Nhà Peppers Ở Trường

Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Joel Và Chú Chó Nhỏ

❊ ❊ ❊

“Nào, các con,” Phronsie vừa ngân nga vừa ngừng tay chải mái tóc vàng óng của con búp bê, “các con phải nằm yên và thật ngoan nhé; ngoan thì ta mới xong việc nhanh được,” rồi con bé cúi chào lần lượt từng thành viên trong đại gia đình đang xếp hàng ngay ngắn trước mặt, những người đang chờ đến lượt mình được chăm sóc. Đoạn, con bé nhặt chiếc lược nhỏ vừa rơi xuống đùi lên và lại cặm cụi tiếp tục công việc.

Alexia ngó đầu vào ô cửa của “nhà búp bê” — tên gọi căn phòng nhỏ mà Phronsie dành riêng cho gia đình búp bê của mình. “Ôi trời đất ơi!” con bé kêu lên, “Cậu không bao giờ thấy chán việc cứ mãi diện đồ cho mấy con búp bê ấy à, Phronsie?”

Phronsie thở dài nhưng vẫn kiên nhẫn làm việc của mình. “Ừ, Alexia, tớ cũng có lúc chán chứ; nhưng tớ là mẹ của chúng mà, cậu thấy đấy.”

“Lại còn chải tóc cho chúng nữa chứ!” Alexia tiếp lời, “Ôi trời ạ! Tớ có sống trên đời này cũng chẳng đời nào làm nổi, Phronsie. Tớ chỉ muốn chạy ra vứt hết lũ chúng nó qua cửa sổ thôi.”

“Ôi Alexia!” Phronsie hoảng hốt kêu lên, “Vứt hết chúng qua cửa sổ á! Cậu không thể làm thế được đâu, Alexia.” Con bé xiết chặt vòng tay đang ôm con búp bê.

“Có chứ, tớ sẽ muốn vứt sạch mấy con búp bê kinh khủng ấy ra ngoài cửa sổ, Phronsie Pepper!” Alexia bướng bỉnh tuyên bố.

“Nhưng chúng là con của tớ mà,” Phronsie nói với giọng hết sức nghiêm túc, cố với lấy cả những con búp bê khác đang chờ chải tóc vào lòng, “và ông kính yêu đã tặng chúng cho tớ, tớ yêu tất cả, từng đứa một cơ.”

“Thôi được rồi, cậu thấy đấy, Phronsie,” Alexia vừa nói vừa sà xuống sàn nhà ngay trước chiếc tủ búp bê, ngồi cạnh Phronsie, “nếu không vì mấy con búp bê phiền phức này thì cậu đã có thể ra hiên nhà đi dạo một chút với tớ rồi; đằng này Polly thì đi học, còn bài vở ở phòng ông King thì cậu đã làm xong cả. Nghĩ xem thế thì thích biết mấy, ôi trời ơi!” Alexia vươn vai một cái thật thoải mái để duỗi thẳng vóc dáng cao ngỏng của mình. “Ái!” con bé kêu lên vì một cơn đau nhói.

“Tay cậu đau à, Alexia?” Phronsie hỏi, ngước từ đám búp bê lên nhìn nét mặt Alexia.

“Ừ—chắc thế,” Alexia vừa nói vừa nâng niu cánh tay đang treo lủng lẳng trong chiếc đai vải; “cái thứ tệ hại, đáng ghét này thật chán ngắt, tớ chỉ muốn đấm cho nó một trận.”

“Ôi, đừng thế, Alexia,” Phronsie nài nỉ, “làm thế chỉ đau thêm thôi. Xin cậu đừng làm gì nó hết, Alexia.” Đoạn, con bé đứng dậy, ôm trọn đống búp bê đi về phía chiếc ghế dài và cẩn thận đặt chúng nằm thành một hàng. “Mẹ sẽ chải tóc cho các con vào ngày mai nhé,” con bé nói với chúng; “bây giờ mẹ phải đi có một lát thôi,” rồi quay trở lại. “Chúng mình ra hiên nhà đi,” con bé nói, chìa tay ra.

“Đúng là một thiên thần đáng yêu!” Alexia thốt lên, vồ lấy con bé bằng cánh tay lành lặn, “Cậu tưởng tớ ích kỷ đến mức lôi cậu ra khỏi đám con cái của cậu chắc?”

“Cậu không phải là một đứa ích kỷ đâu, Alexia, và tớ rất quý cậu,” Phronsie nghiêm túc nói, cố né để không chạm vào cánh tay đang bó bột trong lúc Alexia vùng đứng dậy và kéo cô bé xoay vòng quanh phòng. “Và, ôi, tớ sợ cậu làm nó đau lắm,” con bé thở hổn hển. “Dừng lại đi.”

“Tớ không dừng được đâu, Phronsie,” Alexia đáp; “tớ sẽ chết mất nếu không làm gì đó! Ôi, cái cánh tay chết tiệt này!” và con bé khựng lại đột ngột khiến Phronsie phải vội vã lùi ra xa một khoảng an toàn.

“Cha Fisher sẽ không thích thế đâu, Alexia,” Phronsie ra điều không bằng lòng lắm, mái tóc bay xòa trước mặt và đôi má ửng hồng.

“Ôi trời ơi!” Alexia vừa đỡ lấy phần đai treo bằng bàn tay kia, vừa cố nén để không hét lên vì đau đớn, vừa thốt lên, “Thật là chán ngấy khi cứ phải lo nghĩ xem có ai đó không bằng lòng với việc mình làm hay không. Phronsie ạ, tớ cố gắng làm người ngoan ngoãn cũng bằng thừa, vì tớ biết mình chẳng bao giờ làm được đâu. Tớ chỉ thích làm những điều hư hỏng thôi.”

“Ôi không, Alexia,” Phronsie vô cùng sửng sốt lên tiếng, “cậu không thích làm điều hư đâu. Xin hãy nói là cậu không thích đi;” và trước khi Alexia kịp thốt thêm lời nào, những giọt nước mắt đã tuôn rơi trên bầu má bánh đúc, làm ướt sũng chiếc tạp dề của Phronsie. Dù con bé đã chắp tay lại và cố gắng kìm nén, nhưng chẳng ăn thua gì.

“Thôi mà, cậu xem kìa,” Alexia kêu lên, vô cùng hối hận. “Ôi, tớ phải làm sao đây? Tớ phải đi gọi bà Fisher ngay mới được,” và con bé lao vút ra khỏi phòng.

Phronsie loạng choạng chạy theo sau, cất tiếng gọi “Ôi Alexia!” với vẻ đau khổ tột cùng khiến đôi chân đang cắm cổ chạy phải khựng lại và quay ngược trở lại.

“Sao thế, cục cưng?” con bé kêu lên. “Ôi trời ơi! Tớ phải làm gì bây giờ? Tớ phải mách mẹ cậu thôi.”

“Tớ sẽ nín ngay,” Phronsie vừa nói vừa kìm nén dòng nước mắt, “miễn là cậu đừng mách Mamsie,” rồi con bé dùng chiếc tạp dề chà mạnh lên má. “Này, nhìn tớ này, Alexia,” và cố nặn ra một nụ cười.

“Thôi được rồi, quay lại đây nào.” Alexia chộp lấy tay con bé và kéo xềnh xệch lên cầu thang. “Bây giờ tớ sẽ ở lại đây với cậu, nếu cậu cho phép, Phronsie, và tớ sẽ cố gắng không làm mấy chuyện hư hỏng nữa. Tớ thèm được ngoan ngoãn như Polly biết bao. Cậu không tưởng tượng nổi tớ ao ước thế nào đâu,” con bé bộc bạch trong một phút cao hứng rồi lại ngã oạch xuống sàn nhà.

“Ôi Alexia, cậu không bao giờ có thể ngoan được như Polly đâu,” Phronsie đứng ngây người vì kinh ngạc.

“Đương nhiên là không rồi,” Alexia bật cười khúc khích, “nhưng ý tớ là—ôi, cậu hiểu ý tớ mà, Phronsie. Tớ muốn ngoan để Polly phải khen tớ. Thôi, đứng lên nào, lấy mấy con—ý tớ là, mấy đứa con của cậu đi, rồi—”

“Tớ rất mong cậu đừng gọi chúng là búp bê nữa, Alexia,” Phronsie nói, vẫn không chịu ngồi xuống; “chúng là con của tớ, và tớ nghĩ chúng không thích bị gọi bằng cái tên nào khác đâu.”

“Rồi, chúng sẽ không phải nghe từ đó nữa,” Alexia quả quyết tuyên bố, “vậy nên hãy lấy vài đứa ra đây và chải tóc cho chúng đi, y như lúc tớ vừa bước vào ấy, còn tớ sẽ đọc to cho cậu nghe một cuốn sách của cậu nhé, Phronsie.”

“Ồ—ồ!” Phronsie vỗ tay reo mừng thích thú. Ngoài những câu chuyện của Polly — thứ mà hiện giờ con bé không được nghe vì Polly đi học — Phronsie thích nhất là được đọc truyện cho nghe. Nhưng rồi con bé lại chợt trở nên nghiêm túc ngay lập tức.

“Cậu chắc là cậu thích chứ, Alexia?” con bé hỏi, bước đến gần để dò xét nét mặt Alexia.

“Có chứ, có chứ, cục cưng, chắc chắn là tớ thích rồi,” Alexia kêu lên, ôm chầm lấy con bé và phủ lên mặt nó những cái hôn ngập tràn. “Trời ạ, Phronsie, điều đó sẽ làm tớ vô cùng hạnh phúc đấy.”

“Thế thì, nếu việc đó thực sự làm cậu hạnh phúc, Alexia,” Phronsie vừa nói vừa vuốt phẳng chiếc tạp dề với vẻ vô cùng mãn nguyện, “tớ sẽ đi lấy các con của tớ.” Và con bé chạy thoăn thoắt về phía chiếc ghế dài, trở lại với một bòng đầy ắp.

“Bây giờ đọc sách gì đây?” Alexia quên biến cả cơn đau ở cánh tay, bật dậy đứng thẳng người. “Tớ sẽ ra giá sách của cậu để lấy nhé.”

“Ôi Alexia,” Phronsie vô cùng phấn khích kêu lên, “cậu sẽ lấy—cậu có thể lấy cuốn 'Chú vịt con màu vàng' không?”

Vì đây là cuốn sách mà Phronsie luôn miệng chọn mỗi khi được hỏi muốn nghe đọc truyện gì, Alexia liền bật cười và xoay một vòng, ngạc nhiên tột độ khi nhận ra thế giới này hóa ra không hề ảm đạm như một túi thuốc chàm. Và khi con bé chạy lon ton quay lại cầu thang với mỗi bước hai bậc, Phronsie đang tủm tỉm cười, khẽ ngân nga một mình trong lúc công việc chải tóc vẫn tiếp tục diễn ra.

“Hôm qua con bé đeo một chiếc ruy băng màu xanh — con Almira ấy,” Phronsie trầm ngâm nói. “Thế hôm nay cậu có buộc cho nó chiếc màu hồng không, Alexia?”

“Tớ chắc chắn là có,” Alexia quyết định — “cái dải ruy băng hồng nhạt xinh xắn mà Polly tặng cậu lần trước ấy, Phronsie.”

“Tớ mừng quá vì cậu đã chọn chiếc đó,” Phronsie vui sướng chạy đi lấy chiếc giỏ đựng ruy băng, “vì tớ rất thích chiếc ruy băng ấy, Alexia.”

“Nào, thế thì,” Alexia nói khi Phronsie bắt đầu cặm cụi thắt chiếc nơ hồng, “chúng ta phải nhanh chóng bắt đầu thôi, kẻo chẳng bao giờ kịp biết chuyện gì đã xảy ra với 'Chú vịt con màu vàng' này mất.”

“Ôi, nhanh lên nào, Alexia,” Phronsie nài nỉ, hệt như thể con bé chưa từng nghe câu chuyện ấy đều đặn nửa tá lần mỗi tuần. Thế là Alexia tựa lưng vào tường và bắt đầu đọc, và chẳng mấy chốc không gian yên tĩnh đến mức người ta chỉ nghe thấy tiếng lật sách và tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ kiểu Pháp trên lò sưởi.

“Ôi chao, buồn cười chưa kìa!” Polly bước xộc vào phòng; rồi bật lên một tiếng cười giòn giã.

“Polly Pepper — cậu về rồi à!” Alexia ném văng cuốn “Chú vịt con màu vàng” bay nửa vòng căn phòng, vùng đứng dậy và kéo Polly xoay tít vòng tròn bằng cánh tay lành lặn của mình.

“Ừ,” Polly đáp, “tớ về rồi đây, và tớ đã đi lùng sục khắp cái nhà này để tìm hai cậu đấy.”

“Ôm tớ đi, Polly, ôm đi.” Phronsie cẩn thận đặt con Almira xuống thảm rồi vội vã chạy sang chỗ Polly.

“Tớ chiều liền. Nào, tất cả cùng vào cuộc nào!” và cả ba xoay vòng cho đến khi thở không ra hơi.

“Ôi trời ơi!” Polly khựng lại đột ngột. “Tớ quên béng mất cánh tay của cậu, Alexia. Ôi, cậu có nghĩ là chúng mình làm nó đau không?” Ý nghĩ đó thật khủng khiếp đến mức mọi sắc hồng trên má cô bé bỗng bay biến đi đâu mất.

“Làm gì có chuyện ngớ ngẩn ấy!” Alexia quả quyết, “cú xoay vừa rồi lại truyền cho tớ một luồng sinh khí mới đấy, Polly.”

“Thôi, tớ chịu,” Polly ra vẻ soi mói nhận xét; “dù sao thì chúng ta cũng không được làm thế nữa đâu. Và chúng ta phải mách bác sĩ-cha ngay khi bác ấy về nhà.”

“Ôi, lo lắng cho bác ấy làm gì cho mệt chứ?” Alexia dửng dưng kêu lên. “Nào Polly, kể hết mọi chuyện ở trường đi,” trong lúc họ vội vã xuống lầu để chuẩn bị ăn trưa.

“Chúng ta phải kể mọi chuyện cho bác sĩ-cha nghe, Alexia,” Polly nói với giọng quả quyết nhất, cẩn thận vòng tay qua eo Alexia; và với Phronsie đang bám chặt lấy bàn tay bên kia, họ cùng nhau bước xuống, trong khi Polly say sưa kể lại mẩu tin tức nóng hổi nhất ở trường ngày hôm đó.

“Và, ôi Alexia, cô Salisbury bảo rằng chúng ta sẽ chưa tổ chức dã ngoại cho đến khi cậu khỏi hẳn đấy; cô ấy nói thế ở phòng học lớn, trước mặt tất cả chúng tớ cơ.”

“Thật thế không, Polly?” Alexia kêu lên, vô cùng mãn nguyện.

“Thật chứ.” Polly nhón gót chân lên với nguy cơ ngã chúi mũi ra trước, kéo đầu cô bạn cúi xuống để tặng một nụ hôn lên má gò má sạm vàng. “Cô ấy nói rất rành mạch, Alexia ạ, và tất cả lũ con gái đã bàn tán về chuyện đó mãi sau đấy.”

“Thế thì, cô ấy quả là một người tuyệt vời,” Alexia thốt lên, mang theo chút dằn vặt nho nhỏ khi nhớ lại một số sự cố tại “Trường Salisbury,” “và tớ sẽ cố gắng — ôi Polly, tớ sẽ cố hết sức để cư xử thật tốt và làm cô hài lòng.”

Polly vỗ vỗ lưng cô bạn hai ba cái.

“Và cậu có nghĩ thế không,” Polly vừa nói vừa chạy đi chải tóc, lớn tiếng vọng ra qua cánh cửa mở toang, “rằng đám con trai sẽ tổ chức buổi họp câu lạc bộ chung với chúng mình đấy. Cậu nghĩ sao về điều đó chứ!”

“Ôi Polly!” Alexia cầm lược lao vút vào. “Cậu không nói đùa đấy chứ!”

“Tớ nói thật mà. Jasper vừa bảo tớ thế đấy. Thôi, mau lên nào Alexia, kẻo chúng mình muộn mất,” Polly vừa nhịp nhàng chải tóc vừa cảnh cáo. “Được rồi, Phronsie,” — vì Phronsie vừa chạy đi tìm Jane để thay chiếc tạp dề sạch — “chúng ta sẵn sàng rồi đây — à, gần xong rồi.”

“Khi nào — khi nào chứ?” Polly nghe văng vẳng tiếng Alexia cuống cuồng hỏi với theo khi cô bé lao vội về phòng mình, căn phòng nằm sát ngay cạnh phòng Polly.

“Ôi, ngay khi cậu có thể đi được ấy mà,” Polly gọi vọng lại. “Thôi đừng hỏi nữa nhé, Alexia,” cô bé vui vẻ nài nỉ. “Vâng, Mamsie, chúng con xuống ngay đây!”

Chiều hôm ấy, Percy và Joel đang cắm cổ chạy về trường sau một chuyến lặt vặt ở làng, bước đi với cảm giác phập phồng lo sợ rằng chiếc chuông điểm năm rưỡi ở tòa tháp lớn trên sân trường sẽ vang lên trong một phút nữa.

“Đợi với,” Percy gọi giật lại từ phía sau khá xa; “cậu chạy ác chiến thật đấy, Joe!”

“Còn cậu thì chậm như sên,” Joel vui vẻ nhận xét. Dù vậy cậu cũng chịu dừng bước.

“Cái gì thế nhỉ?” cậu vểnh tai nghe ngóng.

“Tớ có nghe thấy gì đâu.” Percy thở hổn hển đuổi kịp.

“Đương nhiên là không rồi, khi mà cậu cứ thở phì phò như con cá voi.”

“Cá voi là con gì?” Percy bực dọc hỏi.

“Tớ chịu,” Joel thật thà đáp.

“Thế thì tớ thèm vào dùng những từ mà mình còn chẳng biết nghĩa là gì,” Percy nói với giọng bề trên, cố tỏ ra mình không hề nóng bức chút nào.

“Thôi, im cái miệng lại xem nào!” Joel quát lên. “Kia, kìa nó lại kêu kìa.” Cậu cúi người xuống, dòm ngó vào bên trong một lùm cây. “Có cái gì đang kêu chít chít trong này này.”

“Khéo mà bị một con mèo già đanh đá cào rách mặt ra bây giờ,” Percy đoán mò.

Joel, kẻ chẳng mảy may bận tâm đến lời cảnh báo đó hay bất kỳ lời cảnh báo nào khác, lúc này đã quỳ sụp cả hai đầu gối xuống đất. “Ôi chao ôi!” cậu kêu lên, lôi từ trong bụi râm ra một chú chó vàng nhỏ xíu; chú chó chẳng hề chống cự mà lập tức rúc sát vào người ân nhân, rên rỉ vô cùng đáng thương.

“Nó bị thương rồi,” Joel vừa tuyên bố vừa hất ngược mái tóc ngắn cũn cỡn ra sau, vừa âu yếm vỗ về con chó; chú chó liền ngừng rên và liếm láp khắp mặt lẫn bàn tay cậu, bất cứ chỗ nào mà nó với tới được.

“Ôi, cái đồ dơ dáy ấy — phết! Sao cậu lại có thể làm thế được hả, Joel Pepper!” Percy kêu lên với vẻ ghê tởm.

Nhưng Joel thậm chí còn chẳng thèm nghe thấy, bận chăm chú đặt con chó xuống đất để xem nó đi đứng thế nào.

“Không, hóa ra nó không bị thương đâu, tớ đoán thế,” cậu kết luận, “nhưng nhìn bộ xương sườn của nó kìa — nó đói lả đi rồi.”

“Tớ chả thèm nhìn đâu,” Percy vừa nói vừa quay lưng đi, “và cậu nên mặc kệ nó đi; cái chuông sắp reo đến nơi rồi kìa, Joel Pepper!”

“Đúng thế thật!” Joel kêu lên. “Đi thôi, Perky,” — đây là biệt danh ở trường dành cho cậu anh nhà Whitney — và cậu chộp lấy con chó rồi cắm cổ chạy biến.

“Cậu định làm gì với con chó đó hả?” Percy hét với theo sau cậu. Nhưng thà nói với gió còn hơn, bởi Joel đã chạy thục mạng đến trước cánh cửa lớn và có mặt ở đó từ đời nào trong tình trạng thở hồng hộc và ướ đẫm mồ hôi.

May mắn cho cậu là chẳng có đứa học trò nào ở quanh đó; và Joel nhét vội con chó vào trong áo khoác, lao phắt lên cầu thang, chạy dọc hành lang về phòng mình.

“Joe!” hai ba giọng hét vọng lên; nhưng cậu làm như điếc đặc, lọt được vào phòng an toàn; sập cửa cái rầm rồi mới thở phào nhẹ nhõm một hơi dài.

“Phù! Suýt thì bị tóm đợt này,” đó là tất cả những gì cậu còn hơi sức để thốt lên. “Thôi được, may là Dave chưa ở đây, thế là mình có thể từ từ nói cho nó quen dần.” Suốt thời gian đó, cậu vừa lôi con chó ra khỏi chỗ ẩn nấp, vừa đặt nó lên giường rồi lại xuống sàn để quan sát cho kỹ hơn.

Nó quả thực là một sinh vật cách xa định nghĩa một chú chó đẹp mã đến mức tối đa. Chưa từng có lấy một lần diễm phúc trong đời được nghe ai nhắc đến tông chi họ hàng, nó đơn giản chỉ là một con chó lai vô tích sự, trông y như vừa chuyển từ cái sân sau của một khu chung cư tồi tàn sang chốn phố phường đầy hiểm nguy. Chiếc cổ vàng của nó hằn lên vết tích của một sợi dây thừng độc ác từng siết suýt rách cả da thịt, và từng chiếc xương sườn lòi cả ra ngoài đúng như Joel đã nói, đến mức một người quan sát kỹ tính cũng có thể đếm không sót một chiếc.

Joel vòng tay ôm lấy con thú. “Ôi trời!” cậu rên rỉ, “mày đói sắp chết đến nơi rồi thế này. Mình có cái gì để cho nó ăn cơ chứ?” Cậu nhăn trán vẻ vô cùng lo lắng. “À ha!” Cậu chộp lấy con chó chạy thẳng ra tủ quần áo, rồi với tay kéo một chiếc hộp từ cái kệ phía trên xuống. “Bánh của Mamsie — tuyệt cú mèo đây rồi!” Và chẳng buồn cắt thành miếng, cậu bẻ ngay một góc thật to. “Nào, vào trong này với mày nhé,” rồi cậu nhét nó tận sâu vào một góc, dúi miếng bánh sát mũi nó. “Cứ nằm yên ở bên phần của tớ đấy, đừng có trèo sang giày của Dave đấy nhé. Hí!”

Con chó trong lúc chộp lấy miếng bánh đã ngoạm nhầm cả ngón cái của Joel.

“Nhả ra mau,” Joel kêu lên; “này, cậu không nuốt nổi ngón tay tớ đâu nhé,” khi miếng bánh đã biến mất tăm chỉ trong một miếng; và cậu vừa thở dài tiếc nuối đám quả khô mà Mamsie vẫn thường hào phóng nhét vào mấy chiếc bánh gửi cho trường nay đang biến mất nhanh chóng, vừa xuýt xoa vì vết cắn vừa nhận được.

Con chó đảo đôi mắt đen láy như hạt cườm láu lỉnh ngóng chờ thêm bánh. Khi thấy không có nữa, nó bèn liếm liếm ngón cái cho Joel; và trong cái không gian chật chội nằm đè lên một đống giày dép cùng đủ thứ đồ đạc lỉnh kỉnh khác chưa được phân loại, nó cố hết sức ngoáy cái mẩu đuôi cụt ngủn của mình.

“Chà! Chuông reo kìa! Này nghe đây, cấm tiệt mày dám nhúc nhích nếu không muốn mất mạng! Mày phải ở lì trong cái tủ này cho đến ngày mai — rồi tính sau. Nằm xuống mau tao bảo.”

Có một màn giằng co nho nhỏ; và rồi con chó, nhận ra đây chính là chủ nhân của mình, bèn cuộn tròn người nằm trên đống giày quần vợt, ra điều nín thở.

“Được rồi,” Joel vỗ về tán thưởng. “Giờ thì cấm được sủa hừ hừ đấy, kể cả khi Dave có mở cửa tủ này ra.” Đoạn cậu cẩn thận đóng cửa lại, sải bước chạy biến xuống phòng ăn dài tập trung đông đảo lũ trẻ.

Joel ăn bữa tối nhanh nhất có thể, hoàn toàn phớt lờ những tiếng trò chuyện huyên náo xung quanh. Trong cơn sốt ruột, cậu cứ đinh ninh là mình thỉnh thoảng vẫn nghe thấy những tiếng “sủa” khe khẽ; và cậu suýt tưởng tượng ra cảnh mọi người đều buông đao nĩa xuống.

“Cậu bị làm sao thế?” Cậu giật mình khi thấy đứa ngồi cạnh lao người về phía trước để nhìn thẳng vào mặt mình. Và chỉ một phút sau, cậu nhận thức được rằng ở phía bên kia, mình cũng đang là tâm điểm chú ý y hệt như vậy. Cậu vùi mặt vào cốc sữa; nhưng khi ngẩng lên, họ vẫn trân trân nhìn cậu như thế.

“Hừ! Thôi đừng nhìn tớ nữa,” Joel gam gừ.

“Thế rốt cuộc cậu bị làm sao thế hả?” đứa trẻ kia hỏi.

“Tránh ra — có bị gì đâu,” Joel cáu kỉnh đáp, đồng thời tung ra một cú đá hết sức có thể vào ống quyển của thằng bé.

“Ái! Có chứ sao không.”

“Cậu lạ thật đấy,” đứa đầu tiên nói, “cậu chẳng hé răng nửa lời kể từ lúc ngồi vào bàn đến giờ.”

“Thì tớ không muốn nói chuyện thì thôi chứ sao,” Joel quả quyết. “Thôi ngay đi, Fletcher; ai cũng đang nhìn kìa.”

Nhưng Fletcher nhất định không chịu dừng lại, và Joel được dịp chứng kiến cả cái bàn ăn, với thầy giáo phụ tá Mr. Harrow ngồi ở đầu bàn, giữa những bận nhai nuốt vẫn biến cậu thành tâm điểm quan sát. Niềm an ủi duy nhất cho sự khốn khổ này là Percy ngồi ở cái bàn khác và quay lưng về phía cậu.

David lo lắng nhìn sang. “Cậu ốm à, Joe?” cậu hỏi.

“Không.” Joel cười xòa, bắt đầu cặm cụi ăn. Thấy vậy, David mới thở phào nhẹ nhõm.

Lúc đó Mr. Harrow đang kể chuyện gì có vẻ rất thu hút, và lũ trẻ nghe thấy Joel cười thêm lần nữa thì quay đi chỗ khác để lắng nghe. “Phải,” thầy giáo phụ tá nói, “đó là một con chó từng—”

“Hừ!” Joel kêu lên. “Ôi, xin lỗi ạ,” và mặt cậu đỏ lựng lên, cố thu mình lại cho thật nhỏ trên ghế.

“Đó là chú chó mà thầy từng nuôi đấy, Joel ạ,” Mr. Harrow mỉm cười nhìn cậu nói. “Và thầy đã dạy nó mấy trò, có mấy trò khá là kỳ lạ nữa cơ.”

“Vâng, thưa thầy,” Joel lẩm bẩm, cắn một miếng bánh quy thật to; và trong suốt mười lăm phút sau đó, cậu hoàn toàn an toàn vì những câu chuyện vui cứ kéo dài mãi cho đến khi những chiếc ghế được đẩy ra và bữa tối kết thúc.

Nói rằng cuộc đời của Joel từ lúc đó cho đến giờ đi ngủ là một chuỗi êm đềm thì quả là sai sự thật. Kỳ lạ thay, David không hề mở tủ lấy một lần. Quả thực, có một lần suýt chút nữa khiến tim Joel nhảy ngược lên cổ họng.

“Ăn bánh của Mamsie đi, Joe, tối nay nhé,” David nói nhỏ với cậu. Căn phòng chật ních lũ trẻ; thời điểm này là ngay trước giờ tự học, và làm sao để kể cho David nghe về con chó đang vắt kiệt óc sáng tạo của Joe.

“Hừ! — thôi, tối nay không ăn đâu, Dave.” Cậu tỏ ra quả quyết đến mức dù David thấy khó hiểu trước thái độ ấy, cậu ta cũng đành bỏ qua mà không gặng hỏi gì thêm. Và rồi giờ tự học đến, tất cả lũ trẻ phải xuống “Hành lang Dài,” còn Joel chần chừ nán lại phía sau. “Tớ xuống ngay đây.” Cậu lao vút đến tủ quần áo, bẻ thêm một góc bánh thật to của Mamsie, nén tiếng thở dài thứ hai khi nghĩ đến đám quả khô. “Mày vẫn chưa ăn hết phần của tao đấy nhé,” cậu nói khi con chó nuốt chửng miếng bánh một cách ngon lành mà không thèm chớp mắt. “Nằm im đấy nhé.” Cậu sập cửa tủ cái rầm rồi chạy biến, kẹp chặt sách vở dưới nách.

Và sau khi hai đứa lên giường đi ngủ, David đã quá mệt và buồn ngủ nên chẳng thiết nói năng gì, nhanh chóng leo lên giường đến nỗi chưa kịp để Joel cởi xong quần áo thì cậu ta đã chìm vào cõi mộng từ đời nào.

“Thế thì tốt — giờ mình chưa phải khai thật với nó vội cho đến sáng mai.” Joel bước sang chiếc giường bên góc phòng, lắng nghe tiếng thở đều đều, rồi rón rén nhón chân đi về phía tủ quần áo sau khi đã thổi tắt đèn. “Mình biết phải làm gì rồi.” Cậu quỳ sụp xuống tứ chi, nhẹ nhàng đưa tay khua qua đống giày dép cho đến khi chạm được vào tấm lưng ghẻ lở của con chó. “Tao sẽ đưa mày lên giường tao; mày sẽ ngạt thở ở trong này mất. Nào, đi thôi bạn hiền!” Con chó tỏ ra rất ngoan ngoãn chấp thuận, chỉ bận rộn liếm láp đôi bàn tay Joel. Thế là Joel nhảy tót lên giường, bồng theo “cục nợ” của mình và rúc tụt xuống dưới chăn.

Sau khi chắc chắn rằng mình thực sự được ở lại chốn thiên đường này, con chó bắt đầu xoay vòng vòng mấy bận để tìm cho ra tư thế hoàn hảo nhất chuẩn bị chợp mắt qua đêm. Việc này ngốn của nó kha khá thời gian, lại thêm bị ngắt quãng bởi vô số màn liếm láp khuôn mặt sạm nắng của Joel, khiến người ta tưởng chừng đêm nay cả hai chẳng đứa nào được ngủ Nghê gì cho cam; còn Joel thì chẳng mải mai phiền lòng trước màn kéo dài lê thê ấy, cứ ôm chặt lấy chú chó và vỗ về nó, khiến con vật cứ sướng rơn cả người ngay lúc đang chuẩn bị yên vị.

Cuối cùng thì ngay cả Joel cũng thấy mỏi mệt, đôi mắt trĩu nặng dần.

“Giờ thì ngủ đi nào” — kèm theo cái vỗ vỗ cuối cùng — “tao sẽ đặt tên mày là Sinbad.” Vốn từ lâu đã vô cùng ngưỡng mộ nhân vật Thủy thủ Sinbad, Joel cảm thấy chẳng có cái tên nào xứng đáng hơn thế dành cho món bảo bối mới của mình. Và Sinbad, nhận ra hiệu lệnh đi ngủ cuối cùng cũng đã được ban phát, bèn cuộn tròn người lại hết mức có thể ngay dưới cằm Joel, và chẳng mấy chốc cả hai đều chìm sâu vào giấc ngủ.

Lúc ấy đã gần nửa đêm. Joel đang mơ về sở thú và gánh xiếc ngày xưa mà cậu từng dựng lên trong căn nhà gỗ nhỏ, nơi không chỉ có những chú chó được huấn luyện làm những trò kỳ diệu nhất — kỳ lạ thay, giờ đây tất cả chúng đều có màu vàng và những chiếc đuôi cụt ngủn — mà còn có cả vô vàn loài động vật lẫn bò sát với chủng loại thú vị nhất, chưa từng xuất hiện ở bất kỳ buổi biểu diễn nào trên trái đất; thì bỗng một tiếng động, thoạt nghe giống hệt tiếng một đứa trẻ thét lên “Ái!”, dội thẳng vào tai cậu và khiến cậu bật ngửa người dậy trên giường. Cậu khua khoắng tay chân loạn xạ khắp nơi, nhưng bóng dáng Sinbad thì hoàn toàn biến mất.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.