Ông Standfast

Lượt đọc: 22 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Andrew Amos

❊ ❊ ❊

Ba ngày sau, tôi đáp chuyến tàu từ ga King’s Cross đi Edinburgh. Tôi đến khách sạn Pentland trên phố Princes, gửi lại chiếc vali đựng ít quần áo sạch cùng vài bộ đồ để thay. Sau khi đã suy tính kỹ càng, tôi đi đến kết luận rằng mình cần phải có một điểm tựa cố định cùng một diện mạo mới mẻ. Thế là, trong bộ đồ tu-e-đơ (tweed) đã sờn cũ và với chiếc túi dã chiến nhỏ xíu đựng hành lý, tôi đặt chân đến thành phố Glasgow.

Tôi đi bộ từ nhà ga đến địa chỉ mà Blenkiron đã cho. Đó là một buổi tối mùa hè oi ả, đường phố đông nghẹt những phụ nữ để đầu trần và những người thợ mỏi mệt. Khi rảo bước xuống con đường Dumbarton, tôi không khỏi ngạc nhiên trước số lượng thanh niên trai tráng vẫn còn ở lại đây, trong khi chỉ cần đặt chân lên bất kỳ chiến tuyến nào của Anh ở khoảng một dặm là thế nào cũng đụng phải một tiểu đoàn Glasgow. Nhưng rồi tôi chợt nhận ra rằng đất nước vẫn cần có đạn dược và tàu thủy, và thế là tôi thôi thắc mắc.

Một người phụ nữ mập mạp, đầu tóc bù xù đứng ngay bậc cửa ra vào đã chỉ đường cho tôi đến chỗ ở của ông Amos. “Lên lầu hai nhé. Giờ này chắc ông Andra đang ở trong nhà uống trà. Ổng không thích làm việc quá giờ đâu. Thường thì cứ đúng sáu giờ là ổng có mặt ở nhà.” Tôi bước lên cầu thang với một nỗi lo lắng trĩu nặng trong lòng, bởi vì cũng như mọi người Nam Phi khác, tôi rất sợ sự dơ dáy. Nơi này khá bẩn thỉu, nhưng ở mỗi chiếu nghỉ lại có hai cánh cửa với tay nắm được đánh bóng loáng và những tấm biển bằng đồng. Trên một tấm biển, tôi đọc được cái tên Andrew Amos.

Một người đàn ông tay áo xắn đến cùi chỏ ra mở cửa đón tôi; ông là một người đàn ông thấp người, không đeo cổ áo, mặc chiếc áo ghi-lê phanh ngực. Đó là tất cả những gì tôi thấy được trong ánh sáng mờ ảo, nhưng ông đã chìa ra một bàn tay to bè như tay khỉ đột và kéo tôi bước vào nhà.

Phòng khách, nơi có cửa sổ nhìn qua hàng tá ống khói ra bầu trời vàng nhạt với hai bóng ống nhà máy nổi bật hẳn lên, đã cung cấp đủ ánh sáng để tôi quan sát ông một cách tường tận. Ông cao khoảng năm thước bốn (tầm 1m62), vai rộng, với mái tóc muối tiêu dày và bù xù. Ông đeo kính, gương mặt trông giống như một vị mục sư Scotland theo lối cổ, bởi ông có cặp lông mày rậm và phần mai tóc liền nhau dưới cằm, trong khi phần cằm và đôi môi trên to tướng lại được cạo sạch sẽ. Đôi mắt ông xám ngắt như màu thép và vô cùng nghiêm nghị, nhưng lại ẩn chứa một nguồn năng lượng ngầm sục sôi. Giọng ông rất vang, suýt nữa đã làm rung chuyển cả tường nhà nếu ông không có thói quen nói chuyện với đôi môi khép hờ. Trong miệng ông không còn lấy nổi một chiếc răng lành lặn nào.

Trên bàn có một đĩa lót chén trà và một chiếc đĩa từng đựng bánh mì nướng trứng ốp-la. Ông hất cằm về phía đó và hỏi tôi đã ăn gì chưa.

“Cậu không ăn chút gì sao? Chà, nhiều người sẽ mời cậu một ly rượu mạnh đấy, nhưng cái nhà này thì kiêng tuyệt đối đồ có cồn. Chắc cậu phải ra quán gần nhất nếu thấy khát thôi.”

Tôi từ chối mọi nhu cầu ăn uống và rút chiếc tẩu thuốc ra, lập tức ông bắt đầu nhồi thuốc vào một chiếc tẩu đất cũ. “Tên cậu là Brand phải không?” ông hỏi bằng chất giọngồm ồ. “Tôi đang mong cậu đây, nhưng lạy Chúa! Cậu đến muộn quá đấy!”

Ông moi từ trong túi quần ra một chiếc đồng hồ bạc cổ kính và nhìn nó với vẻ bực bội.

“Cái món quái quỷ này lại đứng máy rồi. Cậu xem mấy giờ rồi, cậu Brand?”

Ông bắt đầu cạy nắp chiếc đồng hồ bằng chính con dao vừa dùng để cắt thuốc lá, và trong lúc kiểm tra bộ máy bên trong, ông quay mặt sau của chiếc vỏ đồng hồ về phía tôi. Ở mặt trong, tôi nhìn thấy tấm nhãn màu tím trắng của Mary Lamington được dán ở đó.

Tôi đưa chiếc đồng hồ của mình lên để ông nhìn thấy dấu hiệu tương tự. Đôi mắt sắc bén của ông ngước lên trong giây lát, nhận ra nó, rồi ông bấm cụp nắp đồng hồ lại và đút nhanh vào túi. Vẻ cảnh giác trên nét mặt ông biến mất, thay vào đó là sự niềm nở đến lạ kỳ.

“Cậu lên đây để ngắm nghía Glasgow đấy phảik hông, cậu Brand? À mà, đây là một chốn náo nhiệt, có những con người lương thiện sinh sống ở đó, nhưng cũng có kẻ không được lương thiện cho lắm. Họ bảo cậu đến từ Nam Phi. Nơi ấy cách xa cả một dặm đường, nhưng tôi cũng dăm phần hiểu biết về Nam Phi đấy, vì tôi có một người cháu họ từng sang đó chữa bệnh phổi. Nó làm việc trong một cửa hàng ở Main Street, Bloemfontein. Có lẽ cậu nhớ đến nó chứ.”

Rồi ông huyên thiên về dòng sông Clyde. Ông kể mình là người nơi khác chuyển đến, gốc gác ở vùng Biên giới (Borders), quê hương là thị trấn Galashiels, hay theo cách gọi của ông là “Gawly”. “Tôi khởi đầu là một thợ tinh chỉnh máy dệt thoi trong xưởng của Stavert. Sau đó cha tôi qua đời và tôi nối nghiệp thợ mộc của ông. Nhưng thời buổi này chẳng còn chỗ cho những tiểu thương làm ăn độc lập nữa, thế nên tôi dạt đến sông Clyde và học nghề thợ đóng tàu. Phải nói là tôi đã trở thành một nhân vật có tiếng tăm trong nghề, bởi dù tôi không phải là cán bộ công đoàn và chắc cũng chẳng bao giờ làm thế, nhưng chẳng có lời của ai có trọng lượng hơn lời tôi cả. Và Chính phủ thừa biết điều đó, vì họ đã cử tôi tham gia các ủy ban đi khắp nơi để khảo sát các khu rừng và lập báo cáo về tính chất của gỗ. Họ nghĩ đó là hành vi hối lộ, nhưng Andrew Amos thì đố ai hối lộ nổi. Ông ấy sẵn sàng nêu quan điểm về bất kỳ Chính phủ nào trên thế gian này, và nói thẳng vào mặt họ những gì ông nghĩ về họ. Ừ đấy, và ông ấy sẽ đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho người lao động chống lại kẻ áp bức họ, dù đó có là Chính phủ hay mấy kẻ béo bở tự xưng là Nghị sĩ Lao động đi nữa. Chắc cậu đã từng nghe nói về các ủy viên đại diện công xưởng rồi chứ, cậu Brand?”

Tôi thừa nhận là có, vì tôi đã được Blenkiron huấn luyện kỹ lưỡng về tình hình tranh chấp lao động hiện nay.

“Thế thì tôi chính là một ủy viên đại diện công xưởng. Chúng tôi đại diện cho tầng lớp lao động chân tay chống lại những kẻ nắm chức quyền đã đánh mất lòng tin của người thợ. Nhưng tôi không phải là người theo chủ nghĩa xã hội, cậu nhớ cho kỹ điều đó nhé. Tôi là một trong số những người theo phái cấp tiến vùng Biên giới thời cũ, và tôi chẳng đời nào thay đổi quan điểm ấy. Tôi ủng hộ tự do cá nhân cùng quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người. Tôi thà quỳ gối trước một vị thần Dagon của một tên quan chức chính phủ còn hơn cúi đầu trước cái gã Ba-anh là một tên địa chủ vô tích sự ven sông Tweed. Tôi buộc phải giấu kín quan điểm của mình, bởi mấy cậu thanh niên kia đều đã ngớ ngẩn vì say sưa với mấy cuốn sách nhỏ bàn về Chủ nghĩa Tư bản và Chủ nghĩa Tập thể, cùng một tá từ ngữ dài dòng vô nghĩa mà tôi thèm vào đâm đầu vào. Bọn chúng và cái chủ nghĩa xã hội của chúng ấy à! Đọc một trang của John Stuart Mill còn có ích hơn gấp vạn lần cái đống rác rưởi ngoại lai đó. Nhưng như tôi đã nói, tôi phải ngậm bồ hòn làm ngọt, bởi thế giới giờ đây đang mắc chủ nghĩa xã hội hệt như bệnh sởi vậy. Tất cả chỉ vì nền giáo dục có vấn đề mà ra.”

“Và một người theo phái cấp tiến vùng Biên giới nghĩ gì về cuộc chiến tranh này?” tôi hỏi.

Ông tháo kính ra, nhướng đôi lông mày rậm rạp nhìn tôi dò xét. “Tôi nói cho cậu nghe nhé, cậu Brand. Tất cả những gì tồi tệ nhất trong những thứ mà tôi từng phải đấu tranh kể từ khi khôn lớn cho đến nay — nào là Đảng Bảo thủ, các địa chủ, nhà tư sản, chủ quán rượu cho đến Giáo hội Cũ — tất cả những thứ tồi tệ ấy, tôi xin nhấn mạnh là thế, bởi thỉnh thoảng cậu vẫn tìm thấy chút ít lòng tốt ở đâu đó, nhưng tụi Đức thì hội tụ đủ tất cả những thói ấy, dồn nén đến tận cùng và tràn trề ra ngoài. Khi chiến tranh bùng nổ, tôi đã suy ngẫm bình tĩnh về vấn đề này trong ba ngày, rồi tôi tự nhủ: ‘Andra Amos này, cuối cùng cậu cũng tìm thấy kẻ thù rồi đấy. Những kẻ cậu từng chiến đấu trước kia nói cho cùng cũng chỉ là những người bạn lầm đường lạc lối. Lần này thì chỉ có mày hoặc là Kaiser thôi đấy, anh bạn ạ!’”

Đôi mắt ông đã mất đi vẻ nghiêm nghị ban đầu mà thay vào đó là một vẻ hung ác u ám. “Ừ, và tôi chưa từng nao núng. Ngay từ đầu, tôi đã nhận được lời chỉ dẫn về cách thức có thể phục vụ đất nước tốt nhất. Đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, và ngày nay có khối người lương thiện sẵn sàng bôi nhọ tên tuổi tôi. Họ nghĩ tôi đang kích động công nhân ở hậu phương và ruồng bỏ lý tưởng của mấy cậu trai ở chiến trường. Này anh bạn, tôi đang uốn nắn họ đi đúng hướng đấy chứ. Nếu tôi không đứng ra đòi quyền lợi cho họ dựa trên một nền tảng kinh tế vững chắc, họ sẽ dỗi hờn và trở thành mồi ngon cho bất kỳ tên khốn nào ra rả giảng đạo về cách mạng. Tôi và những người như tôi chính là những chiếc van an toàn, nếu cậu hiểu ý tôi. Và cậu đừng có hiểu lầm nhé, cậu Brand. Những người đang biểu tình đòi tăng lương thực ra không phải là phản chiến. Họ đang chiến đấu vì những chàng trai ở hải ngoại cũng nhiều như vì chính bản thân họ vậy. Chẳng có lấy một người trong số một ngàn người ấy lại không chịu làm việc đến mù cả mắt để đánh bại người Đức đâu. Chính phủ đã mắc sai lầm, và họ phải trả giá cho những sai lầm đó. Nếu không phải thế, công nhân sẽ cảm thấy mình giống như một con chuột trong cái bẫy, bởi họ chẳng có cách nào để giãi bày nỗi bất bình của mình. Cớ sao kẻ giàu thì gấp đôi lợi nhuận trong khi người nghèo lại chật vật mãi mới có được đĩa trứng và bánh mì nướng vào sáng Chủ nhật? Đó chính là ý nghĩa của phong trào bất mãn trong giai cấp công nhân, theo cách gọi của họ, và tôi cho đó là một điều hay, bởi nếu giai cấp công nhân không thỉnh thoảng buông lỏng cương ngựa, thì dũng khí của xứ sở này sẽụ t tắt ngấm, và Hindenburg có thể bóp nghẹt nó dễ dàng như bóp một quả táo mục.”

Tôi hỏi liệu ông có đại diện cho đa số công nhân không.

“Chín mươi phần trăm trong bất kỳ cuộc bỏ phiếu kín nào. Tôi không nói là không có lũ cặn bã — đám du thủ du thực chuyên la cà quán rượu cùng lũ đầu óc bã đậu suốt ngày đọc báo rồi tự làm mụ mẫm trí óc bằng mấy thứ trò mèo ngoại lai. Nhưng người công nhân bình thường bên bờ sông Clyde, cũng giống như người bình thường ở những nơi khác, chỉ căm ghét đúng ba thứ: đó là người Đức, bọn đầu cơ tích trữ mà họ vẫn gọi, và người Ireland. Nhưng họ ghét người Đức nhất.”

“Người Ireland cơ à!” tôi thốt lên ngạc nhiên.

“Đúng thế, người Ireland,” kẻ cuối cùng trong dòng dõi những người theo phái cấp tiến vùng Biên giới kêu lên. “Glasgow ngày nay nồng nặc mùi của hai thứ: tiền bạc và người Ireland. Tôi còn nhớ thời mà tôi từng ủng hộ chính sách Quản trị Nội địa của ông Gladstone, và hay ba hoa về một quốc gia chị em cao thượng, hào phóng, nồng hậu nhưng lại đang bị giam cầm trong xiềng xích ngoại bang. Chúa tôi! Tôi không nói đến xứ Ulster, nơi vốn là một cái hang hùm nọc độc cứng đầu, dù họ cũng là máu mủ của chúng ta. Nhưng những kẻ không thèm nhấc lấy một ngón tay để giúp đỡ cuộc chiến, lại tranh thủ thời điểm hoạn nạn của chúng ta để dấy lên một cuộc nổi loạn rẻ mạt thì thực sự đáng nguyền rủa trước mặt Chúa và loài người. Chúng ta đối xử với chúng như những con cừu non cưng nựng, và đó là những gì chúng ta nhận lại. Chúng lũ lượt kéo đến đây hàng ngàn người để cướp lấy công việc của những chàng trai đang làm tròn bổn phận của mình. Tuần trước, tôi đã trò chuyện với một góa phụ mở tiệm sữa nhỏ dọc theo đường Dalmarnock. Bà có hai cậu con trai, cả hai đều tòng quân, một người thuộc trung đoàn Cameronians và người kia đang là tù binh ở Đức. Bà ấy kể rằng mình không thể gượng nổi nữa vì thiếu sự giúp đỡ của mấy đứa con, dù bà đã làm việc đến mòn cả móng tay. ‘Chắc chắn đó là một chuyện tàn nhẫn, thưa ông Amos,’ bà ấy nói, ‘khi Chính phủ bắt đi cả hai đứa con trai của tôi, để rồi có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại chúng nữa, thế mà lại để cho người Ireland nhởn nhơ và cướp đi miếng cơm manh áo từ miệng chúng tôi. Ngay tại nhà máy khí đốt ở bên kia đường, tuần trước họ đã tuyển dụng tới một trăm người Ireland, và đứa nào cũng trẻ trung, khỏe mạnh, cường tráng đúng như ông mong muốn. Trong khi đứa con trai bé bỏng Davie của tôi, đứa đang ở Đức ấy, từ xưa ngực đã yếu, còn thằng Jimmy thì hay đau bụng. Thế thì chắc chắn là chẳng có công lý nào cả!’....”

Ông ngừng bặt và quẹt một que diêm vào đáy quần để châm lửa. “Đến lúc tôi phải bật đèn khí đốt lên rồi. Có vài người sắp đến đây lúc mười rưỡi đấy.”

Trong lúc ngọn đèn khí đốt reo xì xèo và chớp nháy ánh sáng, ông phác họa sơ lược về những vị khách sắp tới. “Có Macnab và Niven, hai đồng nghiệp của tôi. Rồi có Gilkison bên thợ lắp ráp nồi hơi, và một cậu tên là Wilkie — cậu ta bị lao phổi, hay viết dăm ba bài báo nhỏ. Lại có một tay kỳ cục tên là Tombs — họ bảo hắn ta đến từ Cambridge, là một dạng giáo sư nào đó ở trỏng — tóm lại là trong đầu hắn toàn những lời ba hoa nhảm nhí nhiều hơn trứng gà chứa lòng đỏ. Hắn bảo với tôi rằng hắn đến đây để thấu hiểu trái tim của người lao động, và tôi đã bảo thẳng với hắn rằng hắn sẽ phải nhìn xa hơn cái cổ áo khoác của người thợ mỏ. Chẳng có mấy chữ nghĩa trong đầu hắn đâu, tội nghiệp. Rồi sẽ có Tam Norie, kẻ chủ biên tờ báo tuần của chúng ta — tờ Công lý cho Tất cả. Tam là một tay hài hước và rất mê Robert Burns, nhưng hắn ta chẳng có được sự vững vàng của một con con quay đang lả tả xoay tròn.... Cậu hiểu chứ, cậu Brand, khi ở giữa những con người như thế, tôi thường ngậm miệng lại và không bày tỏ quan điểm cá nhân nhiều hơn mức thực sự cần thiết. Thỉnh thoảng tôi đưa ra vài lời chỉ trích, và điều đó mang lại cho tôi tiếng tăm là một kẻ có óc thực tế vững như đá tảng, nhưng tôi không bao giờ để cái lưỡi mình ba hoa nhặng xị. Phần lớn đám thanh niên đến tối nay chẳng phải là công nhân thực thụ đâu — bọn chúng chỉ là lớp bọt bèo nổi trên mặt vại bia, nhưng chính lớp bọt bèo đó lại hữu ích đối với cậu. Nhớ rằng họ đã nghe danh cậu rồi đấy, và cậu cũng đang có chút tiếng tăm cần phải duy trì cho ra dáng.”

“Liệu ông Abel Gresson có đến đây không?” tôi hỏi.

“Không,” ông đáp. “Chưa đâu. Tôi và hắn ta chưa đến mức qua lại thăm viếng nhau. Nhưng những người đến đây sẽ là bạn bè của Gresson, và họ sẽ nhắc đến cậu trước mặt hắn. Đó là loại giấy giới thiệu tốt nhất mà cậu có thể tìm kiếm.”

Tiếng gõ cửa vang lên, và ông Amos vội vã ra đón những vị khách đầu tiên. Đó là Macnab và Wilkie: một người là người đàn ông trung niên đứng đắn với gương mặt vừa rửa sạch và chiếc cổ áo bằng nhựa xел-lô-lốt (celluloid), người kia là một thanh niên gù lưng, mái tóc xơ xác cùng đôi mắt to và làn da sáng bóng đặc trưng của bệnh lao. “Đây là cậu Brand, các bạn ạ, đến từ Nam Phi,” Amos giới thiệu. Chẳng mấy chốc sau, Niven bước vào, một gã khổng lồ rậm râu, cùng với ông Norie, chủ bút tờ báo, một kẻ béo phì, luộm thuộm đang phì phèo điếu xì gà nặng mùi. Gilkison bên thợ lắp ráp nồi hơi, khi đến nơi, hóa ra lại là một thanh niên dễ mến đeo kính, nói giọng có học thức và rõ ràng thuộc về một tầng lớp xã hội khác biệt đôi chút. Cuối cùng là Tombs, vị giáo sư Cambridge, một thanh niên gầy gò với khóe miệng cau có và đôi mắt gợi tôi nhớ đến Launcelot Wake.

“Cậu chắc không phải là một ông trùm tư bản tài phiệt đâu nhỉ, cậu Brand, dù cậu đến từ Nam Phi,” ông Norie lớn tiếng cười vang nói.

“Tôi á? Không đời nào. Tôi là một kỹ sư làm công ăn lương,” tôi đáp. “Cha tôi là người Scotland, và đây là chuyến thăm đầu tiên của tôi đến quê hương, như bạn tôi là ông Amos vừa kể cho các vị nghe đấy.”

Gã bị bệnh lao nhìn tôi đầy nghi ngờ. “Ở đây chúng tôi có hai, ba đồng chí từng bị chính quyền tư bản trục xuất khỏi Transvaal đấy. Nếu cậu cùng chung chí hướng với chúng tôi, có lẽ cậu sẽ biết họ.”

Tôi đáp rằng tôi rất sẵn lòng được gặp gỡ họ, nhưng vào thời điểm xảy ra vụ việc bất công đó, tôi đang làm việc tại một mỏ than nằm cách đó tận một ngàn dặm về phía bắc.

Thế rồi một cuộc trò chuyện kỳ lạ kéo dài suốt một tiếng đồng hồ diễn ra sau đó. Tombs với giọng điệu đều đều, ủy mị mang phong cách đại học lại tỏ ra rất tha thiết muốn thu thập thông tin. Hắn đặt ra vô số câu hỏi, chủ yếu nhắm vào Gilkison, người duy nhất thực sự hiểu được thứ ngôn ngữ của hắn. Tôi thầm nghĩ chưa từng thấy ai vừa ba hoa vừa vô tích sự đến thế, vậy mà trong con người hắn lại ẩn chứa một thứ bạo lực yếu ớt kiểu như một con cừu bị điên. Hắn đang bận rộn trút bỏ một mối thù vặt vãnh mang tính hàn lâm chống lại xã hội, và tôi nghĩ rằng nếu có một cuộc cách mạng xảy ra, hắn chính là kiểu người mà tôi sẽ tự tay áp giải đến cái cột đèn gần nhất. Trong khi đó, Amos, Macnab và Niven vẫn tiếp tục câu chuyện riêng của họ về các vấn đề của hội đoàn, hoàn toàn phớt lờ cơn lốc đang cuồn cuộn xung quanh.

Chính ông Norie, vị chủ bút, là người đã kéo tôi vào cuộc tranh luận.

“Bạn Nam Phi của chúng ta có vẻ rụt rè quá nhỉ,” hắn cất giọng oang oang. “Andra này, nếu cái xó nhà của ông không đến mức kiêng khem rượu chè chết tiệt và chúng ta có mỗi người một ly, thế nào cũng cạy được miệng cậu ta ra cho xem. Tôi muốn nghe xem cậu ta nói gì về cuộc chiến này. Sáng nay ông bảo với tôi rằng cậu ta có lập trường tư tưởng rất vững vàng cơ mà.”

“Tôi chẳng hề nói thế,” ông Amos đáp. “Như cậu thừa biết đấy, Tam Norie ạ, tôi không đánh giá sự vững vàng trong vấn đề đó theo cách của cậu. Bản thân tôi ủng hộ chiến tranh, với một số điều kiện nhất định mà tôi đã nêu ra nhiều lần. Tôi chẳng biết gì về quan điểm của cậu Brand, ngoại trừ việc cậu ấy là một người theo chủ nghĩa dân chủ chân chính, điều mà tôi không dám chắc ở một số bạn bè của cậu đâu.”

“Nghe Andra nói kìa,” ông Norie cười lớn. “Hắn ta đang nghĩ rằng vị thanh tra trong Nhà nước Xã hội chủ nghĩa sẽ là một dạng quý tộc tồi tệ hơn cả Công tước xứ Buccleuch. Chà, có lẽ có chút lý gì đó trong câu nói ấy. Nhưng về cuộc chiến thì hắn ta đã sai. Các cậu đều biết quan điểm của tôi rồi đấy. Cuộc chiến này do bọn tư bản gây ra, và những người lao động phải gánh chịu xương máu trên chiến trường, thế nên chính người lao động mới là những kẻ có quyền phán quyết hồi kết của nó. Ngày đó đang đến rất gần. Có những kẻ muốn kéo dài nó ra cho đến khi giai cấp công nhân suy kiệt đến mức có thể bị xích lại trong suốt phần đời còn lại. Đó chính là mưu đồ mà chúng ta phải ngăn chặn. Chúng ta phải đánh bại người Đức, nhưng chính người lao động mới có quyền phasny quyết xem kẻ thù đã thực sự gác kiếm hay chưa chứ không phải bọn tư bản. Cậu nghĩ sao, cậu Brand?”

Rõ ràng là ông Norie đã tự chĩa mũi giáo về phía mình, nhưng hắn đã trao cho tôi cơ hội mà tôi hằng mong mỏi. Tôi bèn trút hết quan điểm của mình ra một cách vô cùng quyết liệt, và quan điểm đó không gì khác ngoài việc vì lợi ích của nền dân chủ mà cuộc chiến này phải chấm dứt. Tôi tự mãn cho rằng mình đã lập luận rất xuất sắc, bởi tôi đã chuẩn bị sẵn mọi luận điệu sáo rỗng và mượn lại kha khá từ kho tàng lý luận của Launcelot Wake. Nhưng tôi cũng không làm quá đà, vì tôi nắm rất rõ ấn tượng mà mình muốn tạo ra. Tôi phải tỏ ra thật thà và nghiêm túc, có hơi cực đoan một chút, nhưng trên hết phải là một doanh nhân thực tế, người biết rõ khi nào thì thời cơ đã chín muồi để chốt một thương vụ. Tombs cứ liên tục ngắt lời tôi bằng những câu hỏi ngốc nghếch, khiến tôi phải tìm cách dằn mặt hắn. Cuối cùng, ông Norie gõ cái tẩu xuống bàn cái cốp.

“Thế mới xứng tầm với cậu chứ, Andra. Ông đang rước một vị thiên sứ vào nhà mà không hay biết đấy. Cậu nghĩ sao về điều đó, anh bạn trẻ?”

Ông Amos lắc đầu. “Tôi không phủ nhận là có lý trong đó, nhưng tôi chưa bị thuyết phục rằng người Đức đã chịu đủ đòn đau.” Macnab đồng tình với ông; những người còn lại thì đứng về phía tôi. Norie thì giục giẽ tôi viết một bài báo cho tờ tuần san của hắn, còn gã bị lao thì nài nỉ tôi lên phát biểu trong một buổi mít-tinh.

“Cậu có muốn nói lại tất cả những điều đó vào tối mai tại hội trường của chúng tôi ở phố Newmilns không? Chúng ta có một buổi họp chi hội I.W.B., và tôi sẽ đưa tên cậu vào chương trình.” Hắn dán chặt đôi mắt sáng quắc như mắt một con chó bệnh vào người tôi, và tôi hiểu rằng mình vừa kiếm thêm được một đồng minh. Tôi đáp rằng tôi đến Glasgow là để học hỏi chứ không phải để dạy đời, nhưng tôi sẽ không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để bày tỏ niềm tin của mình.

“Nào các cậu, tôi đi ngủ đây,” Amos nói, rũ sạch tàn thuốc trong tẩu. “Cậu Tombs, ngày mai tôi sẽ dẫn cậu đi tham quan nhà máy Brigend, nhưng thế này là quá đủ những chuyện tám nhảm cho một buổi tối rồi. Tôi là người cần ngủ đủ tám tiếng một ngày.”

Ông cụ tiễn họ ra cửa, rồi quay lại nhìn tôi với một nụ cười mờ nhạt ẩn hiện trên nét mặt.

“Một đám đông kỳ quặc thật, cậu Brand! Macnab không thích những gì cậu vừa nói đâu. Nó có một đứa con trai đã tử trận ở Gallipoli, và nó chẳng màng đến chuyện hòa bình trước khi nhắm mắt xuôi tay đâu. Nó là người bạn thân nhất của tôi ở Glasgow đấy. Nó là một trưởng lão trong nhà thờ Gaelic ở Cowcaddens, còn tôi thì người ta hay gọi là một kẻ tự do tư tưởng, nhưng chúng tôi lại vô cùng tâm đầu ý hợp về những nguyên tắc cốt lõi. Phải công nhận là cậu đã trình bày rất khá đấy. Gresson thế nào cũng sẽ nghe tiếng đồn về cậu như một tân binh đầy triển vọng cho xem.”

“Đúng là một công việc chết tiệt,” tôi thốt lên.

“Ừ, đúng là một việc chết tiệt. Bản thân tôi đôi khi cũng thấy phát ói vì nó. Nhưng chúng ta chẳng có quyền gì mà phàn nàn. Ngoài chiến trường bên Pháp còn có những nhiệm vụ tồi tệ hơn dành cho những con người dũng cảm hơn chúng ta.... Nghe tôi dặn câu này nhé, cậu Brand. Cậu có thể làm cho cái vẻ mặt ngây ngô hơn chút nữa được không? Cậu cứ trừng trừng nhìn thẳng vào mắt người ta hệt như một gã thượng sĩ người Scotland đóng ở doanh trại Maryhill ấy.” Và ông nháy mắt một cách chậm rãi, kỳ quặc bằng con mắt bên trái.

Ông bước đến một chiếc tủ và lấy ra một chai rượu màu đen cùng chiếc ly. “Tôi thì giữ huy hiệu xanh kiêng rượu, nhưng cậu nên uống chút gì đó để át đi cái vị khó chịu trong miệng đi. Nước hồ Katrine ở vòi kìa... Như tôi vừa nói đấy, đám người đó chẳng có ác ý gì mấy đâu. Tombs quả là một vết nhơ tày đình, nhưng dẫu sao thì một ông thầy giáo ở đâu trên thế giới này cũng vẫn là thầy giáo mà thôi. Bọn chúng có thể ba hoa về tổ chức Công nhân Công nghiệp của mình cùng những điều hay ho vĩ đại mà chúng định làm, nhưng bên bờ sông Clyde vẫn còn thứ củi mục đượm đà độ ẩm đấy. Đáng lẽ chúng nên thử sang Ireland xem sao.”

“Giả sử,” tôi nói, “có một kẻ thực sự thông minh muốn giúp sức cho kẻ thù. Ông có nghĩ rằng hắn ta khó lòng làm được điều gì có ích bằng cách gây rối trong các nhà máy ở đây không?”

“Tôi dám khẳng định là không.”

“Và nếu là một kẻ khôn ngoan, hẳn hắn sẽ sớm nhận ra điều đó chứ?”

“Đúng vậy.”

“Thế thì nếu hắn vẫn cứ bám trụ lại đây, chắc chắn hắn đang nhắm tới những mục tiêu lớn lao hơn — thứ gì đó thực sự nguy hiểm và đáng nguyền rủa?”

Amos cau mày nhìn thẳng vào mặt tôi. “Tôi hiểu điều cậu đang ám chỉ rồi đấy. Đúng thế! Đó cũng sẽ là kết luận của tôi. Tôi đã ngộ ra điều đó từ nhiều tuần trước về cái gã mà có lẽ cậu sẽ gặp vào tối mai.”

Rồi từ dưới gầm giường, ông kéo ra một chiếc hộp và lấy từ trong đó một cây sáo cực đẹp.

“Cậu thông cảm nhé, cậu Brand, nhưng tôi có thói quen thổi một khúc nhạc trước khi đi ngủ. Macnab thì đọc kinh cầu nguyện, còn tôi thì thổi sáo, nguyên lý cũng giống nhau cả thôi.”

Thế là buổi tối kỳ lạ ấy khép lại trong âm nhạc — những khúc ca du dương, chuẩn mực của các giai điệu cổ vùng Biên giới như “My Peggy is a young thing” (Peggy của tôi là một cô gái trẻ) và “When the kye come hame” (Khi đàn bò về chuồng). Tôi chìm vào giấc ngủ với hình ảnh ông Amos, khuôn miệng chúm chím lại cùng ánh mắt đượm vẻ hoài niệm xa xăm, đang tìm lại những cảm xúc của một thời tuổi trẻ giữa chốn trần gian nhơ nhớp này.

Người đàn bà góa phụ ở căn hộ bên cạnh, người đảm nhận vai trò quản gia, đầu bếp kiêm lo toan mọi việc trong nhà, mang nước cạo râu đến cho tôi vào sáng hôm sau, nhưng tôi đành phải nhịn tắm. Khi bước vào nhà bếp, tôi chẳng thấy ai ở đó, nhưng trong lúc tôi đang ngấu nghiến món trứng ốp-la với bánh mì nướng quen thuộc, Amos đã quay về kịp bữa sáng. Ông mang theo tờ báo buổi sáng.

“Tờ Herald đưa tin có một trận chiến lớn diễn ra ở Ypres,” ông thông báo.

Tôi giật phăng tờ báo ra và đọc về cuộc tấn công lớn vào ngày 31 tháng 7 vốn đã bị thời tiết phá hỏng. “Chúa ơi!” tôi kêu lên. “Chúng đã chiếm được St. Julien và cái gờ đất Frezenberg chết tiệt đó... cả Hooge... và Sanctuary Wood nữa. Tôi thuộc làu từng tấc đất của cái xó xỉnh quái quỷ đó...”

“Cậu Brand,” một giọng nói mang tính cảnh báo vang lên, “thế thì không ổn chút nào đâu. Nếu những người bạn tối nay nghe thấy cậu nói thế, tốt nhất cậu nên bắt tàu quay về London đi thôi... Sáng nay họ đang bàn tán về cậu trong các xưởng đấy. Cậu sẽ thu hút một lượng lớn người tham gia buổi họp tối nay, nhưng họ đang đồn rằng cảnh sát sẽ nhúng tay vào đấy. Điều đó chưa chắc đã tệ, nhưng tôi tin cậu sẽ biết cư xử khôn ngoan, bởi cậu sẽ chẳng còn giúp ích được gì cho ai nếu bị tống giam vào nhà tù Duke Street đâu. Tôi nghe nói Gresson sẽ có mặt ở đó với thông điệp tình ái từ bọn điên ở Mỹ của hắn... Tôi đã sắp xếp để chiều nay cậu ghé qua chỗ Tam Norie và phụ giúp hắn một tay với tờ báo nhỏ của hắn. Tam sẽ kể cho cậu nghe mọi chuyện tám nhảm ở miền Tây, và tôi trông cậy vào việc cậu sẽ ngăn không cho hắn uống rượu. Hắn lúc nào cũng ngụy biện rằng viết lách và rượu chè phải đi đôi với nhau, rồi trích dẫn thơ Robert Burns, trong khi cái sinh mạng ấy còn có người vợ và năm đứa con đang nhe nhóc trông chờ vào hắn.”

Tôi đã trải qua một ngày kỳ quặc. Suốt hai tiếng đồng hồ, tôi ngồi trong cái hang ổ luộm thuộm của Norie, trong lúc hắn vừa hút thuốc, vừa diễn thuyết, và thỉnh thoảng sực nhớ ra công việc của mình thì lại dùng tốc ký để ghi lại những ấn tượng của tôi về tình hình lao động ở Nam Phi cho tờ báo giẻ rách của hắn. Đó là những ấn tượng bay bổng, sảng khoái dựa trên sự thiếu hiểu biết một cách triệt để nhất, và nếu chúng thực sự lọt đến vùng Rand, tôi tự hỏi những người bạn của tôi ở đó sẽ nghĩ gì về Cornelius Brand, tác giả của chúng. Tôi khoản đãi hắn bữa tối tại một quán ăn tầm thường trên con phố rẽ ra khu Broomielaw, sau đó cùng hắn làm một ly ở quán rượu và được giới thiệu với vài người bạn có phần bất hảo của hắn.

Khoảng giờ uống trà, tôi quay lại khu trọ của Amos và dành khoảng một tiếng để viết bức thư dài gửi ông Ivery. Tôi miêu tả lại cho ông tất cả những người mình đã gặp, đưa ra những nhận xét tô vẽ đậm nét về thứ chất liệu dễ nổ ở vùng Clyde, đồng thời bày tỏ sự tiếc nuối trước sự thiếu minh mẫn của các lực lượng tiến bộ. Tôi phác họa bức chân dung tỉ mỉ về Amos và rút ra kết luận rằng lực lượng Cấp tiến có lẽ sẽ là vật cản cho sự tiến bộ thực sự. “Họ đã chuyển hướng tinh thần hiếu chiến cũ,” tôi viết, “sang một đường ray khác, bởi với họ, việc luôn luôn hiếu chiến là một vấn đề thuộc về lương tâm.” Tôi kết thúc bức thư bằng những lời lẽ vô cùng thô thiển về kinh tế học được nhặt nhạnh từ những câu chuyện bên lề bàn ăn của kẻ ngốc nghét Tombs. Đó là kiểu bức thư mà tôi hy vọng sẽ thiết lập vững chắc nhân cách của một kẻ ngây thơ chăm chỉ trong tâm trí ông.

Đúng bảy giờ, tôi có mặt ở phố Newmilns và bị Wilkie túm lấy. Cậu ta đã diện chiếc cổ áo sạch sẽ cho dịp này và kỳ cọ sạch sẽ một phần gương mặt gầy gò của mình. Tội nghiệp cậu ta, cơn ho cứ rung lắc cơ thể cậu hệt như những bức tường của một nhà máy điện lúc các cỗ máy ma-nhê-tô đang hoạt động hết công suất.

Cậu ta tỏ ra rất áy náy khi nhắc đến Amos. “Andra thuộc về một thế giới đã qua rồi,” cậu ta nói. “Ổng có tiếng tăm lớn trong hội đoàn và là một chiến binh cừ khôi, nhưng ổng chẳng có chút Tầm nhìn nào cả, nếu cậu hiểu ý tôi. Ổng là một tín đồ Gladstone già cỗi, và điều đó đã lỗi thời cùng đường ở Scotland rồi. Ổng không phải là một người hiện đại, cậu Brand, không giống như cậu và tôi. Nhưng tối nay cậu sẽ gặp một vài anh chàng đáng để làm quen đấy. Có lẽ cậu sẽ không đi xa được đến mức như họ, nhưng chúng ta cùng chung một con đường. Tôi đang hy vọng đến ngày chúng ta có được những Hội đồng Công nhân và Binh lính giống như người Nga trên khắp đất nước này và đưa ra các điều kiện của mình để sai khiến lũ ký sinh trong Nghị viện. Họ cũng bảo với tôi rằng mấy cậu trai ở chiến tuyến đang dần ngả theo phía chúng ta rồi đấy.”

Chúng tôi bước vào hội trường qua cửa sau, và trong một phòng đợi nhỏ, tôi được giới thiệu với một vài diễn giả. Trông họ thật nhếch nhác khi xuất hiện ở cái nơi tối tăm ẩm thấp đó. Chủ tịch là một ủy viên đại diện công xưởng thuộc một trong các Hội đoàn, một gã đàn ông dữ dằn trông như con chuột nhắt, nói giọng đặc sệt thổ âm London và gọi tôi là “Đồng chí”. Nhưng một trong số họ đã khơi gợi lên sự quan tâm tột độ của tôi. Tôi nghe thấy cái tên Gresson, và quay lại bắt gặp một gã chừng ba mươi lăm tuổi, ăn mặc khá chải chuốt với một bông hoa cài trên khuy áo. “Cậu Brand,” hắn cất giọng Mỹ trầm ấm gợi nhớ đến Blenkiron. “Rất vui được gặp anh, thưa ngài. Chúng ta đã lặn lội từ những góc khuất xa xôi trên địa cầu để có mặt tại buổi tụ họp này.” Tôi chú ý thấy hắn có mái tóc ngả đỏ, đôi mắt nhỏ sắc bén cùng chiếc mũi quặp xuống giống hệt người Do thái gốc Ba Lan.

Ngay khi bước lên bục, tôi đã thấy rằng rắc rối sắp sửa nổ ra. Hội trường chật ních người đến tận cửa, và ở nửa phần trước là kiểu khán giả mà tôi dự đoán — những người thợ mang khuynh hướng chính trị, những người trước chiến tranh từng kéo đến đông nghịt các cuộc mít-tinh đảng phái. Nhưng không phải tất cả đám đông ở phía sau đều đến để lắng nghe. Một số là đám du thủ du thực, một số trông giống như những tay nhân viên văn phòng hạng xoàng đang đi chơi xả lơi, và có cả một lượng không nhỏ mặc quân phục kaki. Lại có thêm một hoặc hai vị khách hoàn toàn không giữ được sự tỉnh táo.

Chủ tịch bắt đầu bằng việc tự đá vào chân mình. Hắn nói rằng chúng ta có mặt tối nay để phản đối việc tiếp tục chiến tranh và thành lập một chi hội mới của Hội đồng Công nhân và Binh lính Anh quốc. Hắn tuyên bố với họ bằng một mớ phép ẩn dụ hỗn độn rằng chúng ta phải tự nắm lấy dây cương, bởi những kẻ đang giật dây cuộc chiến có tư lợi riêng và đang bước lên đài quang vinh trên xương máu của giai cấp công nhân. Hắn nói thêm rằng chúng ta không hề có mối thù nào với nước Đức tồi tệ bằng mối thù với chính giới tư bản nước nhà. Hắn mong chờ đến ngày các binh sĩ Anh nhảy khỏi chiến hào và chìa bàn tay hữu ái ra với những người đồng chí Đức của họ.

“Tao thì đéo đời nào!” một giọng nói trầm đục vang lên. “Tao chẳng dại gì đi ăn đạn vào bụng đâu,” — lập tức tiếng cười hùa và tiếng la ó vang lên khắp phòng.

Tombs nối tiếp chương trình và còn làm mọi thứ tồi tệ hơn. Hắn quyết tâm nói chuyện, theo cách hắn gọi là, với giai cấp công nhân bằng chính ngôn ngữ của họ, thế nên hắn liên tục thốt lên từ “địa ngục” vài lần với giọng lớn tiếng nhưng hoàn toàn thiếu sự thuyết phục. Chẳng mấy chốc hắn lại trượt dài sang cái giọng điệu của một giảng viên đại học, khiến khán giả bắt đầu bứt rứt không yên. “Tôi xin tự đặt ra cho mình một câu hỏi—” hắn bắt đầu, và từ cuối hội trường vang lên tiếng vọng —“Và mày sẽ nhận được một câu trả lời khốn nạn đấy cho xem.” Sau câu nói đó, chẳng còn ai thèm nghe Tombs lải nhải thêm lời nào nữa.

Tôi bước lên tiếp lời với sự căng thẳng tột độ, và thật ngạc nhiên là tôi lại nhận được sự lắng nghe khá ôn hòa từ khán giả. Tôi cảm thấy mình chẳng khác nào một con chó ghẻ trong một buổi sáng mùa lạnh giá, bởi tôi cực kỳ căm ghét việc phải nói những điều nhảm nhí trước mặt những người lính — đặc biệt là trước một đôi lính thuộc trung đoàn Royal Scots Fusiliers, những người, biết đâu đấy, lại từng ở trong chính lữ đoàn của tôi. Lập trường của tôi là một con người thực tế, bình dị và yêu nước, vừa từ các thuộc địa trở về, nhìn nhận mọi thứ bằng đôi mắt mới mẻ và kêu gọi một sự thay đổi toàn diện. Tôi giữ thái độ rất ôn hòa, nhưng để biện minh cho sự xuất hiện của mình ở đó, tôi buộc phải thêm thắt vài câu kích động, và tôi đã lấy chúng từ những lời tấn công nảy lửa nhằm vào Bộ Quốc phòng chuyên trách về Đạn dược. Tôi pha trộn thêm chút ít lời ca ngợi nhẹ nhàng dành cho người Đức, những người mà tôi nói rằng mình đã từng quen biết khắp nơi trên thế giới và họ đều là những kẻ tử tế. Tôi nhận được rất ít tràng pháo tay, nhưng cũng không có sự phản đối gay gắt nào, và tôi bước xuống bục với một sự nhẹ nhõm vô bờ bến.

Vị diễn giả tiếp theo đã làm trầm trọng thêm tình hình. Tôi tin rằng ông ta là một nhà kích động nổi tiếng từng bị trục xuất trước đó. Đối với ông ta, chẳng có thái độ nửa vời nào cả, bởi một nửa khán giả hò reo cuồng nhiệt khi ông bước lên, trong khi nửa còn lại thì huýt sáo và la ó phản đối. Ông ta bắt đầu bằng những lời lăng mạ cuồng phong nhắm vào tầng lớp giàu có nhàn rỗi, rồi đến tầng lớp trung lưu (ông ta gọi họ là “bọn nô bộc của kẻ giàu”), và cuối cùng là Chính phủ. Tất cả những điều đó được đón nhận khá suôn sẻ, bởi thói quen của người Anh là vừa chê bai mọi Chính phủ nhưng lại vừa cực kỳ miễn cưỡng khi phải chia tay nó. Sau đó, ông ta chuyển sang đề tài binh lính và bắt đầu chì chiết các sĩ quan (ông ta gọi họ là “lũ quý tử nhà giàu”) cùng các vị tướng, những kẻ mà ông ta cáo buộc là lười biếng, hèn nhát và nghiện ngập thường xuyên. Ông ta bảo chúng ta rằng máu thịt của anh em chúng ta đang bị hy sinh trong mọi trận chiến bởi những kẻ chỉ huy không có gan để chia sẻ rủi ro cùng họ. Hai người lính thuộc trung đoàn Scots Fusiliers tỏ ra bối rối, như thể họ đang nghi ngờ không hiểu hết ý nghĩa câu nói của ông ta. Rồi ông ta nói toạc móng heo hơn. “Có người lính nào dám phủ nhận rằng những người lính trướng chính là tấm lá chắn để giữ cho da dẻ bọn sĩ quan được lành lặn không?”

“Đó là một lời nói dối khốn nạn,” một trong số những người lính Fusiliers lên tiếng.

Gã diễn giả phớt lờ lời gián đoạn đó vì đang bị cuốn đi bởi dòng thác hùng biện của chính mình, nhưng hắn đã không tính đến sự dai dẳng của người ngắt lời. Người lính chầm chậm đứng dậy và tuyên bố rằng anh ta muốn đòi lại công bằng. “Nếu mày còn há cái mồm bẩn thỉu ra để bôi nhọ những người lao động lương thiện, tao sẽ leo lên bục và bẻ gãy cổ mày đấy.”

Ngay lúc đó, một cuộc náo loạn thực sự bùng nổ, kẻ thì la hét “Trật tự”, người thì đòi “Chơi đẹp”, còn số khác thì vỗ tay tán thưởng. Một người Canada ở cuối hội trường bắt đầu cất tiếng hát, và một làn sóng xô đẩy chen lấn đáng sợ diễn ra. Cả hội trường như đang dịch chuyển từ phía sau lên phía trước, và người ta đã đứng kín tất cả các lối đi cho đến tận sát mép bục giảng. Tôi không thích ánh mắt của những kẻ mới xuất hiện này, và trong đám đông, tôi nhận ra vài người rõ ràng là cảnh sát mặc thường phục.

Vị chủ tịch thì thầm vài câu với diễn giả, và hắn tiếp tục nói khi tiếng ồn ào tạm thời lắng xuống. Hắn tránh đề cập đến quân đội và quay trở lại với Chính phủ, rồi tuôn ra một tràng tư tưởng vô chính phủ nguyên chất. Nhưng hắn lại tự chuốc họa vào thân khi chỉ tay vào nhóm Sinn Feiners như những ví dụ điển hình cho tinh thần độc lập đầy nam tính. Ngay lập tức, tình trạng hỗn loạn vô chính phủ bùng phát dữ dội, và hắn chẳng còn cơ hội nào để nói tiếp. Rất nhiều vụ ẩu đả đang diễn ra trong hội trường giữa công chúng và những kẻ ủng hộ cuồng nhiệt của diễn giả.

Lúc đó, Gresson bước ra mép bục giảng trong nỗ lực vô vọng nhằm vãn hồi tình hình. Phải công nhận là hắn làm việc đó cực kỳ cừ khôi. Hắn rõ ràng là một diễn giả có nghề, và trong khoảnh khắc, lời kêu gọi của hắn —“Nào các bạn, chúng ta hãy bình tĩnh lại một chút và nói chuyện phải quấy nào,”— đã phát huy tác dụng. Nhưng thảm họa đã rồi, và đám đông đang cuồn cuộn vây quanh cái pháo đài cô độc nơi chúng tôi đang ngồi. Hơn nữa, tôi có thể nhận ra rằng dù hắn có khéo ăn khéo nói đến đâu đi nữa, thì khán giả vẫn không hề có thiện cảm với bộ dạng của hắn. Hắn dịu dàng như một chú chim bồ câu, nhưng họ đời nào chịu buông tha. Một vật thể lao vụt qua mũi tôi, và tôi thấy một bắp cải thối đập thẳng vào cái đầu hói của gã cựu bị trục xuất. Ai đó vươn một cánh tay dài chộp lấy một chiếc ghế và quật ngã Gresson từ phía chân. Rồi ánh sáng đột ngột vụt tắt, và chúng tôi rút lui trong trật tự qua cửa phụ phía bục giảng với một đám đông đang gào thét bám sát gót chân.

Đó chính là lúc những sĩ quan mặc thường phục phát huy tác dụng. Họ giữ cửa trong lúc gã cựu bị trục xuất được tẩu thoát qua một lối đi phụ nào đó. Kiểu người như thế sẽ sớm bị xóa sổ nếu không có sự bảo vệ của chính thứ luật pháp mà hắn luôn mồm muốn bãi bỏ. Phần còn lại chúng tôi, vì ít điều đáng sợ hơn nên được phép tản ra phố Newmilns. Tôi thấy mình đứng cạnh Gresson và bèn khoác tay hắn. Có cái gì đó cứng ngắc trong túi áo khoác của hắn.

Đáng tiếc là có một ngọn đèn đường lớn ngay chỗ chúng tôi bước ra, và đứng sững ở đó để chờ tính sổ với chúng tôi chính là hai người lính thuộc trung đoàn Fusiliers. Cả hai đều đang ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu và quyết tâm đổ máu cho bằng được. Họ phớt lờ tôi, nhưng Gresson đã lên tiếng phát biểu sau khi cơn giận dữ của họ bùng lên, và thế là hắn bị nhắm làm mục tiêu. Với một tiếng hú đầy phấn khích, họ lao thẳng về phía hắn.

Tôi cảm thấy bàn tay hắn len lén thọc vào túi áo bên sườn. “Đừng có làm thế, đồ ngu,” tôi gầm lên bên tai hắn.

“Chắc chắn rồi, thưa ngài,” hắn nói, và ngay giây tiếp theo, chúng tôi đã ở giữa tâm điểm của vụ ẩu đả.

Nó hệt như rất nhiều vụ đánh nhau trên đường phố mà tôi từng chứng kiến — một đám đông khổng lồ tụ tập xung quanh chúng tôi nhưng vẫn chừa ra một khoảng trống ở giữa. Gresson và tôi áp sát vào bức tường trên vỉa hè, đối mặt với đám lính đang cuồng nộ. Ý định của tôi là hành động càng ít càng tốt, nhưng chỉ phút đầu tiên đã thuyết phục tôi rằng bạn đồng hành của tôi hoàn toàn không biết cách sử dụng nắm đấm, và tôi vô cùng sợ rằng hắn sẽ lôi khẩu súng trong túi ra dùng bậy. Chính nỗi sợ đó đã lôi kéo tôi vào cuộc hỗn chiến. Mấy anh chàng lính Fusiliers đều là những tay chơi thể thao chính hiệu, và chỉ có một người bước lên chiến đấu. Anh ta giáng cho Gresson một cú móc hàm bằng tay trái, và nếu không có bức tường đỡ lại thì hắn đã ngã sóng soài rồi. Dưới ánh đèn đường, tôi nhìn thấy ánh mắt hung ác lóe lên trong tròng mắt của tên người Mỹ và cái giật tay của hắn vào túi áo. Điều đó đã quyết định việc tôi phải nhúng tay vào và tôi bước lên chắn trước mặt hắn.

Hành động này đã kéo người lính thứ hai vào vòng chiến. Anh ta là một gã to con, vai u thịt bắp, thuộc kiểu lính chân vòng kiềng đáng yêu mà tôi từng chứng kiến khi họ băng qua khu Tam giác Đường sắt ở Arras nhẹ nhàng như thấm giấy bồi vậy. Anh ta cũng có chút ít mánh khóe đánh nhau, và mang lại cho tôi một phen khốn đốn, bởi tôi vừa phải đánh lạc hướng tên vừa nãy vừa phải đẩy tên này ra khỏi Gresson.

“Về nhà đi, đồ ngốc,” tôi hét lên. “Để yên cho quý ông này. Tôi không muốn làm anh bị thương đâu.”

Câu trả lời duy nhất là một cú đấm móc ngang mà tôi vừa kịp né đỡ, tiếp theo là một cú dồn lực mạnh mẽ bằng tay phải mà tôi đã kịp lách người tránh đi, khiến cho các đốt ngón tay anh ta quẹt thẳng vào bức tường. Tôi nghe thấy một tiếng gầm giận dữ, và nhận ra hình như Gresson vừa đá vào ống chân kẻ tấn công mình. Tôi bắt đầu thèm khát sự xuất hiện của cảnh sát.

Rồi đám đông bắt đầu chao đảo, dấu hiệu cho thấy lực lượng gìn giữ trật tự pháp luật đang tới gần. Nhưng họ đã đến quá muộn để ngăn chặn rắc rối. Để tự vệ, tôi buộc phải đối phó nghiêm túc với người lính của mình, và đã tung ra một cú đấm chính xác khi anh ta lao người quá đà và mất thăng bằng. Chưa bao giờ trong đời tôi lại phải đánh một ai đó một cách miễn cưỡng đến thế. Anh ta ngã nhào như một con bò mộng bị bắn trúng và nằm dài trên mặt đường lát đá.

Tôi thấy mình đang lịch sự giải thích mọi chuyện với các cảnh sát. “Những người này phản đối bài phát biểu của vị quý ông này tại buổi mít-tinh, và tôi buộc phải can thiệp để bảo vệ ông ấy. Không, không! Tôi không muốn buộc tội ai cả. Tất cả chỉ là một sự hiểu lầm thôi.” Tôi giúp người lính bất hạnh đứng dậy và nhét vào tay anh ta mười xu để an ủi.

Anh ta lườm tôi đầy hằn học và nhổ nước bọt xuống đất. “Cầm lấy số tiền bẩn thỉu của mày đi,” anh ta nói. “Tao sẽ tính sổ với mày sau, anh bạn ạ — mày và cả cái tên tóc đỏ khốn kiếp kia nữa. Tao sẽ nhớ kỹ mặt mày vào lần tới gặp lại đấy.”

Gresson đang dùng chiếc khăn tay bằng lụa để lau vết máu trên má. “Tôi đoán là mình đang mang ơn anh đấy, cậu Brand,” hắn nói. “Anh cứ tin là tôi sẽ không quên ơn này đâu.”

Tôi quay trở lại căn phòng của một Amos đang vô cùng sốt ruột. Ông lẳng lặng lắng nghe câu chuyện của tôi và bình luận duy nhất là — “Làm tốt lắm mấy chàng trai Fusiliers!”

“Sự việc suýt nữa thì tồi tệ hơn, tôi không phủ nhận điều đó,” ông nói tiếp. “Cậu đã thiết lập được một mối thâm tình nào đó với Gresson, điều này có lẽ sẽ có ích đấy... Nói về Gresson, tôi có tin tức này cho cậu đây. Hắn sẽ khởi hành vào thứ Sáu tới với tư cách là nhân viên quản lý tài chính trên con tàu Tobermory. Tobermory là một con tàu chuyên lang thang mỗi tháng một lần dọc theo vùng cao nguyên phía Tây tận tuốt Stornoway. Tôi đã sắp xếp để cậu có một chuyến đi trên con tàu đó, cậu Brand.”

Tôi gật đầu. “Làm sao ông biết được chuyện đó vậy?” tôi hỏi.

“Tôi phải mất công tìm hiểu mới rõ chứ,” ông đáp một cách khô khan, “nhưng tôi có cách thức và phương tiện của mình. Giờ thì tôi sẽ không làm phiền cậu bằng những lời khuyên nhủ nữa, vì cậu nắm rõ công việc của mình chẳng kém gì tôi cả. Nhưng bản thân tôi ngày mai sẽ đi về phía bắc để kiểm tra một số khu rừng ở Ross-shire, và tôi sẽ tiện đường nhận điện tín ở ga Kyle. Cậu hãy ghi nhớ điều đó. Hãy nhớ luôn rằng tôi là một người đọc rất kỹ cuốn Pilgrim’s Progress (Hành trình của người hành hương) và tôi có một người họ hàng tên là Ochterlony.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John Buchan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.