và rủ thêm vài người trong đám bạn cũ tham gia nữa.

Ai đó đặt một khay trà lên chiếc bàn bên cạnh, và tôi ngước lên nhìn thấy cô gái xinh đẹp nhất mà tôi từng gặp trong đời. Trông cô chẳng khác nào một đứa trẻ, và trước chiến tranh có lẽ vẫn còn được xếp vào hàng thiếu nữ mới lớn. Cô mặc chiếc tạp dề và chiếc váy xanh gọn gàng của lực lượng V.A.D., chiếc mũ trắng đội trên mái tóc vàng óng ả như tơ tằm được kéo sợi. Cô mỉm cười thùy mị khi sắp xếp ấm chén, và tôi thầm nghĩ chưa từng thấy đôi mắt nào vừa tinh nghịch lại vừa nghiêm nghị đến thế. Tôi ngẩn ngơ dõi theo bóng cô bước đi trên thảm cỏ, và nhớ rằng mình từng nhận xét cô di chuyển với sự uyển chuyển tự do của một thiếu niên thể thao.

– Quái quỷ thật, ai thế hả cậu? – tôi hỏi Blaikie.

– Ai cơ? Ồ, một trong những nữ điều dưỡng thôi, – cậu thẫn thờ đáp. – Có cả tiểu đội bọn họ cơ mà. Tớ chẳng phân biệt được ai với ai cả.

Không gì khiến tôi thấm thía về bệnh tình của bạn mình bằng việc cậu chẳng hề mảy may quan tâm đến một bóng hồng tươi tắn và đáng yêu nhường ấy. Chẳng mấy chốc đã hết giờ và tôi phải rời đi, khi ngoảnh lại, tôi thấy cậu lại chìm lấp vào chiếc ghế, ánh mắt dán chặt vào khoảng không, hai tay bám chặt lấy đầu gối.

Hình ảnh ấy khiến tâm trạng tôi trĩu nặng một cách khủng khiếp. Thế mà giờ đây tôi lại bị kết án phải tham gia vào một trò hề vô bổ trong sự an toàn đáng hổ thẹn, trong khi những đóa hoa tinh túy nhất của đất đời như Blaikie lại phải gánh chịu cái giá cay đắng tột cùng. Từ cậu, suy nghĩ của tôi bay xa đến chỗ lão Peter Pienaar, tôi ngồi phịch xuống bức tường ven đường và đọc bức thư cuối cùng của ông. Nó gần như làm tôi muốn gào thét. Số là Peter đã cạo râu và gia nhập Quân đoàn Không quân Hoàng gia vào mùa hè năm ngoái khi chúng tôi trở về sau vụ Greenmantle. Đó là phần thưởng duy nhất mà ông mong muốn, và mặc dù ông đã quá tuổi một cách vô lý, các nhà chức trách vẫn chấp thuận. Họ thật khôn ngoan khi không câu nệ quy tắc, bởi thị lực và thần kinh của Peter tốt chẳng kém gì bất kỳ chàng trai đôi mươi nào. Tôi biết ông sẽ làm nên chuyện, nhưng không chuẩn bị tinh thần cho việc ông vụt sáng thành công ngay lập tức. Ông đạt được chứng chỉ phi công trong thời gian kỷ lục rồi bay sang Pháp; và chẳng mấy chốc, ngay cả những gã lính bộ binh chúng tôi, những kẻ đang bận rộn di chuyển trận địa trước chiến Somme, cũng bắt đầu nghe những lời đồn thổi về chiến tích của ông. Ông bộc lộ một tài năng thiên bẩm hoàn hảo cho việc không chiến. Có rất nhiều phi công nhào lộn cừ khôi hơn, và rất nhiều người am hiểu sâu sắc hơn về khoa học của bộ môn này, nhưng chẳng ai có được bản năng thiên bẩm thực sự trong một cuộc giao tranh như Peter. Lơ lửng trên bầu trời hai dặm, ông đầy rẫy những chiêu trò chẳng khác nào khi còn tung hoành giữa những mỏm đá ở vùng Berg. Rõ ràng ông biết cách ngụy trang giữa không trung trống trải khéo léo hệt như ẩn mình trong đám cỏ dài ở vùng đồng bằng Lebombo. Những câu chuyện kỳ lạ bắt đầu lan truyền trong hàng ngũ lính bộ binh về vị phi công mới nổi này, người có thể tìm chỗ nấp ngay dưới một tầng cánh của phi đội địch trong khi tất cả những kẻ khác đang mải miết tìm kiếm ông. Tôi nhớ mình từng bàn tán về ông với những người Nam Phi khi chúng tôi rút ra nghỉ ngơi ở sát vách họ sau trận chiến đẫm máu ở Delville Wood. Một ngày trước, chúng tôi đã chứng kiến một trận không chiến đẹp mắt trên mây khi chiếc máy bay của Đức bị bắn rơi, và một sĩ quan súng máy người Transvaal mang đến bản báo cáo rằng phi công Anh chính là Pienaar. “Làm tốt lắm, lão già takhaar!” – anh ta hét lên, và bắt đầu kể lể về các chiến thuật của Peter. Hóa ra Peter có một lý thuyết rằng mỗi người đều có một điểm mù, và ông biết chính xác cách tìm ra điểm mù đó trong thế giới bầu trời. Theo ông duy trì, nơi trú ẩn tốt nhất không nằm trong đám mây hay làn sương mù, mà ẩn giấu chính trong khoảng không vô định trước tầm mắt của kẻ thù. Tôi nhận ra lối nói chuyện đó chính là phong cách đích thực của ông. Nó tương đồng với học thuyết của Peter về “bầu không khí”, “chiêu đánh lừa kép” và tất cả những nguyên tắc khác mà tâm hồn kỳ quặc của vị lão tướng đã đúc kết ra từ cuộc đời bão táp của mình.

Đến cuối tháng Tám năm đó, Peter đã trở thành một trong những cái tên nổi tiếng nhất trong Không đoàn. Nếu các bản báo cáo nhắc đến tên tuổi, ông đã trở thành anh hùng dân tộc, nhưng ông chỉ là “Trung sĩ Vô danh”, và các tờ báo, dẫu hết lời ca ngợi chiến tích của ông, cũng chỉ được phép tôn vinh Binh chủng chứ không phải cá nhân. Điều đó hoàn toàn phải phép, bởi một nửa điều kỳ diệu của Không đoàn chúng ta chính là việc không màng phô trương danh tiếng. Nhưng Quân đội Anh hiểu rõ mọi thứ về ông, và những người lính nơi chiến hào thường bàn tán về ông cứ như thể ông là một cầu thủ bóng đá xuất sắc. Có một phi công Đức rất vĩ đại tên là Lensch, một trong những anh hùng của dòng máy bay Albatross, vào cuối tháng Tám đã tuyên bố bắn hạ ba mươi hai máy bay Đồng minh. Khi ấy Peter chỉ mới có mười bảy chiếc trong tay, nhưng số lượng đang tăng lên với tốc độ chóng mặt. Lensch là một dũng tướng hùng dũng và là một tay chơi thể thao cừ khôi theo cách của hắn ta. Hắn cực kỳ nhanh nhẹn trong việc điều khiển máy bay khi giáp lá cà, nhưng Peter được cho là giỏi hơn trong việc ép đối phương phải giao chiến theo cách mình muốn. Nếu thích, ta có thể gọi Lensch là nhà chiến thuật còn Peter là nhà chiến lược. Dù sao thì cả hai cũng quyết tâm triệt hạ lẫn nhau. Có rất nhiều người coi chiến dịch này không phải là cuộc đấu giữa người Đức và người Anh, mà là cuộc quyết đấu giữa Lensch và Pienaar.

Ngày 15 tháng Chín đến, tôi bị thương nặng và được đưa vào bệnh viện. Khi tôi đủ sức khỏe để đọc báo và nhận thư trở lại, tôi bàng hoàng phát hiện ra rằng Peter đã bị bắn rơi. Sự việc xảy ra vào cuối tháng Mười khi những cơn gió tây nam dữ dội cản trở nghiêm trọng hoạt động không quân của chúng ta. Khi các nhiệm vụ ném bom hoặc trinh sát phía sau phòng tuyến kẻ thù hoàn tất, thay vì có thể lượn về vùng an toàn, chúng tôi buộc phải chật vật chiến đấu mở đường về nhà ngược chiều gió, đối mặt với hỏa lực pháo phòng không và máy bay địch. Đâu đó phía đông Bapaume trên đường trở về, Peter đụng độ với Lensch – ít nhất là theo thông cáo của báo chí Đức. Bình xăng của ông bị đạn bắn thủng lỗ chỗ và buộc phải hạ cánh xuống một khu rừng gần Morchies. Dùng nguyên văn lời của bản thông cáo Đức: “Viên phi công lừng danh của Anh, Pinner,” đã bị bắt làm tù binh.

Tôi không nhận được bức thư nào từ ông cho đến đầu năm mới, khi tôi đang chuẩn bị quay lại Pháp. Đó là một bức thư rất điềm tĩnh. Trông có vẻ như ông đã được đối xử khá tử tế, mặc dù tiêu chuẩn về sự thoải mái của ông đối với thế giới vẫn luôn ở mức thấp. Tôi suy luận rằng những kẻ bắt giữ đã không nhận ra trong thân phận viên phi công kiệt xuất ấy gã tội phạm người Hà Lan từng vượt ngục ở Đức một năm trước đó. Ông đã khám phá ra niềm vui đọc sách và tự hoàn thiện một nghệ thuật mà trước đây ông chỉ thực hiện một cách tài tử. Bằng cách nào đó, ông đã có được cuốn *Hành Trình Của Người Pilgrim*, và có vẻ như ông tìm thấy niềm vui vô bờ bến từ tác phẩm ấy. Và rồi ở đoạn cuối, một cách hoàn toàn bâng quơ, ông đề cập rằng mình bị thương nặng và chân trái sẽ không bao giờ có thể dùng lại được nữa.

Sau đó tôi nhận được thư từ ông thường xuyên hơn, còn tôi viết thư cho ông hàng tuần và gửi mọi loại bưu phẩm mà tôi có thể nghĩ ra. Những lá thư của ông luôn khiến tôi vừa cảm thấy hổ thẹn lại vừa hạnh phúc. Tôi luôn đặt niềm tin vào lão Peter, và kìa, ông đang cư xử như một vị thánh tử đạo thời kỳ đầu Cơ Đốc giáo – không một lời phàn nàn, vui vẻ hệt như đó là một buổi sáng mùa đông trên thảo nguyên cao và chúng tôi đang chuẩn bị xuất phát để săn linh dương. Tôi thừa hiểu việc mất đi một đôi chân có ý nghĩa thế nào đối với ông, bởi thể lực luôn là niềm kiêu hãnh của đời ông. Quãng đời còn lại chắc hẳn đã trải ra trước mắt ông thật xám xịt và buồn tẻ cho đến khi mồ yên mả đẹp. Thế nhưng ông viết thư với phong thái như thể mình đang ở đỉnh cao phong độ và cứ liên tục an ủi tôi về những điều bất tiện trong công việc của tôi. Hình ảnh một người đàn ông già nua kiên nhẫn, dịu dàng ấy, đang khập khiễng quanh khu trại giam và nghiền ngẫm cuốn *Hành Trình Của Người Pilgrim*, một kẻ tàn phế suốt đời sau năm tháng chói lọi huy hoàng, có lẽ đủ sức vực dậy tinh thần của cả một khối sứa mềm nhũn.

Bức thư cuối cùng này thực sự rất cảm động, bởi mùa hè đã đến và hương thơm từ những khu rừng phía sau nhà tù gợi nhắc Peter về một chốn cũ ở Woodbush, và người ta có thể cảm nhận được nỗi niềm tha hương nhức nhối trong từng câu chữ. Tôi ngồi trên bức tường đá ấy và ngẫm nghĩ xem những chiếc lá nhàu nát trên giường đời mình mới tầm thường làm sao nếu đem so với những cái gai mà Peter và Blaikie phải chịu đựng. Tôi nghĩ về Sandy ở nơi xa xôi Mesopotamia, và lão Blenkiron đang rên rỉ vì bệnh khó tiêu đâu đó trên đất Mỹ, và tôi nhận ra rằng họ chính là những con người luôn làm trọn bổn phận mà không hề một tiếng kêu ca. Kết quả là khi đứng dậy để tiếp tục hành trình, tôi đã lấy lại được ý chí kiên định của một người đàn ông. Tôi sẽ không làm hổ thẹn những người bạn của mình hay kén cá chọn canh nhiệm vụ nữa. Tôi sẽ phó thác bản thân cho sự quan phòng của Thượng Đế, bởi như Blenkiron vẫn thường nói, ơn trên sẽ luôn soi sáng nếu ta cho Ngài một cơ hội.

Không chỉ bức thư của Peter mới giúp tôi bình tâm và vững vàng trở lại. Isham nằm trên cao trong một nếp đồi cách xa thung lũng chính, và con đường tôi đang đi đưa tôi vượt qua sống núi trở lại phía bờ suối. Tôi băng qua những cánh rừng sồi lớn, trong ánh chạng vạng trông giống như một chốn xanh thẳm nào đó dưới đáy biển, rồi vượt qua một dải đồng cỏ đồi ngắn để đến rìa thung lũng. Xung quanh tôi là những cánh đồng nhỏ được bao bọc bởi những bức tường đá xám và đầy những bầy cừu mờ ảo. Phía dưới là những khu rừng mờ sẫm bao quanh nơi mà tôi đoán là Fosse Manor, bởi Con đường La Mã Fosse Way vĩ đại, thẳng tắp như mũi tên, chạy vắt qua những ngọn đồi về phía nam và uốn lượn sát khuôn viên nơi này. Tôi có thể nhìn thấy dòng suối len lỏi giữa những đồng cỏ ngập nước và nghe tiếng nước chảy róc rách qua đập tràn. Một ngôi làng nhỏ nằm yên bình trong một khúc cua của sườn đồi, và ngọn tháp nhà thờ vừa điểm bảy giờ với tiếng chuông ngọt ngào đến lạ lùng. Ngoài ra chẳng có âm thanh nào khác ngoài tiếng chim hót ríu rít và tiếng gió đêm lướt qua những ngọn sồi.

Khoảnh khắc đó mang lại cho tôi một dạng thức giác ngộ. Tôi mường tượng ra thứ mà mình đang chiến đấu vì nó, thứ mà tất cả chúng ta đang chiến đấu vì nó. Đó là sự bình yên, sâu thẳm, thiêng liêng và cổ xưa, một sự bình yên còn lâu đời hơn cả những cuộc chiến cổ nhất, sự bình yên sẽ trường tồn khi tất cả gươm giáo của chúng ta đều được rèn thành cuốc xẻng. Hơn thế nữa; bởi trong giờ phút ấy, đất nước Anh đã chiếm trọn tâm hồn tôi. Trước đây quê hương tôi là Nam Phi, và khi nghĩ đến nhà, tôi nghĩ đến những khoảng không gian ngập tràn nắng gió của thảo nguyên hay thung lũng thơm ngát ở vùng Berg. Nhưng giờ đây tôi nhận ra mình có một mái nhà mới. Tôi hiểu ra sự trân quý của vùng đất nước Anh nhỏ bé này nhường nào, mới mẻ, nhân hậu và vỗ về biết bao, hoàn toàn xứng đáng để dốc sức đấu tranh. Đổi lấy quyền tự do trên một sào đất của nơi này bằng máu của những người ưu tú nhất chúng ta là một món hời. Tôi hiểu thế nào là một nhà thơ, dẫu cho có chết tôi cũng chẳng thể làm nổi một dòng thơ. Bởi trong giờ phút ấy, tôi có một tầm nhìn tựa như đứng trên đỉnh đồi, khiến mọi rắc rối hiện tại trên đường đi bỗng trở nên vô nghĩa. Tôi không chỉ nhìn thấy chiến thắng sau chiến tranh, mà còn thấy một thế giới mới hạnh phúc hơn sau ngày chiến thắng, khi tôi được thừa hưởng một phần sự bình yên Anh quốc này và cuộn tròn trong đó cho đến cuối cuộc đời.

Một cách vô cùng khiêm nhường và lặng lẽ, tựa như một người bước qua thánh đường, tôi đi xuống đồi đến nhà gác của trang viên, và tiến đến cánh cửa ở mặt tiền bằng gạch đỏ cổ kính, ngập tràn những đóa mộc lan tỏa hương như mùi chanh nóng trong buổi chớp chiều tháng Sáu. Chiếc xe từ quán trọ đã chở hành lý đến trước, và chẳng mấy chốc tôi đang thay đồ trong căn phòng nhìn ra khu vườn nước. Lần đầu tiên sau hơn một năm, tôi mặc chiếc áo sơ mi cứng cổ và bộ áo vest dạ hội, và trong lúc thay đồ, tôi suýt cất tiếng hát vì niềm vui sướng thuần khiết. Tôi sắp bước vào một nhiệm vụ gian khổ, và đâu đó trong buổi tối hôm nay tại nơi này, tôi sẽ nhận được lệnh hành quân. Ai đó sẽ đến – có lẽ là Bullivant – và giải đáp câu đố cho tôi. Nhưng dù đó là gì đi nữa, tôi đã sẵn sàng, bởi toàn bộ con người tôi vừa tìm thấy một mục đích sống mới. Sống trong chiến hào, tầm nhìn của bạn dễ bị thu hẹp lại giữa hàng rào kẽ gai của kẻ thù ở bên này và khu nhà nghỉ gần nhất ở bên kia. Nhưng giờ đây, dường như tôi có thể nhìn xuyên qua làn sương mù để hướng tới một vùng đất hạnh phúc.

Những âm thanh lanh lảnh vang lên bên tai khi tôi bước xuống chiếc cầu thang rộng, những giọng nói hầu như chẳng ăn nhập gì với những bức tường ốp gỗ và bức chân dung gia tộc nghiêm nghị; và khi nhìn thấy các nữ chủ nhân ở sảnh lớn, tôi thấy vẻ bề ngoài của họ càng ít phù hợp với ngôi nhà hơn nữa. Cả hai người phụ nữ đều đã qua tuổi bốn mươi, nhưng cách ăn mặc lại giống như những thiếu nữ đôi mươi. Cô Doria Wymondham gầy và cao với một búi tóc màu nhạt không rõ hình thù được kẹp gọn bằng một dải lụa nhung đen. Cô Claire Wymondham thấp và tròn trịa hơn, đã cố hết sức dùng lớp phấn trang điểm vụng về để biến mình thành một ả gái giang hồ phương Tây. Họ chào đón tôi với vẻ thân thiện hờ hững mà từ lâu tôi đã phát hiện ra đó là cung cách đúng mực của người Anh đối với khách khứa; cứ như thể họ vừa tạt ngang qua và tự túc xin túc xá, và bạn rất vui mừng khi thấy họ nhưng không được phép quấy rầy thêm điều gì. Khoảnh khắc tiếp theo, họ đang rúc rích như những chú bồ câu vây quanh một bức tranh mà một thanh niên đang giơ lên dưới ánh đèn.

Đó là một gã cao gầy tầm khoảng ba mươi tuổi, mặc áo sơ mi nỉ xám và đi đôi giày phủ đầy bụi đường nông thôn. Gương mặt gầy gò của hắn tái xanh như thể sống trong nhà, và tóc trên đầu hắn có phần rậm rạp hơn hầu hết chúng ta. Trong ánh sáng ấm áp của ngọn đèn, các đường nét trên khuôn mặt hắn hiện lên rất rõ, và tôi tò mò quan sát, bởi hãy nhớ rằng, tôi đang chờ đợi một người xa lạ trao cho mình chỉ lệnh. Hắn có chiếc cằm dài, khá vững chắc và cái miệng bướng bỉnh với những nếp nhăn cau có ở khóe môi. Nhưng điểm nổi bật nhất chính là đôi mắt. Tôi có thể miêu tả chúng xác thực nhất bằng cách nói rằng chúng trông có vẻ hừng hực – không phải kiểu hung dữ hay tức giận, mà bồn chồn đến mức trông có vẻ như đau nhức về mặt thể xác và chỉ muốn được chườm nước lạnh.

Họ kết thúc cuộc trò chuyện về bức tranh – sử dụng thứ biệt ngữ mà tôi không hiểu nổi một chữ – và cô Doria quay sang tôi cùng chàng thanh niên kia.

– Em họ tôi, Launcelot Wake – còn đây là ông Brand.

Chúng tôi gật đầu chào lạnh lùng và tay của anh chàng Wake đưa lên vuốt tóc theo một cử chỉ đầy tự ý thức.

– Barnard đã thông báo dọn cơm chưa nhỉ? Nhân tiện, Mary đâu rồi?

– Con bé vừa về đến nơi năm phút trước và chị đã bắt nó đi thay đồ, – cô Claire nói. – Chị không đời nào để con bé phá hỏng buổi tối bằng cái bộ đồng phục gớm ghiếc ấy. Nó muốn giả trang thế nào ngoài trời thì tùy, nhưng ngôi nhà này dành cho những người văn minh.

Người quản gia xuất hiện và lầm bầm điều gì đó. – Nào chúng ta đi thôi, – cô Doria kêu lên, – vì tôi chắc chắn anh đang chết đói rồi, ông Brand ạ. Với lại Launcelot đã phải đạp xe mười dặm đường đấy.

Phòng ăn hoàn toàn khác biệt với sảnh lớn. Các tấm gỗ ốp tường đã được lột bỏ, tường và trần nhà được phủ bằng một lớp giấy dán nhung màu đen tuyền, trên đó treo những bức tranh kỳ dị nhất đặt trong những chiếc khung mạ vàng xỉn màu lớn. Tôi chỉ có thể nhìn chúng mập mờ, nhưng trông chúng giống như một mảng màu sắc hỗn độn xấu xí. Gã thanh niên gật đầu ra hiệu về phía những bức tranh ấy. – Tôi thấy cuối cùng các vị cũng treo bộ tranh của Dégouses lên rồi nhỉ, – hắn nói.

– Chúng tuyệt diệu làm sao! – cô Claire thốt lên. – Thật tinh tế, chân thành và dũng cảm làm sao! Doria và tôi đang sưởi ấm tâm hồn mình bên ngọn lửa của chúng.

Người ta đã đốt một thứ gỗ thơm nào đó trong phòng, tạo nên một mùi hương kì lạ đến phát ốm. Mọi thứ ở nơi này đều gượng gạo, bứt rứt và bất bình thường – những chiếc chụp đèn trên bàn, đĩa hoa quả giả bằng sứ đặt ở trung tâm, những tấm rèm sặc sỡ và những bức tường ác mộng. Nhưng thức ăn thì tuyệt hảo. Đó là bữa tối ngon nhất mà tôi từng được thưởng thức kể từ năm 1914.

– Xin hãy nói cho tôi nghe, ông Brand, – cô Doria lên tiếng, gương mặt dài trắng bệch chống lên bàn tay đeo đầy nhẫn. – Ông là người một nhà với chúng tôi chứ? Ông cũng đang nổi dậy chống lại cuộc chiến điên rồ này phải không?

– Ồ, vâng, – tôi đáp, cố nhớ lại vai diễn của mình. – Tôi nghĩ chỉ cần một chút lẽ phải thông thường là có thể giải quyết ổn thỏa ngay lập tức.

– Chỉ cần một chút lẽ phải thì cuộc chiến đã chẳng bao giờ nổ ra, – anh chàng Wake tiếp lời.

– Anh Launcelot là một người từ chối tòng quân vì lương tâm đấy, ông biết không, – cô Doria nói.

Tôi hoàn toàn không biết điều đó, bởi trông hắn chẳng có nét gì giống một người lính cả... Tôi vừa định hỏi xem hắn từng chỉ huy đơn vị nào, thì chợt nhớ ra mấy chữ viết tắt đó còn có nghĩa là “Người phản kháng vì lương tâm”, và kịp thời dừng lại.

Đúng lúc đó, có ai đó khẽ khàng trượt vào chiếc ghế trống bên tay phải tôi. Tôi quay sang và nhận ra cô gái điều dưỡng V.A.D. từng mang trà cho Blaikie vào chiều hôm đó tại bệnh viện.

– Anh ấy đã được bộ của mình miễn dịch vụ, – người phụ nữ tiếp tục nói, – bởi anh ấy là một công chức, thế nên anh ấy chưa từng có cơ hội ra tòa bày tỏ quan điểm, nhưng không ai làm được những công việc ý nghĩa hơn anh ấy cho chính nghĩa của chúng ta. Anh ấy nằm trong ban chấp hành của tổ chức L.D.A., và đã có những câu hỏi chất vấn về anh ấy tại Nghị viện.

Gã đàn ông có vẻ không thoải mái lắm với bản tiểu sử này. Hắn liếc nhìn tôi đầy lo lắng và định cất lời giải thích nào đó, nhưng cô Doria đã lạnh lùng cắt ngang. – Hãy nhớ quy tắc của chúng ta, Launcelot. Không có những tranh cãi chiến tranh nặng nề nào dưới mái nhà này cả.

Tôi đồng ý với cô ta. Cuộc chiến từng gắn kết chặt chẽ với cảnh quan mùa hè dẫu cho nó yên bình, và với những căn phòng cổ kính cao quý của trang viên. Nhưng trong căn phòng ăn điên rồ mang hơi hướng mốt thời thượng này, nó lại trở nên lạc điệu đến gai người.

Sau đó họ nói về những chuyện khác. Chủ yếu là về tranh ảnh hay những người bạn chung, và đôi chút về sách vở. Họ chẳng mảy may chú ý đến tôi, điều đó thật may mắn, bởi tôi mù tịt về những vấn đề này và chẳng hiểu nổi một nửa ngôn từ. Nhưng có lần cô Doria cố gắng kéo tôi vào cuộc. Họ đang bàn về một cuốn tiểu thuyết Nga nào đó – một cái tên giống như *Những Linh Hồn Ghẻ Lở* – và cô hỏi tôi đã đọc nó chưa. Thật là một cơ duyên kỳ lạ, tôi đã đọc rồi. Nó tình cờ lọt vào chiến hào của chúng tôi ở vùng Scarpe, và sau khi tất cả chúng tôi đều đọc ngắc ngoải ở chương thứ hai, nó đã biến mất trong vũng bùn đúng như bản chất tự nhiên của nó. Người phụ nữ ca ngợi tính “sắc sảo” và “vẻ đẹp thâm trầm” của tác phẩm. Tôi hùa theo và thầm tự chúc mừng vì lần thoát thân thứ hai – bởi nếu câu hỏi đó được đặt ra thẳng thừng, tôi sẽ miêu tả nó chẳng khác nào thứ rác rưởi Chúa quên lãng.

Tôi quay sang cô gái, người đang mỉm cười chào đón tôi. Tôi từng nghĩ cô xinh đẹp trong bộ đồng phục điều dưỡng V.A.D., nhưng giờ đây, trong chiếc áo đen mỏng tang và mái tóc không còn bị che khuất bởi chiếc mũ, cô hiện lên là sinh linh mê hoặc nhất mà bạn từng thấy. Và tôi còn nhận ra một điều nữa. Vẻ đẹp trên gương mặt trẻ trung ấy không chỉ dừng lại ở dung mạo. Vương trán rộng, thấp cùng đôi mắt biết cười mang một vẻ thông minh đến kinh ngạc. Cô có một năng lực kỳ lạ khiến đôi mắt bỗng trở nên nghiêm nghị và sâu thẳm, tựa như một dòng sông lấp lánh thu mình lại thành một hồ nước yên ả.

– Chúng ta chưa từng được giới thiệu chính thức, – cô nói, – nên hãy để em tự vén màn bí mật nhé. Em là Mary Lamington và đây là các dì của em... Anh thực sự thích cuốn *Những Linh Hồn Ghẻ Lở* đó sao?

Trò chuyện với cô thật dễ dàng biết bao. Và thật kỳ lạ, sự hiện diện thuần túy của cô đã quét sạch đi cảm giác ngột ngạt mà tôi từng chịu đựng trong căn phòng đó. Bởi cô thuộc về thiên nhiên phóng khoáng, thuộc về ngôi nhà cổ kính và thuộc về thế giới rộng lớn ngoài kia. Cô thuộc về cuộc chiến, và thuộc về thế giới hạnh phúc hơn phía bên kia cuộc chiến – một thế giới phải giành được bằng cách kiên cường bước qua cuộc đấu tranh chứ không phải trốn chạy nó, giống như hai người phụ nữ ngốc nghếch kia.

Tôi có thể thấy ánh mắt của Wake thường xuyên hướng về phía cô gái, trong khi hắn vẫn đang ba hoa khoác lác và thuyết giảng còn các tiểu thư nhà Wymondham thì lải nhải không ngớt. Chẳng mấy chốc cuộc trò chuyện dường như rời khỏi những con đường nghệ thuật ngập tràn hoa lá để tiến sát một cách nguy hiểm đến những chủ đề cấm kỵ. Hắn bắt đầu lăng mạ các vị tướng lĩnh của chúng ta nơi chiến trường. Tôi không thể không lắng nghe. Chân mày của cô Lamington hơi nhíu lại như tỏ ý không bằng lòng, và cơn giận trong tôi bắt đầu dâng trào.

Hắn tuôn ra đủ mọi thứ chỉ trích ngu xuẩn – sự bất tài, sự hèn nhát, sự nhũng nhiễu. Tôi không thể tưởng tượng nổi hắn kiếm đâu ra mấy thứ đó, bởi ngay cả gã lính tồi tệ nhất bị cấm phép cũng chưa từng gom nhóp nổi một đống lời nhảm nhí đến thế. Tệ nhất là hắn còn đòi tôi phải đồngùa theo hắn.

Tôi phải huy động toàn bộ kỷ luật của bản thân để kìm nén. – Tôi không rành về chủ đề này lắm, – tôi nói, – nhưng ở tận Nam Phi tôi từng nghe đồn rằng việc chỉ huy của quân đội Anh chính là điểm yếu. Tôi đoán có khá nhiều điều đúng trong những gì anh nói đấy.

Có lẽ chỉ là do tôi tưởng tượng, nhưng cô gái bên cạnh dường như đã thì thầm câu “Làm tốt lắm!”.

Wake và tôi không ở lại lâu trước khi ra sảnh join cùng các quý cô; tôi chủ đích rút ngắn thời gian, bởi tôi vô cùng sợ hãi rằng mình sẽ mất bình tĩnh và phá hỏng mọi chuyện. Tôi đứng dựa lưng vào lò sưởi trong khoảng thời gian đủ để một người hút xong một điếu thuốc, mặc cho hắn tha hồ ba hoa, trong khi tôi cứ đăm đăm nhìn thẳng vào mặt hắn. Đến lúc này, tôi hoàn toàn chắc chắn rằng Wake không phải là kẻ sẽ trao cho tôi chỉ thị. Hắn không hề tham gia vào một vò chơi gián điệp nào cả. Hắn chỉ là một gã quái đản hoàn toàn trung thực, nhưng không phải là một kẻ cuồng tín, bởi bản thân hắn cũng chẳng lấy gì làm chắc chắn. Hắn đã vô tình đánh mất lòng tự trọng của mình và đang cố gắng tranh luận để tìm lại nó. Hắn sở hữu một bộ óc khá uyên bác, bởi những lý do hắn đưa ra để biện minh cho việc bất đồng với phần lớn đồng bào mình đều có lý xét trên một khía cạnh nào đó. Tôi chắc sẽ chẳng màng tranh luận công khai với hắn đâu. Nếu ai đó kể cho tôi nghe về một gã như thế cách đây một tuần, tôi chắc chắn sẽ phát ốm khi nghĩ về hắn. Nhưng giờ thì tôi không còn ghét hắn nữa. Tôi cảm thấy chán ngấy hắn và đồng thời cũng vô cùng thương hại hắn. Bạn có thể nhận thấy hắn bồn chồn hệt như một con gà mái mắc dịch.

Khi chúng tôi quay trở lại sảnh, hắn thông báo rằng mình phải lên đường, và lôi kéo cô Lamington đi giúp hắn tìm chiếc xe đạp. Hóa ra hắn đang trọ tại một quán trọ cách đó chừng mười dặm để ở lại câu cá trong vài ngày, và tin tức đó không hiểu sao lại khiến tôi có thiện cảm với hắn hơn. Chẳng mấy chốc các quý cô trong nhà xin phép lui về phòng ngủ để giữ gìn nhan sắc, còn tôi được để mặc tự do với những suy nghĩ của riêng mình.

Tôi ngồi hút thuốc trong sảnh một lúc lâu, tự hỏi khi nào thì người giao thông liên lạc mới xuất hiện. Đã muộn lắm rồi và chẳng có dấu hiệu chuẩn bị nào trong nhà để tiếp đón bất kỳ ai. Người quản gia bước vào với một khay đồ uống và tôi hỏi xem ông ta có đang mong đợi vị khách nào nữa vào tối nay không.

– Tôi không nghe thấy ai nói gì cả, thưa ngài, – câu trả lời của ông ta là vậy. – Không có bức điện nào mà tôi biết, và tôi cũng không nhận được chỉ thị nào cả.

Tôi châm tẩu thuốc và ngồi đọc một tờ báo tuần trong suốt hai mươi phút. Sau đó tôi đứng dậy ngắm nhìn những bức chân dung của gia đình. Ánh trăng chiếu qua ô cửa sổ mắt cáo mời gọi tôi bước ra ngoài trời như một liều thuốc chữa dã chiến cho nỗi lo âu. Đã quá mười một giờ đêm, và tôi vẫn hoàn toàn mù tịt về bước đi tiếp theo của mình. Thật là một điều điên tiết khi phải gồng mình lên cho một nhiệm vụ khó chịu mà bánh xe của cỗ máy quái quỷ ấy cứ ì ra không chịu chạy.

Bên ngoài ngôi nhà, vượt qua khoảng sân lát đá, thảm cỏ trải dài ngập tràn ánh trăng trắng xóa, vươn tận mép dòng suối, nơi nay đã phình rộng thành một hồ nước thu nhỏ. Ngay bờ nước là một khu vườn nhỏ mang thiết kế trang trọng với những bức lan can bằng đá xám giờ đây lấp lánh như cẩm thạch sẫm màu. Những luồng hương thơm ngào ngạt bốc lên từ đó, bởi những chùm hoa tử đinh hương vừa tàn và hoa táo gai thì đang nở rộ rực rỡ. Từ trong bóng râm của khu vườn, bất chợt vang lên một giọng hát tựa chim sơn ca.

Đó là bài hát cổ “Cherry Ripe”, một giai điệu quen thuộc mà tôi thường chỉ nghe từ những chiếc đàn phong cầm trên đường phố. Nhưng khi được cất lên giữa đêm trăng thơm ngào ngạt, nó dường như chứa đựng toàn bộ thứ ma lực vương vấn của một nước Anh cổ xưa và của vùng quê thánh thiện này. Tôi bước qua ranh giới khu vườn và nhìn thấy gương mặt của cô gái Mary.

Cô nhận thức được sự hiện diện của tôi, liền quay người về phía tôi.

– Em đang tìm anh đây, – cô nói, – bây giờ khi ngôi nhà đã yên tĩnh. Em có điều muốn nói với anh, Tướng quân Hannay.

Cô biết tên tôi và chắc chắn phải có liên quan nào đó đến tổ chức này. Ý nghĩ đó khiến tôi vô cùng mê mẩn.

– Tạ ơn Chúa vì tôi có thể trò chuyện với cô một cách tự do, – tôi thốt lên. – Cô là ai và làm gì ở cái ngôi nhà đó với cái đám người kiểu ấy chứ?

– Các bà dì đáng kính của em ư? – Cô bật cười khúc khích. – Họ nói rất nhiều về tâm hồn của mình, nhưng thực ra họ đang ám chỉ thần kinh của họ. Ơ hay, họ chính là thứ mà anh gọi là thuật ngụy trang của em đấy, và là một lớp ngụy trang cực kỳ hiệu quả nữa chứ.

– Thế còn gã công tử bột xác vo ve kia?

– Tội nghiệp Launcelot! Vâng – cũng là ngụy trang nốt – có lẽ là một chút cao cấp hơn thế. Anh đừng phán xét anh ấy quá khắc nghiệt.

– Nhưng... nhưng mà... – Tôi không biết phải diễn đạt thế nào và ngập ngừng vì quá háo hức. – Làm sao tôi biết được cô có phải là đúng người để tôi trao đổi không? Cô thấy đấy, tôi đang tuân theo mệnh lệnh, nhưng tôi chẳng nhận được chỉ thị nào về cô cả.

– Em sẽ đưa cho anh bằng chứng, – cô nói. – Ba ngày trước, Sir Walter Bullivant và ông Macgillivray đã bảo anh đến đây tối nay và chờ đợi những chỉ thị tiếp theo tại đây. Anh đã gặp họ trong căn phòng hút thuốc nhỏ phía sau Câu lạc bộ Rota. Anh được yêu cầu lấy tên là Cornelius Brand, và tự biến mình từ một vị tướng thành công thành một kỹ sư Nam Phi theo chủ nghĩa hòa bình. Có đúng thế không?

– Hoàn toàn chính xác.

– Suốt cả buổi tối anh vẫn luôn bồn chồn tìm kiếm người đưa tin để trao cho anh những chỉ thị đó. Hãy trút bỏ gánh nặng trong lòng đi. Sẽ chẳng có người đưa tin nào đến đâu. Anh sẽ nhận lệnh từ em.

– Tôi không thể nhận chúng từ một nguồn nào đáng hoan nghênh hơn thế, – tôi nói.

– Được nói khéo lắm. Nếu anh cần thêm bằng chứng xác thực, em có thể kể cho anh nghe rất nhiều về những việc làm của chính anh trong ba năm qua. Em có thể giải thích cho anh – dẫu anh chẳng cần giải thích – từng bước trong vụ án Viên Đá Đen. Em nghĩ mình có thể vẽ ra một tấm bản đồ khá chính xác về hành trình đến Erzerum của anh. Anh đang mang một bức thư của Peter Pienaar trong túi – em có thể đọc van vách nội dung của nó. Anh đã sẵn sàng tin tưởng em chưa?

– Bằng cả trái tim mình, – tôi đáp.

– Tốt. Vậy mệnh lệnh đầu tiên của em sẽ thử thách anh khá nặng đấy. Bởi em chẳng có mệnh lệnh nào khác ngoài việc bảo anh hãy đi và đắm mình vào một lối sống đặc biệt. Nhiệm vụ đầu tiên của anh là có được “bầu không khí”, như người bạn Peter của anh thường nói. Ồ, em sẽ chỉ cho anh nơi cần đến và cách hành xử ra sao. Nhưng em không thể bắt anh phải làm bất cứ điều gì, mà chỉ sống một cách vô tư với đôi mắt và đôi tai rộng mở cho đến khi anh cảm nhận được “linh hồn” của tình huống.

Cô dừng lại và đặt một tay lên tay áo tôi.

– Sẽ không dễ dàng đâu. Nó sẽ làm em phát điên lên mất, và sẽ còn là một gánh nặng lớn hơn nhiều đối với một người đàn ông như anh. Anh phải chìm sâu vào cuộc sống của tầng lớp nửa vời, những con người mà cuộc chiến này chưa từng chạm đến hoặc chạm đến theo chiều hướng sai lệch, những kẻ bới lông tìm vết cả ngày và mải mê với những thứ mà anh và em sẽ gọi là sở thích ích kỷ nhỏ nhoi. Vâng. Những người giống như các dì của em và Launcelot, chỉ có điều phần lớn ở một tầng lớp xã hội khác. Anh sẽ không sống trong một trang viên cổ kính thế này đâu, mà ở giữa những ngôi nhà “mang phong cách nghệ thuật” kệch cỡm nhỏ bé. Anh sẽ nghe thấy mọi thứ mà anh coi là thiêng liêng bị chế giễu và lên án, mọi thứ điên rồ ghê tởm được tung hô, và anh phải ngậm miệng lại và giả vờ đồng tình. Anh sẽ chẳng có việc gì trên đời phải làm ngoài việc để cho lối sống đó ngấm vào người, và như em đã nói, hãy giữ cho đôi mắt và đôi tai của mình luôn rộng mở.

– Nhưng cô phải cho tôi chút manh mối về việc tôi nên tìm kiếm điều gì chứ?

– Mệnh lệnh của em là không cho anh manh mối nào cả. Các thủ lĩnh của chúng ta – của anh và của em – muốn anh đến nơi anh chuẩn bị đến mà không mang theo bất kỳ định kiến nào. Hãy nhớ rằng chúng ta vẫn đang ở giai đoạn thu thập tình báo của vụ việc. Thời điểm cho một kế hoạch chiến dịch vẫn chưa tới, và càng chưa phải lúc cho hành động.

– Hãy nói cho tôi nghe một điều, – tôi nói. – Chúng ta đang theo đuổi một việc thực sự lớn lao phải không?

– Một việc – thực sự – lớn lao, – cô chậm rãi nói với vẻ vô cùng nghiêm nghị. – Anh, em và khoảng một trăm người khác đang săn lùng gã đàn ông nguy hiểm nhất trên toàn thế giới. Cho đến khi chúng ta thành công, mọi hành động của nước Anh sẽ đều bị tê liệt. Nếu chúng ta thất bại hoặc thành công quá muộn, phe Đồng minh có thể sẽ không bao giờ giành được chiến thắng vốn thuộc về họ. Em sẽ nói cho anh một điều để cổ vũ tinh thần. Đây phần nào là một cuộc chạy đua với thời gian, thế nên cõi luyện ngục của anh sẽ không kéo dài quá lâu đâu.

Tôi buộc phải tuân theo, và cô biết điều đó, bởi cô mặc nhiên coi sự sẵn lòng của tôi là hiển nhiên.

Từ chiếc ví nhỏ bằng vàng, cô lấy ra một chiếc hộp tí hon, mở nắp và rút ra một vật trông giống như một tấm tem màu tím có hình Thập giá Thánh Andrew màu trắng ở trên.

– Anh dùng loại đồng hồ nào? À, đồng hồ vỏ mở. Hãy dán thứ này vào mặt trong nắp. Có thể một ngày nào đó anh sẽ được yêu cầu phải trưng ra nó... Còn một điều nữa. Ngày mai hãy mua một cuốn *Hành Trình Của Người Pilgrim* và học thuộc lòng nó. Sẽ có ngày anh nhận được những bức thư và thông điệp mà văn phong của những người bạn chúng ta thường gợi nhớ đến John Bunyan... Ngày mai sẽ có chiếc xe chờ sẵn ở cửa để bắt chuyến xe lúc mười giờ rưỡi, và em sẽ đưa cho anh địa chỉ căn phòng đã thuê sẵn cho anh... Ngoài ra em không còn gì để nói nữa, ngoại trừ việc cầu xin anh hãy diễn cho tròn vai và kiềm chế tính khí của mình. Anh đã cư xử rất nhã nhặn trong bữa tối đấy.

Tôi hỏi câu cuối cùng khi chúng tôi chúc nhau ngủ ngon ở sảnh lớn. – Liệu tôi có được gặp lại cô nữa không?

– Sớm thôi, và rất thường xuyên, – câu trả lời là vậy. – Hãy nhớ rằng chúng ta là đồng nghiệp đấy.

Tôi bước lên lầu với cảm giác được an ủi một cách kỳ lạ. Trước mắt tôi là một khoảng thời gian tồi tệ tột cùng, nhưng giờ đây nó đã được tô điểm và khoác lên tấm áo rực rỡ bởi hình bóng của cô gái vừa hát bài “Cherry Ripe” trong khu vườn. Tôi thầm ca ngợi sự khôn ngoan của lão cáo già Bullivant trong việc lựa chọn người trung gian, bởi tôi có điên mới chịu nhận những mệnh lệnh như thế từ bất kỳ ai khác.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John Buchan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.