Ông Standfast

Lượt đọc: 22 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
St Anton

❊ ❊ ❊

Mười ngày sau, Joseph Zimmer, một phu khuân vác người Arosa, bước ra khỏi nhà ga nhỏ bé của St Anton rồi nheo mắt trước ánh nắng băng giá. Gã khoác trên mình chiếc quần thô kệch, nhăn nhúm đúng kiểu dân lao động, nhưng lại chưng diện một chiếc áo săn cũ kỹ bằng vải nhung sọc tăm do người chủ cũ gốc Đức truyền lại; gã nói thứ tiếng cổ họng đặc trưng vùng Grisons, và dồn toàn bộ gia tài vào một chiếc ba lô to bè. Gã đưa mắt nhìn xuống ngôi làng cổ nhỏ nhắn nép mình bên mặt hồ đóng băng, nhưng mục đích chuyến đi của gã lại nằm ở khu làng mới mọc lên chừng mười năm trở lại đây về phía nam nhà ga, nơi la liệt khách sạn cùng các căn biệt thự. Sau vài câu hỏi han ngập ngừng với nhân viên nhà ga, một bác xà ích bên ngoài rốt cuộc đã chỉ đường cho gã tới nơi cần tìm: căn nhà nhỏ của goá phụ Summermatter, nơi trú ngụ của một tù binh Anh diện quản chế tên là Peter Pienaar.

Gã phu khuân vác Joseph Zimmer vừa trải qua một hành trình dài dằng dặc và vòng vèo. Cách đó nửa tháng, gã vẫn còn mang quân phục Thiếu tướng Lục quân Anh. Với thân phận ấy, gã từng ngụ tại một khách sạn đắt đỏ ở Paris, cho tới một buổi sáng nọ, trong bộ âu phục dạ xám và với một bên chân tập tễnh, gã bước lên chuyến tàu tốc hành Paris-Địa Trung Hải cùng chiếc vé tới viện dưỡng bệnh dành cho sĩ quan tại Cannes. Kể từ đó, gã tụt dần trên nấc thang xã hội. Tới Dijon, gã vẫn còn là một người Anh, nhưng sang đến Pontarlier, gã đã biến thành một gã chào hàng người Mỹ gốc Thụy Sĩ trở về quê hương để thanh lý gia sản của cha. Đến Berne, gã khập khiễng thấy rõ; và tới Zurich, tại một khách sạn nhỏ nơi ngõ hẻm heo hút, gã đã hoàn toàn hoá thân thành một bác nông dân. Bởi ở đó gã gặp lại một người bạn, người đã kiếm cho gã bộ quần áo mang thứ mùi khăm khẳm kỳ quặc, nồng nặc hơn nhiều so với dạ Tweed vùng Harris – thứ mùi đặc trưng trên y phục của hầu hết các hướng dẫn viên và mọi phu khuân vác Thụy Sĩ. Gã cũng có thêm một cái tên mới và một bà cô già, người mà ít lâu sau đã dang rộng vòng tay đón gã, rồi giải thích với bè bạn rằng đây chính là cháu trai bà từ Arosa, ba mùa đông trước bị thương ở chân lúc đốn củi nên được miễn quân dịch.

Thật tình cờ, một quý ông Thụy Sĩ tốt bụng hay tin về anh chàng Joseph chăm chỉ đã đứng ra tìm việc giúp gã. Vị nhà từ thiện nọ vốn có sở thích giúp đỡ các tù binh Pháp và Anh từ Đức trở về; ông nhớ ra có một viên sĩ quan người Nam Phi cọc cằn, chân cẳng thương tật, đang cần người hầu cận. Nghe đâu đó là một lão già khó tính phải ở riêng một mình, và vì nói được tiếng Đức nên nếu có một người bản xứ Thụy Sĩ chăm nom thì hẳn sẽ dễ chịu hơn. Joseph có kỳ kèo đôi chút về tiền công, nhưng nghe lời khuyên của bà cô, gã đã nhận việc. Mang theo tập giấy tờ tuỳ thân hoàn hảo cùng cả kho ký ức được bịa đặt sẵn (gã đã mất khối thời gian để nhồi nhét tên các đỉnh núi và đèo dốc từng băng qua), gã lên đường tới St Anton, không quên gửi trước một bức thư sai chính tả toe toét để báo tin mình sắp đến. Gã hầu như mù chữ, nhưng lại rất giỏi đọc bản đồ và đã nghiên cứu kỹ lưỡng; gã hài lòng nhận thấy thung lũng St Anton mở ra con đường rất thuận tiện để sang Italy.

Khi con tàu xuôi về phương nam, những suy nghĩ miên man của gã phu khuân vác hẳn sẽ khiến những hành khách cùng khoang hạng ba ngột ngạt phải kinh ngạc. Gã đang nhớ lại cuộc trò chuyện mấy ngày trước tại một quán cà phê ở Dijon với một thanh niên người Anh chuẩn bị đi Modane...

Chúng tôi tình cờ đụng mặt nhau trong cuộc tản mác kỳ lạ ấy, khi mỗi người rẽ sang một ngả vào những thời điểm khác nhau mà không hề tò mò về công việc của đối phương. Wake chào tôi với vẻ ngượng ngùng và ngỏ lời mời cùng ăn tối.

Tôi vốn vụng về trong việc đón nhận lời xin lỗi, và những lời trần tình của Wake càng khiến tôi bối rối hơn cả anh. “Đôi khi tôi hành xử tệ như một thằng hèn,” anh nói. “Anh biết đấy Hannay, tôi đâu phải kẻ tồi tệ như những lời tôi đã thốt ra đêm hôm đó.”

Tôi ậm ừ bảo anh đừng nói nhảm – một câu xã giao cửa miệng. Điều làm tôi bận lòng là người đàn ông này đang quằn quại đau khổ. Nỗi đau ấy hiện rõ mồn một trong mắt anh. Nhưng chính tối hôm đó, tôi lại cảm thấy gần gũi với Wake hơn bao giờ hết, và chúng tôi đã trở thành những người bạn thực sự khi anh dốc cạn lòng mình trước tôi. Nỗi khổ của anh nằm ở chỗ anh có thể giãi bày ruột gan như thế, trong khi những người bình thường, lành mạnh chẳng mấy ai đi mổ xẻ cảm xúc của mình. Wake lại làm vậy, và tôi nghĩ điều đó đem lại cho anh sự nhẹ nhõm.

“Đừng nghĩ tôi từng là tình địch của anh. Tôi chẳng đời nào dám cầu hôn Mary, cũng như chẳng bao giờ dám lấy một trong các bà dì của cô ấy vậy. Nàng quá đỗi tự tin, quá đỗi rạng ngời trong sự thuần khiết khiến tôi phải khiếp sợ. Mẫu người như tôi sinh ra không phải để kết hôn; phụ nữ phải là tâm điểm của cuộc sống, còn chúng tôi mãi chỉ là những kẻ đứng ngoài lề mà ngắm nhìn. Thật khốn nạn cho cái kiếp sinh ra đã nghịch chiều với đời.”

“Khổ nỗi, anh bạn thân mến ạ,” tôi bảo, “anh là người quá khó tính.”

“Đó là một cách nói. Tôi thì dùng từ cay nghiệt hơn: tôi thù hận nhiều hơn yêu thương. Với tất cả những kẻ theo chủ nghĩa nhân đạo và hòa bình như chúng tôi, căm ghét mới chính là động lực sống. Nghe thật kỳ quặc đối với những kẻ mở miệng ra là rao giảng tình huynh đệ phải không? Nhưng sự thật là thế đấy. Chúng tôi tràn ngập lòng hận thù đối với bất cứ điều gì không khớp với khuôn mẫu tư tưởng của mình, bất cứ thứ gì làm chướng tai gai mắt cái hệ thần kinh yếu đuối như đàn bà này. Những người như anh yêu lý tưởng của mình đến nỗi chẳng còn thời gian hay tâm trí đâu mà ghét bỏ những chướng ngại cản đường. Còn bọn tôi thì chẳng có lý tưởng nào cả – chỉ toàn những lời phủ định; mà điều đó đồng nghĩa với hận thù, tự đày đoạ và một tâm hồn héo hắt, bệnh hoạn.”

Đến lúc ấy tôi mới vỡ lẽ rằng khiếm khuyết của Wake không phải là thói ngạo mạn tâm linh như tôi từng nhận định ở Biggleswick. Con người anh đang tự hạ mình đến mức cùng cực.

“Tôi nhìn thấu nhiều hơn người khác,” anh tiếp tục, “và cũng cảm nhận sâu sắc hơn. Đó chính là lời nguyền rủa đời tôi. Anh là một người hạnh phúc và luôn làm nên việc, bởi anh chỉ nhìn vào một khía cạnh của vấn đề, giải quyết từng việc một. Anh sẽ thấy thế nào nếu như hàng ngàn sợi dây cứ không ngừng giằng xé anh, nếu anh thấy rõ từng đường đi nước bước đều đồng nghĩa với việc phải hi sinh những điều tốt đẹp và đáng khao khát, hay thậm chí là đập tan những gì anh biết là không thể nào thay thế nổi? Tôi mang tâm hồn của một thi sĩ, nhưng lại chẳng có thiên bẩm làm thơ, thế nên tôi đành loạng choạng bước đi giữa cõi đời như một kẻ thuận tay trái què quặt... Cứ nhìn vào cuộc chiến này mà xem. Với tôi, cầm súng chiến đấu còn tệ hại hơn việc một kẻ khác đào ngũ. Từ tận đáy lòng, tôi tin rằng thảm kịch này hoàn toàn có thể tránh khỏi, và mọi cuộc chiến tranh đều là tội ác tày trời thiêu đốt nhân loại. Thế nhưng niềm tin chẳng mấy dính dáng đến phẩm hạnh. Tôi chẳng thể là một người tốt như anh đâu, Hannay à, người cả đời chẳng bao giờ thèm nghĩ ngợi mông lung. Quãng thời gian ở tiểu đoàn Lao động đã dạy cho tôi một bài học. Tôi hiểu rằng với tất cả những khát vọng cao đẹp của mình, tôi vẫn không thể là một người đàn ông đích thực như những gã mở miệng ra là văng tục chửi thề và chẳng thèm đoái hoài một xu đến linh hồn mình.”

Tôi nhớ mình đã nhìn anh với một sự thấu hiểu bất ngờ. “Tôi nghĩ tôi hiểu anh rồi. Anh là kiểu người thà không chiến đấu vì tổ quốc chỉ vì chưa tin chắc nàng hoàn toàn đúng đắn. Nhưng anh sẵn lòng chết vì nàng, bất kể nàng đúng hay sai.”

Nét mặt anh giãn ra trong một nụ cười chậm rãi. “Lạ thật, sao anh lại nói thế. Tôi nghĩ điều đó gần đúng với sự thật đấy. Những kẻ như tôi không sợ chết, nhưng lại chẳng đủ dũng khí để sống. Bất kỳ ai cũng nên thấy hạnh phúc khi được phục vụ trong một guồng máy như anh, nơi người ta chỉ việc tuân lệnh. Tôi thì chẳng thể dung nạp nổi bất kỳ guồng máy nào. Tôi thiếu mất cái bướu sùng kính. Tôi không thể nhắm mắt nuốt trôi mọi điều chỉ vì người ta bảo tôi phải làm vậy. Giới của tôi luôn mồm nói về ‘phụng sự’, nhưng tính khí bọn tôi lại chẳng sinh ra để phục tùng. Tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả những gì mình có để trở thành một chiếc bánh răng bình thường trong cỗ máy, thay vì một kẻ ngoài cuộc đáng nguyền rủa chuyên đi bới móc lỗi lầm của bộ máy ấy... Hãy nhìn một người đàn ông mạnh mẽ, quyết đoán và dữ dội như anh xem. Anh có thể tự gạt bỏ bản thân cho đến khi chỉ còn là một cái tên và một con số. Tôi thì dẫu có cố cũng chẳng làm nổi. Mà tôi cũng chẳng chắc mình có muốn thế hay không nữa. Tôi cứ bám víu lấy những mảnh vụn vặt vẹo của riêng mình.”

“Giá mà tôi có anh trong tiểu đoàn của tôi một năm trước,” tôi nói.

“Không, anh không muốn đâu. Tôi sẽ chỉ làm vướng chân vướng tay thôi. Tôi theo phái Fabian từ hồi ở Oxford, nhưng anh còn là một người xã hội chủ nghĩa tốt hơn tôi nhiều. Tôi chỉ là một kẻ theo chủ nghĩa cá nhân thối tha mà thôi.”

“Nhưng hẳn là anh đã cảm thấy bớt nặng nề hơn về cuộc chiến rồi chứ?” tôi hỏi.

“Không một chút nào. Tôi vẫn khao khát lấy đầu những gã chính khách đã gây ra và tiếp tục kéo dài cuộc chiến này. Nhưng tôi muốn giúp đỡ đất nước mình. Nói thực lòng đấy, Hannay, tôi yêu mảnh đất quê hương già cỗi này. Tôi nghĩ mình yêu nó còn hơn yêu bản thân, mà điều đó nghĩa là nhiều khủng khiếp đấy. Trừ việc trực tiếp cầm súng – điều đối với tôi là trọng tội xúc phạm Thánh Linh – tôi sẽ làm hết sức mình. Nhưng xin anh hãy nhớ rằng tôi không quen làm việc tập thể. Nếu tôi có giở thói ích kỷ cá nhân, xin cứ nện thẳng vào đầu tôi.”

Giọng anh thoáng vẻ đượm buồn, và tôi thấy quý mến anh vô cùng.

“Blenkiron sẽ lo liệu việc đó,” tôi bảo. “Chúng tôi sẽ thuần phục anh vào khuôn khổ, Wake à, rồi anh sẽ là một người hạnh phúc. Cứ tập trung tâm trí vào ván cờ và quên bản thân đi. Đó là phương thuốc hữu hiệu nhất cho những kẻ hay thoái thác đấy.”

Trên đường tới St Anton, tôi nghĩ ngợi rất nhiều về cuộc trò chuyện ấy. Anh hoàn toàn đúng về Mary, nàng sẽ không bao giờ lấy anh. Một tâm hồn đầy góc cạnh như thế chẳng thể nào hoà hợp được với một người khác. Và rồi tôi nghĩ nét nổi bật nhất ở Mary chính là sự thanh thản, vững vàng. Đôi mắt nàng mang nét an nhiên, hạnh phúc mà tôi nhớ chỉ từng thấy ở một gương mặt khác trên đời, đó là Peter... Nhưng tôi tự hỏi liệu đôi mắt của Peter giờ đây có còn được như xưa.

Tôi tìm thấy căn nhà nhỏ bằng gỗ nằm trơ trọi trên gò đất khi các khách sạn lớn thi nhau mọc lên bao quanh. Phía trước nhà có hàng rào, nhưng phía sau lại thông thống ra sườn đồi. Đứng cạnh cổng là một bà lão lưng còng có gương mặt nhăn nheo như quả táo khô. Hẳn là màn cải trang của tôi rất đạt, bởi bà cụ đã đon đả đón nhận tôi ngay trước khi tôi kịp tự giới thiệu.

“Tạ ơn Chúa là chú đã tới,” bà kêu lên. “Tội nghiệp viên trung uý, cậu ấy cần một người đàn ông ở bên bầu bạn. Giờ cậu ấy đang ngủ, chiều nào cũng thế, vì ban đêm cái chân đau làm cậu ấy mệt mỏi lắm... Nhưng cậu ấy kiên cường lắm, đúng chất một người lính... Nào, vào đây tôi chỉ nhà cho, từ giờ hai người sẽ ở với nhau.”

Bà cụ rón rén dẫn tôi vào nhà, ngón tay đặt lên môi ra dấu về phía căn phòng ngủ nhỏ nơi Peter đang an giấc. Tôi nhìn thấy một gian bếp với chiếc lò sưởi lớn và sàn lát ván thô sơ, trên trải vài tấm da thú thuộc chưa kỹ. Nối liền với bếp là một chái phòng nhỏ có kê chiếc giường dành cho tôi. Bà chỉ cho tôi xoong chảo nấu nướng, đồ dự trữ bà đã mua sẵn, cùng chỗ lấy nước và củi đốt. “Hằng ngày tôi sẽ đi chợ giùm,” bà nói, “nếu cần gì, nhà tôi ở cách đây nửa dặm trên đường, phía sau nhà thờ mới. Chúa phù hộ cho chú, chàng trai trẻ, hãy chăm sóc người thương binh ấy thật tử tế nhé.”

Sau khi goá phụ Summermatter rời đi, tôi ngồi xuống chiếc ghế bành của Peter và quan sát xung quanh. Khung cảnh thật tĩnh lặng, mộc mạc và ấm cúng; qua khung cửa sổ lấp lánh ánh tuyết phản chiếu từ những ngọn đồi sáng như kim cương. Trên chiếc bàn cạnh lò sưởi là những món đồ Peter hằng trân quý: chiếc túi da hoẵng đựng thuốc và chiếc tẩu thuốc mà Jannie Grobelaar đã đẽo gọt tặng anh ở St Helena, chiếc hộp quẹt diêm dã chiến bằng nhôm tôi tặng anh, một cuốn Kinh Thánh chữ to giá rẻ thuộc loại các tuyên uý quân đội hay phát cho những binh nhì ngoan đạo, và một cuốn *Thiên Lộ Lịch Trình* sờn rách với những bức tranh minh hoạ loè loẹt. Trang sách mở ra bức tranh vẽ cảnh Tín Nghĩa bay lên Thiên đàng từ ngọn lửa của Hội Chợ Phù Hoa, tựa như một con chim dẽ giun vừa vút lên khỏi bụi rậm. Mọi thứ trong phòng đều ngăn nắp đến mức tinh tươm, và tôi biết đó là bàn tay của Peter chứ chẳng phải của goá phụ Summermatter. Trên chiếc móc sau cánh cửa treo chiếc áo khoác vá chằng vá đụp của anh, lòi ra từ miệng túi là một xấp thư của chính tôi mà tôi nhận ra ngay. Ở một góc phòng là thứ mà bấy lâu nay tôi đã quên bẵng đi – một chiếc xe lăn cho người tàn tật.

Trông thấy những món đồ vụn vặt đơn sơ của Peter khiến lòng tôi chùng xuống đầy thương cảm. Tôi tự hỏi liệu đôi mắt anh lúc này có còn giống mắt Mary hay không, bởi tôi không thể hình dung nổi cuộc đời anh sẽ ra sao khi phải mang thân phận một kẻ tàn phế. Rất khẽ khàng, tôi đẩy cửa phòng ngủ và lách mình vào trong.

Anh đang nằm trên chiếc giường bạt, trùm kín chiếc chăn len kẻ sọc Thụy Sĩ lên tận mang tai, ngủ say sưa. Đích thị là Peter năm xưa không lẫn vào đâu được. Anh vẫn giữ thói quen của người thợ săn là thở đều đặn bằng mũi, và vết sẹo trắng nổi bật trên vầng trán nâu sạm vẫn in đậm trong ký ức tôi. Thay đổi duy nhất so với lần cuối tôi gặp anh là anh lại để râu, và chòm râu ấy đã điểm bạc.

Nhìn anh, ký ức về bao gian nan thử thách chúng tôi từng cùng nhau nếm trải lại ùa về như thác lũ, và tôi muốn trào nước mắt vì sung sướng khi được ở bên anh. Phụ nữ, lạy trời phù hộ cho họ, chẳng bao giờ có thể hiểu được tình huynh đệ chí cốt lâu năm giữa những người đàn ông có ý nghĩa thế nào; đó là thứ không tồn tại trong đời họ – thứ chỉ thuộc về thế giới hoang dã, phong trần mà đàn ông chúng tôi phải từ bỏ một khi đã tìm được bạn đời. Ngay cả Mary cũng chỉ hiểu được một phần nào đó thôi. Tôi vừa chiếm được tình yêu của nàng, điều tuyệt vời nhất từng đến trong đời tôi, nhưng nếu nàng có bước vào phòng đúng lúc ấy, hẳn tôi cũng chẳng buồn ngoái đầu lại. Tôi đã quay trở về với cuộc sống cũ và chẳng còn tâm trí đâu nghĩ tới tương lai mới nữa.

Chợt tôi thấy Peter đã mở mắt và đang nhìn tôi trân trân.

“Dick,” anh thì thào, “Dick, anh bạn già của tôi.”

Chiếc chăn bị hất tung, và đôi cánh tay dài gầy guộc của anh vươn ra ôm lấy tôi. Tôi siết chặt lấy tay anh, và trong một hồi lâu cả hai chẳng thốt nên lời. Rồi tôi nhận ra anh đã đổi thay đến mức đáng buồn. Chân trái anh teo tóp lại, từ đầu gối trở xuống khẳng khiu như một chiếc ống tẩu. Khuôn mặt anh khi thức lộ rõ những nếp nhăn của nỗi đớn đau khôn xiết, và trông anh như thấp đi nửa bước chân. Nhưng đôi mắt anh thì vẫn y hệt mắt Mary. Thậm chí chúng dường như còn nhẫn nại và bình an hơn cả những ngày anh ngồi cạnh tôi trên chiếc xe bò kéo, phóng tầm mắt qua thảo nguyên săn bắn.

Tôi bế bổng anh lên – anh nhẹ bẫng chẳng hơn gì Mary – rồi bế anh ra chiếc ghế cạnh lò sưởi. Đoạn tôi đun nước pha trà, như chúng tôi vẫn thường làm cùng nhau biết bao lần trước đây.

“Peter, anh bạn già,” tôi nói, “chúng ta lại lên đường rồi, và căn lều tròn này quả là ấm cúng. Chúng ta từng có khối chuyện để tán gẫu, nhưng lần này sẽ là tuyệt nhất. Trước hết, sức khoẻ anh thế nào rồi?”

“Khoẻ, tôi lại vạm vỡ như xưa rồi, chỉ có điều chậm chạp như một con hà mã cái thôi. Đôi lúc cũng thấy cô đơn, nhưng giờ thì qua cả rồi. Kể tôi nghe về những trận đánh lớn đi.”

Nhưng tôi đang khao khát tin tức về anh nên cứ gặng hỏi mãi về tình cảnh của anh. Anh chẳng phàn nàn gì về cách đối đãi ở đó, ngoại trừ việc anh không ưa người Đức. Các bác sĩ ở bệnh viện rất giỏi giang, anh bảo, và đã tận tình cứu chữa cho anh; nhưng dây thần kinh, gân cốt và những mảnh xương vụn đã nát bét đến mức họ không thể hàn gắn lại cái chân, mà Peter thì mang trọn mối ác cảm của người Boer đối với việc cưa chân. Có một bác sĩ từng ở Damaraland thường trò chuyện với anh về những vùng đất nắng cháy rực rỡ ấy, khiến anh cồn cào nỗi nhớ quê hương. Song anh luôn quay lại với nỗi ghét bỏ người Đức. Anh đã tận mắt thấy họ xua đuổi binh lính chúng tôi như bầy súc vật, còn viên trại trưởng thì mang bộ mặt y hệt Stumm với cái cằm bạnh ra chực bị ăn đấm. Anh chỉ dành ngoại lệ cho Lensch, viên phi công cừ khôi đã bắn hạ anh.

“Gã đó là một trang quân tử đích thực,” anh nói. “Hắn tới thăm tôi ở bệnh viện và tâm sự nhiều điều. Tôi nghĩ chính hắn đã can thiệp để họ đối đãi tử tế với tôi. Hắn to con lắm Dick à, phải gấp đôi tôi, có gương mặt tròn trịa vui vẻ và đôi mắt nhạt màu hệt như Frickie Celliers, người có thể bắn xuyên đầu một con gà tây rừng ở cự ly hai trăm thước. Hắn bảo rất tiếc vì tôi bị thọt, bởi hắn từng hy vọng sẽ còn được so tài với tôi nhiều trận nữa. Một bà thầy bói nào đó từng bảo tôi sẽ là kẻ tiễn đưa hắn sang thế giới bên kia, nhưng hắn cho rằng bà ta đã đoán ngược. Tôi mong hắn sẽ sống sót qua cuộc chiến này, vì hắn là người tốt, dù là một tên lính Đức... Còn lũ người kia! Chúng hệt như kẻ dại khờ trong Kinh Thánh, lúc đắc thế thì béo tốt phè phỡn, đến khi thất trận thì ngạo mạn và độc ác. Chúng chẳng phải phường người có thể sống hoà thuận cùng.”

Rồi anh kể rằng để giữ vững tinh thần, anh đã tự tiêu khiển bằng cách đóng một vở kịch. Anh luôn tự hào mình là một người Boer và tỏ vẻ lạnh nhạt với người Anh. Tôi cũng hiểu rằng anh đã mớm cho họ nhiều tin tức cốt để đánh lừa. Nhờ thế anh rời nước Đức với một lý lịch tốt, và khi sang Thụy Sĩ, anh cố tình giữ khoảng cách với các thương binh Anh khác theo lời dặn của Blenkiron, người đã đón anh ngay khi anh vừa qua biên giới. Tôi đoán chính Blenkiron đã sắp xếp để anh tới St Anton, và trong thời gian ở đây, với vỏ bọc một người Boer bất mãn, anh đã giao du khá nhiều với người Đức. Họ cố khai thác anh về lực lượng không quân của chúng tôi, và Peter đã thêu dệt nên nhiều lời nói dối tài tình, đổi lại cũng nghe ngóng được khối điều kỳ lạ.

“Họ đang nỗ lực điên cuồng đấy, Dick,” anh nói. “Đừng bao giờ quên điều đó. Người Đức là một kẻ thù đáng gờm; hễ chúng ta đánh bại họ bằng một cỗ máy, họ lại đổ mồ hôi sôi nước mắt chế ra một cỗ máy mới. Họ có những phi công cừ khôi, dù chẳng bao giờ nhiều phi công giỏi như chúng ta, và tôi không nghĩ trong những trận không chiến thông thường họ có thể hạ được chúng ta. Nhưng anh phải coi chừng Lensch, tôi e sợ hắn lắm. Tôi nghe phong phanh hắn có một chiếc phi cơ mới, động cơ cực mạnh với sải cánh ngắn, nhưng cánh lại cong đến mức có thể cất cánh bốc lên rất nhanh. Đó sẽ là một đòn bất ngờ giáng xuống đầu chúng ta. Anh sẽ bảo chúng ta rồi cũng sớm cải tiến thôi. Đúng thế thật, nhưng nếu nó được tung ra đúng vào thời điểm chúng ta đang dốc toàn lực tấn công, nó có thể tạo nên sự khác biệt nhỏ nhoi làm xoay chuyển cả cục diện bại trận.”

“Ý anh là,” tôi nói, “nếu chúng ta chuẩn bị mở một cuộc tổng tấn công và đã đẩy lùi toàn bộ phi cơ địch khỏi mặt trận của mình, Lensch và phi đội của hắn vẫn có thể luồn lách qua mặt chúng ta rồi làm lộ hết kế hoạch tác chiến sao?”

“Đúng thế,” anh nghiêm giọng. “Hoặc giả nếu chúng ta bị tấn công và lộ ra một điểm yếu, Lensch có thể chỉ điểm cho quân Đức chọc thủng phòng tuyến. Tôi không nghĩ chúng ta sẽ tấn công trong một thời gian dài nữa; nhưng tôi dám chắc nước Đức sắp dốc toàn bộ binh lực đè bẹp chúng ta. Bè bạn tôi đều bàn tán như vậy, và đó không phải chuyện hư trương thanh thế đâu.”

Đêm đó tôi nấu bữa tối đạm bạc, rồi hai đứa ngồi rít thuốc lá bên cửa lò sưởi mở toang, hít hà mùi khói củi thơm nồng dễ chịu. Tôi kể cho anh nghe mọi chuyện mình đã trải qua, về hội Chim Hoang, về Ivery và nhiệm vụ chúng tôi đang gánh vác. Chỉ thị của Blenkiron là hai đứa tôi phải sống thật khiêm nhường, luôn mở to mắt và vểnh tai nghe ngóng, bởi chúng tôi hoàn toàn nằm ngoài diện nghi vấn – một lão Boer thọt chân càu nhàu và gã đầy tớ ngốc nghếch người Arosa. Đâu đó quanh vùng này có một điểm hẹn bí mật của kẻ thù, và Chelius thường mò tới đó để thực hiện những mưu đồ đen tối.

Peter gật gù ra chiều am hiểu: “Tôi nghĩ mình đã đoán ra nơi đó rồi. Con gái bà cụ thỉnh thoảng vẫn đẩy xe lăn cho tôi xuống làng, và tôi đã ngồi ở mấy quán trọ rẻ tiền để trò chuyện với đám người hầu. Ở đằng kia có một vũng nước ngọt, giờ tuyết phủ trắng xoá cả rồi, và bên cạnh có một toà nhà lớn người ta gọi là Biệt Thự Hồng. Tôi không biết nhiều về nó, chỉ biết toàn dân nhà giàu ở đấy, còn các ngôi nhà khác thì tôi nắm rõ và chúng vô hại. Cả mấy khách sạn lớn nữa, ở đó quá lạnh lẽo và lộ liễu để người lạ có thể lén lút gặp nhau.”

Tôi đỡ Peter lên giường, và chăm sóc anh là cả một niềm vui đối với tôi, từ việc cho anh uống thuốc bổ đến chuẩn bị túi chườm nước nóng làm dịu cơn đau dây thần kinh. Anh ngoan ngoãn như một đứa trẻ và chẳng bao giờ đánh mất tính khí vui tươi, dù tôi thấy rõ cái chân đang hành hạ anh đến chết đi sống lại. Người ta đã thử xoa bóp nhưng đành bỏ cuộc, và anh chẳng còn cách nào khác là cắn răng chịu đựng cho đến khi thời gian cùng thể chất dẻo dai làm tê liệt những dây thần kinh quằn quại kia một lần nữa. Tôi dọn giường từ chái bếp ra ngủ cùng phòng với anh, và mỗi khi thức giấc giữa đêm, như người ta vẫn thường thế trong đêm đầu ở một nơi xa lạ, chỉ cần nghe tiếng thở là tôi biết anh đang trằn trọc trong đau đớn.

Hôm sau, người ta có thể bắt gặp một chiếc xe lăn chở một ông lão tàn phế râu tóc điểm bạc, được đẩy bởi một gã nông dân đi khập khiễng đang chầm chậm xuống con dốc dài dẫn vào làng. Tiết trời giá buốt quang đãng làm đôi má tê rần, và tôi cảm thấy hăng hái đến mức khó lòng nhớ nổi mình phải giả vờ thọt chân. Phía đông thung lũng bị chắn ngang bởi một khối đá và sông băng khổng lồ thuộc về một ngọn núi khuất tầm mắt. Nhưng về phía nam, vượt lên trên những rặng thông phủ đầy tuyết, là một đỉnh núi thanh thoát như dải đăng ten nhọn hoắt tựa mũi kim. Tôi nhìn nó với niềm thích thú, bởi phía sau ngọn núi ấy là thung lũng dẫn tới đèo Staub, và vượt qua con đèo ấy là Italy – là Mary của tôi.

Ngôi làng cổ St Anton chỉ có một con phố dài hẹp uốn cong vuông góc dẫn tới cây cầu bắc qua dòng sông chảy ra từ hồ. Từ đó con đường dốc đứng lên, nhưng ở đầu kia của phố, đường lại chạy bằng phẳng dọc theo mép nước, hai bên san sát những nhà trọ tồi tàn nay đã then cài đóng cửa trước nhân gian, xen lẫn vài căn biệt thự nép mình trong những khoảnh vườn nhỏ. Ở tít đằng xa, ngay trước khi con đường đâm vào rừng thông, một mũi đất nhô ra mặt hồ, tạo nên một khoảng đất rộng thênh thang giữa đường và mép nước. Nơi đây toạ lạc khuôn viên của một cơ ngơi bề thế hơn – những bụi nguyệt quế và đỗ quyên ngập trong tuyết cùng vài tán cây lớn hơn – và sừng sững sát mép nước chính là ngôi nhà mang tên Biệt Thự Hồng.

Tôi đẩy xe cho Peter đi ngang qua cổng trên lớp tuyết lạo xạo của mặt đường cái. Nhìn qua khe hở giữa các hàng cây, mặt tiền ngôi nhà trông có vẻ mới, nhưng phần hậu viện dường như đã có từ lâu đời, bởi tôi có thể thấy những bức tường cao vút, trổ rất ít cửa sổ, buông thẳng xuống mặt nước. Nơi này chẳng giống một căn nhà gỗ kiểu chalet chút nào mà tựa như một toà pháo đài hơn, nhưng tôi đồ rằng cái tên ấy bắt nguồn từ dãy ban công gỗ phía trên cửa chính. Toàn bộ toà nhà được quét một lớp sơn màu hồng xấu xí. Xung quanh là các dãy nhà phụ – ga-ra hoặc chuồng ngựa ẩn hiện giữa những rặng cây – và ở lối vào vẫn còn in hằn những vệt bánh ô tô khá mới.

Trên đường về, chúng tôi ghé vào một quán cà phê uống thứ bia dở tệ và làm quen với bà chủ quán. Peter lại phải kể câu chuyện đời mình, còn tôi lôi bà cô ở Zurich ra làm bình phong, và rốt cuộc chúng tôi được nghe bà ta trút bầu tâm sự. Đúng chất một người Thụy Sĩ, bà tức tối với tất cả các bên tham chiến đã phá hoại kế sinh nhai của mình; bà ghét nước Đức nhất nhưng cũng sợ nước Đức nhất. Cà phê, trà, chất đốt, bánh mì, thậm chí cả sữa và phô mai đều khan hiếm và đắt như cắt cổ. Phải mất hàng năm trời xứ này mới gượng dậy nổi, và sẽ chẳng còn bóng dáng du khách nào nữa vì thiên hạ làm gì còn tiền bạc. Tôi buông một câu hỏi bâng quơ về Biệt Thự Hồng, và được biết nó thuộc sở hữu của một người tên Schweigler, giáo sư ở Berne, một ông già thỉnh thoảng chỉ ghé lại vài ngày vào mùa hè. Nơi đó thường được đem cho thuê, nhưng dạo này thì không. Khi được hỏi liệu hiện giờ có ai ở không, bà ta buông lời rằng mấy người bạn của nhà Schweigler – một gia đình giàu có từ Basle – đã tới đó trú đông. “Họ đi đi về về trên những chiếc xe hơi sang trọng,” bà cay đắng nói, “và họ mang đồ ăn thức uống từ thành phố về. Chẳng thèm tiêu lấy một xu ở cái chốn nghèo nàn này.”

Chẳng mấy chốc, cuộc sống của Peter và tôi đi vào nề nếp thường nhật, như thể chúng tôi đã chung sống dưới một mái nhà từ thuở nào. Buổi sáng anh đi dạo trên chiếc xe lăn, buổi chiều tôi lại khập khiễng rảo bước lo công việc riêng của mình. Chúng tôi chìm khuất vào khung cảnh chung và mang trọn sắc màu của nó; thật khó tìm được cặp đôi nào ít gây chú ý hơn để lọt qua mắt những kẻ đa nghi. Mỗi tuần một lần, một sĩ quan trẻ người Thụy Sĩ có nhiệm vụ giám sát thương binh Anh lại tạt qua thăm chúng tôi chốc lát. Tôi thường nhận được thư từ bà cô ở Zurich, đôi khi đóng dấu bưu điện Arosa, và thi thoảng những bức thư ấy lại chứa đựng những lời khuyên hay chỉ thị được diễn đạt kỳ lạ từ người mà bà cô gọi là “ông chủ tốt bụng”. Thường thì tôi được dặn phải kiên nhẫn. Đôi khi tôi nhận được tin tức về sức khoẻ của “cô em họ nhỏ bé bên kia núi”. Có lần tôi được lệnh chờ đón một người bạn của ông chủ, vị bác sĩ thông thái mà ông vẫn thường nhắc tới, nhưng dẫu sau đó tôi đã bám sát Biệt Thự Hồng suốt hai ngày trời, chẳng thấy bóng dáng vị bác sĩ nào xuất hiện.

Công cuộc dò la của tôi hoàn toàn rơi vào ngõ cụt. Buổi chiều tôi thường xuống làng, ngồi lì trong một quán cà phê hẻo lánh, chậm rãi chuyện trò bằng tiếng Đức với đám nông dân và phu khuân vác khách sạn, nhưng chẳng thu thập được gì nhiều. Những gì cần biết về Biệt Thự Hồng tôi đều đã nghe cả, và tóm lại là con số không tròn trĩnh. Một thanh niên trượt tuyết đã ở lại ba đêm và dành trọn ban ngày trên những sườn núi phía trên rừng thông. Người ta đồn rằng một nhóm bốn người, gồm hai phụ nữ, từng lưu lại đó một đêm – toàn là con cháu của gia tộc giàu có vùng Basle. Tôi quan sát toà nhà từ phía mặt hồ, nơi lẽ ra phải được dọn dẹp phong quang thành sân trượt băng, nhưng do vắng bóng du khách nên chỉ là một bãi tuyết vun đống bừa bãi. Những bức tường cổ cao vút ở phần hậu viện được xây thẳng đứng từ mép nước. Tôi nhớ có lần mình thử đi đường tắt xuyên qua khuôn viên để ra đường cái và được một gã người hầu Đức mỉm cười cất tiếng chào: “Chào buổi chiều”. Bằng cách này hay cách khác, tôi nhận thấy có khá nhiều gia nhân quanh quẩn trong khu nhà – quá đông so với lượng khách khứa thưa thớt ghé thăm. Nhưng ngoài điều đó ra, tôi chẳng phát hiện thêm được gì.

Không phải vì thế mà tôi thấy buồn chán, bởi tôi luôn có Peter để bầu bạn. Anh nghĩ ngợi rất nhiều về Nam Phi, và điều anh thích nhất là cùng tôi ôn lại từng chi tiết trong những chuyến đi săn ngày trước. Chúng thuộc về một cuộc đời mà anh có thể hồi tưởng mà không thấy nhói đau, trong khi cuộc chiến này vẫn còn quá cận kề và cay đắng đối với anh. Khi màn đêm buông xuống, anh thích chống gậy tập tễnh bước ra ngoài trời để ngắm nhìn những người bạn cũ của mình: các vì tinh tú. Anh gọi chúng bằng những cái tên thân thuộc trên thảo nguyên, và ngôi sao mai đầu ngày anh gọi là *voorlooper* – đứa bé dắt bò kéo xe – một cái tên tôi đã hai mươi năm rồi chưa được nghe lại. Chúng tôi đã dệt nên biết bao câu chuyện dài trong những đêm thanh vắng, nhưng lúc nào tôi cũng lên giường với một nỗi niềm trĩu nặng. Ánh mắt khát khao của anh quá đỗi cháy bỏng, không phải nỗi nhớ những ngày xưa cũ hay những miền đất xa xôi, mà là sự thèm khát sức khoẻ và thể lực tráng kiện từng là niềm tự hào của đời anh.

Một tối nọ, tôi kể cho anh nghe về Mary.

“Cô ấy hẳn sẽ là một cô bé hạnh phúc,” anh nói, “nhưng anh sẽ phải khéo léo lắm đấy, vì phụ nữ là giống loài kỳ lạ mà cả tôi lẫn anh đều chẳng hiểu thấu dạ họ. Người ta bảo phụ nữ Anh chẳng biết nấu nướng hay may vá như các bà vợ của chúng tôi, thế thì cô ấy sẽ tìm việc gì mà làm đây? Tôi e một người đàn bà nhàn rỗi sẽ giống như một con ngựa chỉ được vỗ béo bằng ngô mà thôi.”

Có giải thích cho anh hiểu Mary là mẫu con gái thế nào cũng bằng thừa, bởi đó là một thế giới hoàn toàn nằm ngoài tầm hiểu biết của anh. Nhưng tôi có thể nhận thấy anh càng cảm thấy cô độc hơn trước tin vui của tôi. Thế nên tôi kể cho anh nghe về ngôi nhà tôi dự định xây ở Anh khi chiến tranh kết thúc – một ngôi nhà cổ kính giữa miền đồi núi xanh tươi, với những đồng cỏ đủ nuôi bốn con gia súc trên một mẫu đất, những con mương nước trong vắt cùng những vườn mận, vườn táo trĩu quả. “Và anh sẽ ở cùng chúng tôi suốt đời,” tôi bảo. “Anh sẽ có phòng ốc riêng và một cậu bé hầu cận chăm sóc, anh sẽ giúp tôi trông nom trang trại, chúng ta sẽ cùng nhau đi câu cá và bắn vịt trời khi chúng bay lên từ các đầm nước lúc hoàng hôn. Tôi đã tìm được một miền quê tuyệt vời hơn cả Houtbosch, nơi anh và tôi từng trù tính mở trang trại. Nước Anh là một vùng đất phước lành và hạnh phúc.”

Anh lắc đầu: “Anh thật tốt bụng, Dick à, nhưng cô bé xinh đẹp của anh sẽ chẳng muốn một lão già xấu xí khập khiễng như tôi quanh quẩn trong nhà đâu... Tôi không nghĩ mình sẽ trở về châu Phi, bởi sống ở đó dưới ánh mặt trời rực rỡ tôi sẽ buồn lắm. Tôi sẽ tìm một chỗ ở nhỏ nhắn tại Anh, rồi một ngày nào đó tôi sẽ tới thăm anh, anh bạn già.”

Đêm đó, dường như lần đầu tiên sự khắc kỷ của anh bị lung lay. Anh lặng thinh hồi lâu rồi đi ngủ sớm, và tôi dám đoan chắc rằng anh chẳng thể chợp mắt. Nhưng hẳn là anh đã suy nghĩ rất nhiều trong đêm tối, bởi sáng hôm sau anh đã lấy lại được sự tự chủ và lại vui vẻ, yêu đời như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Tôi kinh ngạc trước triết lý sống của anh. Đó là điều vượt xa bất cứ sự nhẫn nại nào mà bản thân tôi có thể đạt tới. Anh quá đỗi yếu ớt và nghèo nàn, bởi cả đời anh chẳng có tài sản gì ngoài thể lực tráng kiện, mà giờ đây anh cũng đã mất nốt. Và hãy nhớ rằng, anh mất đi điều đó sau vài tháng trời sống trong niềm hạnh phúc rực rỡ, bởi bầu trời mới chính là cõi giới sinh ra để dành cho anh. Đôi khi anh buột miệng nhắc về những tháng ngày lướt đi giữa các tầng mây và sáng tạo nên một lối không chiến hoàn toàn mới, và giọng anh lúc nào cũng nghẹn lại. Tôi có thể thấy anh đau đớn đến thắt lòng vì khao khát được quay trở lại những ngày tháng ấy. Vậy mà anh chưa từng thốt ra một lời than vãn. Đó là nguyên tắc sống anh tự đặt ra cho mình, là lòng kiêu hãnh của anh, và anh đối mặt với tương lai bằng chính lòng quả cảm từng giúp anh ghìm đầu thú dữ hay đối đầu với chính Lensch. Chỉ có điều, lần này nó đòi hỏi một thứ bản lĩnh kiên cường vĩ đại hơn nhiều.

Một điều nữa là anh đã tìm thấy tôn giáo. Tôi đồ rằng diễn đạt như vậy chưa hẳn đã đúng, bởi trong anh lúc nào cũng có đức tin. Những kẻ sống nơi hoang dã đều hiểu rằng số mạng của họ nằm trong tay Chúa. Nhưng thứ tôn giáo trước đây của anh vốn chắp vá, giống như mê tín dị đoan của dân ngoại đạo hơn, dẫu nó luôn giữ cho anh lòng khiêm nhường. Giờ đây anh bắt đầu đọc Kinh Thánh và nghiền ngẫm trong những đêm cô độc, rồi tự đúc kết cho mình một tín điều riêng. Tôi dám cá nó khá thô sơ, và chắc chắn là khác với giáo lý chính thống; nhưng nếu thước đo của tôn giáo là đem lại cho con người ta một điểm tựa trong những ngày tăm tối, thì đức tin của Peter chính là chân lý đích thực. Anh thường mày mò tìm kiếm trong Kinh Thánh và cuốn *Thiên Lộ Lịch Trình* – cả hai đều thiêng liêng như nhau trong mắt anh – để nhặt ra những câu chữ rồi tự diễn giải theo cách của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh. Anh tiếp nhận mọi điều theo nghĩa đen trần trụi nhất. Những chuyện xảy ra ba ngàn năm trước ở Palestine, với anh, cũng chẳng khác nào vừa diễn ra ngay sát vách. Tôi hay trêu anh và bảo anh giống hệt như Hoàng đế Đức Kaiser, rất tài tình trong việc gọt giũa Kinh Thánh theo mục đích của riêng mình, nhưng sự chân thành tuyệt đối của anh chỉ đáp lại bằng một nụ cười. Tôi nhớ một đêm nọ, sau khi trăn trở nghĩ về những ngày bay lượn, anh tìm thấy một đoạn trong thư gửi tín hữu Thessalonica nói về việc những người đã khuất sẽ sống lại để đón rước Chúa giữa không trung, và điều đó khiến anh phấn chấn hẳn lên. Tôi nhận thấy Peter có linh cảm rằng thời gian của anh ở cõi đời này chẳng còn bao lâu nữa, và anh thích nghĩ rằng khi được giải thoát, anh sẽ lại tìm thấy nỗi hân hoan rực rỡ thuở nào.

Có lần, khi tôi thốt lên lời thán phục trước lòng kiên nhẫn của anh, anh bảo anh phải cố gắng sống sao cho xứng đáng với nhân vật Kiên Định. Anh đã chọn noi theo nhân vật ấy, dù anh thích nhân vật Dũng Cảm Vì Chân Lý hơn nếu tự thấy mình đủ tư cách. Anh thường nói về nhân vật Kiên Định bằng cái giọng kỳ quặc như thể đó là một người bạn chung của cả hai chúng tôi, chẳng khác nào Blenkiron vậy... Tôi nói thật lòng rằng tôi đã bị tước bỏ mọi thói tự cao tự đại khi chứng kiến Peter, một con người quá đỗi nhẫn nhịn, hiền từ và thông thái. Ngay cả Đấng Toàn Năng cũng chẳng thể biến anh thành một kẻ đạo đức giả, và anh chưa bao giờ có ý nghĩ sẽ đi rao giảng cho ai. Duy nhất chỉ một lần anh cho tôi lời khuyên. Tôi vốn có thói quen thích đi đường tắt, và tôi bắt đầu bồn chồn trước chuỗi ngày dài ăn không ngồi rồi. Một hôm, khi tôi bộc lộ nỗi bức bối của mình, Peter bèn cất tiếng đọc một đoạn trong *Thiên Lộ Lịch Trình*: “Cũng có những kẻ ước ao có con đường tắt dẫn tới nhà Cha mình, để khỏi phải nhọc lòng trèo đèo lội suối, nhưng Đường đi ắt phải là Đường đi, và đó là điều dứt khoát.”

Dẫu vậy, khi tháng Ba gõ cửa mà mọi việc vẫn giậm chân tại chỗ, tôi bắt đầu hết sức lo lắng. Blenkiron từng bảo chúng tôi đang phải chạy đua với thời gian, vậy mà tuần này qua tuần khác cứ thế trôi tuột đi. Thư của ông thi thoảng vẫn tới, luôn dưới danh nghĩa thư từ của bà cô tôi. Một lá thư báo rằng tôi sắp sửa thất nghiệp, vì thủ tục hồi hương của Peter gần như đã hoàn tất, và anh có thể nhận lệnh di chuyển bất cứ ngày nào. Một lá khác nhắc đến cô em họ nhỏ bé bên kia núi, nói rằng cô bé hy vọng sẽ sớm tới một nơi tên là Santa Chiara ở thung lũng Saluzzana. Tôi vội vã lôi bản đồ ra đo khoảng cách từ đó tới St Anton và săm soi hai con đường dẫn tới nơi này: con đường ngắn qua đèo Staub và con đường dài qua ngả Marjolana. Những bức thư này khiến tôi ngỡ rằng mọi chuyện sắp đi đến hồi cao trào, vậy mà vẫn chưa thấy mệnh lệnh nào được đưa ra. Trong các bức mật báo gửi đi, tôi chẳng có gì để báo cáo; tôi không phát hiện được gì ở Biệt Thự Hồng ngoại trừ đám gia nhân nhàn rỗi; tôi thậm chí còn chẳng dám chắc liệu Biệt Thự Hồng có phải chỉ là một toà biệt thự vô hại hay không, và tôi vẫn chưa thể lần ra dấu vết Chelius dù chỉ một tấc. Mọi nỗ lực muốn noi theo sự khắc kỷ của Peter cũng không ngăn nổi những lúc tôi hoang mang và nản lòng thoái chí.

Điều duy nhất tôi có thể làm là giữ cho cơ thể luôn tráng kiện, bởi tôi linh cảm chẳng bao lâu nữa mình sẽ cần đến toàn bộ thể lực. Ban ngày tôi phải giả vờ thọt chân, nên tôi đành tranh thủ rèn luyện vào ban đêm. Tôi sẽ ngủ bù vào buổi chiều khi Peter chợp mắt, rồi khoảng mười giờ tối, sau khi đỡ anh lên giường, tôi sẽ lẻn ra ngoài đi bộ ròng rã suốt bốn, năm tiếng đồng hồ. Thật kỳ diệu thay những chuyến lang thang giữa đêm khuya ấy. Tôi băng qua những rặng thông trĩu nặng tuyết để lên tới những rặng núi nơi tuyết đọng thành từng dải lớn uốn lượn, cho đến khi đứng trên đỉnh ngọn núi với thế giới băng giá trải rộng dưới chân và muôn ngàn vì sao lấp lánh trên đầu. Có một đêm trăng tròn, tôi lần mò tới tận sông băng ở đầu thung lũng, trèo lên bãi đá tích tụ nơi dải băng bắt đầu, rồi thảng thốt nhìn xuống những kẽ nứt ma quái dưới lòng băng. Vào những thời khắc ấy, dường như cả mặt đất chỉ thuộc về riêng tôi, không một tiếng động nào ngoài tiếng tuyết trĩu nặng tuột khỏi cành cây hay tiếng răng rắc xào xạc nhắc nhở tôi rằng sông băng thực chất là một dòng sông đang chuyển dịch. Chiến tranh bỗng chốc dường như xa xôi lắm, và tôi cảm nhận được sự nhỏ bé của những cuộc tranh đấu của loài người, cho tới khi tôi nghĩ đến Peter đang trở mình trằn trọc tìm kiếm sự êm ái trong căn nhà nhỏ tít dưới kia. Lúc ấy tôi mới nhận ra rằng tinh thần con người chính là điều vĩ đại nhất trong cõi trần bao la này... Tôi thường trở về vào khoảng ba, bốn giờ sáng, tắm rửa bằng thứ nước đã được bắc sẵn trên bếp sưởi trong lúc tôi vắng nhà, rồi rón rén chui vào giường, lòng thấy ngượng ngùng khi mình có đôi chân lành lặn trong khi một người tốt hơn tôi ngàn lần cách đó một thước lại chỉ còn có một bên.

Kỳ lạ thay, vào những khung giờ ấy, Biệt Thự Hồng dường như lại náo nhiệt hơn ban ngày. Một lần, khi băng qua mặt hồ lúc đã quá nửa đêm, tôi thấy ánh đèn hắt ra từ những ô cửa sổ hướng ra hồ – nơi bình thường luôn tối tăm và khép chặt then cài. Đã vài lần tôi đi tắt qua khuôn viên vào những đêm không trăng. Trong một lần như thế, một chiếc xe hơi đồ sộ không bật đèn lướt nhanh vào lối đi, và tôi nghe thấy những tiếng thì thào trầm thấp trước cửa. Lần khác, một người đàn ông vội vã chạy lướt qua tôi rồi lẻn vào nhà qua một cánh cửa ngách nhỏ ở phía đông mà trước đó tôi chưa từng để ý... Niềm tin trong tôi dần lớn lên rằng chúng tôi đã không lầm khi nhắm vào địa điểm này, rằng bên trong nó đang diễn ra những chuyện mà chúng tôi cần phải khám phá bằng mọi giá. Nhưng tôi loay hoay chưa nghĩ ra cách nào. Tôi có thể xông bừa vào trong, nhưng biết đâu làm vậy lại phá hỏng kế hoạch của Blenkiron, bởi ông đâu có giao cho tôi nhiệm vụ đột nhập nhà người khác. Tất cả những điều này càng khiến tôi bồn chồn hơn bao giờ hết. Tôi bắt đầu mất ngủ để vạch ra các phương án xâm nhập... Tôi sẽ đóng giả một nông dân từ thung lũng bên cạnh bị trẹo mắt cá chân... Tôi sẽ giả vờ vào tìm một người anh họ tưởng tượng trong đám gia nhân... Hay tôi sẽ châm một mồi lửa vào khu nhà để cánh cửa phải bật mở đón những người hàng xóm nhiệt tình tới cứu hoả...

Và rồi bất thình lình, tôi nhận được chỉ thị trong một bức thư của Blenkiron.

Thư được nhét bên trong một gói bọc những đôi tất ấm mà bà cô tốt bụng gửi tới. Nhưng lá thư dành cho tôi lại không phải của bà. Nó được viết bằng nét chữ to tướng, nguệch ngoạc của Blenkiron với văn phong rặt một màu đặc trưng của ông. Ông báo rằng nhiệm vụ của mình gần như đã hoàn tất. Ông đã lần ra manh mối của Chelius, đúng như con chim mồi mà ông hằng mong đợi, và con chim ấy sẽ sớm vỗ cánh bay về phương nam qua những rặng núi vì lý do mà tôi đã rõ.

“Bọn tôi đang tiến hành một bước ngoặt cực kỳ quan trọng,” ông viết, “và lạy trời, anh sẽ phải tất bật ra trò trong tuần tới đấy. Mọi chuyện đang tiến triển tốt đẹp hơn những gì tôi từng dám hy vọng.” Nhưng vẫn còn một việc phải làm. Ông đã bắt mối được với một người đồng hương tên là Clarence Donne, một nhà báo ở thành phố Kansas, người đã được ông kéo vào cuộc. Ông miêu tả người này là một gã “cự phách” và gửi gắm sự tín nhiệm của mình. Anh ta đang trên đường tới St Anton, bởi sắp có một màn kịch diễn ra tại Biệt Thự Hồng mà anh ta sẽ thông báo cho tôi biết. Tôi phải gặp anh ta vào chín giờ mười lăm tối mai tại cánh cửa nhỏ ở chái đông toà nhà. “Vì tình thương của Chúa, Dick à,” ông kết luận, “hãy đến đúng giờ và răm rắp làm theo mọi điều Clarence bảo như thể đó là tôi vậy. Sự tình phức tạp ghê gớm lắm, nhưng anh và cậu ta đều có thừa bản lĩnh để vượt qua. Đừng bận tâm về cô em họ nhỏ bé của anh nữa. Cô ấy đã an toàn và đứng ngoài phi vụ này rồi.”

Cảm giác đầu tiên của tôi là sự nhẹ nhõm vô bờ, đặc biệt là trước những lời cuối cùng. Tôi đọc đi đọc lại bức thư cả chục lần để đoan chắc mình đã nắm trọn ý tứ. Một thoáng nghi ngờ loé lên trong đầu rằng đây có thể là một cái bẫy, chủ yếu là vì không thấy nhắc gì tới Peter, người vốn luôn chiếm phần lớn dung lượng trong các mật thư trước. Nhưng việc gì phải nhắc tới Peter khi anh đâu có vai diễn nào trong vở kịch này? Chữ ký đã thuyết phục được tôi hoàn toàn. Thông thường, Blenkiron ký tên đầy đủ với nét uốn lượn rất mực hào hoa kiểu giới thương gia. Nhưng hồi tôi còn ở Mặt trận, ông có thói quen viết tên họ mình cho tôi như một dạng chữ tượng hình rồi đóng mở ngoặc chữ J.S. ở phía sau. Bức thư này được ký đúng như thế, và đó là bằng chứng xác thực cho thấy mọi chuyện hoàn toàn ổn thoả.

Tôi trải qua ngày hôm đó và ngày hôm sau trong tâm trạng phấn khích tột độ. Peter nhận ra có điều gì đó đang diễn ra, dù tôi không nói vì sợ làm anh chạnh lòng ghen tị. Tôi phải đối xử ân cần gấp bội với anh, bởi tôi thấy rõ anh đang khao khát được góp một tay vào công việc đến nhường nào. Quả thực anh đã ngập ngừng hỏi liệu tôi có thể thu xếp cho anh tham gia cùng được không, và tôi đành phải nói dối rằng đây chỉ lại là một chuyến đi dạo vu vơ khác của tôi quanh Biệt Thự Hồng mà thôi.

“Cố tìm việc gì cho tôi giúp với,” anh nài nỉ. “Tôi vẫn còn khoẻ lắm, dẫu có thọt chân, và tôi bắn súng vẫn cừ mà.”

Tôi khẳng định rồi sẽ đến lúc cần tới anh, rằng Blenkiron đã hứa sẽ dùng đến anh, nhưng thú thực trong thâm tâm tôi chẳng thể nào hình dung nổi sẽ dùng anh vào việc gì.

Vào đúng chín giờ tối hôm hẹn, tôi đã có mặt trên mặt hồ đối diện toà nhà, nép sát bờ, men theo mép nước tiến về điểm hẹn. Đêm đen như mực, bởi tuy trời quang nhưng các vì sao lại toả ánh sáng leo lét, còn vầng trăng thì vẫn chưa mọc. Linh cảm rằng mình có thể phải nhịn đói trong một thời gian dài, tôi đã mang theo vài thanh sô-cô-la; khẩu súng lục và chiếc đèn pin đều nằm gọn trong túi áo. Trời rét cắt da cắt thịt, nhưng tôi đã thôi bận tâm tới thời tiết; tôi chỉ mặc bộ quần áo duy nhất của mình và không khoác thêm áo ngoài.

Ngôi nhà im lìm như một nấm mồ. Tuyệt nhiên không có một tia sáng nào lọt ra, cũng chẳng có mùi khói hay mùi thức ăn chứng tỏ có người sinh sống. Việc trèo lên bờ dốc đứng phía đông toà nhà, nơi bắt đầu khoảng sân bằng phẳng của khu vườn, quả là một trải nghiệm rợn người trong bóng tối dày đặc đến mức tôi phải lần mò từng bước như một kẻ mù loà.

Tôi tìm thấy cánh cửa nhỏ nhờ rà tay dọc theo chân toà nhà. Đoạn tôi lách mình vào bụi nguyệt quế gần đó để chờ đợi người bạn đồng hành. Anh ta đã có mặt ở đó trước tôi.

“Này,” tôi nghe thấy một giọng nói trầm đậm chất miền Trung Tây thì thào, “anh có phải là Joseph Zimmer không đấy? Tôi không tiện gọi tên thật ra đâu, nhưng tôi đoán anh chính là gã tôi được dặn tới gặp ở đây.”

“Ngài Donne phải không?” tôi thì thào đáp lại.

“Chính là tôi,” anh ta trả lời. “Bắt tay cái nào.”

Tôi nắm lấy bàn tay đeo găng len trùm kín ngón tay, và bàn tay ấy kéo tôi về phía cánh cửa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John Buchan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.